Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

THẢO LUẬN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NĂM 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.15 KB, 21 trang )

HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Thị Giang
LỚP:
TC103

BÀI THẢO LUẬN
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Phân tích nội dung, khái niệm và quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng HCM? Liên hệ bản thân
đồng chí?
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, điều đó đã được dân tộc
VN và cả nhân loại ngày nay thừa nhận. Với thiên tài trí tuệ của mình, với lòng yêu nước nồng nàn và
thương dân sâu sắc, Bác - từ một con người giản dị bình thường đã trở thành nhà tư tưởng vĩ đại, một
nhà lý luận thiên tài của cách mạng VN. Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa

yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân nghĩa và thực tiễn CM Việt Nam với tinh hoa văn
hóa nhân loại được nâng lên tầm cao mới dưới ánh sáng CN Mác LêNin . Tư tưởng ấy có giá trị
vô cùng to lớn, định hướng cho cách mạng VN trong hơn nữa thế kỷ qua, góp phần thúc đẩy tiến trình
văn minh, tiến bộ của nhân loại. Hiện nay tư tưởng HCM đang tiếp tục soi đường cho CM nước ta trong
sự nghiệp đổi mới, cương lĩnh của Đảng ta năm 1991 đã xác định:” Đảng lấy CN Mác-Lênin và tư

tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động ”.
Vậy chúng ta hãy làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? Nguồn gốc, quá trình hình thành hệ thống tư
tưởng ấy và ý nghĩa của nó trong tình hình hiện nay.
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ?
Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con

người; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức
mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dânl, xây dựng nhà nước
của dân, do dân và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát


triển KT-VH, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách
mạng cần kiệm liêm chính chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây
dựng Đảng trong sạch vững mạnh, cán bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là sản phẩm tinh thần to lớn của dân tộc ta.
Nói cách khác, khái niệm tư tưởng HCM bao gồm nguồn gốc, những nội dung chủ yếu và thực tiễn vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
2. Điều kiện lịch sử, xã hội, gia đình :
Tư tưởng HCM là sản phẩm tất yếu của cách mạng VN, ra đời do yêu cầu khách quan, đáp
ứng những nhu cầu bức thiết do cách mạng VN đặt ra từ đầu TK XX cho đến nay.
Từ năm 1858, đến đầu thế kỷ XX, nước ta đang bị đế quốc Pháp xâm lược. Các phong trào vũ trang
kháng chiến, chống Pháp liên tục nổi lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước nhưng do chưa có một
đường lối kháng chiến rõ ràng, bất cập trước lịch sử, dựa trên ý thức hệ phong kiến hoặc xu hướng
dân chủ tư sản nên không tránh khỏi thất bại và bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp các phong trào
yêu nước của nhân dân ta. Tình hình đó cho thấy sự bế tắt về đường lối cứu nước và phong trào cứu
nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng mới


Nghệ Tĩnh – quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống
ngoại xâm, đã nuôi dưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Những tội ác của bọn thực
dân và thái độ ương hèn, bạc nhược của bọn quan lại Nam triều đã thôi thúc Người ra đi tìm một con
đường cách mạng mới để cứu dân, cứu nước. Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu
nước, gần gủi với nhân dân. Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người là một nhà Nho giàu
lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, lao động cần cù, có ý chí kiên cường vượt qua gian khổ, khó khăn
để đạt được mục tiêu, chí hướng. Chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị - xã hội
của cụ Phó bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách
của HCM.
Khi còn ở trong nước, HCM tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế
lịch sử của đất nước mình, người đã thấy rõ con đường của các bậc cha anh không đem lại kết quả,
phải đi tìm một con đường mới. Trong khoảng 10 năm, HCM đã vượt 3 đại dương, 4 Châu lục, đặt

chân lên khoảng gần 30 nước. Nhờ đó, Người đã hiểu được bản chất chung của CNĐQ và hoàn cảnh
chung của các nước thuộc địa trên thế giới. Tiếp xúc với tác phẩm Sơ khảo lần thứ I những Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của LêNin và các văn kiện ĐH III của Quốc tế Cộng sản đánh
dấu sự chuyến biến lớn trong nhận thức của HCM, nó khẳng định về mặt lý luận việc thực hiện mối
quan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, cái mà
đang rất cần đối với
3. Nguồn gốc tư tưởng HCM :
a. Tư tưởng HCM là sự kế thừa truyền thống văn hóa Việt Nam
Dân tộc VN trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền
văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp, cao quý.

Những truyền

thống tốt đẹp đó đã ghi đậm dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ
nước. Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử VN, là chuẩn mực cao
nhất trong bảng giá trị văn hóa VN. HCM là người tiếp thu, nhận thức rất sớm và sâu sắc những

truyền thống tốt đẹp đó. Trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than dưới hai tầng áp bức bóc
lột chính là nguồn động lực hun đúc cho Bác hình thành nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của Người,
nguồn gốc đó là toàn bộ tinh hoa văn hóa VN được kết tinh qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ
nước, nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước VN. Người nói “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không làm nô lệ” Đó cũng là tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy
nghĩ và hành động của HCM trong suốt cuộc đời. Người nói:” Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm
sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nhận thức được sức mạnh to lớn của truyền thống đoàn kết
– yêu nước và nhân nghĩa ấy của dân tộc, người đã khẳng định “ Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị

xâm lăng thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,

lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước ”. Sức mạnh
đoàn kết, nhân nghĩa yêu nước ấy , theo Người phải phát huy mạnh mẽ hơn trong giai đoạn cách
mạng mới của dân tộc :”phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo làm cho tinh thần yêu

nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến ”
Thứ hai, đó là tinh thần đoàn kết cộng đồng gắn kết cá nhân với gia đình, với làng, với nước; là lòng
nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý. Thấm nhuần truyền thống ấy, Người đã lần nêu rõ

“Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau nên bàn tay. Trong


mấy triệu người, có người thế nầy, thế khác, nhưng thế nầy hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên
ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có
ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tình nhân ái mà
cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chặt chẽ, vẻ vang”.
Quan điểm xây dựng đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ thành kiến, cách biệt để tập họp lực lượng
trong sự nghiệp cách mạng là tư tưởng xuyên suốt của Người trong quá trình hoạt động cách
mạng cũng như trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người để lại cho Đảng, cho dân tộc.
Thứ ba, dân tộc VN là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Cơ sở của sự lạc quan, yêu đời
đó là niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, dân tộc mình, niềm tin vào sự tất thắng của chân lý,
chính nghĩa. Trong thư gửi đồng bào Nam bộ (tháng 9-1945) khi đất nước còn đang bị chia cắt làm 2
miền, Hồ Chí Minh đã viết :”Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc

yêu chuộng bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta. Chúng ta nhất địn h thắng lợi vì
chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của
chúng ta là chính nghĩa”. Như vậy, sự kiên định, vững vàng lạc quan trước những khó khăn thử thách
luôn được thể hiện trong tư tưởng của Người

Thứ tư, dân tộc VN là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và
chiến đấu, đồng thời cũng là dân tộc ham học hỏi, cầu tiến bộ và không ngừng mở rộng cửa đón nhận

tinh hoa văn hóa nhân loại.
b. Tư tưởng HCM là sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện tập trung trên
những nét tiêu biểu sau :
Thứ nhất là tư tưởng Nho giáo : trong Nho giáo có các yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động
nhưng cũng có những mặt tích cực như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, lý
tưởng về một XH bình trị, một thế giới đại đồng; đó là triết lý nhân sinh : tu tâm, dưỡng tính; đó là tư
tưởng đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học. HCM đã khai thách Nho giáo, lựa chọn
những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ nhiệm vụ cách mạng.
Thứ hai là Phật giáo : Phật giáo vào VN rất sớm và ảnh hưởng rất mạnh trong nhân dân, để
lại nhiều dấu ấn trong VH VN. Đó là tư tưởng vị tha, từ bi, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể
thương thân; đó là nếp sống có đạo đức trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đó là tinh thần
bình đẳng chống lại mọi phân biệt đẳng cấp; đó là tư tưởng đề cao lao động; chống lười biếng; đó là
cuộc sống gắn bó với nhân dân , với đất nước …
Ngoài ra, những mặt tích cực trong tư tưởng Phương Đông, Phương Tây và cả chủ nghĩa Tam
dân của Tôn Trung Sơn cũng được HCM tìm thấy “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”.
Trong những năm tháng bôn ba, vừa kiếm sống vừa tham gia hoạt động cách mạng trên khắp
4 Châu lục, người đã tận mắt chứng kiến cuộc sống của nhân dân từ các nước tư bản phát triển như
Mỹ, Anh, Pháp … đến các nước thuộc địa. Đó là những điều kiện thuận lợi để Người nhanh chóng
chiếm lĩnh vốn kiến thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống dân chủ và tiến bộ, cách làm việc dân
chủ và sinh hoạt khoa học của nước Pháp
Điều cốt lõi trong tư tưởng văn hóa HCM là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu ccon
người và niềm tin đối với con người hết sức bao la sâu sắc, tất cả vì mọi người, tất cả do con người.
Đó là một nhân sinh quan, một triết lý sống rất nhân văn, là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Người
nói :”Nghĩ cho cùng mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm người là phải thương nước thương nhân loại
đau khổ bị áp bức”. Suốt đời người đã hy sinh chiến đấu chống áp bức, bất công, đem lại cuộc sống tự
do hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc, cho nhân loại.


Văn hóa với Người còn thể hiện ở đạo đức mới : cần kiệm liêm chính chí công vô tư. HCM là
một người cộng sản coi trọng đạo đức và tấm gương mẫu mực về đạo đức. Người đã từng nói :”cũng

như sông thì co nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì
cây héo, người cách mạng phải có đức không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân. Vì muốn phải giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loại người là một công việc to tát, mà
tự mình không có đạo đức : thì còn nổi việc gì”. Đạo đức cách mạng là bộ phận hợp thành quan trọng
của tư tưởng HCM, của văn hóa HCM, di sản vô giá cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau.
c. Chủ nghĩa Mác LêNin : là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến tư tưởng HCM, là chủ
nghĩa Mác LêNin, đó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận của HCM . Nhờ có thế giới
quan và phương pháp luận của CN Mác Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ và chuyển hóa được những
nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa nhân loại để
tạo nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng HCM về ĐCS, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân, về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH bắt nguồn từ học thuyết của Mác về ĐCS VN và trực tiếp
từ học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã được Lênin đưa ra. Nhưng xuất phát từ
những điều kiện lịch sử cụ thể của VN, HCM đã vận dụng sáng tạo học thuyết ấy để đưa đến cách
mạng VN từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
d. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất của Nguyễn Ái Quốc
Thứ nhất : đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng
suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu cuộc cách mạng tư sản hiện đại
Thứ hai : sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh
nghiệm đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào nhân dân quốc tế để có thể tiếp
cận với CN Mác LêNin khoa học
Thứ ba : đó là tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sỹ cộng sản nhiệt thành cách mạng,
một trái tim yêu nước, thương dân, yêu thương những người cùng khổ, sẳn sàng chịu đựng những hy
sinh cao nhất vì độc lập của tổ quốc, vì tự do của đồng bào.
Chính những phẩm chất cá nhân cao đẹp này đã quyết định việc Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận, chọn lọc,
chuyển hóa, phát triển những tinh hoa của dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình.
4. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng HCM :

Tư tưởng HCM không hình thành ngay một lúc mà phải trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập,
phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động phong phú của người.
- Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng (từ 1890-1911) : Trong

thời trẻ, với những đặc điểm quê hương gia đình và môi trường sống, HCM đã tích lũy được những
hiểu biết và phẩm chất tiêu biểu sau : thứ nhất là truyền thống yêu nước và nhân nghĩa của dân tộc,
vốn văn hóa dân tộc và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây, hình thành hoài bão cứu dân cứu
nước khi chứng kiến cuộc sống khổ cực, điêu đứng của nhân dân và tinh thần đấu tranh bất khuất của
cha anh
- Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911-1920) : đây là giai đoạn bôn ba tìm đường cứu nước.
HCM đã : tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân
tộc bị áp bức. Tiếp xúc với Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, HCM đã tìm thấy
con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc. Đứng hẳn về Quốc tế III, tham gia
thành lập Đảng CS Pháp. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về chất trong tư tưởng HCM, từ CN
yêu nước đến CN Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp từ người yêu nước thành người
cộng sản.

1-6


- Giai đoạn hình thành tư tưởng về con đường cách mạng VN (1921-1930) : HCM hoạt động
tích cực trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng CS Pháp, tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa,
SX báo Le Paria nhằm tuyên truyền CN Mác LêNIn vào các nước thuộc địa. HCM sang MátXCơVa dự
hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào Đoàn Chủ tịch của Hội giữa năm 1923. HCM về Quảng
Châu tổ chức Hội VN cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị, đào
tạo cán bộ, đưa Hội về nước hoạt động cuối năm 1924. Vào tháng 2 năm 1930, Người chủ trì Hội nghị
hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng CS Việt Nam và trực tiếp thảo các văn kiện :
Chánh cương vắn tắt, Sách lượt vắn tắt, Chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Các văn kện này
cùng với 2 tác phẩm Người hoàn thành và xuất bản trước đó là Bản án chế độ Thực dân Pháp (1925)
và Đường Kách Mệnh (1927), đã đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng HCM về con đường cách
mạng của VN.
- Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của CM VN (1930-1941) : do
không nắm được tình hình thực tế các thuộc địa ở Phương Đông và Việt Nam, lại bị chi phối bởi quan
điểm Tả khuynh, tại ĐH 6 (1928) Quốc tế CS đã chỉ trích và phê phán đường lối của HCM vạch ra

trong Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Hội nghị Trung ương tháng 10 – 1930 của Đảng ta, theo chỉ
đạo của Quốc tế CS cũng ra án “nghị quyết” thu hồi Chánh cương vắn tắt và Sách lượt vắn tắt, đổi tên
Đảng CS Việt Nam thành Đảng CS Đông dương. Trong thời gian đó, HCM tiếp tục tham gia các hoạt
động trong Quốc tế cộng sản, nghiên cứu CN Mác Lênin và chỉ đạo cách mạng VN kiên định quan điểm
của mình. ĐH 7 Quốc tế Cộng sản 1935 đã có sự tự phê bình về khuynh hướng tả khuynh, cô độc, biệt
phái, bỏ rơi mất ngọn cờ dân tộc và dân chủ trong phong trào Cộng sản để cho các đảng tư sản, tiểu
tư sản và phát xít nắm lấy và chống phá CM. ĐH có sự chuyển hướng về sách lượt, chủ trương thành
lập mặt trận dân chủ chống Phát xít. Năm 1936, Đảng ta đề ra “chiến sách” mới, phê phán những biểu
hiện tả khuynh, cô độc, biệt phái trước đây. Trên thực tế, từ đây Đảng đã trở lại với Chánh cương vắn
tắt, Sách lượt vắn tắt của HCM. Nghị quyết HN TW tháng 11-1939 khẳng định rõ “đứng trên lập
trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lực dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng,
cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”.
- Giai đoạn phát triển và hiện thực hóa tư tưởng HCM (1941-1969) : đầu năm 1941 HCM về
nước trực tiếp chỉ đạo HN TW 8 (tháng 5-1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, tạm
thời gác khẩu hiệu “cách mạng điền địa”, xóa bỏ vấn đề lliên bang Đông dương, lập ra Mặt trận Việt
Minh, thực hiện Đại Đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nông. Nhờ đường lối đúng đắn đó, sau
4 năm Đảng đã lãnh đạo CM tháng 8 thắng lợi. Đó là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng HCM. Sau khi
giành được chính quyền, Đản g và nhân dân phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, vừa xây dựng CNXH ở Miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng Miền Nam. Đây là thời kỳ tư tưởng
HCM được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trên một loạt vấn đề cơ bản của CM VN : về đường lối
chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, về xây dựng CNXH
ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến quá độ lên CNXH không trải qua chế độ TBCN, trên điều
kiện đất nước bị chia cắt và có chiến tranh, về xây dựng Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền, về xây
dựng nhá nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân; về củng cố và tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trước khi qua đời (ngày 2/9/1969) HCM để lại di chúc
thiêng liêng gửi gắm trong đó những tinh hoa của tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của một vĩ
nhân hiếm có, đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì tổ quốc và nhân loại. Di chúc đã tổng kết sâu xa những
bài học đấu tranh và thắng lợi của cách mạng VN, đồng thời cũng vạch ra những định hướng mang
tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước và dân tộc ta sau khi kháng chiến thắng lợi.



1-7

Đảng ta và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn di sản tinh thần vô giá
mà HCM để lại cho chúng ta. ĐH đại biểu toàn quốc của Đảng lần VII đã khẳng định : Đảng lấy CN
Mác Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng HCM đã
thật sự là nguồn trí tuệ, nguồn động lực soi sáng và thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển. Những
biến đổi chính trị to lớn trên thế giới diễn ra trong hơn 10 năm qua, vừa kiểm chứng vừa khẳng định
tính khoa học, đúng đắn, tính cách mạng, sáng tạo giá trị dân tộc, ý nghĩa quốc tế của tư tưởng HCM
5. Ý nghĩa thực tiễn :
Qua việc học tập và nghiên cứu tư tưởng HCM có ý nghĩa rất to lớn bởi vì :
Thứ nhất, tư tưởng HCM cùng với CN Mác Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và cách mạng VN. Tư tưởng HCM trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận
của CN Mác Lênin. HCM đã vận dụng sáng tạo và phát triển CN Mác Lênin vào điều kiện củ thể của
nước ta, phù hợp với lịch sử và văn hóa VN, xuất phát từ đất nước và con người VN nhằm giải đáp
những yêu cầu thực tiễn và lý luận của cách mạng VN. Vì vậy, phải nghiên cứu học lập CN Mác Lênin
và đồng thời phải đẩy mạnh học tập nghiên cứu tư tưởng HCM.
Thứ hai, cốt lõi của tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Dưới ngọn cờ tư
tưởng HCM, cách mạng VN đã vững bước tiến lên giành được thắng lợi lịch sử có ý nghĩa thời đại.
Trong quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập, hợp tác liên quốc gia, khu vực … các thế lực thù địch cũng
lợi dụng để ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ CNXH ở nước ta. Làm thế nào
để không chệch hướng, làm thế nào để bảo vệ được độc lập, chủ quyền dân tộc ? Chỉ có nắm vữn g
cốt lõi của tư tưởng HCM và độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì chúng ta mới đổi mới, hội nhập
vững vàng, tự tin và chủ động
Thứ ba, tư tưởng HCM là mẫu mực của tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo. HCM là
con người của độc lập, tự chủ của đổi mới và sáng tạo. Người luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, hết sức
tránh lặp lại những lối cũ, đường mòn, không ngừng đổi mới, tìm ra câu trả lời mới cho thực tiễn
không ngừng biến đổi. Đó là nét đặc sắc nhất của tinh thần và phong cách HCM. Ngày nay, thế giới
đang diễn biến theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa. Để giải quyết tốt những vấn dề đang đặt ra
trong thực tiễn đổi mới thì phải nắm cái tinh thần khoa học và cách mạng, tính biện chứng của CN á

Mác Lênin , tính độc lập tự chủ, đổi mới không ngừng sáng tạo của Chủ tịch HCM, biết gắn lý luận với
thực tiễn, lời nói và việc làm thật sự cải biến hiện thực đất nước.
Tóm lại, nghiên cứu học tập tư tưởng HCM là để thấm nhuần sâu sắc hệ thống quan điểm,
phương pháp cách mạng của HCM, để kiên định mục tiêu, lý tưởng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần
phục vụ nhân dân, nâng cao đạo đức CM, vươn cao ngọn cơ lãnh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách
mạng nước ta đến thắng lợi.

Câu 2: Trình bày tư tưởng HCM về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH? Làm rõ trong giai đoạn hiện nay độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là con đường duy nhất, đúng đắn? Liên hệ bản thân đồng chí.
Ngay từ khi lựa chọn con đường Cách mạng vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất
giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc
tế. Một nội dung cơ bản và nhất quán trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc bằng con
đường cách mạng vô sản, Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành Cách mạng XHCN.
Người nói: "ham muốn" tột bậc của mình là làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân tộc
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Sau 30 năm ra đi
tìm đường cứu nước, cuối cùng Người khẳng định, tin tưởng rằng: chỉ có CNXH mới là con đường để
"ham muốn" đó được thực hiện và thực tiễn sinh động của Cách mạng Việt Nam đã chứng minh tư


tưởng của Bác là tư tưởng hướng đạo cho Cách mạng Việt Nam.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân
tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng
dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bởi vì:

Về cơ sở lý luận:
Độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Từ nhận thức của chủ nghĩa Mác –Lê Nin và thực tiễn các phong trào cách mạng trên thế giới, Hồ Chí
Minh đã cho rằng, Cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân và Cách mạng XHCN. Hai giai đoạn ấy không có bức tường ngăn cách, mà gắn bó chặt chẽ với
nhau.

Vận dụng vào điều kiện thực tiễn của Cách mạng Việt Nam người đã xác định cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân có hai nhiệm vụ chiến lược: Chống thực dân xâm lược và chống địa chủ phong kiến.
Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên
trên hết, trước hết, nhiệm vụ dân chủ cần thực hiện từng bước và phải phục tùng sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Tư tưởng trên đây được Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm
1930 và Người nhấn mạnh tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa I) 5-1941.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao gồm cả nội dung dân tộc dân chủ. Bởi vì, không phải
bất kỳ dân tộc nào sau khi giành được độc lập dân tộc cũng tạo cơ sở, tiền đề để tiến lên CNXH. Theo
Hồ Chí Minh, để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên CNXH, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
phải được thực hiện một cách triệt để, và chỉ có cánh mạng XHCN mới đem lại độc lập thực sự, độc lập
hoàn toàn không lệ thuộc vào bất cứ lực lượng nào cả về đối nội, lẫn đối ngoại cho dân tộc Việt Nam.
Người đã nhiều lần phê phán sự lệ thuộc về mọi mặt của những chính quyền do thực dân cũ và mới
lập nên ở Việt Nam, Người gọi đó là chính quyền bù nhìn, là độc lập giả hiệu.
Để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đối với Việt Nam một dân tộc mà lịch sử đấu
tranh giữ nước luôn di cùng với quá trình hình thành, có truyền thống yêu nước mãnh liệt, một đất
nước đa văn hóa, đa dân tộc … một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn là độc lập dân tộc phải gắn liền với
thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Theo Người nước Việt Nam là một, dân tộc
Việt Nam là một, Bắc - Trung - Nam là một khối thống nhất không thể phân chia, đồng bào các dân
tộc đều là con dân nước Việt, là con Rồng cháu Tiên. Đó là quan điểm nhất quán, mang tính nguyên
tắc của Hồ Chí Minh, nếu không duy trì và phát triển được khối thống nhất đó thì không thể có độc lập
dân tộc, càng không thể nói đến việc tạo cơ sở tiền đề để tiến lên CNXH và để tiến lên CNXH đòi hỏi
độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do hạnh phúc của nhân dân. Như Người đã từng nói: "nếu nước
được độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì".
Chủ nghĩa xã hội là con đường bảo vệ và phát triển thành quả của độc lập dân tộc:
Kết quả thực tiễn từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con cách mạng XHCN ở Việt Nam đã
chúng minh: Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt
và mục tiêu lâu dài, là logic phát triển để cách mạng Việt Nam đi đến mục tiêu cuối cùng là xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Không thể đi đến mục tiêu cuối cùng nếu
không thực hiện được mục tiêu trước mắt đồng thời cũng khằng định chỉ thực hiện được mục tiêu cuối
cùng mới bảo vệ và phát triển được những thành quả của mục tiêu trước mắt. Vì vậy, nếu độc lập dân

tộc tạo cơ sở, tiền đề để đi lên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa xã hội là con đường tốt nhất để giữ vững
và phát triển lên một tầm cao mới những thành quả của độc lập dân tộc.
Xét về nội dung, mục đích và bản chất của Chủ nghi4a xã hội, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chủ


nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc ấm, được
học hành, các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Về mặt phân phối sản phẩm
lao động thì chủ nghĩa xã hội là ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai có sức lao động mà
không làm thì không hưởng, những người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có
trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng. Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và
kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được quan tâm và ngày một nâng cao.
Về mặt đối ngoại, chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, làm bạn với tất cả các nước. Chủ nghĩa xã
hội với những đặc trưng đó không chỉ bảo vệ những thành quả của độc lập dân tộc mà cơ bản tạo nên
sự phát triển mới vế chất; khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho
một nền độc lập dân tộc chân chính, mới giải phóng các dân tộc một cách thực sự, hoàn toàn.
Để đi đến thắng lợi của cách mạng, Hồ Chí Minh cũng đã xác định và khẳng định cách mạng, cả cách
mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa là việc khó, là cuộc đấu tranh gay go, ác liệt,
lâu dài. Giành độc lập dân tộc đã khó, xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khó khăn hơn. Người đã từng so
sánh: thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng lạc hậu khó khăn hơn và nhấn mạnh:
"Đánh đổ giai cấp địch đã khó, đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội còn gian khổ, khó khăn hơn
nhiều". Những khó khăn gian khổ ấy luôn đòi hỏi Đảng, Nhà nước, cán bộ đảng viên và nhân dân ta
phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Về thực tiễn: Cách mạng Việt nam là sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bằng những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội xuất hiện từ năm 1920, khi
Người bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin và nó được thể hiện rõ nét từ năm 1930. Sự thể hiện tư tưởng của
Người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có thể phân thành 3 thời kỳ chủ yếu.
+ Thời kỳ 1930 - 1945
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thời kỳ này thể hiện rõ trong

những Văn kiện do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị hợp nhất thông qua. Chánh cương vắn tắt
của Đảng chỉ rõ Đảng chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội xã hội cộng sản". Người đã khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam được thực hiện
bằng con đường cách mạng vô sản: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản". Nghĩa là: Đối tượng của cuộc đấu tranh là thực dân đế quốc và
bọn tay sai chống lại độc lập dân tộc. Người cũng xác định ở trong nước lực lượng cách mạng bao gồm
công nông là gốc và tất cả những ai có lòng yêu nước, thương nòi đồng thời nhấn mạnh phải kết hợp
với sự ủng hộ của Quốc tế Cộng sản, của Liên xô, kết hợp với phong trào công nhân và nhân dân lao
động chính quốc, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc để dưa cách mạng đến thành công. Trong đó
nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự lãnh đạo của Đảng theo
chủ nghĩa Mác-Lênin. Được minh chứng bằng thắng lợi của cách mạng tháng tám năm 1945 và khai
sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hòa (2/9/1945), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á,
đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước
+ Thời kỳ 1945 - 1954
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở những chủ trương, đường lối chiến lược
do người khởi xướng đó là "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "kháng chiến đi đôi với kiến quốc",
"kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến". Trong đó: Kháng chiến tức là bảo vệ nền độc
lập dân tộc, chống sự xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp theo phương châm trường kỳ kháng
chiến nhất định thắng lợi. Kiến quốc theo Hồ Chí Minh là xây dựng, củng cố Nhà nước dân chủ nhân


dân đầu tiên ở Đông Nam Á, xây dựng đời sống mới, xây dựng những cơ sở đầu tiên của chủ nghĩa xã
hội. Được minh chứng bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) kết thúc thắng lợi kháng
chiến chín năm, giữ vững nền độc lập non trẻ và xây dựng những tiền đề cho cách mạng XHCN ở miền
Bắc và cuộc kháng chiếu chống mỹ xâm lược thống nhất đất nước ở miền Nam
+ Thời kỳ 1954 - 1969
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua chủ
trương: Một Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: Xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh. Và

đã xây dựng miền Bắc đã thực sự trở thành hậu phương lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước ở miền Nam.
Ngày 2-9-1969, Tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời nhưng theo chỉ dẫn của Người, nhân dân ta đã
đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Với chiến dịch lịch sử mang tên Hồ Chí Minh, mục tiêu của thời
kỳ này được hoàn thành vào ngày 30-4-1975 giành lại động lập thống nhất cho dân tộc tạo tiền đề để
cả nước tiến lên xây dựng chủ nghị xã hội.
Trong giai đoạn lịch sử từ sau 1975 đến nay, tiếp tục dòng chảy xuyên suốt và thống nhất trên, tư
tưởng về độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta kiên định
và vận dụng, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua
từng gia đoạn. Thể hiện: Đại hội lần thứ VI (12-1986) của Đảng mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước đã
khẳng định: "Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và
lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông
qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) tiếp tục nhấn mạnh: "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và
CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta". Trong báo cáo chính trị được thông
qua tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng
Việt Nam trong giai đoạn mới là: "Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới;
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh". Và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) - Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI,
đại hội của dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã tiếp tục khẳng định: "Trong quá trình đổi mới, phải
kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh". Tư tưởng đó tiếp tục được minh chứng những thành quả cuộc công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bằng công cuộc hội nhập và phát triển mạnh mẽ của cách mạng
Việt Nam.
Như vậy, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên thực tế đã trở thành dòng tư tưởng chủ đạo,
xuyên suốt, được quán triệt và đề cao và trở thành thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam.
Chính nhờ sự kiên định đầy quyết tâm đó cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng mà nhân dân ta đã
đứng vững và tiếp tục kiên trì mục tiêu CNXH trong khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã lâm
vào thoái trào, tan rã; tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, giữ vũng độc lập, tự
chủ, niềm tin của Đảng trong lòng nhân dân ngày càng được củng cố, tăng cường, tạo đà cho sự phát

triển mạnh hơn, cao hơn, triệt để hơn của thời kỳ CNH-HĐH và từng bước hội nhập sâu rộng với quốc
tế, khẳng định vị thế và sức mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng nhiều vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa


được giải quyết tốt như: về việc làm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, về chính sách xã hội,…; trước
những nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo như: nguy cơ chệch hướng XHCN, tụt hậu về kinh tế, "diễn
biến hòa bình", tệ quan liêu tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức vẫn tồn tại và
diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó là những diễn biến nhanh, hết sức phức tạp và khó lường của tình
hình quốc tế cũng như mặt trái của quá trình hội nhập và phát triển luôn thường xuyên tác động đến
cách mạng XHCN của Việt Nam. Sự đan xen sâu sắc giữa những thời cơ và thách thức mà thời đại đặt
ra, buộc dân tộc ta, Đảng ta và bản thân mỗi người dân Việt Nam chúng ta hơn bao giờ hết phải kiên
định mục tiêu, định hướng XHCN. Mục tiêu định hướng đó đòi hỏi mọi người mà trước hết là những
cán bộ đảng viên, công chức phải đặt sự trung thành đối với Tổ quốc, với lý tưởng của Đảng và của
nhân dân lên trên hết; phải kiên định lập trường cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, nhất quyết thực hiện sứ mệnh: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, xây dựng thành công CNXH.
Từ cơ sở lý luận, thực tiễn nào Đảng ta khẳng định con đường cứu nước của HCM mà cốt
lõi là dộc lập dân tộc gắn liền CNXH là con đường duy nhất đúng ở nước ta hiện nay?
Độc lập dân tộc gắn liền CNXH là nét chủ đạo xuyên suốt hệ tư tưởng HCM, là quan điểm nhất quá của
Đảng ta trong suốt lịch sử hơn bảy thập kỷ của CMVN. Riêng trong những năm đổi mới gần đây, trước
sự đổ vở của chế độ XHCN ở LX và Đông Âu, Đãng và nhân dân ta phải vượt qua những thử thách rất
nghiệt ngã. Thành tựu đổi mới và những hướng phát triển tích cực của XH ta trong đổi mới, trước hết
là do Đảng ta đã kiên định sự lựa chọn ĐLDT gắn liền với CNXH.
Độc lập dân tộc là mục tiêu của cách mạng giải phóng DT, là tiền đề và điều kiện để xây dựng CNXH ở
nước ta.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh cho chế độ DCCH ở VN – thành quả vĩ đại của CM tháng Tám
năm 1945, CT HCM đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và trước thế giới về chủ quyền
độc lập của đất nước : mọi người dân đều có quyền hưởng tự do và độc lập, tòan thể dân tộc VN

quyết đem tất cả tính mạng và của cải để giữ trọn nền độc lập tự do đã giành được.
Trong Lời kêu gọi tòan quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Người nhấn mạnh :”Thà hy sinh tất cả,
chứ không chịu làm nô lệ”. Trong lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước năm 1966, HCM lại nhấn
mạnh :”Không có gì quí hơn độc lập tự do”.
Lãnh tụ HCM đã bôn ba tìm con đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mac Lênin tiến tới thành lập ĐCS
VN đã có đủ căn cứ khoa học để củng cố niềm tin vững chắc vào con đường mà HCM đã lựa chọn cho
DT ta.
Quá trình đến với chủ nghĩa XHKH và quá trình vận động thành lập Đảng là quá trình chọn lựa để xác
lập quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân VN và con đừơng cứu nươc theo phương hướng XHCN.
Sinh ra và lớn lên ở đất nước bị đế quốc Pháp xâm chiếm, DT bị chìm đắm trong vòng nô lệ, từ thuở
thiếu thời, HCM đã được tiếp thu truyền thống yêu nước của DTVN và đã “có chí đuổi thực dân, giải
phóng đồng bào”.
Người chúng kiến các phong trào yêu nước chống Pháp bị đàn áp dã man, biết rút kinh nghiệm thất
bại của con đường giành độc lập theo quan điểm cũ để đi tìm con đừơng mới.
Người quyết định đi sang phương Tây, nơi có khẩu hiệu “Tự do,bình đẳng, bác ái” để tìm con đường
cứu nước theo phương thức mới rồi “trở vềgiúp đồng bào”…. Như vậy, độc lập cho TQ, tự do cho
đồng bào là điểm xuất phát, là động lực thúc đẩy HCM ra đi tìm chân lý CM.
Và, trong quá trình đi tìm chân lý ấy, Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mac lênin, CNXHKH.


Trong gần 10 năm bôn ba khắc các châu lục, HCM đã thấy rõ sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế
quốc và cuộc sống cực khổ của những người lao động thuộc mọi màu da. Từ đó, ở Người dần dần hình
thành ý thức và lập trường của GCCN.
Trong cuộc hành trình này, người đã đến 3 đế quốc lớn là Mỹ, Anh, Pháp, do đó có điều kiện tìm hiểu,
nghiên cứu kỹ cuộc CM Mỹ (1776) và CM Pháp (1789). Người rút ra nhận xét : CM Mỹ và CM Pháp tuy
nêu cao khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng, bát ái thật sự cho
QC lao động; tiếng là cộng hòa, DC, nhưng ở trong nưới thì ra sức tước đọat quyền lợi của công nông,
còn ở bên ngòai thì tăng cường áp bức dân tộc thụôc địa. Người khâm phuc ý chí đấu tranh của nhdân
Mỹ và nhdân Pháp, nhưng Người cho rằng đó đều là những cuộc CM “không đến nợi”.
Sau này, trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, người Viết :”Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn

150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần hai”, còn Pháp thì “cách
mệnh đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nửa mới hòng tháot
khỏi vòng áp bức”.
Như vậy, Người cho rằng, việc giải phóng DT không thể đi theo con đừơng CMTS, mà phải đi theo con
đường CM khác.
Thắng lợi của CM tháng !0 Nga (1917) và việc thành lập qtế CS (1919) có ảnh hưởng quan trọng đến
tư tưởng và họat động CM của HCM, đặc biệt là Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề DT
và vấn đề thuộc địa của Lênin đã làm bừng sáng lên trong Người những nhận thức mới. Bởi vì, Luận
cương đã giải quyết trọn vẹn 1 vấn đề rất cơ bản mà Người đặc biệt quan tâm, đó là vấn đề giải phóng
DT thụôc địa được dặt ra trong quỹ đạo của CM XHCN, chứ không phải trong quỹ đạo của CMTS.
Người tiếp thu Luận cương với niềm cảm động, phấn khởi và tin tưởng biết bao và Người khẳng
định :”Chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các DT bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ”, và “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được DT; cả hai cuộc giải
phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và của CM thế giới”.
Trên diễn đàn Đại hội Đảng XH Pháp ở Tua năm 1920, Người cất cao tiếng nói yêu cầu Đảng XH phải
tuyên truyền CNXH trong các thuộc địa. Người gia nhập Qtế CS và tham gia quá trình thành lập ĐCS
Pháp, trở thành người cộng sản VN đầu tiên. HCM đã tìm ra con đường giành độc lập cho VN, tiếp nối
vĩ đại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của DT VN trên cơ sở sức mạnh mới, sức mạnh của thời đại
quá độ từ CNTB lên CNXH mở ra từ sau CM tháng Mười.
Sự kiện Đảng Cộng sản VN ra đời vào ngày 3/2/1930 với cương lĩnh CM đúng đắn của Đảng đã kết
thúc thời kỳ khủng hỏang đường lối CM VN.
CMVN từ đây có người lãnh đạo đúng đắn là ĐCSVN, có vũ khí tư tưởng sắc bén là chủ nghĩa Mac –
Lênin và CNXHKH. Quá trình lựa chọn, xác định mục tiêu của CMVN là quá trình đấu tranh gian khổ.
Bản thân phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN phải trải qua cuộc đấu tranh trong nội bộ
chống lại tư tưởng, tâm lý tiểu tư sản như tự do, tản mạn; đồng thời phải đấu tranh gay go, ác liệt với
kẻ thù nhưng vẫn vững tin vào mục tiêu, lý tưởng và chủ nghĩa mà mình đã chọn.

Độc lập DT gắn lìền CNXH là con đường đúng đắn, là sự lựa chọn sáng suốt có ý nghĩa thời đại, thể
hiện trí tuệ anh minh,linh khiếu chính trị tuyệt vời, một tình cảm của giai cấp và DT sâu sắc của HCM .
Từ năm 1930 đến 1969, HCM cùng tòan Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc CM DT DC nhân dân

để tiến lên CM XHCN.
Sau 30 năm họat động trong phong trào CM qtế, mùa xuân năm 1941, HCM về nước trực tiếp lãnh đạo
cuộc CM giải phóng DTVN. Trước diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Người dự
đóan 1 cách chính xác (tình hình CM) rằng, cuộc chiến tranh này sẽ kết thúc trong vòng 4 hoặc 5 năm


nữa, CN pháxít sẽ bị tiêu diệt, các lực lượng DC sẽ thắng, phong trào giải phóng DT sẽ bùng lên mạnh
mẽ ở A, Phi, Mỹ Latinh, nhiều DT sẽ lựa chọn con đừơng ĐLDT gắn liền với CNXH. Từ dụ đoán sáng
suốt đó, Người tích cực chuẩn bị cho công cuộc giải phóng DT .
Khi thời cơ đến, Người kêu gọi tòan dân VN “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho
được độc lập”. ý chí đó tạo nên sức mạnh to lớn bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa tòan quốc thắng
lợi nhanh gọn trong những ngày tháng Tám năm 1945.
CM tháng Tám thành công, nước VNDCCH ra đời – NN DCND đầu tiên ở ĐNÁ. Trong vòng vây của

chủ nghĩa đế quốc và trong điều kiện chính quyền NN còn non trẻ, HCM đã khéo lái con thuyền CM VN
vượt qua thác ghềnh trong những năm 1945 – 4945 với quyết tâm giữ vững nền độc lập vừa mới
giành được, để chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954),
tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập DT, tạo điều kiện tiến lên CNXH.
Và cuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi, kết thúc bằng chiến thằng Diện Biên Phủ oai hùng, tạo
điều kiện cơ bản để hòan thành nhiệm vụ CM DT DCND, mở đường tiến lên CM XHCN.
Sau khi kết thúc thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, miền Bắc hòan tòan được giải phóng, miền
Nam vẫn bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Trong điều kiện lịch sử phúc tạp đó, xuất
hiện những quan điểm khác nhau về CM miền Nam, về định hướng con đường phát triền miền Bắc, …
Ở thời điểm bước ngoặc đó, CT HCM kiên quyết khẳng định : trong bất kỳ tình huống nào, miền Bắc
cũng phải được củng cố và tiến lên CNXH, đồng thời hòan thành nhiệm vụ CMDTDCND ở miền Nam,
thống nhất TQ.
Trong lời kêu gọi nhân ngày quốc tế lao động ngày 01/5/1958, HCM nói rõ :”Từ ngày hòa bình lập lại,
miển Bắc nước ta đã chuyển sang thời kỳ quá độ tiến dần lên CNXH”.
Sau đó Ngừơi nhiều lần khẳng định :”Nước VNDCCH tiến dần từ chế độ DCND lên CNXH bằng cách
phát triển và cải tạo nền ktế quốc dân theo CHXN, biến nền ktế lạc hậu thành 1 nền ktế XHCN với

công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến ….”
Thực tiễn những năm 1954 – 1975 đã khẳng định việc quyết định đưa miền Bắc đi lên CNXH của HCM
và Đảng ta là hòan tòan đúng đắn. Nếu không có CNXH ở miền Bắc thì không có thắng lợi vĩ đại cũa
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và mục tiêu độc lập, thống nhất TQ của nhdân VN cũng không
thể thực hiện được.
CNXH, theo HCM không chỉ gắn liền với ĐLDT, mà còn là chế độ XH bảo đảm thắng lợi bền vững của
ĐLDT; CNXH được xây dựng bằng sức lao động sáng tạo của nhdân, phù hợp với quy luật phát triển
của XH lòai người nhằm mang lại hạnh phúc cho nhdân.
Có thể nói, CM nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN do HCM sáng lập và rèn luyện trãi qua hơn 70
năm là quá trình thực hiện và hòan thiện dần mục tiêu và con đừơng mà HCM đã vạch ra. Những
thắng lợi của AM VN đã chứng minh tư tưởng độc lập dân tộc và CNXH của người là đúng đắn.
Đilên CNXH là con đường tất yếu của CMVN, là sự lựa chọn sáng suốt của HCM, của Đảng và của
nhdân ta. XD 1 nước VN giàu mạnh, XHCN là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhdân ta.
Trong giai đọan hiện nay, Đảng ta là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới trên đất nước
ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN, mà làm cho mục tiêu ấy htực hiện có hiệu quả bằn
gnhững quan niệm đúng đắn và CNXH, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Đổi
mới là sự tiêp tục phát huy truềyn thống và thành quả CM, sữa chữa những sai lầm, khuyết điểm
nhằm đạt những thành tựu to lớn và vững chắc trong việc thực hiện những hniệm vụ XD CNXH.
Thấm nhuần tư tưởng đó, Đại Hội lần VII của Đảng ta khẳng định :”Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa
chọn của lính lịch sử, sự lựa chọn dã dứt khóat từ năm 1930 với sự ra đới của Đảng ta trong lúc các


phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trừơng tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm
lịch sử đều lần lượt thất bại”….
Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng do HCM sáng lập và rèn luyện, sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, DC, văn minh theo con đường XHCN ở VN nhất định sẽ
thành công.

Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết HCM? Vận dụng tư tưởng này trong
tình hình hiện nay? Liên hệ bản thân đồng chí.

1/ Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp của cách mạng.

a/ Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của
cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước chưa
đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể
tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán, lâu dài và xuyên suốt
tiến trình cách mạng.
Để quy tụ được lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính sách và phương
pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu
và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho
phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết dân tộc phải luôn được nhận thức là vấn đề
sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.
Chính sách Mặt trận đặt ra là để thực hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính
sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết
dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.
“Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể khắc
phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó”; “Đoàn kết là
một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi” “Đoàn kết là sức
mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Bây giờ còn một
điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là
đoàn kết”.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.

b/ Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn
của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, là nhiệm hàng đầu của Đảng, phải được

quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lốI, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của
Đảng.
Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu
của mọi giai đoạn cách mạng.
2/ Nội dung của đại đoàn kết dân tộc.

a. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, Hồ Chí Minh đã đề cập
vấn đề DÂN và NHÂN DÂN một cách rõ ràng, toàn diện, có sức thu phục lòng người. Các khái niệm


dân, nhân dân có nội hàm rất rộng, Hồ Chí Minh thường dùng những khái niệm này để chỉ “ mọi con

dân nước Việt”, “con Rồng, cháu Tiên”, không phân biệt tín ngưỡng, già trẻ, giá trai, vùng miền, giàu
nghèo… . Như vậy, nhân dân vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa là mỗi con người Việt
Nam cụ thể, cả hai đều là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc rất phong phú, bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ các quan hệ liên
kết qua lại giữa các thành viện, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp
đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới.. Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc,
Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ
giai cấp – dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng
đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không việt gian, không phản bội lại quyền lợi
của dân chúng là được.

b. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân
nghĩa – đoàn kết của dân tộc; đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào
nhân dân, tin vào con người.
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa –
đoàn kết của dân tộc.
Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người.

Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân.
Trình bày quan điểm, nguyên tắc và biện pháp thực hiện đại đoàn kết theo tư tửơng HCM
trong sự nghiệp đổi mới?
Một số nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống
nhất.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công- nông –
trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc,
quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, bảo
đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững.
- Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành,
thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Nguyên tắc đoàn kết quốc tế.
-

Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình.
Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.

Đoàn kết theo TT HCM trong sự nghiệp đổi mới.
Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cách mạng được Hồ Chí Minh đề ra từ rất sớm, trở
thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh làm nên mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam, một đóng góp quan trọng vào lý luận cách mạng thế giới.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã và đang chứng minh sức sống kỳ diệu của tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh. Trung thành và kiên định đi theo ngọn cờ đại đoàn kết Hồ Chí Minh, nghiên cứu
để kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết là một trong những nhân tố quan
trọng giúp chúng ta vượt qua mọi thử thách, hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới hiện nay, đại đoàn kết phải được củng cố



và phát triển nhằm rửa được cái nhục đói nghèo, lạc hậu, nỗi nhục tụt hậu về kinh tế, khoa học, công
nghệ so với nhiều nước trên thế giới. Từ đó làm cho Việt Nam vươn lên sánh vai với các cường quốc
năm châu, khơi dậy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước, không bỏ lỡ thời
cơ, vận hội, phát huy tinh thần tự lực tự cường, đẩy lùi mọi nguy cơ vượt qua mọi thử thách; phát huy
được tính năng động của mỗi người, của cả cộng đồng, khắc phục những tác động của nền kinh tế thị
trường để không làm phương hại nền văn hóa truyền thống dân tộc.
Trong điều kiện hiện nay, Đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải xây dựng được
một Đảng cầm quyền thật sự trong sạch vững mạnh; cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo vừa là
đầy tớ thật trung thành của nhân dân; một chế độ thật sự do nhân dân là chủ và làm chủ; một Nhà
nước thật sự của dân, do dân và vì dân; một hệ thống chính trị có hiệu quả và hiệu lực thực tế.
Trong khuôn khổ pháp luật, tiếp tực đổi mới chính sách giai cấp, chính sách xã hội, hoàn thiện
chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với trí thức, chính sách đối với cộng đồng
người Việt ở nước ngoài, tập hợp đến mức rộng rãi nhất mọi nhân tài, vật lực vào sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với kinh tế tri thức.
Đảng và Nhà nước ta phải chủ động xác định rõ các bước hội nhập quốc tế trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay, thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa, củng
cố khối đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và phát triển.
Đại đoàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh có ý nghĩa quyết định. Đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo
lực và thế để vươn ra bên ngoài, còn mở cửa hội nhập quốc tế cũng giúp lực và thế trong nước ngày
càng tăng lên. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại sẽ là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam theo
tư tưởng Hồ Chí Minh.

Câu 4: Trình bày quan điểm của HCM về xây dựng bộ máy nhà nước, về đội ngũ cán bộ - công chức? Ý
nghĩa đối với cải cách nền hành chính hiện nay? Liên hệ bản thân đồng chí.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công tác cán bộ
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công tác chiếm vị trí quan trọng
hàng đầu, có vai trò quyết định thành công tới toàn bộ công tác xây dựng lực lượng cách mạng của
Đảng. Khi nào, nơi nào làm tốt công tác cán bộ thì khi đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và

giành được thắng lợi, và ngược lại. Với quan điểm đó, cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn chú
trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, huấn luyện, thử thách, rèn luyện, sử dụng, đãi ngộ.
Sau năm 1920, khi đã trở thành người cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh
đã tích cực chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của ĐCS Việt Nam. Một trong
những nhiệm vụ quan trọng của Hồ Chí Minh là tìm kiếm những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào
tạo, bồi dưỡng, huấn luyện họ trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; gửi những người
ưu tú hoặc có nhiều triển vọng tốt vào đạo tại các trường của Trung Quốc và của Quốc tế Cộng sản.
Từ khi thành lập ĐCS Việt Nam đầu năm 1930 trở đi, Hồ Chí Minh luôn luôn chú ý huấn luyện và xây
dựng lực lượng cán bộ. Chính do như vậy, cho nên Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây
dựng CNXH ở miền Bắc.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Phạm vi của vấn đề công tác cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, xin nêu chủ yếu một số nội
dung sau đây:


– Hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng cán bộ. Đây là yêu cầu xuất phát để
tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ. Nếu không đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác
cán bộ thì không thể đề ra chính sách cán bộ một cách đúng đắn được. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi
lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ
bị lòi ra. Hiểu và đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ phải có những yêu cầu riêng.
Đồng thời, hiểu và đánh giá đúng cán bộ phải có có những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng
địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Yêu cầu về mặt này
cho chúng ta thấy không thể đem cái thước đo chất lượng của cán bộ vùng thành thị để đo chất lượng
cán bộ vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; không thể đem thước đo chất lượng cán bộ lĩnh vực
này vào đo chất lượng cán bộ ở lĩnh vực khác.
Người làm công tác cán bộ khi đánh giá, xem xét cán bộ phải “tự biết mình”, tức là biết được “sự phải
trái của mình”, sửa chữa những khuyết điểm của mình, để “mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét
cán bộ càng đúng”, như thế mới không phạm những căn bệnh:

1. Tự cao tự đại;
2. Ưa người ta nịnh mình;
3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người;
4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, nếu phạm một trong bốn bệnh đó thì người làm công tác cán bộ cũng như mắt
đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, xem xét một người cán bộ không nên chỉ xem xét mặt bên ngoài, xem
xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ cả toàn bộ công việc của người cán bộ đó. Quan niệm của Hồ
Chí Minh là: trong thế giới, cái gì cũng biến hoá, tư tưởng con người cũng vậy, cho nên xem xét cán bộ
phải toàn diện, xem xét cả một quá trình công tác của người cán bộ. Có người trước đây có sai lầm
nhưng nay đã sửa chữa được, có người nay không có sai lầm nhưng sau lại mắc sai lầm, có người
trước đây đi theo cách mạng nay lại phản cách mạng, ngược lại có người trước đây không theo cách
mạng nay lại tham gia cách mạng… nghĩa là quá khứ, hiện tại, tương lai của mọi người không phải
luôn luôn giống nhau. Do đó, xem xét cán bộ phải xem xét cả lịch sử của họ, toàn bộ công việc của
họ.
Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước
mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình,
những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt. Ai cứ cắm đầu làm việc,
không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc
dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào,
lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt.
Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho
họ”.

Phải “khéo dùng cán bộ”, “dùng người đúng chỗ, đúng việc”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: dùng người như
dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được. Hồ Chí Minh phê bình
rằng, thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người, thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc
thì bảo đi rèn dao, thành thử hai người đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng người thì hai người
đều thành công.
Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ “kéo bè kéo cánh” trong công tác cán bộ. Tệ này phát sinh từ

bệnh bè phái, ai hợp với mình thì thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy


cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng
cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Khuyết điểm này, như Hồ Chí
Minh chỉ ra, nó rất tai hại, nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách
của mình, làm hại sự thống nhất, nó làm mất sự thân ái, đoàn kết đồng chí, gây ra những mối nghi
ngờ…
Hồ Chí Minh nêu ra quan điểm toàn diện khi xem xét để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: Khi cất nhắc một
cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục
không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng
không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không
biết làm, vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại.
Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây:
1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài;
2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực;
3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình.
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm dùng cán bộ đúng với 5 nội dung:
– Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể có thái độ và tinh thần chí công vô tư đối với cán bộ, không có
thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi.
– Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gụi với những người mà mình không ưa.
– Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những cán bộ còn kém, giúp cho họ tiến bộ.
– Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt.
– Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, cán bộ mới vui lòng gần gụi mình.

– Phải chống chủ nghĩa biệt phái, cục bộ, địa phương, hẹp hòi. Hồ Chí Minh hay nhấn mạnh đến việc
chống cánh hẩu, họ hàng, thân quen trong công tác cán bộ nói chung cũng như trong chính sách cán
bộ nói riêng. Người phê bình một cách nghiêm khắc việc ưa kẻ nịnh người làm công tác cán bộ, tìm
cách lợi dụng chức quyền để đưa anh em, họ hàng, bạn bè thân quen vào chức này chức nọ. Hồ Chí
Minh chỉ rõ tác hại của bệnh hẹp hòi, bệnh địa phương cục bộ. Theo Người, những bệnh chủ nghĩa địa

phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người
giỏi, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra.
Trong vấn đề này, Hồ Chí Minh cũng đề cập việc kết hợp cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều
về. Người phê bình do hẹp hòi mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết
chặt chẽ. Hồ Chí Minh cho rằng, phải chữa cho “tiệt nọc” bệnh hẹp hòi, khắc phục kèn cựa, mất đoàn
kết giữa cán bộ trên điều về và cán bộ tại chỗ. Người viết: “Phải biết rằng: chỉ có hai hạng cán bộ đó
đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày càng thêm nhiều, thì nền tảng của Đảng mới phát
triển vững vàng. Cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa
phương lại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi đắp
nhau, thì công việc mới chạy”. Theo quan điểm của Người, tốt nhất là kiếm cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi
dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; song nếu không có hoặc thiếu thì điều động cán bộ ở nơi khác
về. Chúng ta thấy rằng, đây chính là thực hiện quan điểm coi Đảng ta là một cơ thể sống, đội ngũ cán
bộ là một đội ngũ thống nhất, cán bộ có thể và cần phải được bố trí công tác ở bất cứ địa bàn nào
miễn là người cán bộ đó có đủ đức và tài, có tính đến đặc điểm, yêu cầu của từng vùng, từng lĩnh vực.
Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa cán bộ mới và cán bộ cũ cũng được Hồ Chí Minh đề cập không ít
trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ tính tất yếu, tự nhiên, hợp quy
luật của vấn đề này, khi cho rằng: “Số cán bộ cũ có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật


tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công
việc của Đảng”. Hồ Chí Minh phân tích rằng, cán bộ mới “vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít,
cónhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường
giàu sáng kiến hơn”. Do đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu
mến cán bộ mới…Hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với
nhau…Cán bộ cũ thường giữ địa vị lãnh đạo. Vì vâỵ, nếu từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy
không ổn thoả, thì cán bộ cũ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi”.

– Phải chú trọng đến công tác đề bạt cán bộ. Hồ Chí Minh lưu ý việc phải xem xét thật kỹ trước khi đề
bạt cán bộ, sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra người cán bộ đó; nếu không như
thế thì hỏng việc. Hồ Chí Minh viết rõ: cất nhắc cán bộ không nên làm theo lối giã gạo, nghĩa là trước

khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống,
chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên; một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời.
Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm quý trọng cán bộ khi cho rằng: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người
làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có
ích cho công việc chung của chúng ta”.

– Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong công tác cán bộ, phải chú ý việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mà
Hồ Chí Minh cho rằng, đây là công việc gốc của Đảng khi đặt trong mối quan hệ với nội dung vai trò
của cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một công việc quan trọng, phải được tiến hành
thường xuyên. Ở đây, có mấy điểm đáng chú ý mà Hồ Chí Minh đã nêu:
– Học phải thiết thực, “lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.
– Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tế.
– Sắp xếp thời gian và bài học phải hợp lý.
– Tuyệt đối chống bệnh chủ quan, hẹp hòi, ba hoa.
– Các tài liệu huấn luyện phải do cơ quan lãnh đạo xét kỹ.
– Những giờ học tập đều tính như những giờ làm việc.
– Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định.
– Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
– Những người lãnh đạo phải tham gia giảng dạy các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng.
– Đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có kinh phí tương xứng với yêu cầu, “không nên
bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa và thực tiễn sâu sắc. Đó là những quan
điểm cơ bản chỉ đạo chung vào công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong tất cả các thời kỳ hoạt động
của Đảng, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng hiện nay, thời kỳ Đảng tiếp tục cầm quyền lãnh đạo sự
nghiệp phát triển đất nước vì những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Câu 5: Phân tích tư tưởng HCM về công tác cán bộ và đạo đức cách mạng của người cán bộ? Ý nghĩa đối với
công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam? Liên hệ bản thân đồng chí.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ
Hồ Chí Minh là một trong những người tham gia thành lập ĐCS Pháp năm 1920; là người sáng lập ĐCS

Việt Nam đầu năm 1930; là cán bộ của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Hồ Chí Minh là lãnh tụ
của ĐCS Việt Nam, suốt cả cuộc đời chăm lo lãnh đạo, rèn luyện Đảng, đồng thời là một chiến sĩ kiên
cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ để có
đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác


cán bộ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là giây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn
thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu
rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để
đặt chính sách cho đúng”. Như vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng
lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và
quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho.
Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc
thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng,
cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có
vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.
Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ vừa là người lãnh
đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành, là trâu ngựa của nhân dân.

Yêu cầu đối với cán bộ cách mạng
Yêu cầu về tư cách. Có ba nội dung chủ yếu nhất sau đây có tính bao quát toàn bộ các mặt của nó mà
Hồ Chí Minh hay nêu:

Một là: Cán bộ phải suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng .
Hai là: Người cán bộ phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết , “ngoài lợi
ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức
nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của
nhân dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng”. Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc:

“Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải
phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”.
Trong việc chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh rất coi trọng lợi ích cá nhân, miễn là lợi ích cá nhân
của cán bộ là phù hợp với lợi ích của Đảng, của cách mạng. Trong cuộc sống, nhiều khi lợi ích cá nhân
phù hợp với lợi ích của Đảng, nhưng cũng có lúc không, vì thế Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu gặp khi
lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của
cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng”;
đảng viên và cán bộ “phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết…Vô luận lúc nào, vô luận
việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là
nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Ba là: Người cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng trong cuộc sống . Điểm
nổi bật của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác ở trong nước và trên thế giới là toàn bộ cuộc đời
của Người là tấm gương sáng về đạo đức. Sức mạnh của đạo đức đã lan toả, thẩm thấu trong suốt
chiều dài lịch sử của dân tộc, trở thành giá trị cốt lõi, vĩnh hằng của văn hoá trong các thế hệ các dân
tộc ở trên đất nước Việt Nam. Nếu cán bộ không có một đời tư trong sáng thì sẽ không thuyết phục,
vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng. Người cán bộ, ngoài việc phải hoàn thành
tốt công việc chung của Đảng đã được phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là
một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với
mọi người chung quanh trong cùng bản làng, phum, sóc, thôn xóm…

Yêu cầu về phẩm chất, năng lực. Trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”,
“nguồn” đúng như Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính
chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không ít lần, Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là


một tổ chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách
mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như
dưới thời thực dân-phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè
đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân-phong kiến”, v.v. Người cán bộ phải tận tụy với sự

nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân
tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trung thành ở đây trước hết đòi hỏi cán bộ
phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không
kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động;
“vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi”; phải luôn luôn có ý thức và hành động bảo
vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc. Trung thành với cách mạng là phải hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng,
phục vụ nhân dân, là việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù
nhỏ, cũng hết sức tránh.
Đồng thời, về năng lực, cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Muốn thế, phải “chuyên”. Đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể chỉ biến thành hiện thực trong
cuộc sống, ngoài yêu cầu về việc đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng đắn, còn
có việc phải tổ chức lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ra sức thực hiện thắng lợi. Không như thế thì
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm
trên giấy.

Cán bộ phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đây là yêu cầu đối với cán bộ ở tất cả các thời kỳ
cách mạng, nhưng trong thời kỳ Đảng cầm quyền càng đặc biệt quan trọng hơn. Hồ Chí Minh nhấn
mạnh rằng, người cán bộ, bằng hành động thực tế của mình, phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính,
dân phục; đừng có mang danh cộng sản để đè đầu cưỡi cổ nhân dân; phải yêu dân, kính dân; phải
việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh; phải khổ
trước thiên hạ và vui sau thiên hạ; phải vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành
của nhân dân.

Cán bộ phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt. Học suốt đời, học không biết chán,
dạy không biết mỏi (Nho giáo); học, học nữa và học mãi (V.I.Lênin)… đó là những điều mà Hồ Chí
Minh đã chú ý vận dụng vào trong cuộc sống của chính bản thân mình và giáo dục, rèn luyện cho cán
bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh quan niệm: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Hồ Chí Minh cho rằng,

ngày nay không thể lãnh đạo chung chung được nữa, rằng, chỉ có lòng nhiệt tình không thôi thì chưa
đủ, mà còn phải có tri thức nữa. Hồ Chí Minh suốt đời chăm chỉ học tập, già rồi, cuối đời rồi vẫn còn
học; học ở nhà trường, học trong cuộc sống, và quan niệm của Hồ Chí Minh học không phải là để có
bằng cấp, để thăng chức.

Cán bộ phải có phong cách tốt. Theo Hồ Chí Minh, muốn có phong cách công tác tốt, phải phòng và
chống tác phong chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái, ham chuộng hình thức, phô trương cho oai,
làm đại khái, qua loa. Phải sâu sát, tỷ mỉ; nắm việc lớn, phải giải quyết bắt dầu từ những việc cơ bản,
không cận thị (tức là chỉ nhìn gần mà không nhìn xa trông rộng được), có đầu óc quan sát; phải chân
đi, miệng nói, tay làm, không như thế thì đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo công văn nhưng công việc
không chạy.
Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật Đảng thường xuyên tự đổi mới,
tự chỉnh đốn bản thân mình. Điều này đúng như điều tất yếu mà Hồ Chí Minh đã nêu: Đảng ta không


phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra, do đó, Đảng phải thường xuyên phải tự đổi mới, tự
chỉnh đốn, và đó chính là quy luật phát triển của một Đảng Mác – Lênin, một Đảng chiến đấu dưới lá
cờ của chủ nghĩa cộng sản, vì một xã hội tốt đẹp, vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người.
Riêng về phong cách công tác của cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các vấn đề chủ yếu: Sửa cách
lãnh đạo về công tác cán bộ; Biết chọn trình tự ưu tiên công việc; Thường xuyên tổng kết công tác;
Phải luôn luôn có sáng kiến; Sâu sát, gần gũi nhân dân, có tinh thần phụ trách trước dân; Phải kiểm
tra, kiểm soát chặt chẽ; Có lãnh đạo chung, nhưng có chỉ đạo điểm.



×