A, MỞ BÀI
Quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa người với người trong một cộng
đồng, xã hội cụ thể. Các quan hệ này cần có sự điều chỉnh của các quy phạm
khác nhau như: Quy phạm đao đức, quy phạm phong tục tập quán, tín ngưỡng,
tôn giáo, quy phạm pháp luật… Nếu không có sự điều chỉnh của các quy phạm
này thì các quan hệ xã hội dễ rơi vào tình trạng sai lệch… Hiệu quả tác động của
các quy phạm này lên các quan hệ xã hội là khác nhau, trong đó, việc dùng pháp
luật để tác động lên các quan hệ xã hội luôn đạt kết quả tối ưu. Trong đó, phải kể
đến quan hệ pháp luật hành chính- một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, là kết
quả của sự tác động của quy phạm pháp luật hành chính theo phương pháp
“quyền lực- phục tùng” tới lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước.
Do có sự khác nhau về tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể cũng như
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể và các lĩnh vực phát inh quan hệ mà quan hệ
pháp luật hành chính được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau. Nhận thức về
vấn đề này cùng những gì tiếp thu được trong quá trình học và tìm hiểu tài liệu,
nhóm 1 lớp N09- TL2 quyết định chọn đề tài “Phân loại quan hệ pháp luật
hành chính và nêu đặc điểm cơ bản của từng loại quan hệ pháp luật hành
chính” làm đề tài cho bài tập nhóm lần này.
Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nhận thức còn hạn chế nên bài
làm không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong được sự chỉ bảo
của các thầy cô giúp cho bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em
xin chân thành cảm ơn !
B, NỘI DUNG
I. Khái quát về quan hệ pháp luật hành chính
Nếu như quan hệ pháp luật là dạng quan hệ xã hội đặc trưng bởi sự hiện
diện và tương tác về quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể, được pháp luật
quy định và được bảo đảm bằng các biện pháp nhà nước thì Quan hệ pháp luật
hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà
nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các cơ
quan, tổ chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của
pháp luật hành chính.
Là một dạng cụ thể của Quan hệ pháp luật nên Quan hệ pháp luật hành chính
cũng mang những đặc điểm chung của quan hệ pháp luật như: được pháp luật
điều chỉnh; thể hiện tính rõ rang minh bạch; mang tính ý chí nhà nước; được
đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp nhà nước…
Ngoài các đặc điểm chung của quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật
hành chính còn có những đặc điểm riêng biệt khác như:
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ
thể quản lí hay đối tượng quản lí hành chính nhà nước.
- Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lí
hành chính của các bên tham gia quan hệ đó.
- Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực
nhà nước. Chủ thể được xác định là chủ thể đặc biệt khi tham gia quan hệ pháp
luật hành chính được sử dụng quyền lực nhà nước. mặt khác trong quan hệ pháp
luật hành chính nhà nước, đối tượng quản lí là bên chủ thể không được sử dụng
quyền lực nhà nước và có nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng quyền lực nhà nước
của chủ thể quản lí thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng, các đối
tượng này được xác định là chủ thể thường.
- Trong một quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này ứng với nghĩa
vụ của bên kia và ngược lại. quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ “quyền
lực-phục tùng’, quan hệ bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia.
- Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được
giải quyết theo thủ tục hành chính
- Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật
hành chính phải chịu trách nhiệm pháp lí trước nhà nước. về hành vi vi phạm
của mình.
Tùy vi phạm pháp luật mà nhà nước sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự, hành
chính, kỉ luật nhà nước đối với người vi phạm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường.
Cũng giống như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật hành chính có
cơ cấu bao gồm: Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính; Khách thể của quan
hệ pháp luật hành chính và nội dung của quan hệ pháp luật hành chính.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và
nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Pháp luật hành chính xác lập và bảo vệ các trật tự quản lí hành chính nhà
nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trên cơ sở kết hợp hài hòa
lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích chính đáng của các cá nhân tổ chức. Do đó
tùy thuộc vào từng lĩnh vực phát sinh, các quan hệ pháp luật hành chính sẽ có
những khách thể là trật tự quản lí hành chính nhà nước tương ứng với lĩnh vực
đó.
Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính gồm quyền và nghĩa vụ pháp
lí hành chính của chủ thể quan hệ pháp luật hành chính. Quyền của chủ thể quan
hệ pháp luật hành chính là khả năng xử sự của chủ thể gắn với những điều kiện
cụ thể được pháp luật quy định và bảo vệ. Nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp
luật hành chính là xử sự bắt buộc của chủ thể theo quy định của pháp luật để đáp
ứng quyền của chủ thể khác khi tham gia quan hệ pháp luật hành chính. Trong
những trường hợp nhất định cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia quan hệ
pháp luật hành chính phải thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định.
II. Phân loại quan hệ pháp luật hành chính và đặc điểm cơ bản từng loại
quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính rất đa dạng và phong phú, nó được phân
loại theo nhiều căn cứ khác nhau. Và theo mỗi căn cứ thì quan hệ pháp luật hành
chính được phân loại thành các nhóm khác nhau, và mỗi nhóm này lại có nhưng
đặc điểm riêng biệt. Cụ thể như sau:
1. Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể
Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể, quan hệ pháp luật
hành chính được phân thành hai nhóm: Quan hệ hành chính nội bộ và quan hệ
hành chính liên hê.
1.1 Quan hệ hành chính nội bộ
Quan hệ hành chính nội bộ là loại quan hệ pháp luật hành chính phát sinh
giữa các chủ thể có quan hệ lệ thuộc về mặt tổ chức. Tức là quan hệ trong đó
một bên phải phục tùng bên kia do giữa hai bên có quan hệ trực thuộc nhau về
mặt tổ chức, hoặc một bên đại diện cho quyền lực nhà nước, tuy không phải là
cấp trên trực tiếp của bên kia, song hành động và quyết định của nó có hiệu lực
bắt buộc thi hành đối với bên kia và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp
cưỡng chế nhà nước.
Chủ thể của quan hệ hành chính nội bộ gồm: Một bên là cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền quyết định đối với bên kia về việc thành
lập, giải thể cơ quan, tổ chức hoặc bầu, bãi nhiệm, bổ nhiệm… cán bộ công
chức.
Nội dung của loại quan hệ này thường đề cập các vấn đề như phân cấp quản
lí, chỉ đạo điều hành, kiểm tra đối với các cơ quan, tổ chức trực thuộc hoặc kiện
toàn về tổ chức và bảo đảm kỉ luật trong bộ máy nhà nước.
Ví dụ: Quan hệ giữa thủ tướng chính phủ với thứ trưởng,chủ tịch UBND cấp
tỉnh như: Thủ tướng Chính phủ có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thứ
trưởng và các chức vụ tương đường, phê chuẩn kết quả bầu cử thành viên ủy ban
nhân dân cấp tỉnh ; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, phó chủ tịch ủy
ban nhân dâ cấp tỉnh. Hay quan hệ giữa chính phủ với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc chính phủ: Bộ, cơ quan ngang bộ là thành phần thuộc chính phủ;
Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và cơ quan ngang bộ theo đề
nghị của Thủ tướng Chính phủ. Nghị định của Chính phủ số 178/2007/NĐ-CP
ngày 03/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của
bộ và cơ quan ngang bộ. Mỗi bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng quản lí
đối với mỗi ngành và lĩnh vực nhất định.
1.2 Quan hệ hành chính liên hệ
Đây là loại quan hệ pháp luật hành chính phát sinh giữa các chủ thể không
có quan hệ lệ thuộc về mặt tổ chức, mà trong đó ý chí của các bên được biểu
hiện theo phương pháp thỏa thuận.
Chủ thể của loại quan hệ này có thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức
trong bộ máy nhà nước với các tổ chức, cá nhân ngoài bộ máy nhà nước; cũng
có thể là giữa các cơ quan, tổ chức,cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước
với nhau.
Ví dụ như quan hệ giữa chủ tich UBND xã- chủ thể xử phạt vi phạm hành
chính với công dân vi phạm hành chính.
Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính lên hệ rất đa dạng, phong phú,
nó phát sinh trên nhiều mĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Quan hệ pháp luật hành chính liên hệ thường tồn tại trong quá trình chuẩn bị
hoặc thảo luận trước khi đưa ra một quyết định đơn phương, khi nhà làm luật
quy định cơ quan ban hành phải thỏa thuận trước với các cơ quan khác. Ví dụ:
Điểu 14 Luật công đoàn quy định: “ Hội đồng Bộ trưởng trước khi quy định
trach nhiệm cụ thể của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức tạo điều kiện
làm việc, cung cấp thông tin cần thiết cho công đoàn phải thỏa thuận với Tổng
liên đoàn lao động Việt Nam.
Trong thực tiễn quản lí nhà nước, thông thường quan hệ liên hệ chuyển hóa
thành quan hệ nội bộ. Ví dụ: Trong các giai đoan của trình tự ban hàn quyết
định liên tịch thì tồn tại quan hệ hiên hệ giữa các cơ quan tham gia ban hành
quyết định liên tịch đó. Nhưng kể từ khi quyết định được ban hành thì quyết
định đó lại chính là căn cứ làm phát sinh quan hệ nội bộ giữa mỗi cơ quan đã
tham gia ban hành quyết định liên tịch đó với các chủ thể khác trong hệ thống
của mình.
Ví dụ: Quan hệ giữa Bộ tài chính và Bộ Tài nguyên và môi trường trong
việc kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ tài nguyên và môi
trường. Ban đầu là quan hệ liên hệ giữa Bộ tài chính và Bộ tài nguyên và môi
trường. Sau khi có quyết định của Bộ tài chính về việc sử dụng ngân sách của
Bộ tài nguyên và môi trường thì sẽ xuất hiện quan hệ hành chính nội bộ giữa Bộ
tìa nguyên và môi trường với các chủ thể khác trong hệ thống của mình như với
các sở tài nguyên và môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Một ví dụ khác như: Khi xây dựng các đề án trình Chính phủ thì Bộ
trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan tới đề án đó được mời đến để
thảo luận về việc chuẩn bị để án. Sau đó, gửi dự thảo đề án tới các bộ trưởng,
thủ trưởng của các cơ quan các ngành, lĩnh vực đó, chủ tịch UBND tỉnh có liên
quan để lấy ý kiến. Các cơ quan được hỏi ý kiến thì phải trả lời trong một thời
hạn nhất định, nếu quá thời han đó mà không có ý kiến thì coi như đồng ý và
phải chịu trách nhiệm với vấn đề liên quan đến chức năng, quyền hạn của ngành,
lĩnh vự mà mình quản lí…
2. Căn cứ vào tính chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
Quan hệ pháp luật hành chính dựa vào các căn cứ khác nhau mà người ta
phân loại và mỗi cách phân loại mang một đặc điểm cơ bản rất riêng biệt. Căn
cứ vào tính chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chia thành: quan hệ nội dung
và quan hệ thủ tục
2.1 Quan hệ nội dung
Đây là loại quan hệ pháp luật hành chính được thiết lập để trực tiếp thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đó. Các quan hệ này do
quy phạm nội dung điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đó là quyền và
nghĩa vụ của những cơ quan hành chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ
quan đó hoặc một cơ quan tổ chức được trao quyền.
Ví dụ: quan hệ giữa Thủ tướng Chính phủ với cá nhân phát sinh thủ tướng
chính phủ ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thứ trưởng và các
chức vụ tương đương; Phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức
chủ tich, phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, phê chuẩn
việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương.
2.2 Quan hệ thủ tục
Quan hệ thủ tục có thể phát sinh giữa tất cả các loại chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội, công dân, người nước ngoài...nhưng ít nhất một bên trong quan hệ phải là
cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan nhà nước khác hoặc tổ chức, cá nhân được
trao quyền quản lý. Ðiều này có nghĩa là quan hệ giữa công dân với công dân, tổ chức
với tổ chức hay tổ chức với một công dân nào đó (không mang quyền lực hành chính
nhà nước) thì không thể hình thành quan hệ thủ tục hành chính.
Các quan hệ này được điều chỉnh bởi quy phạm thủ tục. Ví dụ các quy phạm quy
định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo…
Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ thủ tục hành chính được giải quyết theo
trình tự, thủ tục hành chính và thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước.
Ví dụ: Quan hệ giữa Thủ tướng Chính phủ với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ phát sinh khi bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ “kiến nghị với Thủ
tướng đình chỉ việc thi hành nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trái
với các văn bản pháp luật của nhà nước hoặc của bộ, cơ quan ngang bộ về ngành, lĩnh
vực do bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách”
Trong quan hệ pháp luật này, khi có kiến nghị của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ với Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề như đã nếu vẫn chưa hình thành
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính. Đó chỉ là tiền đề
cho quan hệ nội dung sau này.
3. Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quan hệ
Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quan hệ thì quan hệ pháp luật hành chính
có thể được phân thành các nhóm quan hệ pháp luật hành chính về quản lí kinh
tế, văn hóa, an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội…; về sử lí vi phạm pháp
luật, thanh tra kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể như sau:
Các nhóm quan hệ pháp luật hành chính về kinh tế, văn hóa, an ninh, chính
trị, trật tự, an toàn xã hội:
• Quan hệ pháp luật hành chính về kinh tế: Nhà nước thực hiện việc quản lý
kinh tế trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh, trao đổi hàng hóa, lĩnh
vực xây dựng,…trong lĩnh vực kinh doanh , muốn kinh doanh mặt hàng nào đó
thì phải có những thủ tục để đăng ký mặt hàng định kinh doanh.
• Quan hệ pháp luật hành chính về văn hóa: nhà nước thực hiện các chính
sách văn hóa như phong tục tập quán tốt đẹp, lễ hội ( giỗ tổ Hùng Vương,...), di
tích lịch sử, danh lam thắng cảnh,
• Quan hệ pháp luật hành chính về an ninh
• Quan hệ pháp luật hành chính về chính trị
• Quan hệ pháp luật hành chính về trật tự, an toàn xã hội
Các nhóm quan hệ pháp luật hành chính về xử lý vi phạm pháp luật, thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
• Quan hệ pháp luật hành chính về xử lý vi phạm pháp luật:
+ Chủ thể đặc biệt (cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân danh và sử dụng
quyền lực nhà nước) trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện nhiệm
vụ và quyền hạn của mình trong việc xử lý vi phạm pháp luật hành chính. Ví
dụ, cảnh sát giao thông có quyền xử phạt những người tham gia giao thông
không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ.
+ Được giải quyết bằng thủ tục hành chính.
• Quan hệ pháp luật hành chính về thanh tra, kiểm tra: chủ thể đặc biệt thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình trong việc thanh tra , kiểm tra. Ví dụ, chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của chủ tịch Uỷ ban
nhân dân huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị trực
thuộc UBND tỉnh trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến
nghị các biện pháp nhằm chấn chỉnh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc
thẩm quyền quản lý của Chủ tịch UBND tỉnh. Hay chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham
nhũng của các sở, ban, ngành, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh; UBND huyện, thị
xã, thành phố.
• Quan hệ pháp luật hành chính về giải quyết khiếu nại, tố cáo:
+ Thẩm quyền của chủ thể đặc biệt chỉ có hiệu lực khi nó làm phát sinh nghĩa
vụ chấp hành của chủ thể thường. Mặt khác, việc thực hiện quyền của chủ thể
thường trong quan hệ pháp luật hành chính chỉ có ý nghĩa thực sự nếu nó làm
phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết của chủ thể đặc biệt. Ví dụ,
công dân có quyền khiếu nại nhưng việc thực hiện quyền khiếu nại đó của công
dân không làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết của người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì việc khiếu nại đó của công dân chỉ mang
tính hình thức không có giá trị pháp lý.
+ Được giải quyết theo thủ tục hành chính.
III. Đánh giá về cách phân loại quan hệ pháp luật hành chính,
Ngoài ba cách phân loại quan hệ pháp luật hành chính như trên thì cũng
có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại này. Giáo trình Luật hành chính
Việt Nam của khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra 6 căn cứ để phân loại
quan hệ pháp luật hành chính như căn cứ vào đặc tính mối quan hệ giữa các bên;
căn cứ theo mục đích, ý nghĩa của quan hệ; căn cứ vào nội dung cụ thể của quan
hệ; …. Nhưng theo ý kiến của nhóm, thì nhóm đồng ý với 3 căn cứ cơ bản phân
loại quan hệ pháp luật hành chính như đã phân tích ở trên. Và cho rằng có hai
căn cứ chủ yếu và có tính phù hợp hơn cả là căn cứ vào tính chất mối quan hệ
giữa các chủ thể và căn cứ vào tính chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Còn
căn cứ thư ba là căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quan hệ để phân loại quan hệ
pháp luật hành chính không có tính hiệu quả cao bởi tính chất rộng rãi, bởi vì,
trong cuộc sống xã hội có rất nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc căn cứ vào lĩnh
vưc phát sinh dễ dẫn đến tình trạng khó quản lí cũng như nắm bắt một cách triệt
để về các lĩnh vực đó.
Như đã tìm hiểu, phân tích ở trên về đặc điểm của các loại quan hệ pháp
luật hành chính ta thấy có rất nhiều căn cứ khác nhau để phân loại quan hệ pháp
luật hành chính.Việc phân các quan hệ pháp luật hành chính thành các nhóm cụ
thể giúp cho việc quản lí được dễ dàng và đạt hiệu quả cao. Mỗi căn cứ phân
loại đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Tuy nhiên, theo đáng giá của
nhóm thì hiện nay quan hệ pháp luật hành chính được phân loại căn cứ vào tính
chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể diễn ra phổ biến nhất. Điều này được thể
hiện cụ thể qua các luật như: Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân; luật tổ chức chính phủ, Pháp lệnh chống tham nhũng (chương IV quy định
về trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc
phòng ngừa và xử lí người có hành vi tham nhũng)… hoặc như Luật khiếu nại,
tố cáo quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại,
người tố cáo, người bị tố cáo và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; ….
C, KẾT LUẬN
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu được các căn cứ để phân loại quan hệ pháp
luật hành chính cũng như đặc điểm của từng loại quan hệ pháp luật hành chính
đó. Từ đó, ta có thể thấy rằng hoạt động quản lí nhà nước không thể tách rời các
quan hệ xã hội; nên đối tượng của luật hành chính chính là những quan hệ xã hội
hình thành trong hoạt động quản lí nhà nước. Bên cạnh đó, ta còn thấy được vai
trò của luật hành chính trong quá trình hoàn thiện hoạt động điều hành của nhà
nước cũng như trong công cuộc cải cách nên hành chính ở nước ta hiện nay./