Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

NGUY HIỂM CHO NGƯỜI NGU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (395.71 KB, 62 trang )

Hiểu Biết Là Chìa Khóa
(Trích đoạn trong các bài nói)

1. Đàn ông đàn bà – tình yêu
- Không đàn ông nào chỉ là đàn ông và không đàn bà nào
chỉ là đàn bà. Mỗi đàn ông đều là cả đàn ông và đàn bà,
cũng như vậy với đàn bà - là cả đàn bà và đàn ông. Adam
có Eva trong anh ta, Eva có Adam có trong cô ta. Trong
thực tế không ai chỉ là Adam và cũng không ai chỉ là Eva,
chúng ta là Adam-Eva. Đây là một trong những sáng suốt
nhất đã từng được đạt tới.
Tâm lí chiều sâu hiện đại đã trở nên nhận biết về điều đó,
họ gọi nó là lưỡng dục. Tại sao đàn ông lại yêu đàn bà? Vì anh ta mang người đàn bà trong mình, bằng không anh
ta đã chẳng yêu. Rồi tại sao bạn lại yêu người đàn bà nào
đó? Có hàng nghìn đàn bà, nhưng tại sao, bỗng nhiên,
người đàn bà nào đó trở thành quan trọng nhất đối với bạn,
dường như mọi đàn bà khác đều biến mất và chỉ còn mỗi
người đàn bà đó trên thế giới? Tại sao? Tại sao người đàn
ông nào đó lại hấp dẫn bạn? Tại sao ngay từ cái nhìn đầu
tiên cái gì đó bỗng nhiên nhoáng lên?
Bạn đang mang hình ảnh về người đàn bà trong bạn, hình
ảnh về người đàn ông trong bạn. Mỗi đàn ông đều mang
một đàn bà và mỗi đàn bà đều mang một đàn ông. Khi ai đó
bên ngoài khớp với hình ảnh bên trong của bạn thì bạn yêu
- đó là ý nghĩa của tình yêu.


Bạn cảm thấy, "Đây là người đàn bà của mình," hay "Đây
là người đàn ông của mình"; cảm giác này chính là điều
tình yêu là gì. Nhưng người đàn bà bên ngoài lại không
định thoả mãn, vì không người đàn bà bên ngoài nào lại


định hoàn toàn khớp với người đàn bà bên trong của bạn.
Thực tại không theo cách đó chút nào. Có thể cô ấy khớp
được một chút - có sự hấp dẫn, một sức hút, nhưng sớm
hay muộn nó sẽ phôi phai. Chẳng mấy chốc bạn sẽ nhận ra
rằng có cả nghìn lẻ một thứ mà bạn không thích trong
người đàn bà này. Sẽ mất chút thời gian để đi tới biết về
những điều đó.

Trước hết bạn sẽ bị mê tít. Ban đầu sự tương tự sẽ quá
nhiều, nó sẽ tràn ngập bạn. Nhưng dần dần bạn sẽ thấy rằng
có cả nghìn lẻ một thứ, những vụn vặt đời thường, không
khớp; rằng các bạn là những người ngoại lai, xa lạ. Vâng,
bạn vẫn còn yêu cô ấy, nhưng tình yêu không còn mê đắm
nữa, cái nhìn lãng mạn mất dần. Rồi cô ấy cũng nhận ra
rằng điều gì đó hấp dẫn trong bạn, nhưng cái toàn bộ của
bạn thì không hấp dẫn. Đó là lí do tại sao mỗi người chồng
cố gắng thay đổi người vợ và mỗi người vợ cũng cố gắng
thay đổi người chồng. Họ cố gắng làm gì vậy? Tại sao? Tại
sao vợ cứ tiếp tục cố gắng thay đổi chồng? Để làm gì? Cô
ta đã yêu người đàn ông này, rồi lập tức cô ta bắt đầu tìm
cách thay đổi người đàn ông đó sao? Bây giờ cô ta đã nhận
ra những dị biệt. Cô ta muốn vứt bỏ những dị biệt đó; cô ta
muốn cắt bỏ vài mảnh ở người đàn ông này để anh ta hoàn
toàn khớp với người đàn ông lí tưởng của mình. Và người
chồng cũng cố gắng làm như vậy - không khó nhọc, không
ương bướng như đàn bà, bởi vì người chồng chóng trở nên
mệt mỏi - đàn bà hy vọng lâu hơn.


Đàn bà nghĩ, "Hôm nay hay ngày mai hay ngày kia - một

ngày nào đó ta sẽ thay đổi được ... " Phải mất gần hai mươi,
hai mươi nhăm năm để nhận ra được sự kiện là bạn không
thể thay đổi được người khác. Đến độ tuổi năm mươi, khi
đàn bà đã qua tuổi mãn kinh và đàn ông cũng vậy, khi họ
bắt đầu thực sự già thì họ trở nên tỉnh táo dần dần rằng
chẳng có gì thay đổi cả. Họ đã cố gắng vất vả, họ đã thử đủ
mọi cách... người đàn bà vẫn nguyên như vậy và người đàn
ông cũng nguyên như vậy. Chẳng ai có thể thay đổi được
ai. Đây là một kinh nghiệm lớn đạt tới, một hiểu biết lớn.

Đó là lí do tại sao người già trở nên dễ tha thứ hơn: họ biết
rằng chẳng cái gì có thể được làm cả. Đó là lí do tại sao
người già trở nên thanh nhã hơn: họ biết rằng mọi thứ là
như chúng hiện hữu. Đó là lí do tại sao người già trở nên dễ
chấp nhận hơn. Người trẻ rất giận dữ, không chịu chấp
nhận; họ muốn thay đổi mọi thứ, họ muốn làm cả thế giới
theo cách họ thích. Cuộc vật lộn thật gian nan, nhưng điều
đó chẳng bao giờ xảy ra. Nó không thể xảy được, nó không
trong bản chất của mọi vật. Người đàn ông bên ngoài
không bao giờ khớp hẳn với người đàn ông bên trong của
bạn và người đàn bà bên ngoài cũng chẳng bao giờ tuyệt
đối giống như người đàn bà bên trong của bạn. Đó là lí do
tại sao tình yêu đem lại sự thích thú và cả nỗi đau nữa, tình
yêu đem lại niềm hạnh phúc và cả nỗi bất hạnh nữa. Mà bất
hạnh thì thường lại nhiều hơn là hạnh phúc.

Li dị đến cùng với hôn nhân nhanh tới mức nó thành chán


nản. Mọi người yêu đều là những người chán nản: họ hy

vọng quá nhiều, họ hy vọng ngược với kinh nghiệm của
mình, họ cứ thế hy vọng mãi - nhưng chẳng có gì được
thực hiện. Và bạn không thể phá huỷ quy luật của thực tại.
Bạn phải hiểu những luật này!

2.

Học cách ở một mình
- Bạn đang ngồi đây - một mình với bản thân bạn. Đây là
phép màu vĩ đại nhất. Ở một mình là thành tựu lớn lao
nhất. Người ta bao giờ cũng cảm thấy nhu cầu về người
khác. Có nhu cầu mênh mông về người khác bởi vì cái gì
đó bị thiếu bên trong chúng ta. Chúng ta có lỗ lổng trong
bản thể mình; chúng ta nhét vào lỗ hổng đó sự hiện diện
của người khác. Người khác bằng cách nào đó làm cho
chúng ta đầy đủ, bằng không thì chúng ta không đầy đủ.
Không có người khác chúng ta không biết mình là ai,
chúng ta mất đi cá tính của mình. Người khác trở thành
tấm gương và chúng ta có thể nhìn khuôn mặt của mình
trong đó. Không có người khác chúng ta bỗng nhiên bị
ném về chính bản thân mình. Sự không thoải mái lớn lao,
sự bất tiện nảy sinh, bởi vì chúng ta không biết mình là
ai.
Bạn muốn chạy xô tới người khác. Ở cùng người khác,
mọi sự là rõ ràng, được xác định. Khi không có ai bạn
đơn giản bị bỏ lại với sự trống rỗng của mình. Điều đó
tạo ra nỗi sợ.


Không ai muốn một mình cả. Nỗi sợ lớn nhất trên thế

giới là bị bỏ lại một mình. Mọi người đều làm cả nghìn
lẻ một thứ chỉ để không bị bỏ lại một mình. Bạn bắt
chước hàng xóm của mình để cho bạn cũng giống như họ
và bạn không bị bỏ lại một mình. Bạn đánh mất đi tính
cá nhân của mình, bạn đánh mất sự duy nhất của mình,
bạn trở thành kẻ bắt chước, bởi vì nếu bạn không là kẻ
bắt chước thì bạn sẽ bị bỏ lại một mình. Bằng cách nào
đó bạn muốn hội nhập với đám đông nơi bạn có thể cảm
thấy thoải mái, rằng bạn không một mình, có nhiều
người giống như bạn. Bạn và họ trở thành một phần của
đám đông.
Ở một mình mới thực sự là phép màu vĩ đại nhất. Nhu
cầu của bạn về người khác đã biến mất. Bạn không có
chỗ hở nào, bạn không thiếu cái gì, bạn không có khiếm
khuyết nào - bạn đơn giản hạnh phúc với chính bản thân
mình. Bạn không cần cái gì cả, phúc lạc của bạn là vô
điều kiện. Vâng, nó là phép màu vĩ đại nhất trên thế
giới.

Có khác biệt mênh mông giữa cô đơn và một mình. Khi
bạn cô đơn bạn nghĩ tới người khác, bạn thiếu người
khác. Cô đơn là trạng thái tiêu cực. Bạn cảm thấy rằng
nếu như người khác có đó thì sẽ tốt hơn - bạn của bạn,
vợ bạn, mẹ bạn, người yêu của bạn, chồng bạn. Đáng ra
thì tốt nếu người khác có đó, nhưng người khác lại
không có. Cô đơn là sự thiếu vắng người khác. Một mình
là sự hiện diện của bản thân mình. Một mình rất tích cực.
Nó là sự hiện diện, sự hiện diện tràn ngập. Bạn tràn đầy



hiện diện tới mức bạn có thể rót đầy toàn thể vũ trụ bằng
sự hiện diện của mình và không có nhu cầu về bất kì ai.
Điều này không có nghĩa là người đó không có khả năng
sống với người khác. Thực tế chỉ người đó mới có khả
năng sống tốt cùng với người khác. Bởi vì người đó có
khả năng ở với chính mình nên người đó trở nên có khả
năng ở với người khác. Nếu bạn không có khả năng ở
cùng bản thân mình, làm sao bạn có thể có khả năng ở
cùng người khác được? Bạn đang ở chỗ gần nhất rồi.
Ngay cả với bản thân mình mà bạn còn không có khả
năng sống trong tình yêu sâu sắc, trong vui sướng - thì
làm sao bạn có thể sống cùng người khác được? Người
khác còn xa thẳm.

Người hạnh phúc với bản thân mình thì tràn đầy tình
yêu, tuôn chảy. Người đó không cần tình yêu của người
khác, do đó người đó có thể cho. Khi bạn đang cần, làm
sao bạn có thể cho được? Bạn là kẻ ăn mày. Và khi bạn
có thể cho, nhiều tình yêu lại tới với bạn. Đó là sự đáp
ứng, sự đáp ứng tự nhiên. Bài học thứ nhất của tình yêu
là học cách ở một mình.
Hãy thử điều đó đi, để có cảm giác ấy. Thỉnh thoảng hãy
ngồi một mình. Hãy thử mà xem. Nếu bạn bắt đầu cảm
thấy cô đơn thế thì cái gì đó còn thiếu trong con người
bạn, thế thì bạn vẫn chưa có khả năng hiểu mình là ai.
Bạn đã trở nên quá quen; ý tưởng về người khác đã trở
thành thâm căn cố đế, nó đã trở thành thói quen máy
móc, cho nên khi bạn bỏ lỡ nó bạn cảm thấy mình trống



rỗng, cô đơn, rơi vào trong vực thẳm. Nhưng nếu bạn
cho phép và cứ rơi vào trong vực thẳm đó, chẳng mấy
chốc bạn sẽ nhận ra vực thẳm này đã biến mất, và cùng
với vực thẳm đó tất cả mọi gắn bó ảo tưởng đã biến mất.
Thế thì phép màu vĩ đại nhất xảy ra - rằng bạn đơn giản
hạnh phúc chẳng bởi lí do nào cả.
Hãy nhớ, khi hạnh phúc của bạn phụ thuộc vào người
khác, thì bất hạnh của bạn cũng sẽ phụ thuộc vào người
khác. Nếu bạn hạnh phúc bởi vì người đàn bà yêu bạn,
bạn sẽ trở nên bất hạnh nếu cô ấy không yêu bạn. Nếu
bạn hạnh phúc vì bất kì lí do nào về bất kì cái gì, thế thì
bất kì ngày nào lí do đó không còn đó nữa, bạn sẽ trở nên
bất hạnh. Hạnh phúc của bạn bao giờ cũng như trứng
treo trên đá, bạn bao giờ cũng vẫn còn trong lúc bão tố.
Bạn sẽ chẳng bao giờ chắc chắn được liệu bạn có hạnh
phúc hay bất hạnh, bởi vì từng khoảnh khắc bạn sẽ thấy
đất dưới chân có thể biến mất - bất kì khoảnh khắc nào
nó cũng có thể biến mất. Bạn không bao giờ có thể chắc
chắn được. Người đàn bà đó mỉm cười ngay bây giờ đấy,
và thế rồi cô ấy lại trở nên giận dữ. Người chồng đang
nói hay thế và bỗng nhiên anh ấy mất hút vào tâm trạng
tức giận.

Phụ thuộc vào người khác là phụ thuộc thôi - nó là sự tù
túng, nó là sự phụ thuộc, và người ta không bao giờ có
thể cảm thấy thực sự phúc lạc được. Hạnh phúc của bạn
đơn giản là của riêng bạn, bạn không vay mượn nó từ bất
kì ai. Không ai có thể lấy được nó đi, ngay cả cái chết.
Bạn sẽ phải chịu đựng sự cô đơn trước hết. Hãy chịu
đựng nó, hãy đi qua nó. Bạn phải trả giá cho nó. Việc



chịu đựng sự đơn độc này chính là việc trả giá cho nó.
Bạn sẽ được lợi vô cùng.

Người hỏi "Người ta có nên trước hết chấp nhận sự cô
đơn riêng của mình trước khi đi vào mối quan hệ
không?"
Có chứ - có, tuyệt đối đấy. Nó phải như vậy, bằng không
thì bạn sẽ bị thất vọng, và nhân danh tình yêu bạn sẽ làm
cái gì đó khác, cái không phải là tình yêu chút nào..
Trước hết hãy trở thành một mình. Trước hết hãy bắt đầu
tận hưởng bản thân mình, trước hết hãy yêu lấy bản thân
mình. Trước hết hãy trở nên hạnh phúc đích thực tới mức
nếu không ai tới cũng chẳng thành vấn đề gì. Bạn tràn
đầy, tuôn chảy. Nếu không ai gõ cửa nhà bạn thì hoàn
toàn được - bạn chẳng bỏ lỡ cái gì. Bạn không chờ đợi ai
đó tới và gõ cửa. Bạn ở nhà - nếu ai đó tới, tốt, hay. Nếu
không ai tới, điều đó nữa cũng hay và tốt. Thế rồi hãy đi
vào trong mối quan hệ. Bây giờ bạn đi giống như người
chủ, không như kẻ ăn xin. Bây giờ bạn đi giống như
hoàng đế, không như kẻ ăn xin.
Và hãy nhớ, khi bạn đi theo sự cô đơn của mình bạn sẽ
rơi vào mối quan hệ với ai đó cũng cùng cảnh ngộ khổ
sở, bởi vì người thực sự sống theo sự một mình của họ sẽ
không được hấp dẫn tới bạn. Bạn sẽ ở quá thấp dưới họ.
Họ nhiều nhất có thể thông cảm, nhưng không thể yêu
bạn được. Người ở trên đỉnh của một mình chỉ có thể bị
hấp dẫn tới người nào đó cũng một mình. Cho nên bất kì
khi nào bạn hành động theo sự cô đơn của mình, bạn sẽ



tìm thấy người có cùng kiểu; bạn sẽ tìm thấy sự phản xạ
của riêng mình ở đâu đó. Hai người ăn xin sẽ gặp nhau,
hai người khổ sở sẽ gặp nhau. Và hãy nhớ - khi hai
người khổ sở gặp nhau, nó không chỉ đơn thuần là phép
cộng, nó là phép nhân đấy. Họ tạo ra nhiều khổ sở cho
nhau hơn là họ có thể đã tạo ra trong sự cô đơn của
mình.
Cô đơn là sự phụ thuộc, một mình là cực kì độc lập.
Người ta cảm thấy dường như người ta là toàn thể thế
giới, toàn thể sự tồn tại!

3. Bí mật lớn nhất của cuộc sống
- Hãy quan sát - và bạn sẽ thấy,mọi ý nghĩ đều trôi qua
trên màn ảnh tâm trí của bạn - trên màn hình rada của
tâm trí bạn một ý nghĩ thoáng qua như đám mây. Đầu
tiên nó là mông lung - nó đang tới, nó đang tới - thế rồi
nó có đó bỗng nhiên nổi ra trên màn hình. Thế rồi nó đi,
thế rồi nó đã ra khỏi màn hình, lần nữa nó trở thành mơ
hồ và biến mất... Ý nghĩ khác tới. Giữa hai ý nghĩ này có
lỗ hổng - trong một khoảnh khắc hay một phần giây màn
ảnh không có ý nghĩ nào.
Khi một ý nghĩ nảy sinh, nếu cùng ý nghĩ này nhận biết
của bạn cũng có đó - nếu bạn có thể thấy nó nảy sinh,
nếu bạn có thể thấy nó đang tới, nếu bạn có thể thấy nó ở
đó, nếu bạn có thể thấy nó đi - thế thì không có vấn đề gì
hết cả. Chính việc thấy này, dần dần, trở thành thành luỹ
của bạn. Chính nhận biết này đem tới cho bạn nhiều kết



quả. Đầu tiên bạn có thể thấy, bạn thấy rằng bạn không
là ý nghĩ. Ý nghĩ tách biệt khỏi bạn, bạn không bị đồng
nhất với nó. Bạn là tâm thức và nó là nội dung. Nó tới và
đi - nó là vị khách, bạn là người chủ.

Bạn là bầu trời và ý nghĩ là mây. Nếu bạn quan sát ý
nghĩ của mình một cách chăm chú, nếu bạn không bỏ lỡ
chúng, nếu bạn nhìn thẳng vào chúng, điều đầu tiên sẽ là
hiểu biết này - và đây là hiểu biết lớn lao.
Đây là bắt đầu của thức tỉnh của bạn. Bạn không còn ngủ
nữa, bạn không còn bị đồng nhất với mây cái đến và đi.
Bây giờ bạn biết rằng bạn ở lại mãi mãi. Bỗng nhiên mọi
lo âu biến mất. Chẳng cái gì thay đổi bạn, chẳng cái gì sẽ
bao giờ thay đổi bạn - cho nên phỏng có ích gì mà lo âu,
mà phiền não? Phỏng có ích gì mà lo nghĩ? Chẳng lo
nghĩ nào có thể làm gì được bạn. Những điều này đến và
đi, chúng chỉ là gợn sóng trên bề mặt. Sâu trong chiều
sâu của bạn, không một gợn sóng nào đã bao giờ phát
sinh. Và bạn ở đó, và bạn là cái đó. Bạn là sự hiện hữu
đó.
Thông thường, bạn đã trở nên quá bị đồng nhất với
khách - do đó mới có khổ của bạn. Vị khách này tới, bạn
trở nên bị quá gắn bó. Và khi vị khách này đóng gói và
ra đi, thế thì bạn kêu bạn khóc và bạn chạy quanh - và
bạn đi cùng người đó, ít nhất để tiễn người đó, để chào
tạm biệt người đó. Thế rồi bạn quay về vừa kêu và khóc một người bạn đã ra đi và bạn cảm thấy khổ thế. Thế rồi
người khách khác đến và bạn lại rơi vào tình cảnh đó với
người khách này, bạn lại trở nên bị đồng nhất với người
khách, và người đó lại ra đi...



Khách đến và đi, họ không ở lại! Họ không thể ở lại
được, họ không được coi là ở lại, họ không được ngụ ý ở
lại.

Bạn có quan sát ý nghĩ nào không? Nó chưa bao giờ ở
lại, nó không thể ở lại được. Cho dù bạn muốn làm cho
nó ở lại, nó cũng không thể ở được. Thử mà xem. Đó là
điều mọi người thỉnh thoảng có thử đấy - họ cố gắng giữ
một từ trong tâm trí. Chẳng hạn, họ muốn giữ một âm
thanh trong tâm trí. Trong vài giây họ nhớ và thế rồi nó
qua mất, tuột đi mất. Họ lại nghĩ về công việc của mình,
về vợ, về con...
Khách là khách - họ đã không tới để ở mãi mãi. Một khi
bạn thấy tất cả mọi thứ xảy ra cho bạn đều sẽ đi khỏi
bạn, thế thì sao lại lo nghĩ? Hãy quan sát: Cứ để chúng
đó, để chúng đóng gói, để chúng đi. Bạn còn lại. Bạn có
thể thấy an bình nảy sinh không nếu bạn có thể cảm thấy
rằng bạn bao giờ cũng vẫn còn? Đây là im lặng. Đây là
trạng thái không lo nghĩ. Đây là không khổ sở. Khổ dừng
lại vào khoảnh khắc sự đồng nhất dừng lại. Đừng bị
đồng nhất - có vậy thôi. Và nếu bạn có thể quan sát ai đó
sống trong vô thời gian vĩnh hằng thế, bạn sẽ cảm thấy
cái duyên dáng, cái trầm tĩnh, cái đẹp quanh người đó.

Tâm thức đang đứng đằng sau, quan sát. Nó là nhân
chứng. Mọi sự tới rồi đi... cũng giống như bộ phim. Bạn
ngồi trong rạp chiếu phim; trên màn ảnh nhiều điều tới
rồi đi. Đôi khi bạn bị đồng nhất nữa. Đôi khi bạn trở nên



bị đồng nhất với diễn viên. Có thể anh ta đẹp, mạnh mẽ,
có duyên, sự duyên dáng của cá tính, gây ấn tượng, có
sức hấp dẫn nào đó: bạn bị đồng nhất, bạn quên mất bản
thân mình. Trong một khoảnh khắc bạn bắt đầu nghĩ cứ
dường như anh ta là bạn. Đôi khi điều xảy ra là có một
cảnh rất buồn, và bạn bắt đầu khóc. Mắt bạn đẫm lệ... và
chẳng có gì trên màn ảnh cả - chỉ là ánh sáng và bóng tối
trôi qua. Và bạn biết điều đó chứ, nhưng bạn đã quên
mất trong một khoảnh khắc. Nếu bạn nhớ điều đó, bạn sẽ
bắt đầu tự cười mình: "Mình làm gì thế này? kêu à? khóc
à?" Nhưng điều đó xảy ra khi bạn đọc tiểu thuyết nữa. Ít
nhất có cái gì đó trên màn ảnh. Đọc tiểu thuyết thì chẳng
có gì cả - không màn ảnh, không diễn viên, chẳng có gì.
Chỉ trong tưởng tượng riêng của bạn mà tiểu thuyết cứ
diễn ra mãi. Và bỗng nhiên đôi khi bạn cảm thấy rất
hạnh phúc, và đôi khi bạn cảm thấy rất buồn; bầu không
khí của tiểu thuyết bắt đầu sở hữu bạn.

Đây đích xác là điều đang xảy ra trong cuộc sống. Cuộc
sống là một sân khấu lớn, một vở kịch lớn. Và nó rất
phức tạp - bởi vì bạn là diễn viên, và bạn là đạo diễn, và
bạn là cuốn phim, và bạn là màn ảnh, và bạn lá máy
chiếu, và bạn là khán giả nữa. Bây giờ bạn là tất cả các
tầng: một phần đóng vai trò của diễn viên, phần khác chỉ
đạo, phần khác vận hành như màn ảnh, phần khác có tác
dụng như máy chiếu. Và đằng sau tất cả những cái đó là
thực tại của bạn - nhân chứng, người đang quan sát.
Tâm thức là tấm gương. Tấm gương không bao giờ bị ô

uế, nó chỉ dường như vậy thôi. Bạn có thể để cả đống
phân trước tấm gương; tất nhiên, nó sẽ phản chiếu đống


phân đó. Nhưng dầu vậy tấm gương vẫn không bị ô uế,
nó không bị ô nhiễm. Nó không trở nên không thuần
khiết bởi vì đống phân được phản chiếu trong nó. Nó vẫn
còn thuần khiết. Bỏ phân đi và tấm gương có đó trong
mọi sự thuần khiết của nó. Ngay cả khi phân được phản
chiếu thì tấm gương cũng vẫn không bị ô uế. Cho nên bất
kì điều gì là không thuần khiết thì đều thực sự là việc
phản chiếu; nó được soi gương.

Cốt lõi bên trong nhất của bạn đơn giản là trống rỗng. Nó
chưa bao giờ làm điều gì. Nó không thể làm được. Nó là
nhân chứng, bởi chính bản chất của nó.
Đây là sáng suốt lớn lao. Tâm thức không phải là nội
dung. Bạn là tâm thức; ý nghĩ đến và đi, bạn là người
chủ. Ý nghĩ là khách - chúng đến và ở lại một chút, nghỉ
ngơi một chút, ăn uống, hay ở qua đêm, và thế rồi chúng
qua đi. Bạn bao giờ cũng còn đấy. Bạn bao giờ cũng vẫn
vậy, bạn không bao giờ thay đổi - bạn ở đó vĩnh hằng.
Bạn là bản thân điều vĩnh hằng - hãy luôn nhớ điều đó!
Việc chứng kiến nghĩa là tách rời khỏi cái gì đó, không
bị đồng nhất. Khi một người vẫn còn tách rời với mọi
kinh nghiệm của mình - dù nó là đau đớn hay vui thú, dù
nó là tử hay sinh, không thành vấn đề cái gì đang xảy ra khi tâm thức người đó không trở thành một với bất kì cái
gì đang xảy ra mà vẫn còn ở ngoài nó, mùi vị của nhân
chứng đã bắt đầu. Nếu ai đó quen dùng ngôn ngữ xúc
phạm, điều đó lập tức giữ bạn lại; khoảng cách bị phá vỡ.

Mũi tên của xúc phạm xuyên vào bạn và khoảng cách bị
phá vỡ. Thế thì bạn không nhớ rằng có ai đó người đang


xúc phạm, có ai đó người bị xúc phạm - và bạn là một
với người đang quan sát cả hai người xúc phạm và người
bị xúc phạm.
Rất khó vẫn còn tách rời khi bạn bị xúc phạm bằng lời.
Bạn bỗng nhiên sẽ trở nên hoàn toàn bị đồng nhất và hấp
thu việc xúc phạm. Chính tiềm năng của tâm thức là nó
có thể hoặc trở nên bị đồng nhất, hoặc nó có thể ra xa và
đứng ở một khoảng cách. Và nếu không có khả năng nào
cho trạng thái chứng kiến xảy ra, cũng sẽ không có cách
nào để chấm dứt khổ sở.
Việc chứng kiến nghĩa là không có sự đồng nhất với bất
kì kinh nghiệm về bất kì cái gì - với bất kì kinh nghiệm
nào, tôi nói thế! Không kinh nghiệm nào chạm vào bạn
cả. Bạn đứng ở một khoảng cách, bên ngoài nó. Sự tách
rời của bạn với kinh nghiệm không bị ảnh hưởng bởi bất
kì lí do nào.
Khi bạn bước đi trên đường, bạn có thể làm điều đó theo
cách bạn vẫn bước, hay bạn cũng có thể bước đi theo
cách mà hành động bước đang xảy ra và bạn đang chứng
kiến nó, quan sát nó. Sự đồng nhất của bạn với từng hành
động sẽ phải bị phá vỡ; sự đồng nhất với tất cả các kinh
nghiệm sẽ phải bị bỏ lại đằng sau. Khi bạn đang ăn, bạn
có thể ăn theo cách bạn vẫn ăn, nhưng bạn cũng có thể
ăn theo cách hành động ăn đang xảy ra và bạn chỉ đang
quan sát nó.
Khi bạn bắt đầu trở nên nhận biết theo cách này trong

từng mọi khoảnh khắc, thế thì với nỗ lực thường xuyên
này để nhận biết, nhân chứng sẽ được sinh ra. Thế thì


bên trong bạn sẽ có một tâm thức chỉ quan sát. Nó chỉ là
người quan sát, người biết; nó không bao giờ là người
làm.

4. Chu kì 7 năm của cuộc sống
- Cuộc sống có hình mẫu bên trong, hiểu được nó là tốt. Cứ
bẩy năm một, các nhà sinh lí nói, thân thể và tâm trí trải
qua khủng hoảng và thay đổi, được đổi mới hoàn toàn.
Thực tế nếu bạn sống bẩy mươi tuổi, giới hạn trung bình,
thân thể bạn chết đi mười lần. Cứ mỗi bẩy năm mọi sự lại
thay đổi - điều đó cũng giống như đổi mùa. Trong bẩy
mươi năm vòng tròn này hoàn chỉnh. Đường đi từ việc sinh
tới việc tử, vòng tròn này hoàn chỉnh trong bẩy mươi năm.
Nó có mười việc phân chia.
Thực tế cuộc đời con người không nên bị phân chia thành
thời thơ ấu, thời thanh niên, thời già lão - điều đó không
khoa học lắm bởi vì cứ bẩy năm một thời kì mới lại bắt
đầu, một bước mới được thực hiện.
Trong bẩy năm đầu tiên đứa trẻ coi mình là trung tâm, cứ
dường như nó là trung tâm của toàn thể thế giới. Toàn thể
gia đình xoay quanh nó. Bất kì cái gì nó cần, họ đều hoàn
thành ngay lập tức; bằng không nó sẽ nổi cơn tam bành,
giận dữ, cuồng nộ. Nó sống như một hoàng đế, một hoàng
đế thực thụ - mẹ, bố, mọi người phục vụ, và cả gia đình chỉ
tồn tại vì nó. Và tất nhiên nó nghĩ cùng điều đó cũng đúng
cho thế giới rộng hơn. Mặt trăng lên vì nó, mặt trời lên vì

nó, mùa vụ đổi vì nó. Đứa trẻ trong bẩy năm vẫn còn tuyệt
đối bản ngã, lấy mình làm trung tâm. Nếu bạn hỏi các nhà
tâm lí thì họ sẽ nói đứa trẻ trong bẩy năm vẫn còn tự thoả


mãn, thoả mãn cho chính mình. Nó không cần cái gì khác,
không cần ai khác. Nó cảm thấy đầy đủ.
Sau bẩy năm - một đột phá. Đứa trẻ không còn lấy mình
làm trung tâm nữa; nó trở thành lệch tâm, theo đúng nghĩa.
Lệch tâm -- từ này có nghĩa là "đi ra ngoài trung tâm." Nó
đi tới người khác. Người khác trở thành hiện tượng quan
trọng -- bạn bè, kéo bè kéo cánh... Bây giờ nó không còn
quan tâm nhiều tới bản thân mình nữa; nó quan tâm tới
người khác, thế giới lớn hơn. Nó đi vào cuộc phiêu lưu để
biết "người khác" này là ai. Cuộc truy tìm bắt đầu.
Sau bẩy năm đứa trẻ trở thành người hay hỏi lớn. Nó hỏi về
mọi thứ. Nó trở thành người hoài nghi lớn vì việc truy tìm
của nó đang đó. Nó hỏi cả triệu câu hỏi. Nó làm cho bố mẹ
chán đến chết, nó trở thành mối phiền toái. Nó quan tâm tới
người khác, và mọi thứ của thế giới đều là mối quan tâm
của nó. Tại sao cây lại xanh? Tại sao Thượng đế đã tạo ra
thế giới? Tại sao điều này là như vậy? Nó bắt đầu trở nên
ngày một triết lí hơn -- truy tìm, hoài nghi, nó cứ khăng
khăng đi vào mọi thứ.
Nó giết con bướm để xem cái gì ở bên trong, nó phá đồ
chơi chỉ để xem đồ chơi vận hành thế nào, nó ném đồng hồ
đi chỉ để nhìn vào bên trong đồng hồ, sao mà đồng hồ cứ
tích tắc và rung chuông -- cái gì đang diễn ra bên trong? Nó
trở nên quan tâm tới người khác -- nhưng người khác vẫn
còn cùng giới. Nó không quan tâm tới con gái. Nếu con trai

khác quan tâm tới con gái nó sẽ nghĩ bọn họ là chị em. Con
gái không quan tâm tới con trai. Nếu con gái nào đó quan
tâm tới con trai và chơi với chúng thì cô bé này là con gái
kiểu con trai, không bình thường, không trung bình; cái gì
đó sai. Giai đoạn thứ hai này các nhà phân tâm và tâm lí sẽ
nói là đồng dục.


Sau mười bốn tuổi cánh cửa thứ ba mở ra. Nó không còn
quan tâm tới con trai nữa, con gái không còn quan tâm tới
con gái. Chúng lễ phép, nhưng không quan tâm. Đó là lí do
tại sao bất kì tình bạn nào xảy ra giữa bẩy và mười bốn tuổi
đều sâu sắc nhất, bởi vì tâm trí là đồng dục, và trong cuộc
sống tình bạn như vậy sẽ không bao giờ xảy ra lần nữa.
Những người bạn đó vẫn còn là bạn vĩnh viễn, nó là mối
liên hệ sâu sắc thế. Bạn sẽ trở nên thân thiện với mọi người
nhưng điều đó sẽ vẫn còn là sự quen biết, không phải là
hiện tượng sâu sắc đã xảy ra giữa bẩy và mười bốn tuổi.
Nhưng sau tuổi mười bốn con trai không còn quan tâm tới
con trai. Nếu mọi sự xảy ra bình thường, nếu nó không bị
mắc kẹt ở đâu đó, nó sẽ quan tâm tới con gái. Bây giờ nó
trở thành dị dục -- không chỉ quan tâm tới những người
khác, mà thực sự quan tâm tới một người khác -- bởi vì khi
con trai quan tâm tới con trai, con trai có thể là "người
khác" nhưng người khác vẫn là con trai như bản thân nó,
không đích xác là người khác. Khi con trai trở nên quan
tâm tới con gái, bây giờ nó thực sự quan tâm tới cái đối lập,
người khác thực. Khi con gái trở nên quan tâm tới con trai,
bây giờ thế giới đi vào.
Tuổi mười bốn là tuổi cách mạng lớn lao. Dục trở nên chín

muồi, người ta bắt đầu ngihĩ dưới dạng dục; những phóng
túng dục trở thành nổi bật trong giấc mơ. Con trai trở thành
Don Juan lớn, bắt đầu tán tỉnh. Thơ ca nảy sinh, lãng mạn.
Nó đi vào trong thế giới.
Đến tuổi hai mươi mốt -- nếu mọi sự diễn ra bình thường,
và đứa trẻ không bị xã hội bó buộc phải làm điều gì đó
không tự nhiên -- đến tuổi hai mươi mốt đứa trẻ trở nên
quan tâm tới tham vọng hoài bão nhiều hơn tình yêu. Nó
muốn xe Rolls Royce, biệt thự lớn. Nó muốn là người


thành công, một Rockefeller, một thủ tướng. Tham vọng
trở thành nổi bật; ham muốn về tương lai, được thành công,
cách thành công, cách hoàn thành, cách đi vào cuộc tranh
đấu là toàn bộ mối quan tâm của nó.
Bây giờ nó không chỉ đi vào thế giới tự nhiên, nó đang đi
vào thế giới con người, bãi chợ. Bây giờ nó đi vào thế giới
của sự điên khùng. Bây giờ chợ trở thành điều nổi bật nhất.
Toàn thể bản thể của nó đều hướng tới chợ -- tiền bạc,
quyền lực, danh tiếng.
Nếu mọi sự đi đúng -- vì nó chẳng bao giờ đi đúng cả, toi
đang nói về hiện tượng tự nhiên tuyệt đối -- thì đến tuổi hai
mươi tám con người không còn cố gắng đi vào trong cuộc
sống phiêu lưu theo bất kì cách nào. Từ hai mươi mốt tới
hai mươi tám người ta sống trong phiêu lưu; đến tuổi hai
mươi tám người ta trở nên tỉnh táo hơn rằng tất cả các ham
muốn không thể được hoàn thành hết. Có nhiều hiểu biết
hơn rằng nhiều ham muốn là không thể được. Nếu bạn ngu
bạn có thể cứ theo đuổi chúng, nhưng những người thông
minh lại đi vào một cánh cửa khác khi đến tuổi hai mươi

tám. Họ trở nên quan tâm đến an ninh và tiện nghi, ít phiêu
lưu và tham vọng hơn. Họ bắt đầu lắng đọng. Tuổi hai
mươi tám là chỗ hết cho thời lập dị chống lại xã hội.
Đến tuổi hai mươi tám mọi người hippies đều trở thành thật
thà, nhà cách mạng không còn là nhà cách mạng nữa; họ
bắt đầu lắng đọng, họ tìm kiếm cuộc sống tiện nghi, một số
dư ngân hàng nho nhỏ. Họ không muốn là Rockefellers -chuyện đó kết thúc rồi, niềm thôi thúc đó không còn nữa.
Họ muốn có ngôi nhà nhỏ, nhưng là một chỗ ấm cúng,
được thiết lập để sống, để có an ninh, để cho ít nhất họ bao
giờ cũng có thể có một số dư ngân hàng nho nhỏ. Họ tới
công ti bảo hiểm quãng tuổi hai mươi tám. Họ bắt đầu lắng


đọng. Bây giờ kẻ lêu lổng không còn là kẻ lêu lổng nữa.
Anh ta mua nhà, bắt đầu sống trong đó; anh ta trở nên văn
minh. Từ văn minh civilization bắt nguồn từ civis, công
dân. Bây giờ anh ta trở thành một phần của thị trấn, thành
phố, của một định chế. Anh ta không còn là kẻ lêu lổng,
không còn là kẻ lang thang. Bây giờ anh ta không đi tới
Kathmandu và Goa. Anh ta không đi đâu cả -- mọi sự đã
kết thúc, đã du hành đủ rồi, đã biết đủ rồi; bây giờ anh ta
muốn định cư và nghỉ lại một chút.
Đến tuổi ba mươi lăm năng lượng sống đạt tới điểm đỉnh
của nó. Vòng tròn đã hoàn thành một nửa và năng lượng
bắt đầu suy giảm. Bây giờ người này không chỉ quan tâm
tới an ninh và tiện nghi, người này trở thành một Tory,
chính thống. Người đó không chỉ quan tâm tới cách mạng,
người đó trở thành người phản cách mạng. Bây giờ người
đó chống lại mọi thay đổi, người đó là người tuân thủ theo
tôn giáo. Người đó chống lại mọi cuộc cách mạng; người

đó muốn giữ nguyên trạng bởi vì bây giờ người đó đã lắng
đọng và nếu bất kì cái gì thay đổi thì mọi sự sẽ bị đảo lộn.
Bây giờ người đó nói chống lại kẻ hippies, chống lại nổi
dậy; Bây giờ người đó đã thực sự trở thành một phần của
định chế.
Và điều này là tự nhiên -- chừng nào điều gì đó còn không
đi sai thì con người sẽ không còn ở tình trạng hippie mãi
mãi. Đó là một pha, đi qua thì tốt nhưng mắc kẹt lại là xấu.
Điều đó nghĩa là bạn vẫn còn bị mắc kẹt ở giai đoạn nào
đó. Là đồng dục giữa bẩy và mười bốn tuổi là tốt, nhưng
nếu người ta vẫn còn đồng dục trong cả đời thì điều đó có
nghĩa là người đó đã không trưởng thành, người đó không
là người lớn. Phải có tiếp xúc với đàn bà, đó là một phần
của cuộc sống. Giới khác phải trở thành quan trọng bởi vì


chỉ thế thì bạn mới có khả năng biết được sự hài hoà của
các phía đối lập, sự xung đột, khốn khổ, và cực lạc -- nỗi
khổ và cực lạc cả hai. Đó là sự huấn luyện, sự huấn luyện
cần thiết.
Đến tuổi ba mươi nhăm người ta phải trở thành một phần
của thế giới qui ước. Người ta bắt đầu tin vào tín ngưỡng,
trong quá khứ, tin vào Vedas, kinh Koran, Kinh Thánh.
Người ta dứt khoát chống lại thay đổi bởi vì mọi thay đổi
nghĩa là cuộc sống riêng của bạn sẽ bị quấy rối; bây giờ bạn
có nhiều thứ bị mất. Bạn không thể ủng hộ cách mạng được
-- bạn muốn bảo vệ... Người ta thiên về luật pháp và toà án
và chính phủ. Người ta không còn là kẻ vô chính phủ nữa;
người ta đều ủng hộ cho chính phủ, các qui tắc, điều luật, kỉ
luật.

Đến tuổt bốn mươi hai tất cả mọi loại ốm yếu thể chết và
tinh thần bột phát, bởi vì bây giờ cuộc sống đang suy giảm.
Năng lượng đang hướng tới cái chết. Như lúc bắt đầu -năng lượng của bạn đã đi lên và bạn đã trở nên ngày một
sống động, mạnh mẽ hơn, bạn đã trở nên ngày một mạnh
hơn -- bây giờ chính điều đối lập lại xảy ra, bạn trở nên
ngày một yếu hơn mọi ngày. Nhưng thói quen của bạn vẫn
còn dai dẳng. Bạn đã ăn đủ cho tới tuổi ba mươi nhăm; bây
giờ nếu bạn tiếp tục thói quen của mình thì bạn sẽ bắt đầu
tích trữ mỡ. Bây giờ, lượng thức ăn đó là không cần thiết.
Nó đã được cần tới trước đây nhưng bây giờ nó không còn
cần thiết nữa bởi vì cuộc sống đang đi tới cái chết, cuộc
sống không cần nhiều thức ăn như vậy. Nếu bạn cứ nhét
đầy bụng mình như bạn đã làm trước đây, thế thì đủ mọi
loại bệnh tật sẽ xuất hiện: cao huyết áp, đau tim, mất ngủ,
ung nhọt -- chúng tất cả xảy ra quãng độ bốn mươi hai tuổi;
bốn mươi hai tuổi là một trong những điểm nguy hiểm


nhất. Tóc bắt đầu rụng, bạc dần. Cuộc sống biến vào trong
cái chết.
Và gần tuổi bốn mươi hai thì tôn giáo bắt đầu trở thành
quan trọng lần đầu tiên. Bạn có thể đã từng dính dáng đây
đó vào tôn giáo trước đây, nhưng bây giờ tôn giáo lần đầu
tiên bắt đầu trở nên quan trọng -- bởi vì tôn giáo có liên
quan sâu sắc với cái chết. Bây giờ cái chết đang lại gần và
ham muốn đầu tiên về tôn giáo nảy sinh.
Carl Gustav Jung đã viết rằng trong cả đời mình ông ấy đã
từng quan sát rằng những người tới ông ấy quãng độ tuổi
bốn mươi bao giờ cũng có nhu cầu tôn giáo. Nếu họ phát
điên, thần kinh, tâm thần, họ không thể nào được giúp đỡ

nếu họ không trở nên bắt rễ sâu sắc vào tôn giáo. Họ cần
tôn giáo; nhu cầu cơ sở của họ là tôn giáo. Và nếu xã hội là
thế tục và bạn còn chưa hề được dạy về tôn giáo, thì khó
khăn lớn nhất tới vào quãng độ tuổi bốn mươi hai -- bởi vì
xã hội không cho bạn bất kì một đại lộ, một cánh cửa, một
chiều hướng nào.
Xã hội là tốt khi bạn mười bốn tuổi, bởi vì xã hội cho đủ
dục -- toàn thể xã hội đều mang tính dục; dục dường như là
món hàng duy nhất ẩn kín trong mọi món hàng. Nếu bạn
muốn bán xe tải mười tấn thì thế nữa bạn phải dùng một
phụ nữ trần truồng. Hay thuốc đánh răng - thế nữa. Xe tải
hay thuốc đánh răng, cũng chẳng tạo ra khác biệt gì: đàn bà
trần truồng bao giờ cũng mỉm cười ở đó đằng sau. Thực
sự đàn bà được bán. Xe tải không được bán, thuốc đánh
răng không được bán, đàn bà được bán. Và bởi vì đàn bà
tới, nụ cười của đàn bà tới cùng thuốc đánh răng, bạn phải
mua thuốc đánh răng nữa. Mọi nơi dục đều được bán.


Cho nên xã hội này, xã hội trần tục này, là tốt cho người
trẻ. Nhưng họ sẽ không còn trẻ mãi được. Khi họ lên tới
bốn hai tuổi bỗng nhiên xã hội bỏ quên lãng họ. Họ không
biết phải làm gì bây giờ. Họ trở nên thần kinh bởi vì họ
không biết, họ chưa bao giờ được huấn luyện, không kỉ luật
nào đã được trao cho họ để đối diện với cái chết. Xã hội đã
làm cho họ sẵn sàng cho cuộc sống, nhưng không ai đã dạy
họ trở nên sẵn sàng cho cái chết. Họ cần nhiều giáo dục về
cái chết cũng như họ cần giáo dục về cuộc sống.
Nếu tôi mà được phép theo cách của mình thì tôi sẽ chia
các đại học thành hai phần: một phần cho người trẻ, phần

kia cho người già. Người trẻ sẽ tới để học nghệ thuật của
cuộc sống -- dục, tham vọng, tranh đấu. Thế rồi khi họ trở
nên già hơn và họ đạt tới điểm đánh dấu bốn mươi hai, họ
sẽ quay lại đại học để học về cái chết, Thượng đế, thiền -bởi vì bây giờ các đại học cũ sẽ không còn có ích gì cho họ.
Họ cần việc huấn luyện mới, kỉ luật mới, để cho họ có thể
được bắt vào pha mới đang xảy ra cho họ.
Xã hội này bỏ quên lãng họ; đó là lí do tại sao ở phương
Tây có nhiều bệnh tinh thần thế. Phương Đông không nhiều
đến như vậy. Tại sao? -- bởi vì phương Đông vẫn còn có
chút ít huấn luyện trong tôn giáo. Điều đó chưa biến mất
hoàn toàn; dù là giả, dù dỏm, nó vẫn có đó, nó tồn tại ngay
góc kia thôi. Không còn trong bãi chợ, không còn trong bề
dày của cuộc sống; chỉ ở ngay bên cạnh -- nhưng có đền
chùa. Bên ngoài con đường của cuộc sống, nhưng nó vẫn
có đó. Bạn phải bước vài bước và bạn có thể đi tới đó, nó
vẫn tồn tại.
Ở phương Tây tôn giáo không còn là một phần của cuộc
sống. Đến quãng độ tuổi bốn mươi hai mọi người phương
Tây đều trải qua các vấn đề tâm lí. Hàng nghìn kiểu loạn


thần kinh xảy ra -- và ung nhọt. Ung nhọt là dấu vết của
tham vọng. Người tham vọng nhất định bị ung nhọt trong
dạ dầy: tham vọng cắn xé, nó ăn vào bạn. Ung nhọt không
là gì khác hơn việc ăn bản thân bạn. Bạn căng thẳng tới
mức bạn bắt đầu ăn thành dạ dầy của mình. Bạn căng thẳng
thế, dạ dầy của bạn căng thẳng thế nó chưa bao giờ được
thảnh thơi. Bất kì khi nào tâm trí căng thẳn thì dạ dầy căng
thẳng.
Ung nhọt là dấu vết của tham vọng. Nếu bạn có ung nhọt

điều đó chỉ ra bạn là người rất thành công. Nếu bạn không
có ung nhọt bạn là người nghèo; cuộc sống của bạn đã thất
bại, bạn đã thất bại hoàn toàn. Nếu bạn bị đau tim lần đầu
tiên quãng bốn mươi hai tuổi bạn là người thành công lớn.
Ít nhất bạn cũng là bộ trưởng nội các hay nhà công nghiệp
giầu có hay nghệ sĩ nổi tiếng; bằng không, làm sao bạn giải
thích được cho cơn đau tim? Đau tim là định nghĩa của
thành công.
Tất cả mọi người thành công đều sẽ bị đau tim, họ phải bị
vậy. Toàn thể hệ thống của họ đều bị nặng trĩu bởi các yếu
tố độc hại: tham vọng, ham muốn, tương lai, ngày mai, cái
không bao giờ có đó. Bạn đã sống trong mơ, bây giờ hệ
thống của bạn không thể dung thứ được điều đó thêm nữa.
Và bạn vẫn còn căng thẳng với tương lai tới mức sự căng
thẳng này đã trở thành chính phong cách sống của bạn. Bây
giờ nó là thói quen bắt rễ sâu.
Tại tuổi bốn mươi hai, lại một đột phá mới tới. Người ta bắt
đầu nghĩ về tôn giáo, thế giới khác. Cuộc sống dường như
quá nhiều, và thời gian còn lại ít ỏi thế -- làm sao bạn có
thể đạt tới Thượng đế, niết bàn, chứng ngộ? Do đó mới có
lí thuyết hoá thân: "Đừng sợ. Bạn sẽ được sinh ra lần nữa
mà, cứ sinh đi sinh lại, và bánh xe cuộc sống sẽ cứ chuyển


động mãi. Đừng sợ: có đủ thời gian, có đủ vĩnh hằng còn
lại -- bạn có thể đạt tới được."
Đó là lí do tại sao ở Ấn Độ ba tôn giáo lớn đã phát sinh -Jaina giáo, Phật giáo và Hindu giáo -- và họ không đồng ý
về bất kì điểm nào ngoại trừ hoá thân. Các lí thuyết bất
đồng thế, thậm chí không đồng ý được trên nền tảng cơ sở
về Thượng đế, bản chất của cái ta... nhưng tất cả chúng đều

đồng ý về lí thuyết hoá thân -- phải có cái gì đó cho nó. Tất
cả chúng đều cần thời gian, bởi vì để đạt tới Brahman -người Hindus gọi nó là Brahman -- phải cần nhiều thời
gian. Đó là một tham vọng lớn thế, và chỉ vào tuổi bốn
mươi hai bạn mới trở nên quan tâm. Chỉ còn lại hai mươi
tám năm nữa thôi.
Và đây mới chỉ là bắt đầu của mối quan tâm. Thực tế vào
độ tuổi bốn mươi hai bạn trở lại là đứa trẻ trong thế giới
của tôn giáo và chỉ còn lại hai mươi tám năm nữa thôi.
Thời gian dường như quá ngắn, không đủ chút nào để đạt
tới những đỉnh cao như vậy -- Brahman, người Hindus gọi
nó là vậy. Người Jainas gọi nó là moksha, tự do tuyệt đối
khỏi mọi nghiệp quá khứ. Nhưng hàng nghìn và hàng triệu
kiếp đã có đó trong quá khứ; trong vòng hai mươi tám năm
làm sao bạn bao quát được? Làm sao bạn sẽ hoàn tác toàn
bộ quá khứ? Quá khứ mênh mông thế đang có đó, nghiệp
xấu và nghiệp tốt -- làm sao bạn lau sạch các tội lỗi của
mình trong vòng hai mươi tám năm? Điều đó dường như
không đúng! Thượng đế đòi hỏi quá nhiều, điều đó là
không thể được. Bạn sẽ cảm thấy thất vọng nếu bạn chỉ
được cho hai mươi tám năm. Và các Phật tử, người không
tin vào Thượng đế, không tin cả vào linh hồn -- họ cũng tin
vào hoá thân. Niết bàn, sự trống rỗng cuối cùng, cái trống
rỗng toàn bộ… khi bạn vẫn còn bị chất đầy với biết bao


nhiêu rác rưởi thế trong biết bao nhiêu kiếp sống, làm sao
bạn sẽ làm nhẹ nhõm bản thân mình trong vòng hai mươi
tám năm? Điều đó là quá nhiều, dường như là việc không
thể được. Cho nên tất cả họ đều đồng ý về một việc, là cần
nhiều tương lai hơn, cần nhiều thời gian hơn.

Bất kì khi nào bạn có tham vọng thì đều cần tới thời gian.
Và với tôi người tôn giáo là người không cần thời gian.
Người đó được giải thoát ở đây và bây giờ, người đó đạt
tới Brahman ở đây và bây giờ, người đó được giải thoát,
chứng ngộ, ở đây và bây giờ. Người tôn giáo không cần
thời gian chút nào bởi vì tôn giáo xảy ra trong khoảnh khắc
vô thời gian. Nó xảy ra bây giờ, nó bao giờ cũng xảy ra;
bằng không thì nó chẳng bao giờ xảy ra cả. Không có cách
khác mà nó đã từng xảy ra.
Vào độ tuổi bốn mươi hai niềm thôi thúc đầu tiên nảy sinh,
mơ hồ, không rõ ràng, lẫn lộn. Bạn thậm chí không nhận
biết về điều đang xảy ra, nhưng bạn bắt đầu nhìn vào đền
chùa với sự quan tâm thiết tha. Đôi khi nhân tiện, như một
khách thăm vô tình, bạn cũng tới nhà thờ. Đôi khi -- lúc có
thời gian, chẳng phải làm gì -- bạn bắt đầu nhìn vào Kinh
Thánh, đọng đầy bụi trên bàn. Mơ hồ, không đích xác rõ
ràng, cũng giống như đứa trẻ nhỏ mơ hồ về dục bắt đầu
chơi với bộ phận sinh dục của mình, chẳng biết mình đang
làm gì. Một thôi thúc mơ hồ... Đôi khi người ta ngồi một
mình im lặng, bỗng nhiên cảm thấn an bình, chẳng biết
mình đang làm gì. Đôi khi người ta bắt đầu lẩm nhẩm câu
mật chú đã được nghe từ hồi nhỏ. Bà già hay lẩm nhẩm đọc
nó; cảm thấy căng thẳng, người ta bắt đầu lẩm nhẩm đọc
nó. Người ta bắt đầu tìm kiếm, tìm thầy, ai đó hướng dẫn
cho mình. Người ta nhận điểm đạo, bắt đầu học mật chú,


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×