Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Tiểu luận chủ đề lý thuyết tài chính hành vi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (183.21 KB, 15 trang )

Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……..
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………..
TP.HCM, tháng 12 năm 2014

1


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14


Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU

3

NỘI DUNG

4

I. Tài chính hành vi là gì?
II. Ba điều kiện tồn tại Lý thuyết tài chính hành vi.
III. Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của Lý thuyết tài chính hành vi.
1. Những lý thuyết liên quan đến bản thân nhà đầu tư.

4
5
5
5

1.1 Lý thuyết triển vọng.

5

1.2 Sự không yêu thích rủi ro.

6

1.3 Tính toán bất hợp lý.

8


1.4 Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan.

9

1.5 Lệch lạc do tình huống điển hình.

9

1.6 Tính bảo thủ.

10

1.7 Phụ thuộc vào kinh nghiệm.

11

2. Lý thuyết Tâm lý đám đông.

12

2.1 Tâm lý đám đông hình thành như thế nào.

12

2.2 Tác động của Tâm lý đám đông.

13

IV. Ứng dụng của Lý thuyết tài chính hành vi đối với nhà đầu tư.


13

KẾT LUẬN

14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

15
2


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14

LỜI MỞ ĐẦU
Tài chính hành vi ngày càng trở thành một nhánh quan trọng trong tài chính –
giúp đưa ra những lý giải cho những quyết định kinh tế của chúng ta bằng cách kết hợp
giữa lý thuyết tâm lý về hành vi và nhận thức với tài chính và kinh tế học truyền thống.
Bài tiểu luận này không nằm ngoài mục đích đưa ra những lý giải trên, đồng thời giúp
nhà đầu tư nhìn nhận một cách khách quan về những hành vi tài chính của mình và kịp
thời thay đổi. Bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy mong được sự góp
ý từ thầy và các bạn.

3


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14

NỘI DUNG

I. Tài chính hành vi là gì?
− Các nghiên cứu kinh tế thường cho rằng con người trước hết được thúc đẩy bởi
những động cơ vật chất và đưa ra các quyết định theo một cách hợp lý. Trong việc
nghiên cứu mở rộng về hành vi của con người dựa trên những cuộc điều tra và các thí
nghiệm, Daniel Kahneman và các nhà tâm lý khác đã đặt câu hỏi và nêu giả thuyết về
sự hợp lý trên phương diện kinh tế trong một số hoàn cảnh quyết định. Trong một
loạt các nghiên cứu, Kahneman phối hợp với Amos Tversky đã chỉ ra rằng con người
không có khả năng phân tích một cách đầy đủ những quyết định phức tạp khi những
kết quả trong tương lai không có gì chắc chắn. Trong những hoàn cảnh như vậy, họ
sẽ tìm kiếm các biện pháp không tuân theo quy luật thông thường.
− Ví dụ: Một nhà đầu tư nhận ra rằng một người quản lý vốn có thể thắng chỉ số trung
bình hai năm liền có thể kết luận rằng nhà quản lý đó có tài năng hơn là một nhà đầu
tư trung bình, trong khi mối liên hệ thực sự về mặt thống kê yếu hơn nhiều. Cái nhìn
thiển cận như vậy trong việc diễn giải số liệu có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ các
hiện tượng khác nhau đối với các thị trường tài chính, một lĩnh vực nghiên cứu sôi
động, tài chính liên quan đến hành vi (behavioral finance), đã phát triển ứng dụng
những kiến thức về tâm lý trong nỗ lực để hiểu rõ chức năng của các thị trường tài
chính. Tài chính hành vi ra đời như một đối cực với các quy luật kinh tế thông
thường trước đó.
− Tài chính hành vi là một lĩnh vực hẹp của tài chính với đích đến là tìm hiểu và giải
thích hệ thống tài chính chịu sự tác động của các quyết định mang tính tâm lý. Tài
chính hành vi sử dụng những kiến thức cơ bản của tâm lý học nhận thức, khoa học xã
hội cũng như nhân chủng học để lý giải hành vi của những nhà đầu tư bất hợp lý
(irrational investors) tại sao không tuân theo các mô hình tài chính cơ bản.
− Nguồn gốc của tài chính hành vi:
4


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
+ Tâm lý học: là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư tưởng của

con người, cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động, tâm lý học cũng
chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu
tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người.
+ Tài chính: là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối
các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ
thể ở mỗi điều kiện nhất định.
+ Tài chính hành vi: là sự kết hợp tâm lý học vào tài chính, sử dụng các lý thuyết
cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường
tài chính.
II. Ba điều kiện tồn tại Lý thuyết tài chính hành vi.
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị
trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau. Nếu cả ba đều tồn tại, lý thuyết tài
chính hành vi dự báo rằng việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng
kể và kéo dài. Ba điều kiện đó bao gồm:
- Tồn tại các hành vi không hợp lý.
- Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống.
- Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính.
III. Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của Lý thuyết tài chính hành vi
1. Những lý thuyết liên quan đến bản thân nhà đầu tư
1.1 Lý thuyết triển vọng ( Prospect Theory)
− Lý thuyết này được đưa ra bởi 2 nhà tâm lý học: Daniel Kahneman và Amos
Tversky nhằm giải thích cách con người quản lý sự rủi ro và không chắc chắn, lý
thuyết này cho rằng con người có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản
lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận. cụ thể hơn, thuyết triển
vọng cho rằng mọi người có xu hướng không thích rủi ro trong vùng lãi khi mọi
việc tiến triển tốt và thích mạo hiểm trong vùng lỗ.

5



Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
− Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay
khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi
nhuận hơn trong tương lai. Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ
thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc
dù lúc này rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn bởi họ cho rằng, cổ phiếu đang sụt
giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương lai.
− Ví dụ: Một nhà đầu tư đang nắm giữ những cổ phiếu đang tăng giá sẽ nhanh
chóng bán cổ phiếu đó khi giá cổ phiếu tăng bởi họ tin vào thông tin của họ và
cho rằng, giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin này. Khi cảm thấy đã đạt
được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích
khả năng tăng thêm lợi nhuận. Ngược lại, một nhà đầu tư đang nắm giữ những cổ
phiếu đang giảm giá sẽ cố gắng duy trì với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng và họ sẽ
nhận được khoản lời trong tương lai.
1.2 Sự không yêu thích rủi ro ( Sợ thất bại )
− Kahneman và Tversky thật đúng khi cung cấp rằng lý thuyết kỳ vọng mô tả cách

những người đưa ra những quyết định hành xử khi đối đầu với sự lưa chọn dưới
cái không chắc chắn. Đường giá trị chỉ ra tính không cân xứng rõ ràng giữa những
giá trị mà con người đặt vào được và mất. Tính không cân xứng này được gọi là
sự ghét rủi ro. Những bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng mất mát thì được cân
nặng gấp hai lần so với cái được.
− Ví dụ: nếu một người mất 1$ thì người ta sẽ buồn gấp hai lần so với niềm vui của

việc lãi được 1$. Lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng những nhà đầu tư sẽ không thích
rủi ro trong những cái họ sẽ đạt được. Samuelson (1963) minh họa một ví dụ của
sự không yêu thích rủi ro. Ông ta hỏi một đồng nghiệp rằng ông ta sẽ chấp nhận
một vụ cá độ mà trả cho ông ta 200$ với khả năng 50% và 100$ với khả năng
50%. Người đồng nghiệp nói rằng anh ta sẽ không chấp nhận vụ cá cược này

6


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
nhưng anh ta sẽ cá một trăm lần. Với 100 lần cá, anh ta mong rằng tổng tiền thắng
được là 5.000$ và anh ta hầu như chẳng có cơ hội mất một đồng nào. Sai lầm
chấp nhận nhiều lần cá cược như vậy khi người ta xem xem xét chúng một cách
riêng lẻ như vậy đươc gọi là “tâm lý sợ thua lỗ thiển cận” bởi Benartzi và Thaler
(1995). Hành vi của các nhà đầu tư thỉnh thoảng được nói là thiển cận, thiếu tầm
nhìn, và vì chỉ nhìn nhận sự việc từ một phía nên họ thường bỏ qua rất nhiều thứ
có thể xảy ra, do vậy mọi nhà đầu tư chỉ lên kế hoạch cho một thời kỳ rõ ràng mà
thôi (Bodie et al., 2000).
− Hai giả định của việc không yêu thích rủi ro thiển cận thì được kiểm tra thực

nghiệm. Đầu tiên những nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi
ro nếu họ đánh giá việc đầu tư của họ ít thường xuyên hơn. Thứ hai, nếu kết quả
tăng đủ để hạn chế việc mất mát, nhà đầu tư sẽ chấp nhận thêm rủi ro. Không yêu
thích rủi ro chỉ ra rằng mọi người có xu hướng nhạy cảm hơn với sự giảm trong
việc đạt được lãi hơn là sự tăng. Không yêu thích rủi ro có thể giải thích rằng xu
hướng của nhà đầu tư giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán
lời quá sớm. Shefrin và Statman (1985) gọi sự xuất hiện này “bán lợi nhuận quá
sớm và cỡi lỗ quá lâu” như là kết quả của khuynh hướng. Khi nhà đầu tư xem xét
chứng khoán dựa trên cơ bản cá nhân, thì sự không ưa thích rủi ro trong việc có
lợi nhuận sẽ dẫn tới việc họ bán chứng khoán đang tăng giá quá nhanh, bằng cách
đẩy giá giảm có mối liên hệ với giá cơ bản. Điều này thiết lập một giai đoạn cho
việc tăng giá thêm khi giá chứng khoán trở lại giá trị cơ bản, ngược lại, tìm kiếm
rủi ro trong mất mát sẽ gây cho nhà đầu tư giữ quá lâu khi giá giảm, bằng cách đó
giá chứng khoán với đà âm vượt qua giá trị cơ bản.
1.3 Tính toán bất hợp lý.
− Nhà đầu tư có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp


lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta và tối đa hoá
7


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
lợi ích từng tài khoản. Và vì thế, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý,
mà thật ra là sai lầm.

− Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích nhiều

hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ
(loss aversion), và hiệu ứng phân bổ tài khoản khá phổ biến, thể hiện cơ bản ở chỗ
người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn
không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ.
− Nhà đầu tư luôn cố gắng tối đa hoá tài khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên

giá lên một chút thì bán, giá xuống thì cứ giữ. Hiệu ứng phân bổ tài khoản này
cũng có thể được lý giải bằng hiệu ứng tự lừa dối hay sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì
sẽ cảm thấy bản thân ra quyết định đầu tư kém, hay hiệu ứng tiếc nuối tức là lỡ
bán rồi mà giá lên thì sao. Hiệu ứng phân bổ tài khoản lý giải một phần vì sao
trong thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường
giảm giá ở các thị trường lớn.
1.4 Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan.
− Nhà đầu tư thường xem bản thân họ tốt hơn những nhà đầu tư khác, đánh giá cao

bản thân hơn những gì người khác đánh giá, và họ thường phóng đại những hiểu
8



Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
biết của mình. Những nhà đầu tư quá tự tin đã được chứng minh rằng, họ giao
dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác. Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao
dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ, không cần
tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác.
− Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư.

Nhà đầu tư quá tự tin cho rằng, hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác
cảm nhận. Những nhà đầu tư quá tự tin nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận
được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của
thông tin. Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn, rủi ro càng cao và họ rất ít
đa dạng hóa đầu tư và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà cho là mình đã quen
thuộc.
1.5 Lệch lạc do tình huống điển hình.
− Nhà đầu tư có xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà

thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn. Ví dụ khi giá cổ
phiếu bắt đầu tăng liên tục 3, 4 năm hoặc dài hơn như trường hợp của Mỹ và Tây Âu từ
năm 1982 đến 2000, hay Trung Quốc trong 10 năm trở lại đây thì nhiều nhà đầu tư cho
rằng lợi nhuận cao từ cổ phiếu là việc “bình thường”. Nhưng khi thị trường đi xuống
trong ngắn hạn thì mức sinh lời cao là “không bình thường”.
− Để có những quyết định đầu tư hợp lý và đạt được nhiều lợi nhuận, nhà đầu tư

nên hạn chế những ảnh hưởng tâm lý trong các lý thuyết nêu trên, thay vào đó là sử
dụng tổng hợp các công cụ phân tích tài chính, tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định.
1.6 Tính bảo thủ
− Tại sao có sự hình thành tính bảo thủ:
Khi điều kiện kinh tế vĩ mô hay vi mô thay đổi người ta có xu hướng chậm
phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định của mình với tình hình chung


9


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
trong một giai đoạn dài hạn trước đó. Tức là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ
cho rằng kinh tế kém đi chỉ là tạm thời, dài hạn vẫn là đi lên, mà không nhận thấy
có thể tin đó phát đi tín hiệu một chu kỳ suy thoái nhiều năm đã bắt đầu. Tuy
nhiên, khi tình hình vẫn chưa cho thấy sự cải thiện sau một khoảng thời gian thì
mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu. Kết quả, lại dẫn đến phản ứng thái quá.
− Ảnh hưởng của tính bảo thủ đối với nhà đầu tư:
Chúng ta hãy nhớ lại xem người có t ính bảo thủ thì có bắt kịp tiến bộ xã
hội không? Đương nhiên là không. Vì thế, một nhà đầu tư khi mà anh ta có tính
bảo thủ thì anh ta không thể kịp thời nắm bắt những thông tin trên thị trường tài
chính nơi mà không ai khẳng định nó sẽ không thay đổi do tác động của những
biến đổi vi mô hay vĩ mô.
Ví dụ: chúng ta sở hữu 1 chiếc xe Honda, ta có xu hướng tin tưởng những
thông tin ủng hộ những kinh nghiệm quá khứ khi ta mua nó hơn là những thông
tin đối lập.
Trong đầu tư, khi mua một Quỹ đầu tư chuyên về những cổ phiếu ngành y
tế, chúng ta có xu hướng thích hoặc cường điệu hóa về về ngành Y tế và phớt lờ
hoặc giảm bớt đi những thông tin không tốt về ngành đó mà chúng ta nghe được.
− Làm thế nào để nhà đầu tư bỏ đi tính bảo thủ:

Để tránh thất bại này, chúng ta nên tìm kiếm thông tin cả hai phía, điều này
sẽ giúp bị trói chặt vào bất kỳ một ý tưởng nào, quyết định độc lập hơn và ngăn
tình trạng “ falling in love with a stock”. Xa hơn, chung ta sẽ có cơ hội tìm thấy lí
do khoản đầu tư của chúng ta là sai và có cơ hội sửa sai sớm hơn.
1.7 Phụ thuộc vào kinh nghiệm
− Các kinh nghiệm, hay quy tắc học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh


chóng và dễ dàng hơn nhiều. Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào

10


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
các quy tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi.
Và đặc biệt là người ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và
dễ nhớ, kiểu hiệu ứng. Lý thuyết này giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành
xử một cách vô ý thức.
− Khi có kinh nghiệm, các nhà đầu tư thường ra quyết định một cách dễ dàng vậy

điều này là tốt hay xấu ? Sẽ là tốt nếu họ không dựa dẫm quá nhiều vào kinh nghiệm,
ngược lại họ có thể có những quyết định sai lầm.
− Kinh nghiêm này xuất hiện có thể do tâm trí quá tập trung vào những chứng cứ

hiện tại mà quên mất đi những chứng cứ trong quá khứ dẫn đến quyết định đầu tư sai
lầm. Có thể hiểu thế này, kinh nghiệm chúng ta đang có thường do chủ quan chúng ta
đặt ra, đó là “Tốt khoe, xấu che”.
− Ví dụ: trong quá khứ, chúng ta bán cổ phiếu bị thua lỗ, chúng ta thường hay trấn

an chính mình như “Có lẽ đó là một quyết đinh không tồi khi bán cổ phiếu thua lỗ đó
hoặc Có lẽ chúng ta sẽ không mất nhiều tiền như chúng ta nghĩ?” Rồi theo đó xuất hiện
những định kiến như là: cổ phiếu−BDS nợ nần ngập đầu không nên mua, nợ xấu đang
cao cổ phiếu ngành NH khó tăng…
Ví dụ trên cho chúng ta thấy kinh nghiệm giống như “con dao hai lưỡi” vậy,
bất chấp diễn biến phức tạp của thị trường, “con dao” này mách bảo bạn cứ làm
theo những kinh nghiệm trong quá khứ cái mà mang đến cho bạn thành công
nhiều hơn là thất bại.


2. Lý thuyết tâm lý đám đông

11


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14

2.1 Tâm lý đám đông hình thành như thế nào:
− Chúng ta sống trong một xã hội, đương nhiên có sự giao tiếp với nhau, và thông
thường chúng ta giao tiếp một nhóm người có cùng suy nghĩ như mình.
− Tâm lý đám đông dễ dàng bắt gặp khi có sự dao động của giá cả do nhu cầu của
số đông người trong xã hội thay đổi cùng chiều.
− Ảnh hưởng xã hội có một tác động rất lớn lên phán đoán cá nhân. Khi phải đối
mặt với một tình huống mà nhà đầu tư cho rằng quyết định trở nên không chắc chắn thì
ảnh hưởng hành vi và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân cảm thấy chắc
chắn hơn.
− Tâm lý đám đông cũng hình thành từ tâm lý sợ sai, vì thế thường hay bỏ đi suy
nghĩ riêng mình và hướng theo suy nghĩ của đại đa số.
− Tuy nhiên, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con
người cũng như nhà đầu tư, không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không. Và lý
thuyết ảnh hưởng tâm lý đám đông này càng rõ nét khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các
quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần thiết. Khi con người đối đầu với
phán đoán của một nhóm lớn, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của họ. Họ đơn
giản nghĩ rằng tất cả những người khác có thể không sai.

12


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
2.2 Tác động của tâm lý đám đông đến nhà đầu tư:

− Sau sự kiện Biển Đông, giá vàng trong nước tăng vọt trong khi giá vàng thế giới
lại giảm. Vì sao ? Do mọi người đổ xô đi mua vàng nên dẫn đến giá vàng tăng. Và tại
sao họ đổ xô đi mua vàng ? Bởi “tâm lý đám đông” tác động. Hãy nghĩ xem, trong tình
huống này ai sẽ là người được lợi nhiều nhất ? Những tay đầu cơ vàng. Ai là người chịu
thiệt ? Nhà đầu tư, trong trường hợp này, là người muavàng. Rõ ràng, không ai có thể
phủ nhận rằng “tâm lý đám đông” thực sự phát huy tác dụng trong việc nâng giá một
loại hàng hóa.
IV. Ứng dụng của Lý thuyết tài chính hành vi
Lý thuyết tài chính hành vi không thể cung cấp một phương thức đầu tư kì
diệu, nhưng lại có thể giúp các nhà đầu tư cẩn trọng hơn đối với các hành vi đầu
tư của mình, từ đó có thể tránh được các sai lầm khiến họ trở nên nghèo hơn. Một
trong những nguyên nhân khiến cho Tài chính học hành vi không có được sự chấp
nhận và áp dụng rộng rãi là bởi cơ sở lý luận của trường phái này dựa trên hành vi
phi lý trí của con người (irrational behaviors). Một khi chúng ta đã chấp nhận
hành vi phi lý trí thì chúng ta sẽ chúng ta sẽ phải đối mặt với tính “không dự đoán
được” của hành vi. Nói cách khác, khả năng dự đoán out-of-sample của Tài chính
học hành vi là cực thấp. Chính bởi khả năng dự đoán kém này nên rất khó áp dụng
Tài chính học hành vi vào trong hoạt động đầu tư (nơi mà yếu tố quan trọng nhất
là dự đoán tương lai).

KẾT LUẬN

13


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14
Lý thuyết tài chính hành vi rất quan trọng và ảnh hưởng rất nhiều đến sự phân tích
và đầu tư của các nhà kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,với sự phát triển và thay
đổi liên tục của tình hình kinh tế và xã hội,thông tin được cập nhật liên tục. Để có những
quyết định đầu tư hợp lý và đạt được nhiều lợi nhuận, nhà đầu tư nên hạn chế những ảnh

hưởng tâm lý trong các lý thuyết nêu trên, thay vào đó là sử dụng tổng hợp các công cụ
phân tích tài chính, tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định. Từ đó,sẽ có được những
những phân tích phù hợp và đưa ra những quyết định mang lại hiệu quả cao nhất.

14


Lý thuyết tài chính hành vi Nhóm 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nội dung trong bài
Tài chính hành vi là gì

Trang
Tài liệu tham khảo
/>4
%A9c/ki%E1%BA%BFn-th%E1%BB%A9c-chung/taichinh-hanh-vi-nhung-nguyen-ly-va-ly-thuyet-coban.html

Ba điều kiện tồn tại lý
thuyết tài chính hành vi
Lý thuyết triển vọng
Sự không yêu thích rủi ro

5

/>
5

thuyet-tai-chinh-hanh-vi/1.html
/>

6

thuyet-tai-chinh-hanh-vi/4.html
/>
Những nguyên lý và lý

7-11

/>
thuyết cơ bản của tài

%A9c/ki%E1%BA%BFn-th%E1%BB%A9c-chung/tai-

chính hành vi

chinh-hanh-vi-nhung-nguyen-ly-va-ly-thuyet-co-

Ảnh hưởng của tính bảo

12

ban.html
/>
13

giup-dau-tu-thanh-cong-89929.html
/>
thủ đối với nhà đầu tư
Tác động của Tâm lý đám
đông đến nhà đầu tư


ngam/item/23321002-%20%C3%B0ung-mac-bay-tam-

Ứng dụng của lý thuyết tài

ly-dam-dong.html
/>
chính hành vi

13

hanh-vi-tai-chinh-hanh-vi-behavioural-economicsbehavioral-finance/

15



×