1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, cùng với các yếu tố cơ bản
khác như kinh tế, chính trị - xã hội… thì văn hóa đóng một vai trò hết sức quan
trọng; “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội”1. Một xã hội đạt được sự phát triển bền vững, phải
kết hợp phát triển cân đối và hài hòa giữa các lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, văn
hóa. Sự phát triển của mỗi xã hội không chỉ căn cứ vào thước đo duy nhất là kinh
tế, mặc dù kinh tế là cơ sở nền tảng vật chất của một cơ cấu xã hội. Văn hóa với
những giá trị truyền thống của dân tộc là nền tảng tinh thần của dân tộc đó sẽ góp
phần quan trọng định hướng cho xã hội hướng đến sự phát triển một cách bền
vững. Chính vì thế, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời k quá độ lên
chủ nghĩa xã hội b sung, phát triển năm 2011 , và trong các nghị quyết của ảng,
ảng ta luôn kh ng định, phải tiếp tục: “đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa
đất nước”2, đồng thời phải “kh ng định và phát huy các giá trị cốt lõi của văn hóa
Vi t Nam, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển bền vững”3.
Cùng với chiến lược phát triển chung của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh một trong những đô thị, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của cả nước,
với danh hi u “ ất thép thành đồng” trong công cuộc kháng chiến cứu nước trước
kia; và là thành phố “phải đi trước và về đích trước trong sự nghi p công nghi p
hóa, hi n đại hóa đất nước”4 hi n nay, nhi m vụ mới đặt ra, đối với ảng bộ và
nhân dân thành phố là cần phải đẩy mạnh quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa
để phát triển thành phố “trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hi n
đại”, nghĩa tình và là đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
ảng Cộng sản Vi t Nam 1998 , Văn kiện Hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương
khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.55
2
ảng Cộng sản Vi t Nam 2011 , Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.72
3
ảng Cộng sản Vi t Nam 2014 , Dự thảo “Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững đất nước, tr.5
4
ảng Cộng sản Vi t Nam, ảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 2005 : Văn kiện đại hội đại biểu
Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, tr.124.
1
2
Quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa mà thành phố Hồ Chí Minh và cả
nước đang thực hi n, không chỉ liên quan đến vi c trang bị lại công ngh hi n đại
cho các ngành kinh tế, mà thực chất chính là quá trình cải biến mọi hoạt động
kinh tế, chính trị, xã hội lên trình độ tiên tiến, hi n đại. ể thực hi n nhi m vụ
trên, thành phố Hồ Chí Minh không chỉ đơn giản là ứng dụng khoa học - kỹ thuật
- công ngh tiên tiến từ bên ngoài, mà là phải biết kết hợp các nguồn nội lực, lợi
thế của đất nước, vùng, địa phương cùng với các yếu tố bên ngoài. Cùng với vi c
khai thác lợi thế của vùng cũng như huy động sức mạnh t ng hợp của mọi nguồn
lực cho vi c đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa, thì giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí Minh đóng một vai trò không
nhỏ. Các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc luôn được xác định là nền tảng, là
sức mạnh tinh thần, là động lực và mục tiêu cho sự phát triển xã hội. Vì vậy, song
song với vi c phát triển kinh tế, thực hi n công nghi p hóa, hi n đại hóa thì cần
phải biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tinh thần mang
nét đặc trưng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, biến chúng trở thành một
trong những nguồn lực nội sinh quan trọng, đảm bảo thắng lợi toàn di n quá trình
đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh. Với tất cả
những l do trên, tác giả đã chọn vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” làm luận án tiến sĩ Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với đề tài luận án, đã có nhiều công trình của nhiều tác giả trong và ngoài
nước tiếp cận nghiên cứu theo các góc độ chính như sau:
Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận chung về văn hóa, bản sắc văn hóa
dân tộc và vai trò bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đối với sự nghiệp phát triển đất
nước. Ở nước ngoài, khá nhiều công trình nghiên cứu tập trung trình bày những vấn
đề về đặc điểm, tính chất và quy luật vận động của văn hóa, vị trí và vai trò của văn
hóa trong phát triển cũng như những yếu tố xác định bản sắc văn hóa dân tộc của
mỗi quốc gia và vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc. E.B.Taylor (E.B.Tylor) công bố
công trình Văn hóa nguyên thủy vào năm 1871. Vào cuối những năm 70 của thế kỷ
XX, Phrăngxoa Prutxơ Francois Perroux – giáo sư người Pháp đã tập trung một số
nhà l luận có tên tu i của UNESCO để viết cuốn “Triết lý của sự phát triển” Pour
une philosophie du noveau développement . Và ngày 8 tháng 12 năm 1986, Liên
3
hợp quốc đã thông qua Nghị quyết 41/187 tuyên bố Thập kỷ 1988 – 1997 là Thập kỷ
thế giới vì sự phát triển văn hóa. “Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin” do Acnônđốp
A.I chủ biên, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1991 ; “Tính kế thừa trong sự phát triển văn
hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội” của Cairan V.I, Mátxcơva, 1977; “Văn
hóa học” của V.M. Rôđin do Nxb. Khoa học Mátxcơva,1998.
Ở trong nước, có thể phân các công trình nghiên cứu về các vấn đề liên
quan đến luận án ra thành hai nhóm cơ bản sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về văn hóa và vai trò của văn hóa đối
với sự phát triển; đó là các tác phẩm: T ng tập “Khái niệm và quan niệm về văn
hóa” Vi n Văn hóa ấn hành năm 1986; “Văn hóa xã hội chủ nghĩa” của tập thể các
nhà khoa học thuộc Học vi n chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã biên soạn tập bài
giảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986; “Vấn đề văn hóa và phát triển” của
Hoàng Trinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do
Trần Quốc Vượng chủ biên, Nxb. Giáo dục xuất bản năm 1998; “Văn hóa dân tộc
một số vấn đề triết học” của TS. Hoàng Văn Lương, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2002;
“Nhận thức văn hóa Việt Nam” của GS,TS. Nguyễn Duy Qu , Nxb. Khoa học xã
hội, 2008; “Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách
thức” của GS,TS. Trần Văn Bính, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010; Thứ hai,
các công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam và vai trò của bản
sắc văn hóa dân tộc đối với sự phát triển đất nước, n i lên một số công trình sau:
“Bản sắc dân tộc của văn hóa" của GS,TS. ỗ Huy, Nxb. Văn hóa, 1990; “Bản sắc
dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa" của GS,VS. Hoàng Trinh, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000 ; “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS. Phan Ngọc, Nxb.
Văn học, 2002; “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam - Mấy vấn đề
lý luận và thực tiễn" do PGS,TS. Thành Duy chủ biên , Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2006…
Về các công trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa của vùng đất Sài Gòn –
Thành phố Hồ Chí Minh và vai trò của văn hóa truyền thống đối với sự phát triển
của thành phố, có thể khái quát thành hai nhóm cơ bản như sau: Thứ nhất, các công
trình nghiên cứu về lịch sử - văn hóa và con người của vùng đất Nam bộ. ó là các
công trình: “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài ức; Bộ sách được dâng
lên vua Minh M nh vào năm Canh Thìn 1820 ; “Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Biên khảo của Sơn Nam, Nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất , 2014. “Địa chí
4
văn hóa thành phố Hồ Chí Minh” do GS. Trần Văn Giàu – Trần Bạch ằng – GS.
Nguyễn Công Bình đồng chủ biên, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, 4 tập;
“Miền Đông Nam Bộ con người văn hóa” của Phan Xuân Biên, Nxb. ại học quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004. Thứ hai, các công trình viết về những giá trị
văn hóa truyền thống với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh hi n nay; đó là
công trình “Những giá trị văn hóa đô thị Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” do
Tôn Nữ Qu nh Trân chủ biên, Nxb. T ng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2010.
Các công trình nghiên cứu về sự tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã
hội đối với các giá trị văn hóa truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh. Với khá
nhiều các công trình nghiên cứu, có thể kể đến những kết quả chủ yếu trong các
công trình tiêu biểu sau: “Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại
thành phố Hồ Chí Minh” do Tôn Nữ Qu nh Trân chủ biên, Nhà xuất bản Trẻ,
1999. “Một số vấn đề văn hóa cơ bản ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS. Nguyễn Tấn ắc chủ nhi m, năm 2000
“Vấn đề giữ gìn văn hóa truyền thống và xây dựng nền văn hóa hiện đại đậm đà
bản sắc dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài nghiên cứu khoa học do GS.
Hoàng Như Mai chủ nhi m thuộc Sở khoa học công ngh và môi trường thành phố
Hồ Chí Minh, năm 2001. “Về công tác tư tưởng và văn hóa ở thành phố Hồ Chí
Minh” của cố T ng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1985.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Trên cơ sở làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam trong quá trình công
nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước, chỉ ra được những biểu hi n đặc thù và xác
định tầm quan trọng của vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t
Nam đối với quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh;
luận án nhằm đánh giá thực trạng, xác định phương hướng và đề ra các nhóm giải
pháp cơ bản đảm bảo cho vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t
Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa.
Nhiệm vụ của luận án:
ể đạt được mục đích trên, luận án phải thực hi n các nhi m vụ sau:
- Thứ nhất, trình bày, phân tích làm rõ quan ni m về bản sắc văn hóa dân tộc
Vi t Nam; phân tích, luận giải về đặc điểm của quá trình công nghi p hóa, hi n
5
đại hóa ở Vi t Nam, và vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam trong sự
nghi p công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước hi n nay.
- Thứ hai, trình bày khái quát những điều ki n ảnh hưởng và những biểu
hi n đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí Minh;
phân tích, làm rõ vai trò và yêu cầu của vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Vi t Nam đối với quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa ở thành phố Hồ
Chí Minh
- Thứ ba, trình bày, phân tích chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và những vấn
đề đặt ra cho vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành
phố Hồ Chí Minh trong những năm qua; từ đó đề ra các phương hướng và một số
giải pháp cơ bản của vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở
thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hi n nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu vi c giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí Minh
trong quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa.
4. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án được thực hi n trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận
bi n chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nội dung của luận án được triển khai tiếp
cận chủ yếu với những phương pháp nghiên cứu t ng hợp liên ngành, trong đó đặc
bi t chú trọng các phương pháp như: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp
phân tích - t ng hợp, phương pháp thống kê…để nghiên cứu và trình bày luận án.
5. Cái mới của luận án
Một là, luận án đã làm rõ những biểu hi n đặc thù của bản sắc văn hóa dân
tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở khái quát những điều ki n hình
thành như: lịch sử, vị trí địa l , dân cư, chính trị - xã hội.
Hai là, luận án đã trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một
số phương hướng, giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đẩy mạnh công nghi p hóa,
hi n đại hóa.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm rõ l luận về bản sắc văn hóa dân
tộc Vi t Nam và những biểu hi n đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở
6
thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, phân tích, làm sáng tỏ vai trò và yêu cầu của
vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ Chí
Minh đối với quá trình đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa.
Ý nghĩa thực tiễn: Những phân tích, đánh giá về thực trạng, những phương
hướng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở
thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước
mà luận án đề xuất sẽ góp phần giúp ảng bộ, chính quyền thành phố tham khảo
trong vi c hoạch định chính sách để phát huy tốt hơn vai trò của bản sắc văn hóa
dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài li u tham khảo và
phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết và 12 tiểu tiết.
Chƣơng 1
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1.1. Quan niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Quan niệm về văn hóa
Văn hóa được xem là khái ni m đa tầng, đa nghĩa với ngoại diên rộng lớn
và nội hàm phong phú sâu sắc, là sự sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá
khứ cũng như đang diễn ra trong hi n tại.
Trên cơ sở phân tích, đúc rút những nội dung căn bản, xuyên suốt qua các
định nghĩa về văn hóa đã được ph biến và sử dụng rộng rãi từ c đại đến nay, ở
phương ông và phương Tây, từ quan điểm của chủ nghĩa Mác = Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của ảng Cộng sản Vi t Nam, xuất phát từ mục đích của luận án
là xem xét văn hóa ở góc độ là giá trị và h giá trị - bản sắc văn hóa dân tộc, tác
giả tán thành định nghĩa văn hóa trong Từ điển bách khoa Việt Nam, văn hóa là
“toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một
dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước”. Văn hóa tự bản thân đã mang đậm dấu ấn riêng của từng dân tộc, bản sắc
riêng của từng dân tộc = bản sắc văn hóa dân tộc.
7
Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa dân tộc, để làm rõ quan ni m này tác giả luận án đã xác
định rõ các thuật ngữ “bản sắc”, “dân tộc”,“bản sắc dân tộc” và “bản sắc văn
hóa”. Mỗi dân tộc, mỗi tộc người, trong quá trình hình thành và phát triển của
mình, đều tạo nên những giá trị văn hóa riêng, bản sắc văn hóa dân tộc.
Trên cơ sở các đặc điểm của bản sắc văn hóa dân tộc: một là, thể hi n ra ở
những h giá trị - là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc; hai là, tính bền vững và
trường tồn trong lịch sử mà nhờ đó thế h sau kế thừa phát triển ngay trên giá trị
quá khứ, tiếp thu giá trị hi n đại. Vậy, bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những
giá trị văn hóa đặc sắc, bền vững của một dân tộc được sáng tạo nên trong lịch
sử qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài của dân tộc, làm cho dân tộc đó hiện
ra với những nét độc đáo, phân biệt với dân tộc khác.
Từ vi c xác định rõ các thuật ngữ cũng như đặc điểm cơ bản và nội dung
của bản sắc văn hóa dân tộc, sẽ là cơ sở để đi vào tìm hiểu một cách cụ thể về bản
sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam.
1.1.2. Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Cơ sở hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam được hình thành từ chính những
điều cơ bản sau đây: thứ nhất, bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam bị quy định bởi
môi trường trong đó cộng đồng dân tộc sinh sống; thứ hai, quốc gia dân tộc Vi t
Nam được hình thành từ rất sớm, với thức quốc gia dân tộc được thể hi n rất
cao; thứ ba, các hình thái kinh tế - xã hội trong toàn bộ tiến trình lịch sử Vi t Nam
phát triển không hoàn thi n trên cơ sở chính nó, mang tính xã hội phức tạp và khó
phân k lịch sử; thứ tư, lịch sử dân tộc Vi t Nam là lịch sử của chuỗi dài đấu tranh
giải phóng dân tộc, giành lại độc lập và bảo v T quốc; thứ năm, vị trí địa chính trị
kinh tế hết sức thuận lợi cho vi c giao lưu kinh tế, xã hội và đặc bi t là giao lưu văn
hóa. Và xét cho cùng, yếu tố chính để quyết định nội dung và bản sắc văn hóa dân
tộc Vi t Nam chính là cuộc sinh tồn lịch sử của dân tộc Vi t Nam.
Hệ thống các giá trị phổ biến của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc là tâm thức của con người
Vi t Nam = một h giá trị cốt lõi, hàng đầu của dân tộc ta. Lòng yêu nước của con
người Vi t Nam đã vượt lên tất cả, mang sắc thái riêng. Lòng yêu nước đã trở
thành chuẩn mực đạo đức, thành một triết l xã hội và nhân sinh của người Vi t
8
Nam. Từ tinh thần yêu nước - h giá trị cốt lõi đó còn là một h giá trị gắn kết – ý
chí tự cường dân tộc.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - làng xã - Tổ quốc là
nguồn sức mạnh nội sinh đặc bi t quan trọng của dân tộc Vi t Nam, góp phần làm
cho dân tộc trường tồn và lớn mạnh.
Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý chính là tình thương yêu
của con người Vi t Nam thắm đượm trong các mối quan h giữa các thành viên
trong gia đình, làng xóm, cộng đồng và trở thành một nét độc đáo, một chuẩn mực
sống của con người Vi t Nam.
Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động là nguồn gốc của mọi của cải và
hạnh phúc đã ăn sâu vào tâm thức của người Vi t Nam. Nó vừa là điều ki n đảm
bảo nhu cầu sống của con người, là sự thể hi n trách nhi m của con người Vi t
Nam đối với đất nước.
Sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống chính cuộc sống tần tảo cũng
như sự bình lặng ít thay đ i của nền sản xuất nông nghi p đã tạo nên con người với
đức tính giản dị, khiêm tốn, ngay th ng, thật thà coi trọng thực chất, ghét thói xu
nịnh. Bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam đã và đang là nguồn lực nội sinh góp phần
quan trọng tạo nên những thành công với mục tiêu của sự phát triển.
1.2. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ VAI TRÕ CỦA BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA ĐẤT NƢỚC
1.2.1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc điểm của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Quan niệm chung về công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng
phát triển mạnh công nghi p, tạo ra sự vượt trội của công nghi p trong cơ cấu
kinh tế và cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học, công ngh
mới hi n đại làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh, vững chắc của
toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Hiện đại hóa là quá trình sử dụng các thành tựu của
khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại để áp dụng trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, làm cho xã hội hi n đại, văn minh và mục tiêu cao nhất là hi n đại
hóa đời sống con người. L luận và thực tiễn cho thấy, công nghi p hóa, hi n đại
hóa được xem là một quy luật, là một quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
9
Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Quá trình thực hi n công nghi p hóa, hi n đại hóa ở Vi t Nam với những
đặc điểm cơ bản: một là, công nghi p hóa gắn liền với hi n đại hóa; hai là, khoa
học và công ngh được xác định là nền tảng, là động lực của công nghi p hóa,
hi n đại hóa; gắn liền với nền kinh tế trí thức; ba là, nó thực hi n trong bối cảnh
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy hi u quả kinh tế
- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản; bốn là, nó gắn liền với vi c xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Với vai trò là nền tảng, động
lực tinh thần của xã hội và là một trong những yếu tố định hướng, đảm bảo cho sự
thắng lợi của quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa đó chính là bản sắc văn hóa
dân tộc Vi t Nam.
1.2.2. Vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nền tảng tinh thần trong công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là nền tảng tinh thần của xã hội bản sắc văn hóa
dân tộc sẽ tạo nên cốt cách, trí tu , bản lĩnh và sức mạnh nội lực “nguyên khí” của
đất nước ta trong quá trình thực hi n công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là động lực tinh thần thúc đẩy tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. “ ộng lực” là năng lượng vốn có của bản
thân sự vật, tạo nên sự tự thân vận động của bản thân sự vật đó, đồng thời tác động,
thúc đẩy sự vật khác vận động, phát triển. Với tư cách là động lực tinh thần, bản
sắc văn hóa dân tộc không chỉ được hình thành, bồi đắp và thấm sâu vào từng con
người, từng lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn trở thành năng lượng, sức mạnh
nội sinh, tiềm năng nội lực, tác động, thúc đẩy quá trình công nghi p hóa, hi n đại
hóa nói riêng và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là một trong những nhân tố định hướng,
đảm bảo thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự
nghi p đ i mới xây dựng phát triển n định bền vững nền kinh tế - xã hội của Vi t
Nam nói chung, sự nghi p công nghi p hóa, hi n đại hóa nói riêng muốn thành
công cần có yếu tố vừa là nền tảng vừa có tính chất vạch hướng cho quá trình phát
triển đó. Từ đó mới xác định mục tiêu cách thức, phương pháp phát triển xã hội,
thực hi n công nghi p hóa, hi n đại hóa thắng lợi. Bản sắc văn hóa dân tộc chính là
10
yếu tố định hướng và đảm bảo cho sự phát triển đó đúng hướng, gắn với đặc điểm
yêu cầu riêng của điều ki n lịch sử xã hội Vi t Nam cũng như thực tiễn Vi t Nam.
Kết luận chƣơng 1
Bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam là h giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng dân tộc Vi t Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử. Thể hi n qua
lòng yêu nước nồng nàn, thức tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng
gắn kết cá nhân - gia đình - làng - nước; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo
lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối
sống… Lấy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam là nền tảng, sức mạnh tinh thần, h
điều tiết của sự phát triển và góp phần đem lại thành công cho quá trình công nghi p
hóa, hi n đại hóa đất nước.
Chƣơng 2
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN ĐẶC THÙ CỦA
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
2.1.1. Những điều kiện ảnh hƣởng đến biểu hiện đặc thù của bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
Lịch sử hình thành và điều kiện địa lý, tự nhiên ảnh hưởng đến sự biểu hiện
đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
Về đặc điểm vị trí địa lý: Tính chất phong phú, đa dạng và tính chất mở của
điều ki n địa l của thành phố Hồ Chí Minh là một trong những điều ki n góp
phần hình thành nên một nền văn hóa ở thành phố khá phong phú, mang tính dung
hợp, tính mở, tính linh hoạt và tính lan tỏa cao. Về đặc điểm điều kiện tự nhiên:
Những điều ki n tự nhiên khá thuận lợi đã tác động tạo ra tính đa dạng trong văn
hóa ăn, ở, mặc, cư trú, đi lại cũng như tính đa dạng về nội dung, hình thức biểu
đạt và sinh hoạt tinh thần, nhất là những phẩm chất văn hóa n i bật như: tính hiền
hòa, sự phóng khoáng, bao dung, trọng nghĩa khinh tài, tính năng động, cởi mở,
hướng ngoại…
Đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự biểu hiện đặc thù của
bản sắc văn hóa dân tộc ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
11
Về đặc điểm lịch sử: Nếu tính từ cái mốc nhà Nguyễn thành lập phủ Gia
ịnh và huy n Tân Bình năm 1698 thì đến nay chỉ hơn 300 năm tu i. Trải qua
mọi thử thách, Sài Gòn với sức sống mãnh li t luôn vững chãi và phát triển. Và
nay, với sức sống mãnh li t của một thành phố trẻ của những con người giàu
truyền thống dân tộc, ảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã và đang
cùng cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người mới và
cuộc sống mới. Về đặc điểm kinh tế: Sài Gòn - Trung tâm kinh tế thương mại bậc
nhất của cả nước. Với lối tư duy mở, cơ chế động, vị trí thuận lợi cho vi c giao
thương, đã giúp Sài Gòn nhanh chóng phát triển kinh tế hàng hóa. Hi n nay, với
quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất,
đi đầu cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, về sự tiếp thu khoa học kỹ thuật, về
vi c thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài…Về đặc điểm dân cư: Cư dân Sài
Gòn bắt nguồn từ tính cách lưu dân sơ khởi, từ mọi miền đất nước, từ sự giao thoa
với bên ngoài đã thúc đẩy các nhóm dân cư, các cộng đồng dân tộc gần gũi nhau,
và trở thành vùng đất đa văn hóa, đa tôn giáo, tín ngưỡng và đa màu sắc cư dân.
Về tổ chức sinh hoạt gia đình và cộng đồng làng xã: Hình thức gia đình cũng
được t chức theo từng quan ni m truyền thống riêng của mỗi tộc người. Làng ở
Sài Gòn có tính hướng mở, tạo điều ki n dễ dàng giao lưu, tiếp nhận và hội nhập
với cái mới.
2.1.2. Những biểu hiện đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
Lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự cường dân tộc
Trong lịch sử trên 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn - Thành phố
Hồ Chí Minh, nếu tính từ khi quân Pháp chiếm trọn Sài Gòn vào năm 1860 đến năm
1975 thì Sài Gòn với hơn một thế kỷ sống dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc.
Ngay từ đầu với tinh thần không cam chịu mất nước, nhân dân Sài Gòn đã một lòng
đứng dậy chống xâm lược. Lịch sử đã ghi lại tinh thần yêu nước nồng nàn và thức
trách nhi m cao cả của nhân dân Nam Bộ và Sài Gòn trước vận m nh của dân tộc.
GS.Trần Văn Giàu nhận định: “In như là lịch sử thử thách tinh thần chiến đấu cứu
nước của nhân dân Vi t Nam, của nhân dân Sài Gòn. Hy sinh nối tiếp hy sinh, hy
sinh lần sau lớn hơn lần trước, người Sài Gòn không biết thối chí là gì”5. Tinh thần
Vi n nghiên cứu xã hội TP. Hồ Chí Minh 2006 , Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Con
người và văn hóa trên đường phát triển, Nxb. ại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.29.
5
12
yêu nước, chủ nghĩa yêu nước của nhân dân Sài Gòn được “hun đúc và tích tụ” một
cách tập trung, phong phú và sâu sắc hơn, được thể hiện rõ ràng và quyết liệt nhất
với ý chí kiên cường bất khuất của một thành phố “tiền đồn” đại diện cho cả nước.
Lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc đã được thể hiện rõ nhất bởi sắc
thái của người dân thành phố với tính tiên phong, táo bạo, kiên cường, kiên quyết,
dũng cảm … Với tính cách ấy, lòng yêu nước là “vũ khí” sắc bén, sức mạnh tinh
thần giúp người dân Sài Gòn tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh cùng cả
nước chống lại những tên đế quốc hùng mạnh của thế giới đem lại lịch sử vẻ vang
cho dân tộc. Tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, trong công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội hi n nay, ảng bộ và nhân dân Sài
Gòn lại vươn lên đi đầu trong chống đói nghèo và lạc hậu, với sự nhanh nhạy và
năng động trong vi c đ i mới lối sản xuất, phương thức t chức, quản l kinh
doanh và cách thức t chức đời sống xã hội.
Tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng - nước
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một vùng đất mới, là vùng đất bao
gồm rất nhiều cư dân của nhiều địa phương, nhiều giai tầng xã hội khác nhau,
nhiều dân tộc và tôn giáo khác nhau đến lập nghi p. Nếu không có một sự đoàn
kết, thống nhất thì tất cả các lưu dân ở đây sẽ không chinh phục được vùng đất
mới như ngày hôm nay. Dù là dân bản địa hay cư dân mới đến ba bốn đời, kể cả
những thành phần dân tộc ít người trên đất nước ta đều thấm nhuần cái đạo l
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước nhớ thương nhau cùng”;
“ ừng nài lương giáo khác dòng, vốn đều con Lạc cháu Rồng khi xưa”… đã
chung sống với nhau hòa đồng, luôn có tinh thần tương trợ lẫn nhau. Việc định cư
tại một vùng đất là nơi tiếp biến giao lưu những giá trị văn hóa, nên sớm tiếp xúc
với những giá trị dân chủ, bình đẳng của phương Tây làm cho người Sài Gòn khá
cởi mở trong lối sống, trong cách nghĩ cách làm. Họ có đầu óc thực tế, coi trọng
nội dung hơn hình thức, không thích người “nói nhiều hơn làm”, họ biết “tùy cơ
ứng biến”, học tập kinh nghiệm để đạt được hiệu quả. Với hoàn cảnh, đất rộng,
người thưa, thiên nhiên cũng không kém phần khắc nghi t, con người nơi đây
phải dành hết thời gian, công sức đấu tranh cho sự sống còn. Và cũng chính điều
đó đã kéo con người xích lại với nhau, đẩy họ ra xa những mâu thuẫn, hận thù để
còn lại sự khoan dung và đầy lòng nhân ái.
Lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý
13
ặc điểm này của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thể hi n trước tiên
thông qua tinh thần hào hiệp, phong cách phóng khoáng của người Sài Gòn bắt đầu từ
tính cách lưu dân sơ khởi của họ. Tất cả các cư dân khi đến vùng đất mới, trước hết họ
phải cùng nhau “chung lưng đấu cật”, đùm bọc yêu thương lẫn nhau để vượt qua những
thử thách của thiên nhiên “muỗi kêu như sáo th i, đỉa lội như bánh canh”, thú dữ, rừng
thiêng nước độc…Cũng như khi ra đi họ đã biết bỏ hết ở nơi quê chốn cũ những ràng
buộc lề giáo phong kiến nghi m ngặt để dễ thích ứng với vùng đất mới. Người Sài Gòn
với ý thức luôn xem trọng tình cảm, “nhân nghĩa” lên hàng đầu, yêu thương con người
là trên hết đã làm cho những con người nơi đây thể hiện rất rõ về tinh thần hào hiệp.
Trịnh Hoài ức một người địa phương, nhà cai trị cũng là nhà sử học, địa l đã nhận
xét như sau: “Thành Gia ịnh ở về phương nam, chỗ gần ánh sáng mặt trời, người phần
nhiều trung dũng khí tiết, khinh của trọng người”6. Tinh thần hào hiệp, phong cách
phóng khoáng của người Sài Gòn cũng chính là sự biểu hiện của lòng vị tha, trọng
nghĩa tình, ghét lợi danh và dễ thích ứng với hoàn cảnh của họ.
Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Trong quá trình mở đường, trước hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghi t và trong
công cuộc khai phá đầy gian nan, vất vả, những người đi mở cõi đã biết nương tựa
vào nhau, cưu mang lẫn nhau, cần cù, sáng tạo và dũng cảm trong lao động sản xuất
chống thiên tai, địch họa để sinh cơ lập nghi p. Trong những bối cảnh đ i thay về
điều ki n tự nhiên và điều ki n xã hội, cư dân Sài Gòn thường không dễ bó tay, ngồi
chờ đợi thời cơ, mà trái lại luôn tìm cách tạo ra những thời cơ mới, tìm tòi cái mới…
Sự năng động, sáng tạo của người Sài Gòn còn được thể hi n ở lối sống hết sức
phóng khoáng. Với một cộng đồng đa dạng về nguồn gốc, đa dạng về văn hóa, Sài
Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh trở thành nơi hội tụ của sự sáng tạo, sự năng động
như một tính chất đặc trưng của những người ưa thích lao động, ưa thích học hỏi
tìm tòi cái mới. Từ đó, tạo nên một trong những đặc điểm nổi bật của người Sài Gòn
đó là tính tiên phong năng động và sáng tạo. Người Sài Gòn nhờ có được bản lĩnh
hiên ngang, kiên cường của những ngày tháng khai hoang, lập ấp, được thiên nhiên
ưu đãi về đất đai, sản vật… lại sớm tiếp cận được với văn hóa, khoa học kỹ thuật
phương Tây, nên họ có những táo bạo, linh hoạt, sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm
và phong cách tiếp cận với cái mới.
Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Vi n Sử học 1998 , Gia Định
thành thông chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.142.
6
14
Tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối sống
Cũng chính cuộc sống “cộng cư” và “giao thoa”, những lưu dân đến đây
sống xa quê, họ phải chung đụng với dân cư xứ khác, sự mới mẻ và phức tạp này
khiến họ giữ nguyên tập quán, thói quen của mình, mà phải tìm lối sống phù hợp
và điều đó đã tạo nên lối ứng xử rất linh hoạt và tế nhị. Cuộc mở mang bờ cõi,
đấu tranh với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và cuộc sống cộng cư cùng nhau
tồn tại đã đặt ra nhu cầu và tạo điều ki n hình thành lối sống giản dị, cởi mở, có ý
thức cộng đồng, tạo nên một nét riêng trong phong cách sống của người Sài Gòn.
Trong cuộc sống, người Sài Gòn ưa chuộng lối sống sòng phẳng, cương trực,
phóng khoáng, tự do, trọng tình nghĩa. iều này cũng cho thấy rất rõ ở phong
cách ứng xử tinh tế “biết người, biết ta” hết sức linh hoạt của người Sài Gòn. ối
với người Sài Gòn, giá trị con người là ở hành động, ở vi c làm. Người Sài Gòn
rất ghét nói nhiều, hay nói nhiều mà làm ít. Một nét riêng, n i bật trong giao tiếp,
ứng xử của người Sài Gòn đó là sự thân tình, là tinh thần bình đ ng với nhau
không kể họ thuộc thành phần nào và từ đâu tới. Trong cuộc sống người Sài Gòn
không quá cầu kỳ, vốn năng động, chịu khó làm ăn, biết cách làm ăn lớn, nhưng
vẫn giữ được cái dáng vẻ ung dung thư thái. ặc bi t, người Sài Gòn ít chịu sự gò
bó trong các nghi thức với quan ni m nghi lễ là điều cần thiết nhưng không quá
rườm rà.
2.2. VAI TRÒ CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.2.1. Khái quát về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ sự kế thừa
những yếu tố của nền công nghiệp hiện đại
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là nơi sớm tiếp nhận các yếu tố của công
ngh khoa học kỹ thuật từ bên ngoài mà chủ yếu là phương Tây được diễn ra sớm
nhất so với các vùng miền trong cả nước.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố diễn ra trong điều kiện nền kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế phát triển sôi động so với cả nước
Thành phố trở thành nơi tiếp nhận những tinh hoa ở mọi nơi, thuận lợi cho
vi c mở rộng quan h hợp tác cả trong nước và ngoài nước về các mặt, các ngành,
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
15
Mô hình chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế theo hướng hiện đại là nội
dung trọng tâm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố.
Với mô hình cơ cấu kinh tế ngành là dịch vụ - công nghi p - nông nghi p được
xem là cơ cấu kinh tế hi n đại thì thành phố đã bước đầu chuyển dịch theo mô hình
kinh tế trên ứng với một đô thị lớn, phát triển theo hướng hi n đại, văn minh.
Tính tiên phong trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố
Hồ Chí Minh
Thành phố không chỉ là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước mà luôn thể
hi n tính tiên phong trong sự nghi p công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước. Qua
tốc độ, quy mô của quá trình trang bị lại công ngh cho các ngành kinh tế, đưa
mọi hoạt động kinh tế - xã hội ở Thành phố lên trình độ hi n đại, tiên tiến.
Sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố
trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chủ thể thực hi n quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa ở thành phố
chính là những con người luôn đi đầu tìm tòi những cái mới, dám nghĩ, dám làm,
không ngừng sáng tạo và cải tiến… góp phần tạo nên những nội dung mới cho
quá trình phát triển đất nước
2.2.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vai trò của việc giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là giữ gìn cốt cách dân tộc
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh. Giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là củng cố và phát triển thức dân tộc,
sự tự tôn dân tộc và niềm tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc từ đó sẽ làm cho
tất cả người dân thành phố luôn có thức để phát huy mọi tiềm năng, phục vụ quá
trình công nghi p hóa, hi n đại hóa.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sẽ là nền tảng tinh thần vững
chắc, thúc đẩy việc thực hiện thành công những nội dung của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh. Những giá trị văn hóa của
dân tộc sẽ được thấm sâu vào từng người và chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh,
quyết tâm thực hi n thành công công cuộc phát triển của thành phố.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là tiếp tục phát huy các giá trị
tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong quá
trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Và khi thực hi n tốt các mục tiêu
16
của sự phát triển lại là cơ sở, điều ki n kh ng định và phát huy sức mạnh trường
tồn của bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam cùng các giá trị tinh thần mang nét đặc
trưng của người dân thành phố.
Kết luận chƣơng 2
ược bắt nguồn, kết tinh từ nền văn hóa của dân tộc, chứa đựng trong mình
những giá trị vốn có của bản sắc văn hóa dân tộc, gắn với những đặc thù của vùng
đất “mới”, với lịch sử hình thành, vị trí địa l , điều ki n tự nhiên, dân cư, kinh tế,
chính trị - xã hội... đã tạo nên những sắc thái, biểu hi n đặc thù của bản sắc văn
hóa dân tộc Vi t Nam. Những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc luôn được xác định
là sức mạnh nội sinh giúp thành phố “đi trước về trước” trong sự nghi p công
nghi p hóa, hi n đại hóa và công cuộc xây dựng và phát triển thành phố hướng
đến thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hi n đại.
Chƣơng 3
THỰC TRẠNG, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN, PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.1. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆC
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.1.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua
Những thành tựu đạt được trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc của nhân dân thành phố
luôn thể hi n rõ trong lối sống, tư tưởng của người dân. Thông qua vi c xây dựng
và đẩy mạnh cụ thể hóa các phong trào gắn với vi c giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc, làm cho những nét mới trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo
đức của người dân thành phố từng bước được hình thành và phát huy một cách
mạnh mẽ từ tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, nghĩa tình và chí
vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu… hướng tới xã hội văn minh, hi n đại, tác
17
phong công nghi p, nếp sống đô thị. Là thành phố luôn đi đầu và đạt được rất
nhiều kết quả trong những phong trào đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng
phát triển. Thành phố đã phát huy tốt phương thức xã hội hóa các hoạt động văn
hóa, năng động thiết kế, t chức các loại hình, hình thức hoạt động phong phú, đa
dạng, sinh động, vừa đáp ứng yêu cầu nhi m vụ chính trị, vừa phục vụ nhu cầu
học tập, vui chơi giải trí đa dạng của các tầng lớp nhân dân.
Những hạn chế trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống lại có chiều
hướng lan rộng với tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh
tế, xã hội và nhi m vụ chính trị của thành phố. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức
nghề nghi p bị đảo lộn, ảnh hưởng tiêu cực đối với định hướng giá trị nhân cách.
Tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, l ch lạc nhận thức về giá trị nhân cách
ở một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên còn diễn biến phức tạp, gây lo
lắng, bất bình trong xã hội. Sự du nhập lối sống hi n sinh kiểu phương Tây với sự
ích kỷ cá nhân, cách sống thực dụng, sòng ph ng, lạnh lùng hoàn toàn trái ngược
với các chuẩn mực truyền thống của dân tộc, với nét đặc trưng của người thành
phố là hào hi p, chan hòa, cởi mở và phóng thoáng…
3.1.2. Nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong quá trình giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Nguyên nhân của thành tựu: Thứ nhất, nền kinh tế thị trường và bản thân
quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa đã tác động tích cực đến vi c phát huy
tính năng động, nhạy bén, táo bạo… thích ứng với sự phát triển của thành phố;
Thứ hai, quá trình đô thị hóa làm xuất hi n những tầng lớp thị dân với những lối
sống mới, giá trị mới, chuẩn mực mới…; Thứ ba, toàn cầu hóa đang diễn ra đã tạo
điều ki n để tiếp thu những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại, b sung và làm
phong phú các giá trị tuyền thống của dân tộc; Thứ tư, tăng cường và nâng cao
tầm lãnh đạo của ảng bộ, chính quyền trên lĩnh vực văn hóa; Thứ năm, trình độ
nhận thức của người dân thành phố về tầm quan trọng của vi c gìn giữ, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc có nhiều bước tiến bộ rõ r t.
Nguyên nhân của hạn chế: Thứ nhất, những mặt trái và tiêu cực của nền
kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ, làm phai mờ và mất dần những giá trị
18
truyền thống văn hóa dân tộc; Thứ hai, hi n tượng đô thị hóa và sự phát triển về
các mặt hoạt động thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng hóa… ảnh hưởng đến
những hành vi cư dân thành phố nói chung và giới trẻ nói riêng; Thứ ba, mặt trái
của quá trình toàn cầu hóa với các yếu tố ngoại lai, t nạn xã hội du nhập vào làm
suy giảm, phai dần những giá trị truyền thống đạo đức; Thứ tư, với một thành phố
chịu hơn một trăm năm thống trị của chủ nghĩa thực dân vẫn còn ảnh hưởng tâm
l về nhiều mặt trong lối sống đô thị; Thứ năm, với thành phần dân cư đa dạng
nên công tác quản l đô thị của thành phố gặp nhiều khó khăn trong vi c nâng cao
thức của người dân về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Một số vấn đề đặt ra đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Một là, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại
hóa, gắn liền giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam. Hai là phát
huy cái hay, cái đẹp trong ứng xử giữa cá nhân với cộng đồng, giữ được những
nét đẹp truyền thống của bản sắc văn hóa cho phù hợp và đáp ứng như cầu của sự
phát triển xã hội. Ba là, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cùng với hội nhập quốc tế
một cách sâu rộng. Bốn là, chính quyền và đoàn thể các cấp, các ngành đưa ra
những giải pháp hi u quả để ngăn chặn âm mưu, hành động phá hoại của các thế
lực thù địch nhằm bảo v giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Năm là, quản l thật tốt
những thông tin văn hóa, ngăn chặn những cái phản giá trị thâm nhập vào đời
sống cũng như hướng cho quần chúng tiếp nhận một cách có chọn lọc, phù hợp
với bản sắc dân tộc của văn hóa Vi t Nam. Sáu là, phải nâng cao nhận thức trong
vi c kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng các giá trị chuẩn mực của
con người Vi t Nam thời đại Hồ Chí Minh.
3.2. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
3.2.1. Phƣơng hƣớng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải xuất phát từ yêu cầu
nhiệm vụ chính trị và dựa trên đặc điểm điều kiện riêng của thành phố
19
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải góp phần khơi dậy và
mang lại hi u quả cho nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu đẩy mạnh công
nghi p hóa, hi n đại hóa và hội nhập quốc tế.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải kết hợp được tính truyền
thống và tính hiện đại, gắn với việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Kết hợp truyền thống và hi n đại trong bản sắc văn hóa dân tộc sẽ phát huy
tối đa nguồn nội lực, sức mạnh tinh thần của dân tộc để thực hi n thành công mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội đồng thời giữ gìn được cái “cốt” bản sắc văn hóa dân
tộc Vi t Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam phải bảo
đảm cho vi c xây dựng nền văn hóa với sự thống nhất hữu cơ giữa tiên tiến, hi n
đại và tính dân tộc sâu sắc.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phát huy các giá trị tinh
thần đặc trưng của Thành phố, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh hoa
văn hóa của nhân loại
Phát huy thế mạnh đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống “Nhân
văn, thượng võ” của người Sài Gòn cùng với vi c tiếp thu những giá trị nhân loại
là một trong những nguyên l sống còn và có nghĩa thực tế sâu sắc không chỉ
đóng vai trò là một trong những nguồn “nội lực” quan trọng giúp cho quá trình
phát triển vững chắc của thành phố.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở xác định rõ bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh
quan trọng bảo đảm mục tiêu phát triển thành phố “văn minh, hiện đại, nghĩa tình”
Phát triển nền tảng tinh thần của xã hội - văn hóa gắn kết chặt chẽ, đồng bộ và
tương xứng với nhi m vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng ảng là then chốt.
ó cũng chính là điều ki n quyết định cho sự phát triển hướng đến thành phố “văn
minh, hi n đại, nghĩa tình”.
3.3.2. Một số giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá hiện nay
20
Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nói riêng cho cán bộ và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, các ban ngành chức năng thành phố thông qua vi c t chức các
ngày lễ lớn, các sự ki n, các ngày kỷ ni m của dân tộc, đất nước và của thành phố
để giáo dục tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống đến quần chúng nhân
dân. Thứ hai, chú trọng hơn nữa công tác tư tưởng, tuyên truyền xây dựng môi
trường văn hóa, xây dựng xã, ấp văn hóa, khu dân cư văn hóa, cơ quan đơn vị văn
hóa như trường học, chợ, xí nghi p… Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động giáo dục chính
trị tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị và tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân trước các hoạt động phá hoại của thế lực thù địch.
Triển khai và thực hiện tốt các thể chế, chính sách của Nhà nước để thúc
đẩy việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ể nâng cao hi u quả của vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Vi t Nam thì thành phố cần phải đặc bi t triển khai và thực hi n tốt các thể chế,
chính sách của Nhà nước với vai trò lãnh đạo, quản l đối với hoạt động văn hóa.
ảng bộ, chính quyền và các t chức chính trị - xã hội một khi nắm vững chủ
trương, chính sách của Nhà nước sẽ phát huy được năng lực lãnh đạo, quản l
cũng như mang lại hi u quả cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đẩy mạnh công tác xây dựng, tổ chức, hoàn thiện các thiết chế văn hóa và
phương tiện vật chất - kỹ thuật nhằm phục vụ tốt cho việc bảo tồn, tôn tạo, khai
thác và phát huy một cách hợp lý, có hiệu quả các di sản văn hóa dân tộc phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh
Xây dựng, t chức và hoàn thi n các thiết chế văn hóa nhằm đạt hi u quả tốt
nhất trong vi c bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa ở thành phố. Thiết chế
văn hóa đòi hỏi phải có sự thay đ i cơ bản về cách thức, quản l hoạt động. Cần
phải xây dựng các tiêu chuẩn kết hợp giữa yêu cầu quy hoạch phát triển đô thị, khai
thác và phát huy một cách hợp l , có hi u quả các di sản văn hóa dân tộc phù hợp
với thực tiễn nhu cầu của đời sống xã hội.
3.2.2.4. Nâng cao năng lực tổ chức, quản lý văn hoá và công tác đào tạo
đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả việc
21
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Triển khai và thực hi n tốt sự chỉ đạo của cấp ủy ảng đối với vi c phát huy
sức mạnh về nhận thức tư tưởng, khoa học, triển khai chỉ đạo đúng đắn trong vi c
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố. Phải nêu cao
tính gương mẫu của cán bộ đảng viên, nâng cao tinh thần “tự phê bình và phê bình”
trong t chức ảng. ặc bi t, cần xây dựng nếp sống văn hóa từ trong ảng, đồng
thời ảng phải tạo mọi điều ki n thực hi n quyền tự do, dân chủ của cá nhân trong
sáng tác văn hóa, chủ động sáng tạo. Sở Văn hóa, Du lịch và Thể thao thành phố
phải hoàn thi n cơ chế chính sách đào tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao trong
lĩnh vực văn hóa - xã hội. Bên cạnh đó, thành phố phải chú trọng tăng cường nguồn
lực hỗ trợ, các phương ti n cần thiết cho hoạt động quản l văn hóa.
Kết luận chƣơng 3
Bước vào thời k đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước thì vi c
giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam với vai trò
làm nền tảng tinh thần để tăng trưởng kinh tế bền vững và là nhi m vụ mang tính
hết sức cấp bách. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong vi c giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam đã trở thành động lực, sức mạnh cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố thì vẫn còn tồn tại những hạn chế đang
đặt ra, gây cản trở đối với sự nghi p cách mạng mà thành phố đang đảm nhi m.
Vì vậy, đòi hỏi các cấp ủy ảng và nhân dân thành phố xác định rõ phương
hướng, triển khai và thực hi n một cách đồng bộ các giải pháp nhằm góp phần giữ
gìn, phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc và giá trị “mang nét đặc trưng
của thành phố”.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Nghiên cứu văn hóa với góc độ xem xét là giá trị và h giá trị - bản sắc
văn hóa dân tộc là một chủ đề có nghĩa vô cùng to lớn cả về khoa học lẫn thực
tiễn ch ng những có nghĩa đối với công cuộc xây dựng nền văn hóa chung của
quốc gia mà còn đối với sự phát triển của mỗi vùng, miền địa phương. Bản sắc
văn hóa dân tộc Vi t Nam là h giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng
dân tộc Vi t Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử. Trước yêu cầu của sự
22
nghi p công nghi p hóa, hi n đại hóa thì bản sắc văn hóa dân tộc là một trong
những nguồn nội lực quan trọng để đáp ứng sự nghi p xây dựng và phát triển. Là
nền tảng tinh thần, bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam tạo nên cốt cách, trí tu , bản
lĩnh và sức mạnh nội lực của một quốc gia. Là động lực tinh thần, bản sắc văn hóa
dân tộc Vi t Nam thúc đẩy và khơi dậy những tiềm năng sáng tạo vô tận của
nguồn lực con người, từ đó mà khai thác tốt nhất các nguồn lực khác phục vụ cho
quá trình công nghi p hóa, hi n đại hóa. Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc Vi t
Nam không đứng ngoài sự phát triển, nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh và là
một trong những yếu tố định hướng, đảm bảo thành công của sự nghi p công
nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước.
2. Suốt chiều dài lịch sử hơn ba trăm năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh luôn gắn với lịch sử của dân tộc, cùng với những đặc thù của vùng đất
“mới” - về địa l , tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội… đã tạo nên những sắc thái,
biểu hi n đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam và được tô điểm thêm
bằng các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của thành phố. Ngày nay, những giá
trị ấy sẽ là sức mạnh nội sinh giúp thành phố “đi trước về trước” trong sự nghi p
công nghi p hóa, hi n đại hóa, xây dựng và phát triển thành phố hướng đến thành
phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hi n đại, nghĩa tình. Cùng với quá trình phát triển
kinh tế, xã hội thì vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở
thành phố Hồ Chí Minh là nhi m vụ cấp bách và cần thiết gắn với chiến lược phát
triển của thành phố. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để những giá trị
văn hóa của dân tộc sẽ được thấm sâu vào từng người và chuyển hóa thành sức
mạnh nội sinh, quyết tâm thực hi n thành công công cuộc phát triển của thành
phố. Và khi thực hi n tốt các mục tiêu của sự phát triển lại là cơ sở, điều ki n để
kh ng định và phát huy sức mạnh trường tồn của bản sắc văn hóa dân tộc cùng
với các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của người dân thành phố.
3. Từ những thành tựu đạt được của vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua gắn với công
cuộc đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa là sự phản ánh hài hòa giữa truyền
thống và hi n đại, giữa bản sắc văn hóa dân tộc với hi n đại hóa trong văn hóa,
giữa vi c phát triển văn hóa phải đồng bộ với kinh tế cũng như bản sắc văn hóa
dân tộc trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển của thành phố.
Tuy nhiên, cũng còn không ít những biểu hi n tiêu cực vẫn đang xảy ra trong
23
nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống, trong các mối quan h xã hội dẫn đến nguy
cơ làm mất đi hoặc mai một những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam và
những nét đặc trưng riêng của thành phố, tạo ra những rào cản trong tiến trình đẩy
mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa ở thành phố. Trước thực trạng trên, hơn bao
giờ hết nhân dân thành phố phải nêu cao tinh thần giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, đồng thời hạn chế tối đa những biểu hi n tiêu cực làm suy thoái, mất
dần bản sắc văn hóa dân tộc trong sự phát triển.
Từ sự phân tích vai trò và làm rõ thực trạng, nguyên nhân của vi c giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam cũng như căn cứ vào nhi m vụ kinh
tế, chính trị của thành phố, để đảm bảo thực hi n thắng lợi sự nghi p đẩy mạnh
công nghi p hóa, hi n đại hóa thì cần phải xác định thật cụ thể phương hướng,
giải pháp đúng đắn và hi u quả nhất trong vi c giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc Vi t Nam.
Từ những vấn đề nêu trên, luận án đã xác định một số phương hướng cơ bản
nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình công nghi p
hóa, hi n đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh như sau: thứ nhất, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam phải xuất phát từ yêu cầu nhi m vụ chính
trị và những đặc điểm điều ki n riêng ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình
đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa; thứ hai, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc Vi t Nam phải kết hợp được tính truyền thống và tính hi n đại, gắn
với vi c xây dựng, phát triển nền văn hóa Vi t Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; thứ ba, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam là phát huy các
giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của thành phố Hồ Chí Minh đồng thời tiếp thu
có chọn lọc các giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại; thứ tư, giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam trên cơ sở xác định rõ bản sắc văn hóa dân tộc
Vi t Nam là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan
trọng bảo đảm mục tiêu phát triển thành phố “văn minh, hi n đại, nghĩa tình”.
ể thực hi n những phương hướng trên, luận án đã đề xuất h thống các giải
pháp sau: một là, nâng cao nhận thức và trách nhi m về tầm quan trọng của vi c
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam trong quá trình phát triển
kinh tế nói chung và trong quá trình đẩy mạnh công nghi p hóa, hi n đại hóa nói
riêng; hai là, triển khai và thực hi n tốt các thể chế, chính sách của Nhà nước để
thúc đẩy vi c giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vi t Nam ở thành phố Hồ
24
Chí Minh; ba là, đẩy mạnh công tác xây dựng, t chức, hoàn thi n các thiết chế văn
hóa và phương ti n vật chất - kỹ thuật nhằm phục vụ tốt cho vi c bảo tồn, tôn tạo,
khai thác và phát huy một cách hợp lý, có hi u quả các di sản văn hóa dân tộc; bốn
là, nâng cao năng lực, hi u quả lãnh đạo, quản lý văn hoá cùng với chiến lược, giải
pháp đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn nhằm đảm bảo thực hi n đạt
kết quả tốt nhất trong vi c giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.