Tải bản đầy đủ (.pdf) (158 trang)

Đường hồ chí minh trên biển (1959 1965)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 158 trang )

Ket-noi.com dien dan giao duc

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………………
PHẠM THỊ THUÝ NGA

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN (1959-1965)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ TANG BỒNG

HÀ NỘI - 2008


Ket-noi.com dien dan giao duc

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1. L‎í do chọn đề tài

1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề



2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6

5. Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6

6. Đóng góp của luận văn

7

7. Bố cục của luận văn

7

Chương một
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢCĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
(1959-1962)

1.1. Đôi nét về tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng

9


9

chiến chống Mỹ, cứu nước và yêu cầu chi viện chiến trường
1.1.1. Tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng chiến

9

chống Mỹ, cứu nước
1.1.2. Chủ trương của Đảng về công tác chi viện lực lượng và vũ khí

23

trang bị cho chiến trường miền Nam - Đoàn 559 được thành lập
1.1.3. Những chiếc thuyền vượt biển từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí

30

1.2. Thành lập Đoàn 759 - tuyến vận chuyển chi viện chiến lược - đường

35

Hồ Chí Minh trên biển hình thành
1.2.1. Đoàn 759 được thành lập

35


Ket-noi.com dien dan giao duc


1.2.2. Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, bến bãi

38

1.2.3. Chuyến đi trinh sát mở đường

41

Chương 2
HOẠT ĐỘNG CỦA TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1962 ĐẾN 1965

2.1. Âm mưu, thủ đoạn phong toả trên biển Đông và vùng biển Tây Nam

46
46

của hải quân Mỹ - ngụy
2.2. Tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển phát huy

49

hiệu quả vận chuyển
2.2.1. Nhanh chóng phát triển lực lượng, phương tiện và chuẩn bị bến

49

bãi tiếp nhận hàng
2.2.2. Từ chiếc tàu gỗ "Phương Đông 1" đến những chiếc tàu vỏ sắt


52

nâng cao hiệu quả vận chuyển
2.2.3. Mở tuyến chi viện chiến trường Đông Nam Bộ

58

2.2.4. Đoàn 759 trực thuộc Cục Hải quân (đổi tên thành Đoàn 125), tiếp

67

tục đẩy mạnh vận chuyển chi viện chiến trường
2.2.5. Mở tuyến chi viện chiến trường Khu 5

76

2.2.5.1. Chuyến mở đường vào Khu 5 giao hàng tại bến Lộ Giao

78

(Bình Định)
2.2.5.2. Những chuyến tàu vào Vũng Rô

80

2.3. Sự kiện Vũng Rô và phương thức vận chuyển mới

87

2.3.1. Sự kiện Vũng Rô (tháng 2-1965)


87

2.3.2. Chuyển sang phương thức vận chuyển mới

93

2.3.2.1. Địch tăng cường phong toả vùng biển phía Nam

93

2.3.2.2. Ta kịp thời chuyển phương thức vận chuyển

97

Chương 3
MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

104


GIAI ĐOẠN 1959-1965

3.1. Quán triệt đường lối quan điểm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của 105
Đảng, đề ra phương châm, phương thức vận chuyển linh hoạt, sáng tạo, phát
huy hiệu quả hoạt động vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển
3.2. Dựa vào dân phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các

106


địa phương, ban ngành, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè
quốc tế để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam
3.3. Tích cực, khẩn trương xây dựng lực lượng, coi trọng công tác huấn

111

luyện, đồng thời phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của mọi cán bộ, chiến
sĩ làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển
3.4. Tích cực nghiên cứu thiết kế, cải tiến, chế tạo các loại phương tiện

114

vận chuyển phù hợp với đặc điểm chiến trường và yêu cầu nhiệm vụ vận
chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển
3.5. Tổ chức xây dựng lực lượng tinh gọn; chỉ huy kiên quyết, linh hoạt 117
và tuyệt đối giữ bí mật là những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của
tuyến vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển
KẾT LUẬN

122

TÀI LIỆU THAM KHẢO

126

PHỤ LỤC

135


Phụ lục 1

136

Phụ lục 2

137

Phụ lục 3

138

Phụ lục 4

139

Phụ lục 5

143

Phụ lục 6

145

Phụ lục 7

146


MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác
chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ
vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Cùng với tuyến đường chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên bộ nổi
tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện
chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây là một kỳ tích có ý nghĩa chiến lược
của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
đứng đầu; là biểu hiện của ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 1251 hải quân nhân kỷ niệm 35
năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-1996), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh
giá: "Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các
lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu trên biển Đông,
của những con tàu “không số”, của quân và dân các bến bãi, làm nhiệm vụ chi viện
cho cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, sẽ mãi
mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam quang vinh. Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của
những người đã làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển". [73; 349]
Trong lịch sử xây dựng, hoạt động và chiến đấu anh dũng của tuyến chi viện
chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển, giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1965 là
giai đoạn tuyến chi viện chiến lược từng bước hình thành và nhanh chóng đi vào
1. Đoàn 125 (khi mới thành lập có phiên hiệu là 759) - đơn vị trực tiếp xây dựng tuyến chi viện
chiến lược và làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển.

1


hoạt động. Kết quả vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường giai đoạn này chẳng

những có ý nghĩa chiến đấu, chiến dịch mà còn có ý nghĩa chiến lược to lớn. Trong
khi tuyến vận chuyển trên Trường Sơn đang trong giai đoạn soi đường, chủ yếu vận
chuyển bằng phương thức gùi thồ và gặp rất nhiều khó khăn do địch ngăn chặn thì
tuyến chi viện chiến lược trên biển lại có những đóng góp to lớn, hiệu quả, với khối
lượng lớn vũ khí chi viện chiến trường miền Nam và vận chuyển trực tiếp cho các
địa bàn chiến lược mà tuyến chi viện trên bộ chưa thể vươn tới được. Nhờ đó đã
góp phần bảo đảm cho quân và dân ta ở miền Nam đánh bại chiến lược "Chiến tranh
đặc biệt" của Mỹ - nguỵ.
Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí
Minh trên biển giai đoạn 1959-1965 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông
thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ - ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm
quý cho hôm nay và mai sau. Với lòng biết ơn và tri ân đối với những hy sinh, đóng
góp của các thế hệ cha anh, tôi chọn: "Đường Hồ Chí Minh trên biển (1959-1965)"
làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tuyến chi viện chiến
lược - đường Hồ Chí Minh trên biển. Nhiều công trình đã được công bố trong và
ngoài nước.
2.1. Ở trong nước, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, các địa phương, đơn vị, các cấp, các ngành đều tiến hành tổng kết và biên
soạn lịch sử chiến tranh, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển.
Theo đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu có thể phân các công trình
trên theo các nhóm sau:
2.1.1. Những công trình nghiên cứu ở cấp chiến lược như:

2



- Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H,
1996.
- Ban Tổng kết chiến lược trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt
Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000.
- Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân
dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005.
- Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hậu phương chiến tranh
nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997.
- Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu, Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997.
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975),
Nxb Quân đội nhân dân, H, 1992.
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb
Quân đội nhân dân, H, 1995.
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1954-1975),
tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999.
- Tổng cục Hậu cần, Tổng kết công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2001,…
Những công trình trên đều đề cập đến tổ chức, hoạt động của tuyến chi viện
chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển - một yếu tố quan trọng góp phần làm nên
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Song do nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu, các công trình trên không đi sâu làm nổi bật vị trí, vai trò của tuyến chi
viện chiến lược trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
2.1.2. Nhiều công trình lịch sử đơn vị và địa phương cũng đề cập đến tuyến
vận tải chi viện chiến lược trên biển như:
- Bộ Tư lệnh Hải quân có các công trình: Lịch sử Đoàn 125 hải quân (19612001), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2002; Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị hải

3



quân trong vận tải quân sự đường biển chi viện chiến trường miền Nam (1961-1975),
Nxb Quân đội nhân dân, H, 2004; Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân
đội nhân dân, H, 2005; Lịch sử Ngành kỹ thuật Hải quân nhân dân Việt Nam, tập I
(1955-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005;…
Các công trình của địa phương gồm có: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu, Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Chính
trị quốc gia, H, 1993; Ban chỉ huy quân sự Đồ Sơn, Thị xã Đồ Sơn - Lịch sử
kháng chiến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1945-2002), Nxb Quân đội nhân dân,
H, 2003; Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên - Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Phú
Yên: Vũng Rô - những chuyến tàu lịch sử, Phú Yên, 2007 và Sự kiện tàu
“không số” Vũng Rô (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Phú Yên, 2007,...
Các công trình trên đã khai thác được nhiều tư liệu tốt, có giá trị nhưng chỉ đề
cập từng mặt chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội... trong phạm vi của mỗi ngành, mỗi
địa phương, đơn vị, nên không phản ánh được tính toàn diện của tuyến chi viện chiến
lược - đường Hồ Chí Minh trên biển; nhiều số liệu và sự kiện chưa chính xác.
Ngoài những công trình kể trên, còn có một số bài nghiên cứu đăng tải trên các
tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử quân sự; các báo Trung ương và địa phương như:
Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Thanh niên, Cà Mau, Phú Yên,... trình bày tuyến chi
viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển theo từng góc độ, nội dung cụ thể.
2.2. Nhiều công trình của người nước ngoài viết về cuộc chiến tranh Việt
Nam, trong đó có đề cập đến tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển, một
số đã được dịch ra tiếng Việt.
Trong đó các công trình đáng chú ý là:
- Giôn Pho và Rô-bớt Uy-li-am (John Forbes and Robert Williams), Lực
lượng trên sông (Force in river), Nxb Bantani Books, New York, bản dịch của Viện
Lịch sử quân sự Việt Nam, 1987.
- Ga-bi-en Côn-cô (Gabriel Kolko), Giải phẫu một cuộc chiến tranh - Việt
Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991


4


(Anatomy of a war - Vietnam, the united states and the modern historical
experience, Pantheon books, New York, 1985).
- Giôn Pra-đốt (John Prados), Con đường máu (The Blood Road), New York:
John Wiley and Sons, 1998.
- Da-ni-en En-béc (Daniel Ellsberg), Những bí mật về chiến tranh Việt Nam:
Hồi ức về Việt Nam và tài liệu Lầu Năm góc (Secrets: A Memmoir of Việt Nam and
the Pentagon Papers), người dịch: Tĩnh Hà - Kiều Oanh, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2006.
- Gioóc-phây Pắc-cơ (Geoffrey Parker), Lịch sử chiến tranh (War history),
Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, ...
Các công trình trên trình bày khá tỉ mỉ bối cảnh, diễn biến của cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ và ít nhiều đều đề cập đến sự chi viện của hậu
phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam cả trên bộ và trên biển. Tuy nhiên trong
các công trình trên, tuyến chi viện chiến lược trên biển chỉ được đề cập có mức độ.
Mặt khác, do quan điểm, phương pháp nghiên cứu nên hầu hết các công trình đó
đều chưa có những nhận định, đánh giá khách quan, khoa học.
Điểm lại tình hình nghiên cứu có thể thấy, cho đến nay chưa có một công
trình nào nghiên cứu toàn diện về tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh
trên biển. Ở một số công trình, nhiều tư liệu, số liệu chưa được đối chiếu, so sánh,
phân tích theo phương pháp khoa học nên chưa bảo đảm tính chính xác. Song tất cả
các công trình trên đều là nguồn tài liệu quý giá, gợi mở để tác giả tham khảo, kế
thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những hoạt động, kết quả đóng góp của tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiệm vụ chi viện chiến trường.
- Khẳng định tầm vóc ý nghĩa, vai trò của tuyến chi viện chiến lược - đường
Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,


5


giai đoạn 1959-1965. Qua đó làm rõ vị trí, vai trò của hậu phương miền Bắc trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Kế thừa thành quả của các tác phẩm, công trình nghiên cứu đã xuất bản và
dựa trên những nguồn tư liệu mới, luận văn trình bày một cách hệ thống, phân tích,
đánh giá toàn diện, khách quan, theo quan điểm lịch sử về quá trình hình thành và
hiệu quả hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển
trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-1965. Qua
đó, làm nổi bật tầm vóc ý nghĩa của đường Hồ Chí Minh trên biển đối với thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.
- Phân tích làm sáng tỏ đường lối, chủ trương của Đảng, trực tiếp là Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân trong tổ
chức, lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh
trên biển.
- Bước đầu rút ra một số nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện
chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh
trên biển.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến
lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về chiến tranh và quân đội; đường lối chung và đường lối quân sự, nghệ thuật
tổ chức chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

6


Để thực hiện được đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau:
phương pháp lịch sử, phương pháp lô-gích, phương pháp thống kê, phương pháp đối
chiếu, so sánh và các phương pháp khác như phân tích và khai thác tư liệu kể của
các nhân chứng...
5.3. Nguồn tư liệu
Luận văn chủ yếu khai thác các tài liệu gốc lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ
Quốc phòng, các phông: Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng,
Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu... các nghị quyết, chỉ thị,
mệnh lệnh, báo cáo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân và một số địa phương tham
gia tuyến vận tải chi viện chiến lược trên biển như Cà Mau, Bà Rịa, Bến Tre, Trà
Vinh, Phú Yên,...
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số tư liệu thu thập được qua khai thác các
nhân chứng trực tiếp tham gia tuyến vận chuyển chi viện chiến trường, cùng một số sách,
báo, tài liệu đã được xuất bản trong nước và nước ngoài.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Luận văn làm nổi bật quá trình hình thành, hoạt động và tầm vóc ý
nghĩa đặc biệt quan trọng của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên
biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 19591965.
6.2. Lần đầu tiên tuyến chi viện chiến lược trên biển giai đoạn 1959-1965
được tái hiện đầy đủ và toàn diện, qua đó, luận văn nêu bật những chủ trương, biện
pháp kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân,
cấp ủy, chính quyền các địa phương trong công tác chi viện chiến trường bằng
đường biển.
6.3. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn bổ sung nhiều tư liệu mới,
đồng thời chỉnh lý nhiều tư liệu chưa chính xác trong một số công trình nghiên cứu

trước đây.
6.4. Luận văn góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, tổng kết và giảng dạy lịch
sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... ở các học viện nhà trường trong và ngoài

7


quân đội, đồng thời góp phần bồi dưỡng, giáo dục truyền thống yêu nước, “uống nước
nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ. Với những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đấu
tranh cách mạng để giành độc lập, thống nhất sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn
toàn diện, thấu đáo hơn, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện
những chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
đất nước theo đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí
Minh trên biển (1959-1962)
Chương 2: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh
trên biển trong những năm từ 1962 đến 1965
Chương 3: Một vài nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến
lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965

8


Chương một
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
(1959-1962)


1.1. Đôi nét về tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và yêu cầu chi viện chiến trường
1.1.1. Tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân (1953-1954), với đỉnh
cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược
của thực dân Pháp. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông
Dương được ký kết. Các nước tham dự Hội nghị long trọng tuyên bố tôn trọng độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Cam-puchia và Lào. Quân đội Pháp phải rút khỏi các nước Đông Dương. Mỗi nước sẽ tổ
chức Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.
Đối với Việt Nam, Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định thời hạn tổ chức Tổng
tuyển cử để thống nhất đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Trong khi chờ đợi
Tổng tuyển cử, vĩ tuyến 17 được xác định là đường ranh giới quân sự tạm thời. Việt
Nam tạm thời bị chia làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng; miền Nam tạm
thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai.
Hiệp định Giơ-ne-vơ là một thắng lợi to lớn sau 9 năm kháng chiến lâu dài,
gian khổ và vô cùng anh dũng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới: thời kỳ

9


xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ
nhân dân ở miền Nam.
Là nước trực tiếp giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương
(1945-1954) và là một thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng với âm mưu hất
cẳng Pháp, chia cắt lâu dài đất nước ta; biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa
kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông
Nam châu Á nên đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ngay
sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký chưa ráo mực, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao

tuyên bố: "Mỹ không bị hiệp nghị này ràng buộc". [23; 354]
Tháng 6 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về lập nên chính phủ bù nhìn ở
miền Nam Việt Nam. Phái đoàn quân sự Mỹ (S.M.M) được thành lập ở Sài Gòn,
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua "chương trình khẩn cấp" tăng cường viện
trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.
Tháng 11 năm 1954, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao cử tướng Cô-lin đến Sài
Gòn. Một kế hoạch đặt ách thống trị thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam
được vạch ra mang tên "Kế hoạch Cô-lin". Nội dung chủ yếu của kế hoạch này bao
gồm 6 điểm:
- Hất cẳng thực dân Pháp và các lực lượng thân Pháp để độc chiếm miền
Nam Việt Nam;
- Tiêu diệt lực lượng cách mạng, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia cắt
Việt Nam.
- Giúp Diệm xây dựng chính quyền “hợp pháp”, “hợp hiến” đứng được trên
thế ba chân: chính trị, kinh tế, quân sự.
- Giúp Diệm xây dựng “quân đội quốc gia” gồm cả trang bị và huấn luyện.
- Thực hiện nhiều cải cách kinh tế nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thị
trường tiêu thụ.
- Dành ưu tiên cho hàng hoá và vốn đầu tư của Mỹ để phát triển kinh tế
miền Nam.

10


Âm mưu của Mỹ là muốn biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu
mới và căn cứ quân sự, rồi dùng miền Nam Việt Nam làm bàn đạp tiến công miền
Bắc, ngăn chặn làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ
nghĩa tại khu vực Đông Nam Á.
Với kế hoạch trên, Mỹ - nguỵ tập trung xây dựng quân đội ngụy và mạng
lưới tề điệp, lập hệ thống đồn bốt dày đặc cùng bộ máy nguỵ quyền ở cơ sở. Chúng

buộc những người tham gia kháng chiến phải trình diện, những người có chồng, con
đi theo cách mạng phải tuyên bố "ly khai". Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố
những người yêu nước, gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu man rợ như ở Hướng
Điền (Quảng Trị), Vĩnh Trinh (Quảng Nam), Mỏ Cày (Bến Tre),...
Tháng 3 năm 1956, chính quyền Diệm tiến hành tuyển cử riêng rẽ, hợp pháp
hoá chính quyền tay sai, đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo hộ của khối quân sự
Đông Nam Á (SEATO).
Sau hai năm xây dựng và củng cố bộ máy thống trị, Mỹ - Diệm đã xây dựng
được một đội quân phản động, trang bị hiện đại gồm 150.000 quân chủ lực và
10.000 bảo an, dân vệ, cảnh sát. Chúng tuyên bố "tố cộng, diệt cộng" là quốc sách,
ra sức thi hành một chính sách phản động, phát xít khủng bố dã man trả thù những
người yêu nước, nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam.
Tháng 5 năm 1957, chúng ban hành đạo luật đặt cộng sản ra ngoài vòng
pháp luật.
Trước phong trào đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân dân miền Nam,
tháng 3 năm 1959, nguỵ quyền Ngô Đình Diệm ra tuyên bố đặt miền Nam Việt
Nam trong tình trạng chiến tranh. Tháng 5 năm 1959, Ngô Đình Diệm lại ban hành
Luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam, gây nên những vụ giết người man rợ,
tàn sát các chiến sĩ cách mạng, khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng nhân
dân. Từ năm 1954 đến năm 1959, Mỹ - Diệm mở hàng vạn cuộc càn quét, vây ráp,
điển hình như các chiến dịch Phan Chu Trinh, Trịnh Minh Thế,… tàn sát đẫm máu
người yêu nước, những người kháng chiến cũ… Theo con số ước tính, đến năm
1959 ở miền Nam có 446.000 người bị bắt, 400.000 người bị tù đày, 68.000 người

11


bị giết hại,... Ở đồng bằng Nam Bộ, nhiều xã không còn chi bộ. Các tỉnh Gia Định,
Biên Hoà mỗi tỉnh chỉ còn 1 chi bộ đảng. Toàn miền Nam chỉ còn khoảng 5.000
đảng viên. Các cơ sở cách mạng ở miền Nam đều bị tổn thất nặng nề. [74; 46]

Cuối năm 1960, Ken-nơ-đi thay Ai-xen-hao làm Tổng thống nước Mỹ.
Ngày 28 tháng 1 năm 1961, Ken-nơ-đi thông qua chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
và chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm chiến lược quân sự này. Về thực chất,
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam là “dùng người Việt đánh
người Việt” bằng vũ khí trang bị Mỹ và cố vấn Mỹ, dưới cái ô “bảo trợ” của Mỹ. Đây
là một âm mưu thâm độc, một chiến lược quân sự – chính trị nguy hiểm. Bởi lẽ, Mỹ
sẽ thực hiện sự kết hợp giữa những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo và vũ khí trang bị kỹ
thuật hiện đại của chúng với sự điên cuồng, man rợ của bọn tay sai bao gồm tất cả các
thế lực của giai cấp phong kiến, tư sản mại bản phản động ở Việt Nam, mà trực tiếp
là ở miền Nam Việt Nam.
Trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", việc ngăn chặn sự chi viện về
người, vũ khí và trang bị tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam nhằm cô lập phong
trào cách mạng miền Nam là nội dung được đế quốc Mỹ hết sức coi trọng. Tháng 5
năm 1961, Ken-nơ-đi đưa hai đại đội trực thăng và 400 quân thuộc "lực lượng đặc
biệt" Mỹ vào miền Nam Việt Nam, chuẩn y chương trình hành động của lực lượng
đặc biệt và tăng cường mọi khả năng, phương tiện nhằm bịt biên giới, vùng giới
tuyến và vùng ven biển (bằng hệ thống tình báo, hệ thống ra-đa, máy bay trinh sát,
hải thuyền và hệ thống đồn trại của "lực lượng đặc biệt"...).
Từ tháng 6 năm 1961, đế quốc Mỹ tăng nhanh số quân và vũ khí trang bị cho
quân nguỵ, bố trí lại lực lượng toàn chiến trường, huấn luyện quân chính quy, bảo
an và dân vệ chiến thuật "chống du kích"; đồng thời phát triển mạng lưới tình báo,
tề điệp nhằm phát hiện lực lượng vũ trang, các căn cứ và cơ quan lãnh đạo cách
mạng. Đối với quân chính quy nguỵ, Mỹ tăng cường hệ thống cố vấn và lực lượng
yểm trợ hoả lực. Cố vấn Mỹ được đưa tới các tiểu khu và cấp tiểu đoàn. Phi công
Mỹ tham gia các cuộc hành quân càn quét của nguỵ. Lực lượng phòng vệ dân sự do

12


“lực lượng đặc biệt” của lục quân Mỹ ở Việt Nam huấn luyện và chỉ huy, phối hợp

chiến đấu với quân chính quy trong kế hoạch "bình định".
Để thực thi Hiệp ước phòng thủ chung do Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn
ký kết từ ngày 18 tháng 10 năm 1961, Ngô Đình Diệm tuyên bố “tình hình khẩn
cấp” và sử dụng “quyền đặc biệt” ở miền Nam. Tại Oa-sinh-tơn, Tổng thống Mỹ
Ken-nơ-đi thông báo: Quân lực Hoa Kỳ đã được chuẩn bị tham gia vào nỗ lực liên
quân gia tăng với Việt Nam cộng hoà và sẽ tham gia hành quân với quân đội Nam
Việt Nam. [23; 429].
Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam
(MACV) được thành lập, đánh dấu giai đoạn chuyển từ hình thức cố vấn quân sự
sang hình thức có lực lượng vũ trang Mỹ tham chiến.
Mục đích của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, mà Mỹ vẫn gọi là “chiến
tranh chống lật đổ” là để chống chiến tranh du kích, chống lại chiến tranh giải
phóng của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Đó là loại chiến tranh không có chiến
tuyến cố định và thường ít huy động những binh đoàn chủ lực lớn. Hình thức của
loại chiến tranh này là phối hợp đầy đủ các hoạt động chính trị, quân sự, tâm lý,
kinh tế… Công cụ chủ yếu được sử dụng là quân đội ngụy cùng vũ khí, phương tiện
chiến tranh và tiền bạc của Mỹ, do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” được Mỹ cho là một sáng tạo về lý luận quân sự, một phương pháp
có hiệu quả để dập tắt phong trào giải phóng dân tộc, thực hiện vai trò sen đầm quốc
tế của Mỹ.
Để thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã ráo riết tăng
viện trợ kinh tế, quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Năm 1960, Mỹ viện trợ
cho nguỵ quyền Sài Gòn 164 triệu đô-la; hai năm 1961 và 1962 tăng lên 750 triệu
đô-la. [24; 331]
Dưới sự chỉ huy của Mỹ, cùng đô-la và vũ khí do Mỹ chi viện, chính quyền
Diệm ra sức đôn quân, bắt lính. Chỉ trong vòng 1 năm (1961), chúng đưa lực lượng
quân chính quy ngụy lên 20 vạn tên, tổ chức thành 7 sư đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn
lính thuỷ đánh bộ; đồng thời đưa lực lượng bảo an lên 8 vạn tên, tổ chức ở mỗi tỉnh
từ một đến hai tiểu đoàn bảo an. Lực lượng dân vệ cũng được đôn lên đến 7 vạn tên,


13


tổ chức thành các đại đội dân vệ ở cấp quận, huyện. Chúng đóng thêm hàng nghìn
đồn bốt, huy động một lực lượng lớn quân nguỵ mở hàng vạn cuộc hành quân càn
quét với các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”… nhằm tiêu diệt lực lượng
vũ trang cách mạng, dập tắt phong trào đấu tranh của quần chúng, tái chiếm lại các
vùng giải phóng.
Với âm mưu và thủ đoạn như trên, Mỹ - nguỵ đã gây cho ta rất nhiều khó
khăn, nhất là khi chúng đẩy mạnh tái chiếm một số nơi nhân dân ta đã giành được
quyền làm chủ trong thời gian đồng khởi.
Trước âm mưu của Mỹ - ngụy, ngày 15 tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng
họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng. Hội nghị quyết định phương châm sách lược đấu
tranh của ta trong giai đoạn mới là: "Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và
hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực
hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng
chiến tranh Đông Dương, củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập và thực hiện dân chủ trong toàn quốc". [53; 225]
Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng họp, ra nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới
của Đảng". Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta trên hai miền
Nam, Bắc là: đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục âm
mưu phá hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải
cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng để củng cố
miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam,
đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong
toàn quốc. [53; 287]
Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(tháng 9 năm 1954), nhân dân miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu
tranh chính trị. Xứ ủy Nam Bộ, Liên khu ủy Liên khu 5, Ban cán sự Đảng các tỉnh

cực Nam Trung Bộ và các tỉnh ủy chỉ thị cho cán bộ, đảng viên bám địa bàn, xây
dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, duy trì một số căn cứ ở rừng núi, đồng thời

14


lựa chọn để lại tại mỗi địa phương một số cán bộ quân sự và bí mật cất giấu một số
vũ khí. Một số cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng được Đảng đưa vào
hoạt động bí mật trong nguỵ quân, nguỵ quyền.
Tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng
được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phân công ở lại chỉ đạo phong trào cách
mạng miền Nam đã viết "Đề cương cách mạng miền Nam", trong đó khẳng định: con
đường đưa cách mạng miền Nam tiến lên là bạo lực cách mạng.
Quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị và đáp ứng nguyện vọng của quần chúng
nhân dân, vận dụng tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kinh nghiệm vũ
trang tuyên truyền trước Cách mạng tháng Tám vào điều kiện lịch sử mới, Xứ ủy
Nam Bộ và các cấp ủy Đảng địa phương ở miền Nam đã kịp thời đề ra những chủ
trương và phương thức hoạt động thích hợp nhằm duy trì lực lượng ở miền Nam,
từng bước chống lại những âm mưu, chiến lược mới của Mỹ - nguỵ.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về đấu tranh chính trị có vũ
trang tự vệ, các địa phương đã xây dựng và phát triển những tổ chức nòng cốt từ
đảng viên qua quần chúng trung kiên đến quần chúng rộng rãi, móc nối liên lạc
với các cơ sở trong hội tề, dân vệ và một số đơn vị chính quy nguỵ. Các đội tự vệ
bảo vệ cơ quan tỉnh ủy, huyện ủy và các tiểu đội, trung đội vũ trang bí mật được tổ
chức ở nhiều tỉnh.
Tại Nam Bộ, tháng 10 năm 1957, Tiểu đoàn 250 - đơn vị vũ trang tập trung
đầu tiên của miền Đông Nam Bộ được thành lập. Đến giữa năm 1958, thành lập Bộ
Tư lệnh miền Đông Nam Bộ.
Tại Liên khu 5, năm 1958, Liên khu ủy ra Nghị quyết về "Xây dựng căn cứ địa
cách mạng và bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang ở Liên khu". Đến cuối năm

1958, nhiều khu căn cứ đã hình thành ở Hiên (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng
Ngãi), xã Hiến (Kon Tum), Bác Ái (Ninh Thuận),...
Phong trào cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từng bước
được khôi phục và phát triển, các đơn vị vũ trang đẩy mạnh diệt ác trừ gian,

15


khiến bọn tay sai rất hoang mang. Sang năm 1959, hoạt động vũ trang ở miền
Nam càng phát triển mạnh.
Được duy trì, khôi phục và phát triển từ lực lượng chính trị của quần chúng,
từ trong cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, ác liệt của nhân dân nhằm giữ gìn và
phát triển lực lượng cách mạng, đến năm 1959, lực lượng vũ trang tự vệ ở miền
Nam đã có 139 trung đội ở Nam Bộ, 34 trung đội ở miền núi Liên khu 5 và hàng
trăm tổ đội tự vệ mật ở các xã, ấp. [23; 398]
Đây là một thành quả rất quan trọng của cách mạng miền Nam trong những
năm đấu tranh chính trị 1954-1959, là một trong những yếu tố đảm bảo cho nhân
dân miền Nam tiến lên khởi nghĩa vũ trang, đồng thời là cơ sở để phát triển nhanh
chóng lực lượng vũ trang tại chỗ trong những năm tiếp theo.
Từ ngày 13 đến ngày 21 tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá II mở rộng họp Hội nghị lần thứ 15 tại Thủ đô Hà Nội đề ra nhiệm vụ cơ
bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là "giải phóng miền Nam khỏi
ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có
ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh". [54; 81]
Nghị quyết chỉ rõ quá trình thực hiện nhiệm vụ ấy là quá trình lâu dài, phải đi
từng bước, tiến từ những hình thức thấp, từ đẩy lùi chính quyền địch đến những
hình thức cao hơn.
Nghị quyết cũng đề ra phương pháp cách mạng là "lấy sức mạnh của quần
chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp

với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng
lên chính quyền cách mạng của nhân dân". Muốn đạt mục tiêu đó, "phải tích cực
chuẩn bị về mọi mặt theo phương hướng căn bản là khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ Diệm". [54; 82-83]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Trung ương Đảng khoá II là bước khởi
điểm quan trọng dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước. Nghị quyết thể hiện tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng ta, một lần nữa

16


khẳng định con đường giải phóng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực.
Đây là nghị quyết lịch sử, vạch ra con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân
miền Nam, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng nhân dân.
Nghị quyết không chỉ đề ra đường lối có tính nguyên tắc cho cách mạng miền
Nam mà còn đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác và
toàn diện, mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam. Đảng ta chủ trương
chuyển hướng chiến lược từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị
với đấu tranh vũ trang và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài để đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược. Đó cũng là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của lực
lượng vũ trang ở cả hai miền.
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 mở ra một bước ngoặt mới thúc đẩy
cách mạng miền Nam tiến lên. Nghị quyết như một luồng gió thổi bùng ngọn lửa
cách mạng ở miền Nam Việt Nam vốn đang âm ỉ cháy, đáp ứng nhu cầu bức thiết
của cách mạng miền Nam lúc đó, cứu phong trào cách mạng miền Nam đang trong
cơn nguy biến trước sự đàn áp tàn bạo và khốc liệt của Mỹ - ngụy.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng,
các cấp ủy Đảng ở miền Nam đã nhanh chóng lãnh đạo chuyển hướng đấu tranh
với phương châm đấu tranh chính trị kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang, phát
động quần chúng nổi dậy có sự hỗ trợ tích cực của đấu tranh vũ trang, đưa phong
trào cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công giành quyền làm chủ ở vùng

nông thôn.
Những tháng đầu năm 1959, tình hình miền Nam hết sức sôi động. Quần
chúng nhân dân ở nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng địa phương đã
nổi dậy, kiên quyết chống lại địch, bảo vệ các quyền dân sinh, dân chủ. Tình thế
cách mạng xuất hiện ở các xã, ấp, nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Trung
Bộ. Với chủ trương đúng đắn và kịp thời của Trung ương Đảng, cùng lực lượng
cách mạng được giữ gìn và phát triển trong những năm 1954-1959, nhân dân miền
Nam đã vùng dậy đấu tranh cách mạng bằng nhiều hình thức rất phong phú, sáng
tạo. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra từ giữa năm 1959 đến cuối năm 1960. Từ trong

17


những cuộc khởi nghĩa đó, lực lượng vũ trang tự vệ đã phát triển nhảy vọt, hỗ trợ
đắc lực cho quần chúng khởi nghĩa.
Tại miền núi Liên khu 5, nổ ra nhiều cuộc nổi dậy vũ trang của đồng bào các
dân tộc ít người chống địch dồn dân lập các khu tập trung, đòi trở về buôn làng cũ.
Đồng bào các dân tộc Chăm, H,rê,… ở Thồ Lồ (Phú Yên); Ê-đê, Gia-rai, Xê-đăng,...
ở Tà Boóc, Mang Khênh (Kon Tum) liên tiếp nổi dậy diệt ác ôn, bỏ làng cũ vào
rừng lập làng mới, bất hợp tác với giặc.
Nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) được đơn vị 339 tỉnh
hỗ trợ nổi dậy diệt ác, phá kìm ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt 161 tên, trừng trị 61 tên
tề nguỵ ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở một số thôn xã vùng rừng núi, xoá bỏ
tề ở xã vùng thấp. Đến ngày 1 tháng 9 năm 1959, nhân dân làm chủ toàn huyện
Trà Bồng (trừ quận lỵ). Tiếp đó, nhân dân miền Tây Quảng Ngãi nổi dậy lật đổ
chính quyền ở thôn, xã và bao vây, uy hiếp đồn bốt địch. Chỉ trong một tuần, toàn
bộ vùng cao huyện Sơn Hà và hơn 20 xã thuộc hai huyện Ba Tơ, Minh Long do
nhân dân làm chủ.
Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long,… miền
Tây Quảng Ngãi - cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên ở vùng núi của quân và dân

miền Nam hoàn toàn thắng lợi; mở đầu thời kỳ phong trào cách mạng ở Khu 5
chuyển sang thế tiến công, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng toàn miền
Nam… Cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng và miền Tây tỉnh
Quảng Ngãi chuyển sang một cục diện mới, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu
tranh vũ trang, giữ quyền làm chủ mà nhân dân đã giành được trong cuộc khởi
nghĩa tháng 8 năm 1959. [23; 407]
Tại đồng bằng Nam Bộ, các trận diệt ác diễn ra hằng ngày. Phong trào đặc
biệt sôi nổi ở các vùng ven các căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười. Các đơn vị vũ
trang ở đây sau một thời gian củng cố đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong
quần chúng, diệt nhiều tên ác ôn, đánh lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch.
Tại miền Đông Nam Bộ và nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, được tiếp
thu tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

18


các đơn vị vũ trang tập trung, các đội vũ trang tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động
làm nhiệm vụ xung kích hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa.
Đầu tháng 1 năm 1960, Hội nghị cán bộ quân sự miền Đông Nam Bộ được tổ
chức ở Bàu Rá (tỉnh Tây Ninh). Hội nghị bàn nhiệm vụ xây dựng và đẩy mạnh hoạt
động của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong năm 1960, hỗ trợ nhân dân
nổi dậy giành chính quyền, làm chủ ở vùng nông thôn lấy vũ khí địch trang bị cho
các đơn vị vũ trang ta, nhằm thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương
của Xứ ủy Nam Bộ. Phương án đánh trận Tua Hai do Hội nghị đề ra được Xứ ủy
Nam Bộ phê chuẩn. [23; 409]
Tua Hai là một đồn binh cũ của Pháp, cách thị xã Tây Ninh 7 ki-lô-mét về
phía tây bắc, được quân nguỵ mở rộng thành căn cứ trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 21.
Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý (năm 1960), đề phòng binh biến xảy ra, địch
chỉ cho một trung đội thường trực chiến đấu được mang vũ khí. Nhận thấy đây là
thời cơ hết sức thuận lợi, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ sử dụng 3 đại đội bộ

binh: 59, 70, 80; Đại đội đặc công 60 (chủ lực miền) và 3 tiểu đội vũ trang tỉnh Tây
Ninh, do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự Miền chỉ huy. Một số
vũ khí các loại cất giấu từ năm 1954 được kịp thời trang bị cho các đơn vị.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 1 năm 1960, phối hợp với nội ứng, các đơn vị
bất ngờ tập kích làm chủ hoàn toàn căn cứ Tua Hai, loại khỏi vòng chiến đấu 500
tên, thu 1.500 khẩu súng. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách
mạng làm chấn động toàn miền Nam, khiến cho quân địch, đặc biệt là lực lượng bảo
an, dân vệ hoang mang lo sợ, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Tây Ninh đứng
lên đồng khởi, giải phóng 24 xã trong tỉnh. Trên 70% bộ máy kìm kẹp của địch ở
xã, ấp bị xoá bỏ. Vùng giải phóng được mở rộng đến sát thị xã và các thị trấn.
Đầu năm 1960, phong trào đồng khởi nổ ra ở Bến Tre. Ngày 17 tháng 1
năm 1960, nhân dân xã Định Thuỷ nổi dậy diệt tổng đoàn dân vệ gồm 12 tên và
tiểu đội dân vệ đóng ở xã, bắt bọn tề điệp, ác ôn, phá tan bộ máy kìm kẹp của
địch, thu 28 khẩu súng. Tiếp đó trong hai ngày 18 và 19 tháng 1, các xã Phước
Hiệp, Bình Khánh nổi dậy giành chính quyền. Thắng lợi của cuộc đồng khởi ở ba

19


xã ở tỉnh Bến Tre, khiến cho bộ máy thống trị của địch bị rúng động, khí thế
quần chúng lên rất cao. Ngày 19 tháng 1 năm 1960, ba tiểu đội vũ trang được
thành lập tại Bình Khánh. Một số cán bộ, chiến sĩ và vũ khí thu được của địch
được ưu tiên tập trung cho xây dựng đại đội vũ trang đầu tiên của tỉnh Bến Tre
mang phiên hiệu Đại đội 264. Như vậy, từ tay không nổi dậy, Bến Tre đã xây
dựng được đại đội vũ trang, từng bước thực hiện phương thức tiến công địch
bằng chính trị, quân sự và cả binh vận.
Những ngày từ 17 đến 24 tháng 1 năm 1960 là "tuần lễ toàn dân đồng khởi"
của tỉnh Bến Tre. Nhân dân 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu
Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nhất tề nổi dậy. Tính đến cuối tháng 1 năm 1960, quân
và dân Bến Tre đã giành quyền làm chủ ở 22 xã; còn ở 25 xã khác, nhân dân tiến

hành vây đồn, giải phóng thêm nhiều thôn, ấp. Tại thị xã Bến Tre, lực lượng tự vệ
đánh bốt Lò Tương, diệt ác ở phường 1, ngã ba Tháp - Phú Khương; 300 tên tề,
điệp ác ôn bị bắt, 37 đồn bị bức rút, bức hàng. Nhân dân Bến Tre thu được 150
khẩu súng và nhiều loại đạn dược các loại. Tháng 2 năm 1960, Tỉnh ủy Bến tre tập
hợp các đội vũ trang ở cù lao Bảo (các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành)
thành lập đơn vị vũ trang tập trung thứ hai, mang phiên hiệu Đại đội 269.
Đồng thời với phong trào đồng khởi của quân và dân Bến Tre, ngày 14
tháng 9 năm 1960, các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An, Châu Đốc, An Giang tiến hành đồng khởi. Tiếp đó,
các ngày 23, 24, 25 tháng 9 năm 1960, các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Phong,
Kiến Tường cũng đồng khởi.
Cuộc đồng khởi ở Bến Tre đã nhanh chóng tạo nên bước phát triển nhảy vọt
cho cách mạng miền Nam. Bộ máy chính quyền của địch ở phần lớn các xã, ấp
nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Nam Trung Bộ bị tan rã. Hàng vạn tên tề
điệp ác ôn và lực lượng vũ trang của địch ở cơ sở bị tiêu diệt. Nhiều khu dinh điền,
khu trù mật, khu tập trung dân của địch bị phá tan. Phong trào đồng khởi đã giáng
một đòn mạnh mẽ và bất ngờ vào chính quyền phát xít Mỹ - Diệm. Vùng giải phóng
và vùng quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ được mở rộng. Trên 70% số

20


ruộng đất bị địch chiếm đoạt được trao trả lại cho nông dân. Lực lượng đấu tranh có
tổ chức của quần chúng phát triển mạnh mẽ, trở thành một lực lượng tiến công hùng
hậu và sắc bén của cách mạng. Bằng cuộc đồng khởi, cách mạng miền Nam từ thế
giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công.
Qua phong trào đồng khởi, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam (bộ
đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân tự vệ xã, ấp) từng bước
được hình thành. Bộ đội chủ lực có Tiểu đoàn 500 (có 997 người) thuộc Liên tỉnh
Đông Nam Bộ; Tiểu đoàn 261 (có 266 người) thuộc Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ;

Tiểu đoàn 306 (có 771 người) thuộc Liên tỉnh miền Tây Nam Bộ. Liên khu 5 có 2
đại đội bộ binh và 12 đội đặc công (khoảng 1.000 người). Đây là những đơn vị chủ
lực được lựa chọn từ các đơn vị vũ trang tập trung tỉnh, huyện; phần lớn đã trải qua
kháng chiến chống thực dân Pháp và trưởng thành trong cao trào đồng khởi.
Bộ đội địa phương ở Nam Bộ có 17 đại đội tỉnh, 70 trung đội huyện
(khoảng 700 người); ở Liên khu 5 có 123 trung đội và 76 đội vũ trang công tác
(khoảng 5.500 người). Đây là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên
địa bàn tỉnh, huyện.
Lực lượng dân quân tự vệ, du kích xã, ấp ở Nam Bộ có khoảng 1 vạn người,
190 xã có trung đội du kích, gồm khoảng 7.000 người. Ở Liên khu 5, lực lượng tự
vệ, du kích xã miền núi có khoảng 3.000 người. Ra đời từ lực lượng chính trị của
quần chúng, phát triển nhanh chóng trong quá trình đồng khởi, du kích, tự vệ là lực
lượng vũ trang rộng rãi của Đảng ở cơ sở làm nhiệm vụ xung kích và hỗ trợ quần
chúng đấu tranh chính trị, bảo vệ chính quyền cách mạng ở xã, ấp, phối hợp với bộ
đội tập trung trong chiến đấu. [23; 416]
Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại Rùm Đuông xã Tân Lập, huyện Châu
Thành, tỉnh Tây Ninh - một vùng giải phóng ở Đông Nam Bộ, Đại hội đại biểu
nhân dân toàn miền Nam đã họp và tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam, bầu ra Ủy ban Trung ương do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm
Chủ tịch. Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp,
đảng phái, tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước không phân biệt

21


×