Vấn đề 1: Xác lập hợp đồng nhằm tẩu tán tài sản
Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? Cho ví dụ minh họa.
Trả lời:
“Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên
ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch.”
(Viện nghiên cứu khoa học pháp lí – Bộ Tư pháp: Bình luận khoa học BLDS Việt
Nam, tập 1, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – trang 208)
Giao dịch dân sự do giả tạo đươc cụ thể hóa tại điều 129 BLDS 2005: “ Khi các
bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác
thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường
hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.”
Từ Điều 129, ta suy ra có 2 loại giao dịch giả tạo:
Thứ nhất: Giao dịch được xác lập để che giấu một giao dịch khác.
Ví dụ: A bán cho B một căn nhà 1,2 tỷ đồng. Nhưng hai bên đã lập một hợp
đồng trong đó chỉ ghi giá của ngôi nhà là 1 tỷ đồng để gian lận việc nộp thuế trước
bạ sang tên. Như vậy, hợp đồng ghi giá trị căn nhà là 1 tỷ đồng bị coi là hợp đồng
giả tạo.
Thứ hai: Giao dịch được xác lập nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
trong hợp đồng.
Ví dụ: A phạm tội tham nhũng bị phát hiện, để tẩu tán tài sản A thỏa thuận với B
kí kết hợp đồng giả bán ngôi nhà của A cho B tránh bị kê khai tài sản.
Hay ví dụ: Bà Tuyết và ông Sáng là vợ chồng. Sau khi bà Tuyết và ông Sáng có
đơn ly hôn, ông Sáng và bà Tuyết đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ nhà đất cho
các con để tránh bị kê khai tài sản khi lúc này vợ chồng ông nợ một số tiền rất lớn.
(QĐ số 57/2010/DS-GĐT Ngày 02/02/2010 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
cao).
Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy hợp đồng mua bán nhà của ông
Sang, bà Huệ với ông Tuấn, bà Hồng được xác lập sau khi có quyết định của
Tòa án buộc ông Sang, bà Huệ thực hiện nghĩa vụ cho ông Xương, bà Mừng?
Trả lời:
Page 1
Đoạn của bản án cho thấy hợp đồng mua bán nhà của ông Sang, bà Huệ với
ông Tuấn, bà Hồng được xác lập sau khi có quyết định của Tòa án buộc ông Sang,
bà Huệ thực hiện nghĩa vụ cho ông Xương, bà Mừng là:
Đoạn 1 của phần nhận thấy: “…Theo nội dung của Quyết định này thì ông
Sang và bà Huệ phải trả lại cho ông Xương và bà Mừng với số tiền 369.136.250
đồng, hạn chót thi hành vào ngày 27/12/2008. Nhưng đến hạn thì ông Sang và bà
Huệ không thi hành quyết định của Tòa mà trong giai đoạn phải thi hành án thì
ông Xương và bà Mừng lại bán căn nhà số 75 đường số 15, Phường Bình Hưng
Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh cho con trai và con dâu của ông bà
là Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Nhơn Hồng...”
Đoạn 3 của phần xét thấy: “…Ngày 31/12/2008 thi hành án dân sự quận
Bình Tân ban hành Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 123/QĐ-THA
nhưng ông Sang và bà Huệ vẫn không thi hành khoản tiền phải thi hành cho ông
Xương và bà Mừng. Trong thời gian thi hành Quyết định của Tòa thì ngày
04/12/2008 ông Sang và bà Huệ lại tiến hành bán căn nhà số 15, khu phố 10,
phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, TP. HCM cho ông Trần Quốc Tuấn và bà
Nguyễn Nhơn Hồng (hiện căn nhà này đã được nhà nước công nhận quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho ông Tuấn và bà Hồng…”
Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã xác định việc lập hợp đồng
trên là giả tạo và áp dụng các quy định về giả tạo?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án đã xác định việc lập hợp đồng trên là giả
tạo và áp dụng các quy định về giả tạo là:
Đoạn 6 của phần xét thấy: “Căn cứ Điều 129, 137 BLDS thì giao dịch dân
sự này là vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, nên hợp
đồng này không làm phát sinh quyền, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
của các bên kể từ thời điểm xác lập…”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Trả lời:
Hướng giải quyết trên của Tòa là có cơ sở pháp luật, thuyết phục, đưa những cơ
sở, lí luận để chứng minh hợp đồng này là giả tạo nhằm mục đích trốn tránh nghĩa
vụ để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Hướng giải quyết của Tòa đã bảm bảo quyền lợi
của các chủ nợ vì người nợ chỉ có tài sản này là duy nhất. Qua vụ việc này, Tòa đã
Page 2
giúp chúng em hiểu nhiều hơn về hợp đồng giả tạo và cơ sở pháp lí cũng như thực
tiễn để chứng minh đó là hợp đồng giả tạo.
Câu 5: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã xác định việc lập hợp đồng
trên là nhằm lẩn tránh nghĩa vụ của ông Sang, bà Huệ và đã tuyên bố hợp
đồng này vô hiệu?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án đã xác định việc lập hợp đồng trên là nhằm
lẩn tránh nghĩa vụ của ông Sang, bà Huệ và đã tuyên bố hợp đồng này vô hiệu là:
Cuối đoạn 5 của phần xét thấy: “…Như vậy, trong thời gian phải thi hành quyết
định của Tòa, ông Sang và bà Huệ lại tự ý bán tài sản duy nhất của mình và cho
đến nay vẫn chưa thi hành bất kì khoản tiền thi hành nào (bao gồm cả tiền án phí
và khoản tiền phải thi hành án cho ông Xương và bà Mừng). Vì vậy, có cơ sở để
xác định việc lập hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở ngày
4/12/2008 (số công chứng 042348, quyển số 12) giữa ông Nguyễn Cao Sang Trần
Thị Huệ với ông Trần Quốc Tuấn bà Nguyễn Nhơn Hồng tại phòng công chứng
nhà nước số 2 là giả tạo nhằm lẩn tránh nghĩa vụ.”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Trả lời:
Hướng giải quyết của Tòa rất hợp lí, thuyết phục, đã đảm bảo quyền lợi của các
chủ nợ bởi ông Sang và bà Huệ chỉ có đây là tài sản có giá trị và đảm bảo trả nợ
cho các chủ nợ. Nếu Tòa tuyên bố hợp đồng bán nhà ở là hợp pháp thì khả năng trả
nợ của vợ chồng ông là không lớn và quyền lợi của các chủ nợ bị xâm phạm. Bởi
lẽ, Điều 10 BLDS 2005 quy định: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác.”
Câu 7: Nếu hợp đồng chuyển nhượng trên được xác lập trước khi ông
Sang, bà Huệ có quyết định của Tòa án buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì
ông Xương, bà Mừng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
không? Vì sao?
Trả lời:
Page 3
Nếu hợp đồng chuyển nhượng trên được xác lập trước khi ông Sang, bà Huệ
có quyết định của Tòa án buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì ông Xương, bà Mừng
cũng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu. Tuy nhiên, chúng ta
cần xem xét là đã có biện pháp khẩn cấp tạm thời về tài sản trong giao dịch này
hay chưa?
Bởi vì:
Khi có biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Ví dụ như bản án 30: Quyết định số 847/2010/DS-GĐT ngày 21/12/2010
của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao. (TS. Đỗ Văn Đại: Luật hợp đồng Việt
Nam, bản án và bình luật bản án, tập 1 (tái bản lần thứ 3, có sữa chữa bổ xung),
nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr. 478-486).
Trong ví dụ trên, theo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: “Trường hợp anh
Bình, chị Nhung chuyển nhà đất cho chị Châu sau khi các nguyên đơn yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc có dấu hiệu tẩu tán tài sản để trốn tránh
nghĩa vụ trả nợ thì phải xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất trên là vô hiệu”
(TS. Đỗ Văn Đại: Luật hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án, tập 1 (tái
bản lần thứ 3, có sữa chữa bổ xung), nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr. 495).
Điều này cho thấy, theo Chánh án, nếu việc chuyển nhượng được tiến hành sau khi
có đơn yêu cầu được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì giao dịch chuyển
nhượng này vô hiệu. Và theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao cũng đồng tình
với hướng giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Khi không có biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Theo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì nếu việc chuyển nhượng có dấu
hiệu tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thì giao dịch chuyển nhượng vô hiệu cho
dù chưa có đơn yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Về phía Tòa dân sự thì không giải quyết vấn đề này vì cho rằng đủ cơ sở pháp lí
để chứng minh đó là một giao dịch có dấu hiệu tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh
nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, đã có trường hợp Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
theo hướng nếu có tẩu tán tài sản thì giao dịch tẩu tán tài sản không có giá trị pháp
lý. Cụ thể, theo một quyết định giám đốc thẩm 2007: “khi bà Thìn vay tiền của các
chủ nợ, bà Thìn không đưa tài sản là chiếc xe ô tô để thế chấp đảm bảo cho việc
vay nợ và khi giải quyết vụ án tranh chấp vụ án về vay nợ giữa các nguyên đơn và
bà Thìn thì Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
đều không có quyết định kê biên chiếc xe ô tô này. Do vậy, việc mua bán xe ô tô
giữa bà Phượng và bà Thìn không trái pháp luật và hoàn toàn hợp pháp, không có
căn cứ xác định bà Thìn bán xe là hành vi tẩu tán tái sản…” (TS. Đỗ Văn Đại: Luật
hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luật bản án, tập 1 (tái bản lần thứ 3, có sữa
chữa bổ xung), nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr. 497-498).
Page 4
Theo quan điểm của nhóm chúng em thì khi giao dịch có dấu hiệu tẩu tán tài
sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì phải xác định giao dịch này là vô hiệu. Mục
đích như vậy là để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ và phù hợp trên cơ sở Điều
10 BLDS 2005 đã được nêu trên.
Vấn đề 2: Cầm giữ tài sản
Câu 1: Đoạn nào của bản án cho thấy bên bán đang giữ bản chính đăng ký
xe máy?
Trảlời:
Đoạn của bản án cho thấy bên bán đang giữ bản chính đăng ký xe máy là:
Đoạn 5, về nội dung tranh chấp của phần xét thấy có nêu như sau: “Do hiện nay
phía công ty Easy đang giữ bản chính giấy đăng ký xe máy biển số 52S4–7402
của bà Loan…”
Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy bên mua chưa thực hiện đúng nghĩa
vụ thanh toán tiền mua xe?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy bên mua chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán
tiền mua xe là:
Cuối đoạn 1 của phần nhận thấy có nêu như sau: “…Sau đó bà Loan thanh toán
đến tháng 02/2008 với số tiền là 9.646.000 đồng thì ngừng không thanh toán tiếp”.
Đoạn 3, về nội dung tranh chấp của phần xét thấy có nêu: “...Xét bà Loan chậm
nghĩa vụ thanh toán tiền là vi phạm hợp đồng và làm ảnh hưởng đế nquyền lợi của
phía nguyên đơn…”
Câu 3: Theo BLDS. Trong điều kiện nào, bên có quyền được cầm giữ tài
sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng?
Trả lời:
Page 5
Theo khoản 1, Điều 416 BLDS 2005 thì bên có quyền được cầm giữ tài sản khi
bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng một trong hai điều kiện sau:
Thứ nhất: Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ.
Thứ hai: Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng theo thỏa thuận.
Câu 4: Bản chính đăng ký xe có phải là một tài sản không? Vìsao?
Trả lời:
Bản chính đăng ký xe không phải là một tài sản. Vì theo Điều 163 BLDS 2005
quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Và theo
nghị định áp dụng BLDS về phần biện pháp bảo đảm “giấy tờ có giá bao gồm cổ
phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác
theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”
(khoản 9 Điều 3).
Câu 5: Cho đến khi bên mua chưa trả hết tiền mua. Tòa án có cho phép
bên bán cầm giữ bản chính đăng ký xe không? Đoạn nào của bản án cho câu
trả lời ?
Trả lời:
Khi bên mua chưa trả hết tiền mua thì Tòa án cho phép bên bán cầm giữ bản
chính đăng ký xe.
Đoạn quyết định cho câu trả lời là:
Đoạn 1.2 phần quyết định: “Ngay sau khi bà Loan thanh toán hết khoản tiền
trên, phía công ty cổ phần Giấc Mơ Dễ Dàng phải trả lại bản chính giấy đăng ký
mô tô, xe máy biển số 52S4–7402 cho bà Nguyễn Thị Thanh Loan”.
Câu 6: Thông qua thực tiễn xét xử và kiến thức mà anh chị có, suy nghĩ của
anh chị về chế định cầm giữ tài sản được quy định tại Điều 416 BLDS.
Trả lời:
Thông qua thưc tiễn xét xử:
Ví dụ bản án số 81/2009/DSS ngày 15/5/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Long
Khánh, tỉnh Đồng Nai như sau: “Chủ cửa hàng xe máy Thanh Sang (bà Liên) và
chủ cửa hàng xe máy Đông Trang (cặp vợ chồng ông Quang) kí hợp đồng mua bán
xe gắn máy với nội dung, bà Liên giao xe cho ông Quang, ông Quang bán được
chiếc xe nào thì trả đủ tiền chiếc xe đó. Một thời gian sau đôi bên có tranh chấp.
Page 6
Trong quá trình tố tụng, ông Quang cho rằng bà Liên phải chịu trách nhiệm về việc
bà Liên cầm giữ một số bộ đăng kiểm xe máy. Về vấn đề này, theo Tòa án thì yêu
cầu của ông Quang là không có cở sở pháp luật vì ông Quang còn thiếu tiền bà
Liên nên bà Liên giữ lại phiếu đăng kiểm là đúng không vi phạm pháp luật”.
Trong vụ việc nêu trên, Tòa cho thấy đối tượng được cầm giữ không phải là tài
sản theo quy định hiện hành nhưng lại rất hiệu quả đối với bên cầm giữ.
Theo Điều 416 BLDS 2005 thì chỉ nói chung về cầm giữ tài sản mà có phải tài
sản đó theo Điều 163 của bộ luật này hay không lại không nói rõ.
Theo suy nghĩ của nhóm chúng em, xuất phát từ tài sản cầm giữ chính là đối
tượng của hợp đồng thì tài sản đó không nhất thiết phải là tài sản theo Điều 163
nêu trên mà mở rộng hơn là tài sản cầm giữ có giá trị và đảm bảo cho việc thực
hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
Do vậy, đối tượng được cầm giữ không nhất thiết phải là tài sản.
Vấn đề 3: Hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
Câu 1: Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp
đồng.
Trả lời:
-Giống nhau:
Hợp đồng bị hủy bỏ hoặc vô hiệu đều không có hiệu lực từ thời điểm giao kết
và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả bằng hiện
vật thì phải trả bằng tiền.
-Khác nhau:
Hợp đồng vô hiệu và hợp đồng bị hủy bỏ khác nhau ở căn cứ làm triệt tiêu hợp
đồng:
• Lý do dẫn đến vô hiệu hợp đồng tồn tại tại thời điểm giao kết ( như nhầm
lẫn, lừa dối, đe dọa tại thời điểm giao kết).
• Lý do dẫn đến hủy bỏ hợp đồng chỉ xuất hiện sau thời điểm giao kết, tức là
thời điểm thực hiện hợp đồng như vi phạm hợp đồng hay thỏa thuận của các
bên về vấn đề này.
Page 7
Câu 2: Trong vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa phúc thẩm đã
phân biệt hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng?
Trả lời
Trong vụ việc trên, đoạn của bản án cho thấy Tòa phúc thẩm đã phân biệt hợp
đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng là:
Đoạn 5 phần Xét thấy: “Từ những tài liệu nêu trên xét thấy thỏa thuận chuyển
nhượng phần diện tích lớn hơn 210m2 chưa có giấy tờ gì là vô hiệu [...] Bởi vậy,
bên bán có quyền xin hủy bỏ hợp đồng theo quy định tại Điều 425 của BLDS”.
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc phân biệt trên của Toà phúc thẩm.
Trả lời
Sự phân biệt trên của Tòa phúc thẩm là hợp lí, nhằm xác lập quyền của bên có
quyền (bên bán) khi bên có nghĩa vụ (bên mua) đơn phương vi phạm hợp đồng.
Như vậy, sẽ đảm bảo được lợi ích của bên có quyền cũng như ràng buộc pháp lí về
việc thực hiện nghĩa vụ của bên còn lại.
Câu 4: Phần chuyển nhượng nào giữa các bên được coi là hợp lệ? Đoạn
nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Phần chuyển nhượng diện tích 210m2 được coi là hợp lệ.
Câu 2, đoạn 5 phần Xét thấy: “…Phần chuyển nhượng 210m2 là hợp lệ”.
Câu 5: Đối với phần hợp lệ trên, bên mua có thực hiện đúng nghĩa vụ
thanh toán không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Đối với phần hợp lệ trên bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.
Đoạn 5, phần Xét thấy: “…Xong bên mua ký nhận giấy tờ (đất) ngày
18/07/2007 nhưng không trả tiền theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả tiền (Vi
phạm điều khoản chính của hợp đồng song vụ, vi phạm điều 290 BLDS)…”
Page 8
Câu 6: Nhìn từ góc độ văn bản, bên bán có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển
nhượng trên để đòi lại tài sản không khi bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh
toán? Vì sao?
Trả lời:
Nhìn từ góc độ văn bản, vấn đề “bên bán có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển
nhượng để đòi lại tài sản không khi bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán” còn phụ
thuộc vào nguồn luật được áp dụng. Cụ thể là:
Theo BLDS 2005, bên bán sẽ không có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng
trên. Vì BLDS không có quy định trường hợp bên bán được hủy bỏ hợp đồng khi
bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Luật thương mại 2005, bên bán có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng
trên. Vì: theo Khoản 4 Điều 312 Luật thương mại 2005: “Trừ các trường hợp miễn
trách nhiệm quy định tại Điều 194 của Luật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp
dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ
hợp đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”.
Mà vi phạm nghĩa vụ thanh toán là vi phạm nghĩa vụ cơ bản hợp đồng nên áp
dụng điểm b Khoản 4 Điều 312 bên bán không có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyền
nhượng khi bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Câu 7: Trong vụ việc nêu trên, Tòa án có cho phép bên bán hủy hợp đồng
không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Trong vụ việc trên, Tòa án cho phép bên bán hủy bỏ hợp đồng. Đoạn trong bản
án cho câu trả lời là:
Đoạn 5, phần Xét thấy: “…Bởi vậy, bên bán có quyền xin hủy bỏ hợp đồng
theo quy định tại Điều 425 của BLDS…”
Câu 8: Việc Tòa án viện dẫn Điều 425 BLDS để cho phép bên bán hủy bỏ
hợp đồng có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Page 9
Việc Tòa án viện dẫn Điều 425 BLDS để cho phép bên bán hủy bỏ hợp đồng
không thuyết phục. Bởi lẽ, theo Điều 425 BLDS, một bên hủy bỏ hợp đồng khi
thỏa mãn một số điều kiện:
Thứ nhất, bên kia “vi phạm hợp đồng”.
Thứ hai, vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã “thỏa thuận”
hoặc “pháp luật có quy định”.
Nhưng trong vụ việc trên, không thấy thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ trong hợp
đồng. Đồng thời, Bộ Luật Dân sự hiện hành cũng không có quy định về trường hợp
bên bán được hủy bỏ hợp đồng khi bên mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Do vậy, việc Tòa án viện dẫn Điều 425 BLDS là không thuyết phục.
Câu 9: Trong thực tiễn, có bản án/quyết định nào của Tòa án đã cho phép
bên bán hủy bỏ hợp đồng khi bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh
toán không? Nêu rõ các bản án/quyết định này.
Trả lời:
Trong thực tiễn đã tồn tại những bản án/quyết định của Tòa án cho phép bên
bán hủy bỏ hợp đồng khi bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Ví
dụ: bản án số 451/2006/DSPT ngày 29-9-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long. Cụ thể là:
“Quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Anh, bà Chói với ông
Điệp, về mặt pháp lý đã ký kết hợp đông theo mẫu và được Ủy ban nhân dân
huyện chấp thuận, đảm bảo về hình thức. Nhưng trên thực tế, ông Anh cho rằng
ông Điệp chưa trả tiền đất là 130 triệu đồng. Hội đồng xét xử kiểm tra tại phiên
tòa, phía ông Điệp không có căn cứ nào chứng minh đã trả đủ tiền đất 130 triệu
đồng cho ông Anh cũng như bà Chói và hiện tại đất do ông Anh quản lý sử dụng.
Do ông Điệp không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã cam kết nên
ông Anh đề nghị hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có căn cứ
pháp luật. Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng ngày 3-9-2003 theo khoản 1, Điều
425”. (Trích Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án,
nhà xuất bản chính trị quốc gia-Sự thật, tái bản lần thứ 3, trang 355-356)”.
Câu 10: Ý kiến của anh/chị về chế định hủy bỏ do không thực hiện đúng
hợp đồng ở Việt Nam hiện nay.
Trả lời:
Page
10
Chế định hủy bỏ hợp đồng do không thực hiện đúng hợp đồng ở Việt Nam hiện
nay còn nhiều bất cập. Cùng một chế định nhưng có những quy định rất khác nhau.
Cụ thể là:
Luật Thương mại đưa ra những căn cứ với tính khái quát cao nên cho phép hủy
bỏ bất kỳ hợp đồng nào (Khoản 4 Điều 312 Luật thương mại 2005), riêng pháp luật
Dân sự chỉ đưa ra một số trường hợp chuyên biệt.
Trong thực tiễn xét xử, Tòa
án đã đi xa hơn sự cho phép của BLDS như: khi một bên vi phạm hợp đồng thì bên
kia có quyền hủy bỏ hợp đồng mặc dù các bên không có thỏa thuận và pháp luật
không có quy định cụ thể vấn đề này. Thiết nghĩ, trong tương lai khi sửa đổi BLDS
ta cần có những quy định khái quát hơn về vấn đề này. Và “luật hóa án lệ” cũng là
một vấn đề cần nghĩ đến.
Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu
Câu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công
bố trên các tạp chí chuyên nghành luật từ đầu năm 2009 cho đến nay. Khi liệt
kê, yêu cầu viết theo trật tự theo tên của tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn
các thông tin sau: 1) Họ và tên tác giả (ví dụ: Lê Minh Hùng). 2) Tên bài viết
in nghiêng (ví dụ: Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi
trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam). 3) tên tạp chí (ví dụ:
Tạp chí nghiên cứu lập pháp). 4) Số và năm của tạp chí (ví dụ: Số 06/2009). 5)
Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr. 41 đến 51).
Trả lời:
Những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố trên các tạp chí
chuyên nghành luật từ đầu năm 2009 cho đến nay là:
•
(1)
(2)
(3)
Năm 2009:
TS. Đỗ Văn Đại, bình luận án hợp đồng vi phạm điều cấm ở Việt Nam, số 1
(50)/2009, từ tr. 55 đến 64.
Ths. Lê Minh Hùng, ảnh hưởng của yếu tố hình thức đối với hợp đồng, Tạp
chí Khoa học Pháp lý, số 1 (50)/2009, từ tr. 12 đến 23.
TS. Trần Thị Thùy Lắm, những vấn đề cần sửa đổi về hợp đồng lao động,
tạp chí luật học, số 9/2009, từ tr. 20 đến 26.
• Năm 2010:
Page
11
TS. Vũ Thị Lan Anh, Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ và những điểm khác biệt
cơ bản so với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 12/2010, tr. 11 đến
17.
(2) Trần Việt Anh, So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm
dân sự ngoài hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 (276)/2011, tr
38 đến 50.
(3) ThS. Đỗ Thành Công, nghĩa vụ hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng, tạp
chí khoa học pháp lí, số 4 (59)/2010, từ tr. 22 đến 30.
(4) Ngô Huy Cương, hiệu lực của chấp nhận giao kết hợp đồng theo BLDS
nhìn từ góc độ so sánh, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22 (183)/Tháng
11/2010, từ tr. 29 đến 35.
(5) Ts. Đỗ Văn Đại và GV Hoàng Thị Minh Tâm, Luật lao động nước ngoài
không có giấy phép: giá trị pháp lý của hợp đồng và vấn đề bồi thường thiệt
hại do người lao động gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (65)/2011, tr.
54 đến 64.
(6) Trần Phương Hạnh, hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn nhìn từ quy
định về xác định chất lượng hàng hóa trong hợp đồng,tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 12 (174)/7/2010, từ tr. 45 đến 51.
(7) Đoàn Đức Lương, những bất cập về thẩm quyền công chứng, chứng thực
các hợp đồng có đối tượng là bất động sản, tạp chí viện kiểm soát nhân dân,
số 15/Tháng 8/2010, từ tr. 32 đến 36.
(8) Nguyễn Văn Phái, sửa chữa,bổ xung các quy định liên quan đến đề nghị
giao kết hợp đồng trong BLDS, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22
(183)/tháng 11/2010, từ tr. 36 đến 43.
(9) TS. Lê Nết, cải tổ luận hợp đồng và sự ra đời của bộ nguyên tắc luật hợp
đồng Châu Á, tạp chí khoa học pháp lí, số 3 (58)/2010, từ tr. 53 đến 58.
(10) TS. Vũ Thị Hồng Yến, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp
đồng vay tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của BLDS
2005, tạp chí luật học, số 04 (119)/04/2010, từ tr. 40 đến 50.
(1)
•
Năm 2011:
Trần Việt Anh, bàn về dự án luật: Hoàn thiện pháp luận về trách nhiệm dân
sự trong hợp đồng, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13/198/Tháng 8/2011, từ
tr. 48 đến 54.
(2) ThS. Nguyễn Việt Khoa, chế tài vi phạm hợp đồng theo luật thương mại
năm 2005, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15/200/Tháng 8/2011, từ tr. 46
đến 51.
Câu 2: Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên.
(1)
Page
12
Trả lời:
Nguồn tài liệu trên được nhóm chung em khai thác tại “thư viện trường đại học
luật tp Hồ Chí Minh cơ sở quận 7” và “phòng A803-phòng tạp chí khoa học pháp
lí” của trường.
Bên cạnh, chúng em còn khai thác một số trang “web” của một số tạp chí
chuyên nghành luật như:
Tạp chí luật học (ĐH luật Hà Nội)
Tạp chí dân chủ và pháp luật
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tạp chí Tòa án nhân dân
Tạp chí Viện kiểm soát nhân dân
Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tạp chí cộng sản
Ngoài ra, chúng em còn khai thác một số địa chỉ “web” chứa thông tin liên quan
đến hợp đồng như:
(1)
Thạc sĩ Nguyễn Văn Phái – Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV
TP. Hồ Chí Minh, SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN
ĐẾN CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT
DÂN SỰ NĂM 2005, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, 31/5/2011, Trích
dẫn từ:
“Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng
của hợp đồng. Vì vậy, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế của Liên hiệp quốc năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng
thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 (PICC) và Bộ luật Dân sự
năm 2005 của Việt Nam (BLDS 2005) đều có những quy định về vấn đề
này. Qua những tình huống thực tiễn, chúng tôi tập trung phân tích, so sánh
những quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong các văn bản trên để đưa
ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLDS về đề nghị giao kết
hợp đồng.”
(2)
Trần Việt Anh - Công ty Luật TNHH Baker&McKenzie, Hoàn thiện pháp
luật về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
điện tử, 25/7/2011 Trích dẫn từ:
“Để thực hiện mục
Page
13
tiêu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận
của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm
phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc
tế”, các nội dung sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật
Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã nhận được sự quan tâm nhiệt tình của
các cơ quan, tổ chức và giới luật học. Bài viết nêu lên những bất cập và
đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định trách nhiệm dân sự (TNDS) trong
hợp đồng hay TNDS do vi phạm hợp đồng.”
(3)
(4)
Ts Nguyễn Minh Hằng, Giải thích hợp đồng, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp
điện tử 23/1/2010, Trích dẫn từ:
Tron
g nhiều trường hợp, khi soạn thảo hợp đồng, các bên sử dụng những thuật
ngữ không chính xác hoặc tối nghĩa, dẫn đến bất đồng về cách hiểu. Bài
viết đã giải thích những thuật ngữ đó theo những nguyên tắc nhằm bảo vệ
lợi ích giữa các bên.
Trần Minh Sơn, Hệ thống pháp luật hợp đồng hiện hành tại Việt Nam:
Những vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp. Cổng Thông tin điện tử Bộ
Tư pháp. Trích dẫn từ:
/>arget.n406.uP?uP_root=me&cmd=item&ID=13697 : “Đã từ lâu pháp luật
về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt
Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh
hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến
hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên
quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng
cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp
đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này
chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo
đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.”
Page
14
Page
15