Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Vấn đề cấp dưỡng một lần cho con khi cha mẹ ly hôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.51 KB, 14 trang )

Mục lục
Lời mở đầu
Giải quyết vấn đề
I.Cơ sở lý luận
1.Khái niệm cấp dưỡng
2.Đặc điểm của cấp dưỡng:
3.Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng
4.Mức cấp dưỡng
5.Phương thức cấp dưỡng
6. Ý nghĩa xã hội của quan hệ cấp dưỡng
II. Nội Dung
1.Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng một lần cho con khi cha, mẹ
ly hôn:
2. Khoản cấp dưỡng và quản lí khoản cấp dưỡng một lần cho con khi
cha,mẹ ly hôn
3. Cấp dưỡng bổ sung:
4. Hạn chế và giải pháp của quy định cấp dưỡng một lần cho con khi
cha, mẹ ly hôn
5. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng một làn cho con
khi cha mẹ ly hôn

Kết luận

1


Lời mở đầu
Chăm sóc nuôi dưỡng lẫn nhau vừa là quyền vừa là trách nhiệm của các
thành viên trong gia đình .Tuy nhiên trong nhiều trường hợp không phải lúc
nào nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng có thể thực hiện được: đi công tác,ốm đau,ly
hôn…Để đảm bảo cuộc sống cuộc sống bình thường của người được nuôi


dưỡng trong những trường hợp này nghĩa vụ cấp dưỡng được đăt ra.Vấn đề
cấp dưỡng đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử lập pháp của nước ta.Các
quy định về cấp dưỡng phản ánh tinh thần tương thân tương ái đùm bọc lẫn
nhau giữa con người với con người trong gia đình xã hội.Trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay đã có nhiều tác động đến quan hệ hôn nhân và
gia đình trong đó vấn đề cấp dưỡng được đặt ra ngày càng bức thiết, đặc biệt
là cấp dưỡng sau khi ly hôn. Xuất phát từ thực tiễn đó nhóm chúng em chọn
đề tài “ Vấn đề cấp dưỡng một lần cho con khi cha mẹ ly hôn “.

Giải quyết vấn đề
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1. Khái niệm cấp dưỡng:
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có
quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó
là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu
theo quy định của Luật này ( Điều 8 – LHNGD năm 2000).
Trong gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con,
giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và
2


chồng. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con phát sinh trên cơ sở cha
mẹ có “nghĩa vụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con” (Điều 36 – LHNGĐ
năm 2000). Khi cha mẹ vì lí do nào đó mà không thể trực tiếp nuôi dưỡng
con thì họ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong thực tế việc cha mẹ cấp
đưỡng cho con có thể xảy ra trong hai trường hợp là khi hôn nhân đang tồn
tại và khi cha, mẹ ly hôn. Ở đây trong phạm vi đề tài, chúng em chỉ đề cập
đến nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 - Điều 92 – LHNGD năm 2000 thì người không
trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha,
mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay
không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con.
Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực
tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu
rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu
cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con
thì Toà án không

buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

2. Đặc điểm của cấp dưỡng:
Cấp dưỡng là một quan hệ pháp lý có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ pháp luật về tài sản gắn liền
với nhân thân. Song quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ tài sản đặc
biệt, “ không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển
giao cho người khác” (Khoản 1 – Điều 50 – LHNGĐ năm 2000).

3


- Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình
trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng (Khoản 2 – Điều
50 – LHNGĐ năm 2000).
- Quan hệ cấp dưỡng mang tính chất có đi có lại, thể hiện mối quan hệ
tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhưng không có
tính đền bù hay ngang giá. Nó trước hết là sự chăm sóc giúp đỡ lẫn

nhau giữa những người có quan hệ ruột thịt trong gia đình cả về vật
chất lẫn tinh thần và nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện một cách tự
giác, không có sự tính toán nhiều đến giá trị tài sản khi thực hiện
nghĩa vụ này. Nó chỉ là nghĩa vụ bổ sung song rất quan trọng, nó tồn
tại kéo dài, không quy định thời hạn trước, nó chỉ kết thúc khi các
điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ này không còn.
- Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ mang tính phát sinh, nó chỉ phát sinh
khi có những điều kiện nhất định, tức là khi quan hệ nuôi dường
không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ. Khi đó, nghĩa vụ
cấp dưỡng phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất tối thiểu cần thiết
cho cuộc sống của người được cấp dưỡng.
3. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng:
Nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ phát sinh khi:
- Giữa người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng có quan hệ hôn
nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
- Người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng không sống chung với
nhau.
- Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên, người đã thành niên
nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình, là người khó khăn túng thiếu.

4


- Người cấp dưỡng phải là người đã thành niên và có năng lực cấp
dưỡng (người này có thu nhập đủ để nuôi sống bản thân và dư ra một
khoản đủ để cấp dưỡng cho người khác dựa theo thu nhập của người
cấp dưỡng và mức sống trung bình tại nơi người đó đang sinh sống).
Đối tượng được cha mẹ cấp đưỡng bao gồm tất cả các con chưa thành
niên, hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,

không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Khi cha
mẹ ly hôn thì con thành thai trong thời kì hôn nhân và sinh ra sau thời kỳ
hôn nhân chấm dứt mà còn sống cũng được cấp dưỡng.
4. Mức cấp dưỡng:
Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi
dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp
các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào
khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp
lý. Mức cấp dưỡng được quy định cụ thể tại điều 53 – LHNGĐ năm
2000:
- Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp
dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu
nhập, khả năng thực tế của người có nghãi vụ cấp dưỡng và nhu cầu
thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì
yêu cầu Toàn án giải quyết.
- Khi có lí do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi
mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì
yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Phương thức cấp dưỡng:
Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là cách thức biện pháp mà người
có nghĩa vụ cấp dưỡng phải tiến hành để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của
5


mình. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có 2
phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là: cấp dưỡng định kì và cấp
dưỡng một lần . Trong đó, phương thức cấp dưỡng định kỳ, hàng tháng,
hàng quý, hàng năm được ưu tiên thực hiện .Việc lựa chọn phương thức cấp
dưỡng có ý nghĩa quan trọng : một mặt đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên trong quan hệ cấp dưỡng đồng thời đảm bảo cho nghĩa vụ cấp

dưỡng được thực hiện thuận lợi. Pháp luật quy định phương thức cấp dưỡng
cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người đại
diện theo quy định của pháp luật. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa
án giải quyết. Để lựa chọn được phương thức cấp dưỡng phù hợp thì khi
thỏa thuận cần căn cứ vào nghề nghiệp hình thức thu nhập của người có
nghĩa vụ cấp dưỡng.
Khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi, hoặc khi thay đổi người trực tiếp nuôi
con theo quy định tại Điều 93 – LHNGD năm 2000, thì các bên có thể thỏa
thuận thay đổi về người cấp dưỡng, mức cấp đưỡng và phương thức cấp
dưỡng nuôi con trên cơ sở vì lợi ích của con.

6. Ý nghĩa xã hội của quan hệ cấp dưỡng:
- Có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố các chức năng cơ bản của
gia đình.
- Góp phần củng cố mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
- Có ý nghĩa trong việc giáo dục tư tưởng ,đạo đức và lối sống của mọi
thành viên trong xã hội.
II. Nội Dung

6


1. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ câp dưỡng một lần cho con khi
cha, mẹ ly hôn:
Ngoài hình thức cấp dưỡng định kì pháp luật còn quy định hình thức cấp
dưỡng một lần .Trước đây, trong báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án
năm 1979 TANDTC hướng dẫn địa phương là khi giải quyết cấp dưỡng
nuôi con không được quyết định cấp dưỡng một lần trừ trường hợp cấp
dưỡng cho con ngoài giá thú khi cha mẹ già yếu. Tuy nhiên, qua thực tế
giải quyết các trường hợp cấp dưỡng cho thấy trong một số trường hợp

nếu chấp nhận cấp dưỡng một lần sẽ thuận lợi hơn cho bên có nghĩa vụ
cấp dưỡng cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được
cấp dưỡng. Do vậy, nghị quyết số 01/NQ-HDTP ngày 20/1/1988 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của luật năm 1986 đã quy định việc cấp
dưỡng cho con khi ly hôn có thể thực hiện theo phương thức cấp dưỡng
một lần. Tuy nhiên, khi lựa chọn phương thức cấp dưỡng cần xem xét
nhiều vấn đề như hoàn cảnh thực tế ý chí tự nguyện của các bên và khả
năng kinh tế của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong quan hệ cấp dưỡng
thường không xác định thời điểm chấm dứt ( trừ trường hợp cấp dưỡng
cho con chưa thành niên ) nên việc lựa chọn và thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng một lần nếu không thận trọng sẽ không bảo vệ được quyền lợi ích
hợp pháp của các bên nhất là bên được cấp dưỡng và người trực tiếp nuôi
người được cấp dưỡng . Vì vậy nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã quy định
nghĩa vụ cấp dưỡng một lần được thực hiện trong một số trường hợp nhất
định
- Người được cấp dưỡng hay người đại diện theo quy định của pháp
luật thỏa thuận với người có nghĩa vụ cấp dưỡng

7


- Người nhận thấy có thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần nên đã
đề xuất và được tòa án chấp nhận.
- Trường hợp theo yêu cầu của người được cấp dưỡng hoặc người đại
diện theo quy định của pháp luật của người đó và tòa án xét thấy rằng
người phải cấp dưỡng có hành vi tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa
vụ cấp dưỡng mà họ hiện đang có tài sản để thực hiện cấp dưỡng một
lần.
- Trường hợp người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly hôn yêu cầu
trích từ phần tài sản được chia của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho

con và được tòa án chấp nhận.
2. Khoản cấp dưỡng và quản lí khoản cấp dưỡng một lần cho con khi
cha,mẹ ly hôn:
Các vấn đề phức tạp trong phương thức cấp dưỡng một lần là việc xác
định khoản cấp dưỡng và quản lý khoản cấp dưỡng đó. Bởi việc xác định
khoản cấp dưỡng trong trường hợp cấp dưỡng một lần thường mang
tính tương đối so với nhu cầu của người được cấp dưỡng. Lý do là các
khoản cấp dưỡng thường được tòa án xác định ở thời điểm tòa giải quyết
vấn đề cấp dưỡng vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và
khả năng của người có nghĩa vụ cấp dưỡng vào thời điểm đó , nhưng cả
hai yếu tố này ( nhu cầu và khả năng ) đều có thể thay đổi theo thời
gian.Đồng thời hầu hết các trường hợp cấp dưỡng chỉ xác định được thời
điểm bắt đầu nghĩa vụ mà không xác định chính xác thời điểm chấm dứt
nên khoản cấp dưỡng một lần cũng không thể xác định chính xác.
Vì vậy khi cấp dưỡng một lần thường xảy ra hai khả năng

8


- Người được cấp dưỡng một lần được cấp 1 khoản tiền nhưng sau đó
do tình huống bất ngờ ( ốm đau ,tai nạn …)nên khoản cấp dưỡng đó bị
sử dụng hết, người được cấp dưỡng rơi vào tình trạng khó khăn không
còn tài sản để đảm bảo cuộc sống .Đối với trường hợp này theo điều
19 của nghị định 70/2001/NĐ – CP người được cấp dưỡng hoặc đại
diện có quyền yêu cầu cấp dưỡng bổ sung, còn người cấp dưỡng nếu
có khả năng thực tế phải cấp dưỡng bổ sung.
- Người được cấp dưỡng có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để
tự nuôi mình trong khi khoản cấp dưỡng 1 lần chưa chi phí hết .Vấn
đề đặt ra là người được cấp dưỡng có trả lại không? Pháp luật một số
nước như: Cuba ,Đức.. thì yêu cầu người đó phải trả lại còn pháp luật

hiện hành của nước ta chưa quy định về trường hợp này, nhưng căn cứ
vào tính chất và nguyên tắc của nghĩa vụ cấp dưỡng thì chúng em cho
rằng người được cấp dưỡng không phải trả lại số tiền đó.
Về việc quản lý khoản tiền cấp dưỡng một lần pháp luật quy định có thể
khoản cấp dưỡng được gửi vào ngân hàng hoặc giao cho người đc cấp
dưỡng hoặc đại diện cuả người được cấp dưỡng .Các bên có thể thỏa
thuận để để lựa chọn phương thức quản lý khoản cấp dưỡng sao cho phù
hợp.Người được giao quản lý khoản tiền cấp dưỡng một lần có trách
nhiệm bảo quản tài sản đó như bảo của chính mình và chỉ được chi ra
nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Chúng
ta thấy quy định này đã cố gắng đảm bảo việc thực hiện cấp dưỡng có
hiệu quả trên thực tế. Nếu như quy định về trường hợp cấp dưỡng một
lần do bên được cấp dưỡng yêu cầu thì khi xem xét cách thức quản lý tài
sản phục vụ cấp dưỡng đó lại do người cấp dưỡng đề nghị. Điều này
tránh sự lạm dụng, phung phí nhằm mục đích khác không phải dành cho
9


nuôi dưỡng đứa con. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện không đúng
mục đích như vậy cũng không thể tránh khỏi, không thể kiểm soát nổi.
3. Cấp dưỡng bổ sung:
Theo như Điều 53 – LHNGD năm 2000 quy định về mức cấp dưỡng:
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp
dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thoả thuận căn cứ vào thu nhập,
khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu
của người được cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà
án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thoả thuận; nếu không thoả
thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Như vậy, tuy rằng đã nhận số tài sản cấp dưỡng một lần rồi nhưng có thể

do điều kiện thay đổi mà cấp dưỡng bổ sung đã diễn ra chỉ trong trường
hợp cấp dưỡng một lần nhằm bảo vệ lợi ích của đứa con. Không thể dự
đoán trước được thời gian phải chu cấp cho đứa con chính xác hoàn toàn,
vì vậy mà mức cấp dưỡng một lần không tương xứng với khoảng thời
gian ấy: dự đoán ngắn hơn chẳng hạn ( ví dụ sau này đứa con thành niên
nhưng lại bị tàn tật..v.v..). Đây là một hạn chế của việc cấp dưỡng một
lần. Cấp dưỡng bổ sung phải hội đủ hai điều kiện: đời sống đứa con được
cấp dưỡng khó khăn trầm trọng và cha, mẹ cấp dưỡng có khả năng thực
tế. Điều này được quy định tại điều 19 Nghị định 17/2001/NĐ-CP quy
định chi tiết Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong trường hợp
người được cấp dưỡng một lần lâm vào tình trạng khó khăn trầm trọng
do tai nạn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà người đã thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng có khả năng thực tế để cấp dưỡng ở mức cao hơn thì phải cấp
dưỡng bổ sung theo yêu cầu của người được cấp dưỡng”.
10


4. Hạn chế và giải pháp của quy định cấp dưỡng một lần cho con khi
cha, mẹ ly hôn :
- Các chế tài xử phạt vi phạm chế định cấp dưỡng nói chung và cấp dưỡng
một lần nói riêng chưa đủ mạnh để răn đe buộc những người có nghĩa vụ cấp
dưỡng phải thực hiện nghiêm chỉnh nên dẫn đến tình trạng hiện nay sau khi
ly hôn vấn đề cấp dưỡng luôn nảy sinh những yếu tố tiêu cực ( người cấp
dưỡng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, giải quyết vấn đề này dựa trên cơ sở
đạo đức là chủ yếu…). Theo quy định tại Khoản 2, Điều 12 nghị định số 87/
2001 ngày 21 tháng 11 năm 2001 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình quy định: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến
200.000 đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của pháp
luật”. Nhưng trên thực tế quy định về cấp dưỡng chỉ mang tính hình thức mà

chưa đi sâu vào thực tế đời sống bởi lẽ nhiều khi cha mẹ do tình cảm cá
nhân mà quên đi nghĩa vụ với con cái ( Né cấp dưỡng, từ chối thẳng thừng
quyền được cấp dưỡng) như tranh minh họa dưới đây

Luật có nên quy định nhiều chế tài mang tính ràng buộc hơn hay chăng ?
Phải làm cho mọi người đặc biệt là người làm cha làm mẹ hiểu rằng đó vừa
là quyền lợi vừa là nghĩa vụ đối với con cái và đó cũng là quy định của pháp
11


luật ,dù bên đại diện của người được nhận hay người cấp dưỡng từ chối
quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng thì đều là vi phạm pháp luật. Cần phải có chế
tài mạnh đủ sức răn đê để bảo đảm cuộc sống cho con trẻ.
- Việc sử dụng tiền cấp dưỡng của người được cấp dưỡng cũng là vấn đề cần
lưu ý nếu khoản tiền cấp dưỡng được sử dụng không đúng mục đích thì căn
cứ vào đâu để xác định việc sử dụng sai mục đích đó? sẽ xử lí như thế nào?
và ai sẽ đứng ra giải quyết?...Bởi lẽ việc sử dụng này liên quan rất nhiều
đến quyền lợi của người được cấp dưỡng.
- Quy định về cấp dưỡng một lần cũng kéo theo những hệ lụy khác trong
tình cảm gia đình sau khi ly hôn bởi quan hệ hôn nhân chấm dứt sau khi ly
hôn nhưng quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con vẫn còn đó ,nhưng có
nhiều trường hợp lại đồng nhất cấp dưỡng một lần là chấm dứt luôn mọi
nghĩa vụ thì cần phải quy định như thế nào để đảm bảo quyền được chăm
sóc, giáo dục của con cái (đặc biệt là con chưa thành niên).
- Việc xác định khoản tiền cấp dưỡng một lần dựa vào chi phí tối thiểu cho
việc nuôi dưỡng và học hành của con là không hợp lí vì nhu cầu của cuộc
sống và chi phí cho cuộc sống thay đổi theo thời gian.
Kết luận.
Vấn đề cấp dưỡng được đặt ra xuất phát từ những trái ngang trong cuộc sống
hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ thực tiễn cho thấy khi đề cập đến vấn đề cấp

dưỡng thì quan hệ tình cảm trong gia đình đã có nhiều rạn nứt đặc biệt là cấp
dưỡng một lần khi ly hôn, không những ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của
con cái mà nó còn ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai của con sau này. Vì
vậy hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này là điều hết sức cần
thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ
hôn nhân gia đình. Khi ly hôn, hai bên sẽ chấm dứt mối quan hệ vợ chồng,
nhưng quan hệ giữa cha, mẹ và con vẫn tồn tại và kéo dài cho đến suốt đời,
nên sẽ không bao giờ có chuyện “chấm dứt” mọi chuyện, hoặc không “dính
líu”, không “ràng buộc”! Việc tự ti mặc cảm, cho rằng nhận cấp dưỡng là
12


nhỏ mọn; việc thù ghét hoặc cay cú “đối phương”... mà không nhận chu cấp
là những cách nghĩ hết sức sai lầm.
Các hành vi từ chối, thoái thác, lẩn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của
một số người vừa vi phạm pháp luật, vừa đáng lên án về mặt đạo đức. Cho
dù không còn chồng vợ thì cũng còn là cha mẹ của con mình, hãy giữ một
chút tình để có nghĩa về sau.

The end

13


Danh mục tài liệu tham khảo
1.Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình ,Trường Đại Học Luật Hà
Nội
2.Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,năm 1986
3.Nghị định 70/2001/NĐ-CP
4.Ngô Thị Hường ,chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia

đình – Vấn đề lý luận và thực tiễn.

14



×