Tải bản đầy đủ (.pdf) (39 trang)

Tài liệu ôn tập thi tuyển công chức khối văn hóa xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (232.49 KB, 39 trang )

UBND TỈNH BÌNH THUẬN
HỘI ĐỒNG THI TUYỂN
CÔNG CHỨC NĂM 2012

NỘI DUNG ÔN TẬP THI TUYỂN CÔNG CHỨC
KHỐI VĂN HÓA - XÃ HỘI
I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VĂN HÓA, XÃ HỘI
1. Đại hội Đảng toàn quốc XI
a. Phát triển toàn diện các lĩnh vực VH-XH hài hoà với phát triển kinh tế
Tạo bước phát triển mạnh mẽ về văn hóa, xã hội. Tăng đầu tư của Nhà nước,
đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực của xã hội để phát triển văn hóa, xã hội.
Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế
với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong
từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát
triển nhanh, bền vững.
Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo cơ hội bình
đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi
xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ;
đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất
là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu
theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách
và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức
sống giữa nông thôn và thành thị.
Hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ công cộng thích
ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước không
ngừng nâng cao mức bảo đảm các dịch vụ công cộng thiết yếu cho nhân dân.
Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm
khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người lao động. Bảo đảm quan hệ
lao động hài hoà, cải thiện môi trường và điều kiện lao động. Đẩy mạnh dạy nghề và
1



tạo việc làm. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng
chính sách, người nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hoá. Phát triển hệ thống
an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống
bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp... Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp
cận và tham gia các loại hình bảo hiểm. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và
không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công. Mở rộng các hình thức trợ
giúp và cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn.
Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị
tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội,
là một động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. Tập trung xây dựng
đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh
đạo, quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử. Chú trọng xây
dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất,
lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế
hệ trẻ. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến
bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc, giáo
dục và bảo vệ quyền trẻ em. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
theo quy định của pháp luật. Khuyến khích tự do sáng tạo trong hoạt động văn hóa,
văn học nghệ thuật để tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, có sức lan tỏa lớn, xứng
đáng với tầm vóc của dân tộc. Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn
hóa, thể thao. Coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Nâng cao
mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản. Bảo đảm
quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Tiếp tục đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả
quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin, hình thành thị trường

văn hóa lành mạnh. Đấu tranh chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức,
lối sống, tác động tiêu cực của các sản phẩm văn hóa thông tin đồi trụy, kích động
bạo lực. Đẩy mạnh phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; giảm tệ nạn ma túy,
mại dâm; ngăn chặn có hiệu quả tai nạn giao thông. Nâng cao chất lượng phong trào
2


toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; xây dựng xã, phường, khu phố, thôn,
bản đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, văn minh, lành mạnh.
b. Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc
sức khoẻ nhân dân
Tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để
phát triển nhanh hệ thống y tế công lập và ngoài công lập; hoàn chỉnh mô hình tổ
chức và củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Nâng cao năng lực của trạm y tế xã, hoàn
thành xây dựng bệnh viện tuyến huyện, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến
trung ương. Xây dựng thêm một số bệnh viện chuyên khoa có trình độ cao tại Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số vùng. Xây dựng một số cơ sở khám, chữa
bệnh có tầm cỡ khu vực. Khuyến khích các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế
thành lập các cơ sở y tế chuyên khoa có chất lượng cao. Khắc phục tình trạng quá tải
ở các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Đổi mới cơ
chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các cơ sở y tế công lập theo hướng tự
chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hoá chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng bệnh viện,
từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới và hoàn thiện đồng
bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp; có lộ trình
thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho các
đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi. Tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng chuyên môn, y
đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế. Phấn đấu đến năm 2020 tất cả
các xã, phường có bác sĩ. Phát triển mạnh y tế dự phòng, không để xảy ra dịch bệnh

lớn. Tiếp tục kiềm chế và giảm mạnh lây nhiễm HIV. Tiếp tục giảm tỉ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng. Nâng cao chất lượng và bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Phát triển
nhanh công nghiệp dược và thiết bị y tế. Phát triển mạnh y học dân tộc kết hợp với y
học hiện đại. Quản lý chặt chẽ việc sản xuất và kinh doanh dược phẩm.
Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con
người Việt Nam . Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành
tích cao. Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức
sinh thay thế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số. Đẩy
3


mạnh xã hội hoá trong các lĩnh vực y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình và thể dục
thể thao.
c. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển
nhanh giáo dục và đào tạo.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và
ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi,
đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa
học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng
của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên
kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà
nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình,
đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi
nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát
triển kinh tế tri thức.
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và

hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập mầm non 5 tuổi. Thực hiện
phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng ngày càng cao. Phát
triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp. Rà soát,
hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng và
dạy nghề trong cả nước. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng
giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của
4


các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tập trung đầu tư xây dựng một số trường, khoa, chuyên
ngành mũi nhọn, chất lượng cao.
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả
các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo
dục phổ thông mới. Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ. Nhà nước
tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển
giáo dục. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng
núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài,
xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các
trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên. Thực hiện tốt bình
đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục.
2. Đại hội Đảng bộ Bình Thuận lần XII
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt
động y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao;
giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc

- Tiếp tục triển khai các giải pháp đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện; chú trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống và giáo
dục pháp luật; hạn chế thấp nhất tỷ lệ học sinh bỏ học, giữ vững nền nếp, kỷ cương
trong nhà trường, làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; giữ vững kết quả phổ
cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và xóa mù chữ.
Triển khai giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và
dạy nghề. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất dạy và học gắn với tiếp tục thực hiện tốt
Đề án xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Củng cố và phát triển các trường
chuyên nghiệp, tiếp tục đầu tư các trường, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung
tâm dạy nghề các huyện; khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật
chất và đội ngũ giảng viên để thành lập Trường Đại học tại Bình Thuận; liên kết với
các trường đại học, cao đẳng mở các khóa đào tạo một số ngành tại tỉnh.
- Thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh phòng dịch; bảo đảm vệ sinh an
toàn thực phẩm; triển khai tốt các chương trình y tế quốc gia; bảo đảm kiểm soát,
khống chế được các loại dịch bệnh xảy ra. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ
sở; duy trì, củng cố và giữ chuẩn quốc gia về y tế ở tuyến xã. Tiếp tục xây dựng, cải
5


tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện đi
đôi với tăng cường đầu tư trang thiết bị theo hướng đồng bộ, hiện đại. Đặc biệt coi
trọng công tác đào tạo, giáo dục, xây dựng đội ngũ thầy thuốc có y đức tốt, giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho
nhân dân. Đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả việc luân chuyển bác sĩ của tuyến trên
về hỗ trợ tuyến dưới. Kết hợp các phương pháp chữa bệnh hiện đại với y học cổ
truyền; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân
dân, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân đầu tư các cơ
sở y tế tư nhân. Tăng cường công tác truyền thông, chăm sóc sức khỏe sinh sản và
kế hoạch hóa gia đình.
- Đặc biệt coi trọng công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

thông qua nhiều hình thức thích hợp; quan tâm đúng mức đến các đối tương nằm
trong diện giải phóng mặt bằng, lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, học sinh, sinh
viên mới ra trường…Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của
Trường Cao đẳng y tế, Cao đẳng cộng đồng, Trường Trung cấp nghề, khuyến khích
các cơ sở sản xuất kinh doanh đào tạo nghề tại chỗ. Làm tốt công tác thông tin, dịch
vụ giới thiệu việc làm. Sử dụng có hiệu quả Quỹ Quốc gia về giải quyết việc làm.
Thực hiện tốt công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
- Bằng những hình thức phù hợp, tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp
nghĩa”, thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với người nghèo, hộ nghèo, hộ cận
nghèo; giảm nghèo một cách vững chắc trên cơ sở tiếp tục lồng ghép, thực hiện có
hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ngân sách, vốn viện trợ quốc tế
gắn với phong trào của quần chúng; hết sức chú trọng biện pháp đào tạo nghề, giải
quyết việc làm; hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật sản xuất, đặc biệt quan tâm vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ kháng chiến cũ, vùng sâu, vùng bãi ngang
ven biển, người có công với cách mạnh.
- Đẩy mạnh xã hội hóa và chuyển mạnh các hoạt động văn hóa, thể dục - thể
thao về cơ sở; chú ý đúng mức vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
đối tượng thanh thiếu nhi. Phát triển mạnh phong trào văn hóa, văn nghệ quần
chúng. Kết hợp sự hỗ trợ của Nhà nước với huy động sức mạnh đầu tư xây dựng các
thiết chế văn hóa, thể dục thể thao. Nâng cao hiệu quả hoạt động nhà văn hóa, hệ
thống truyền thanh ở các xã, phường, thị trấn. Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết
6


xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu. Đặc biệt coi trọng việc xây dựng “Gia
đình văn hóa”, “Khu phố văn hóa” một cách thực chất. Làm tốt công tác bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa dân tộc. Có kế hoạch tôn tạo, trùng tu, chống xuống cấp các
di tích lịch sử, văn hóa đi đôi với sưu tầm, khai thác, phát huy giá trị văn hóa của các
dân tộc ở địa phương. Làm tốt công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.
II. LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008

Tập trung các vấn đề:
1. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ
+ Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
+ Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
+ Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát.
+ Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả.
+ Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ.
2. Khái niệm cán bộ, công chức
+ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
+ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
theo quy định của pháp luật.
7


+ Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân

dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị
- xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
3. Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức:
- Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân (
Điều 8 )
1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân
dân.
4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước.
- Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ (Điều 9)
1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được giao.
2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ
quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm
pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là
trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường
hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người
8


thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành,

đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công
vụ (Điều 11)
1. Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
2. Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định
của pháp luật.
3. Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
4. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
5. Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.

- Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến
tiền lương (Điều 12)
1. Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn
được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Cán bộ, công chức
làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có
môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy
định của pháp luật.
2. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ
khác theo quy định của pháp luật.
- Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi ( Điều 13 )
Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng
theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ,
công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài
tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những
ngày không nghỉ.
9



- Các quyền khác của cán bộ, công chức (Điều 14)
Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham
gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương
tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị
thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ,
chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền
khác theo quy định của pháp luật.
- Đạo đức của cán bộ, công chức (Điều 15)
Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong
hoạt động công vụ.
- Văn hóa giao tiếp ở công sở (Điều 16)
1. Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn
trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
2. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư,
khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.
3. Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công
chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và
đồng nghiệp.
- Văn hóa giao tiếp với nhân dân (Điều 17)
1. Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự,
nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
2. Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà
cho nhân dân khi thi hành công vụ.
- Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức
công vụ ( Điều 18)
1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất
đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.
2. Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.
10



3. Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến
công vụ để vụ lợi.
4. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo
dưới mọi hình thức.
- Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật nhà
nước (Điều 19)
1. Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà
nước dưới mọi hình thức.
2. Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước
thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc,
không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm
nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh
với nước ngoài.
3. Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà
cán bộ, công chức không được làm và chính sách đối với những người phải áp dụng
quy định tại Điều này.
- Những việc khác cán bộ, công chức không được làm (Điều 20)
Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật
này, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh
doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ
quan có thẩm quyền.
4. Tuyển dụng công chức (được quy định từ Điều 35 đến Điều 40)
- Căn cứ tuyển dụng công chức (Điều 35)
Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm
và chỉ tiêu biên chế.
- Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức (Điều 36)
1. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành

phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:
11


a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
b) Đủ 18 tuổi trở lên;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;
g) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.
2. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:
a) Không cư trú tại Việt Nam;
b) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành
xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
- Phương thức tuyển dụng công chức (Điều 37)
1. Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải
phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình
độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
2. Người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này cam kết
tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển.
3. Chính phủ quy định cụ thể việc thi tuyển, xét tuyển công chức.
- Nguyên tắc tuyển dụng công chức (Điều 38)
1. Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.
2. Bảo đảm tính cạnh tranh.

3. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm.
12


4. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc
thiểu số.
- Tập sự đối với công chức (Điều 40)
Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy
định của Chính phủ.
III. CHỨC NĂNG CỦA SỞ VÀ CƠ QUAN TƯƠNG ĐƯƠNG ( CẤP
TỈNH), PHÒNG VÀ CƠ QUAN TƯƠNG ĐƯƠNG (CẤP HUYỆN) NƠI THÍ
SINH DỰ TUYỂN VÀO.
1. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Sở Giáo dục và Đào tạo:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo;
tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất,
thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo
đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Sở Y tế:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về: chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữa bệnh; phục
hồi chức năng; y dược cổ truyền; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người; mỹ phẩm;
vệ sinh an toàn thực phẩm; trang thiết bị y tế; dân số; bảo hiểm y tế; tiếp nhận chức
năng và tổ chức về dân số từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: văn hóa; thể dục, thể thao và du lịch; gia
đình; quảng cáo (trừ quảng cáo trên các phương tiện báo chí, mạng thông tin máy
tính và xuất bản phẩm); tiếp nhận chức năng và tổ chức về gia đình từ Ủy ban Dân

số, Gia đình và Trẻ em.
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
13


Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về các lĩnh vực: lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội;
bảo hiểm thất nghiệp; an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm
sóc trẻ em; phòng, chống tệ nạn xã hội (gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công
và xã hội); bình đẳng giới; tiếp nhận chức năng và tổ chức về bảo vệ và chăm sóc trẻ
em từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
2. Cơ quan chuyên môn cấp huyện
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về các lĩnh vực: lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ
và chăm sóc trẻ em; phòng, chống tệ nạn xã hội; bình đẳng giới.
Phòng Văn hoá và Thông tin:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về: văn hoá; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; bưu chính, viễn thông và
Internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin; phát thanh; báo chí; xuất bản.
Phòng Giáo dục và Đào tạo:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình và nội
dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục;
tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và
cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Phòng Y tế:
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế cơ sở; y tế dự phòng;

khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; thuốc phòng bệnh, chữa
bệnh cho người; mỹ phẩm; vệ sinh an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; trang thiết bị y
tế; dân số.

14


IV. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN KHỐI
NGÀNH THÍ SINH DỰ THI
1. Bộ Luật Lao động (Năm 2002, sửa đổi 2009)
a. Việc làm:
Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có
việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Điều 14.
1- Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc
giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng
lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành
phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động.
2- Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng
lao động là người dân tộc thiểu số.
3- Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ
chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người
lao động.
Điều 15.
1- Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyết
việc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác,

phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm. Hàng năm Chính phủ trình Quốc hội
quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm.
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập chương trình
và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết
định.
15


3- Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ
chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia
thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm.
Điều 16.
1- Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào
và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. Người cần tìm việc làm có quyền trực
tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm để tìm việc
tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình.
2- Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới
thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với
nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Điều 17.
1- Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã
làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm,
thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào
những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho
người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả
một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương.
2- Khi cần cho nhiều người thôi việc theo khoản 1 Điều này, người sử dụng
lao động phải công bố danh sách, căn cứ vào nhu cầu của doanh nghiệp và thâm niên
làm việc tại doanh nghiệp, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của
từng người để lần lượt cho thôi việc, sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành

công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp theo thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 38 của
Bộ luật này. Việc cho thôi việc chỉ được tiến hành sau khi đã báo cho cơ quan quản
lý nhà nước về lao động địa phương biết.
3- Các doanh nghiệp phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm theo quy
định của Chính phủ để kịp thời trợ cấp cho người lao động trong doanh nghiệp bị
mất việc làm.
4- Chính phủ có chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo lại, hướng
dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia giải quyết
16


việc làm, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm; hỗ trợ
về tài chính cho những địa phương và ngành có nhiều người thiếu việc làm hoặc mất
việc làm do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ.
Điều 18.
1- Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho
người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao
động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động và nhiệm vụ khác theo quy
định của pháp luật.
Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới
thiệu việc làm.
2- Tổ chức giới thiệu việc làm được thu phí, được Nhà nước xét giảm, miễn
thuế và được tổ chức dạy nghề theo các quy định tại Chương III của bộ luật này.
3- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước đối với
các tổ chức giới thiệu việc làm.
Điều 19.
Cấm mọi hành vi dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao
động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm để thực hiện những hành vi trái pháp luật.
b. Tiền lương
Điều 55:

Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động
và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương
của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy
định.
Điều 56.
Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao
động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức
lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được
dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác.

17


Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối
thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.
Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị
giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực
tế.
Điều 57.
Sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện
của người sử dụng lao động, Chính phủ quy định các nguyên tắc xây dựng thang
lương, bảng lương và định mức lao động để người sử dụng lao động xây dựng và áp
dụng phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; quy định thang
lương, bảng lương đối với doanh nghiệp nhà nước.
Khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, người sử dụng lao động
phải tham khảo ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở; thang lương, bảng lương
phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính của người sử dụng lao động và công bố công
khai trong doanh nghiệp.

Điều 58.
1- Người sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lương theo thời
gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhưng phải duy trì hình
thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người
lao động biết.
2- Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần được trả lương sau giờ, ngày,
tuần làm việc ấy hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày
phải được trả gộp một lần.
3- Người lao động hưởng lương tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc
nửa tháng một lần.
4- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán, được trả lương
theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng
được tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
18


Điều 59.
1- Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi
làm việc.
Trong trường hợp đặc biệt phải trả lương chậm, thì không được chậm quá một tháng
và người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất
bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả
lương.
2- Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân
phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt
hại, phiền hà cho người lao động.
Điều 60.
1- Người lao động có quyền được biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền
lương của mình. Trước khi khấu trừ tiền lương của người lao động, người sử dụng
lao động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; trường hợp khấu trừ thì

cũng không được khấu trừ quá 30% tiền lương hàng tháng.
2- Người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức
cúp lương của người lao động.
Điều 61.
1- Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo đơn giá tiền lương hoặc
tiền lương của công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b) vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%.
Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì còn được trả thêm theo quy định tại khoản 2 Điều
này.
Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm, thì người sử dụng lao động
chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc
tiền lương của công việc đang làm của ngày làm việc bình thường.

19


2- Người lao động làm việc vào ban đêm quy định tại Điều 70 của Bộ luật
này, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc
tiền lương của công việc đang làm vào ban ngày.
Điều 62.
Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:
1- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền
lương;
2- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những
người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do
hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;3- Nếu vì sự cố
về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì những nguyên
nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp

hơn mức lương tối thiểu.
Điều 63.
Các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độ khuyến khích
khác có thể được thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước tập thể hoặc quy
định trong quy chế của doanh nghiệp.
Điều 64.
Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp và mức
độ hoàn thành công việc của người lao động, người sử dụng lao động thưởng cho
người lao động làm việc tại doanh nghiệp.
Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định sau khi tham khảo ý kiến
Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
Điều 65.
1- Nơi nào sử dụng người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự
thì người sử dụng lao động là chủ chính phải có danh sách và địa chỉ của những
người ấy kèm theo danh sách những người lao động làm việc với họ và phải bảo
đảm việc họ tuân theo quy định của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động
và vệ sinh lao động.
20


2- Nếu người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự trả thiếu hoặc
không trả lương và không bảo đảm các quyền lợi khác cho người lao động, thì người
sử dụng lao động là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền
lợi đó cho người lao động. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động là chủ
chính có quyền yêu cầu người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự đền
bù hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy
định của pháp luật.
Điều 66.
Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền
sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử

dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm trả lương và các quyền lợi khác cho
người lao động từ doanh nghiệp cũ chuyển sang. Trong trường hợp doanh nghiệp bị
phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của
người lao động theo thỏa ước tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là khoản nợ
trước hết trong thứ tự ưu tiên thanh toán.
Điều 67.
1- Khi bản thân hoặc gia đình gặp khó khăn, người lao động được tạm ứng
tiền lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận.
2- Người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương cho người lao động phải tạm
thời nghỉ việc để làm các nghĩa vụ công dân.
3- Việc tạm ứng tiền lương cho người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy
định của Chính phủ.
c. Thời giờ làm việc
Điều 68
1- Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một
tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc
tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.
2- Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với
những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh
mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
21


Điều 69.
Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ,
nhưng không quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường
hợp đặc biệt được làm thêm không được quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ
quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại
diện của người sử dụng lao động.
Điều 70.

Thời giờ làm việc ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ,
tuỳ theo vùng khí hậu do Chính phủ quy định.
d. Thời giờ nghỉ ngơi
Điều 71.
1- Người lao động làm việc 8 giờ liên tục thì được nghỉ ít nhất nửa giờ, tính
vào giờ làm việc.
2- Người làm ca đêm được nghỉ giữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc.
3- Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển
sang ca khác.
Điều 72.
1- Mỗi tuần người lao động được nghỉ ít nhất một ngày (24 giờ liên tục).
2- Người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào chủ nhật
hoặc vào một ngày cố định khác trong tuần.
3- Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàng tuần thì
người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân
một tháng ít nhất là bốn ngày.
Điều 73.
Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương những ngày lễ sau đây:
- Tết dương lịch: một ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch).
- Tết âm lịch: bốn ngày (một ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch).
- Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: một ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).
22


- Ngày Chiến thắng: một ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch).
- Ngày Quốc tế lao động: một ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch).
- Ngày Quốc khánh: một ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch).
Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động
được nghỉ bù vào ngày tiếp theo.
Điều 74.

1- Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một
người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo quy định
sau đây:
a) 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người
dưới 18 tuổi;
c) 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều
kiện sinh sống khắc nghiệt.
2- Thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm do Chính phủ quy định.
Điều 75.
Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh
nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động, cứ năm năm được nghỉ thêm một
ngày.
Điều 76.
1- Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi
tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho
mọi người trong doanh nghiệp.
2- Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng
năm thành nhiều lần. Người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được
gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải
được người sử dụng lao động đồng ý.
23


3- Người lao động do thôi việc hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hàng năm
hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm, thì được trả lương những ngày chưa
nghỉ.
Điều 77.

1- Khi nghỉ hàng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất
bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Tiền tàu xe và tiền lương của người lao động
trong những ngày đi đường do hai bên thoả thuận.
2- Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm
được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán
bằng tiền.
Điều 78.
Người lao động được nghỉ về việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những
trường hợp sau đây:
1- Kết hôn, nghỉ ba ngày;
2- Con kết hôn, nghỉ một ngày;
3- Bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết, nghỉ
ba ngày.
Điều 79.
Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không
hưởng lương.
Điều 80.
Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của những người làm việc trên biển,
trong hầm mỏ và làm các công việc có tính chất đặc biệt khác do Chính phủ quy
định.
Điều 81.
Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của những người làm hợp đồng không
trọn ngày, không trọn tuần, làm khoán do người lao động và người sử dụng lao động
thoả thuận.

24


e. Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất


Điều 82.
1- Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ
và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động.
Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác. Doanh
nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản.
2- Trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham
khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp.
3- Người sử dụng lao động phải đăng ký bản nội quy lao động tại cơ quan
quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nội quy lao
động có hiệu lực, kể từ ngày được đăng ký. Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận
được bản nội quy lao động, cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương phải thông báo việc đăng ký. Nếu hết thời hạn trên mà không
có thông báo, thì bản nội quy lao động đương nhiên có hiệu lực.
Điều 83.
1- Nội quy lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi;
b) Trật tự trong doanh nghiệp;
c) An toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc;
d) Việc bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp;
đ) Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, các hình thức xử lý kỷ luật lao động
và trách nhiệm vật chất.
2- Nội quy lao động phải được thông báo đến từng người và những điểm
chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết trong doanh nghiệp.
Điều 84.
1- Người vi phạm kỷ luật lao động, tùy theo mức độ phạm lỗi, bị xử lý theo
một trong những hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
25



×