ĐỀ TÀI 1: TRỤC LỢI BẢO HIỂM VÀ BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN HÀNH VI TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
A.Tổng quan về trục lợi bảo hiểm
I.Tìm hiểu chung về trục lợi bảo hiểm
1.khái niệm,đối tượng tham gia trục lợi bảo hiểm
1.1.Khái niệm trục lợi bảo hiểm
1.2.Đối tượng tham gia trục lợi bảo hiểm
2.Đặc điểm trục lợi bảo hiểm
3.phân loại các hình thức trục lợi bảo hiểm
4. Dấu hiệu của trục lợi bảo hiểm
5.Nguyên nhân ,Hậu quả
5.1. Nguyên nhân trục lợi bảo hiểm
5.2Hậu quả của trục lợi bảo hiểm
6.Nêu chế tài xử lý hành vi bảo hiểm
II.Thực trạng trục lợi bảo hiểm
1.tình hình trục lợi bảo hiểm ở 1 số nước trên thế giới
2.thực trạng trục lợi bảo hiểm ở việt nam
2.1.thực trạng trục lợi ở việt nam hiện nay
2.2.Biện pháp ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm
B.Liên hệ với hành vi trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới
và giải pháp ngăn chặn hành vi trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới
I.Sơ lược về trục lợi bảo hiểm xe cơ giới
1. Các hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới
2. Thực trạng,nguyên nhân ,hậu quả
2.1.Thực trạng
2.2 Nguyên nhân
II.Biện pháp ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở
Việt Nam hiện nay
C. KẾT LUẬN
Trang
3
4
4
4
4
5
6
7
10
11
11
12
13
14
14
16
16
20
21
21
21
24
24
25
27
32
PHẦN MỞ ĐẦU
‘Nền kinh tế của nước ta hiện nay ngày càng phát triển,kéo theo đó là đời
sống của người dân ngày một được nâng cao.Khi đó thì nhu cầu của con người
cũng ngày càng tăng lên,trong đó có nhu cầu được an toàn,phòng tránh các rủi
ro.Trong các biện pháp phòng chống rủi ro thì bảo hiểm là một trong số các
biện pháp hữu hiệu nhất.Những yếu tố này hứa hẹn một thị trường bảo hiểm
đầy tiềm năng,được các chuyên gia kinh tế thế giới đánh giá là mảnh đất màu
mỡ cho bảo hiểm phát triển trong tương lai.Thực tế trong những năm qua,thị
trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng được phát triển mạnh mẽ với tốc độ phát
triển hàng nam lên đến 20%/năm.Tuy nhiên,bên cạnh đó thì thị trường bảo
hiểm Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức,trong đó có những
thách thức từ các hành vi trục lợi bảo hiểm với những thủ đoạn ngày càng tinh
vi,phức tạp hơn,gây thất thoát lớn về tài chính cho cả Nhà nước và các doanh
nghiệp bảo hiểm.Trong đó,trục lợi nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là
phổ biến nhất. Trục lợi bảo hiểm đã và đàng diễn ra ở nhiều nghiệp vụ và đã
gây ra những hậu quả lớn đến khách hàng, doanh nghiệp và đối với toàn xã
hội. Qua đề tài : “Trục lợi bảo hiểm và biện pháp ngăn chặn hành vi trục lợi
trong bảo hiểm xe cơ giới .” chúng em muốn nêu lên nội dung liên quan tới
vấn đề trục lợi bảo hiểm để qua đó đưa ra những giải pháp phù hợp để cải
thiện tình hình trục lợi bảo hiểm ở Việt Nam , đặc biệt là truc lợi bảo hiểm xe
cơ giới để thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn .’
A.Tổng quan về trục lợi bảo hiểm
I.Tìm hiểu chung về trục lợi bảo hiểm
1.Khái niệm va đối tượng tham gia trục lợi bảo hiểm
1.1.Khái niệm trục lợi bảo hiểm
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về bảo hiểm, hầu như không có
một khái niệm mang tính học thuật đề cập đến vấn đề trục lợi bảo hiểm . Tuy
nhiên cụm từ “trục lợi bảo hiểm” được nhắc rất nhiều đến trong đời sống xã
hội ở Việt Nam. Theo quy dịnh tại thông tư 31/2004/TTC-BTC của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện nghị định 118 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm thì:
“Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa dối của tổ chức, cá nhân
nhằm thu lời bất chính khi tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả
tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm.”
Bên cạnh đó khái niệm này có rất nhiều sự thiếu sót và sự công bằng
trong hoạt động bảo hiểm. Đầu tiên là sự thiếu sót về hành vi trục lợi bảo
hiểm, chúng ta đều biết rằng hành vi trục lợi bảo hiểm có thể đến từ nhiều
nguyên nhân, lí do khác nhau đôi khi chỉ là hành vi vô ý do thông tin bất cân
xứng thường xuyên xảy ra, hoặc chỉ có thể là hành vi sai sót do việc cam kết
hợp đồng không rõ ràng. Tiếp theo là sự công bằng trong việc trục lợi bảo
hiểm giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Trên khái niệm của bộ
tài chính cũng không đề cập đến trách nhiệm của người bảo hiểm.
Trong nhiều tài liệu học thuật của các nước Anh, Mỹ thì quyền lợi của
người bảo hiểm thường được bảo vệ hơn so với người tham gia bảo hiểm. Cụ
thể là trong việc khai báo thông tin trong hợp đồng bảo hiểm trong giáo trình
“Bảo hiểm và Nguyên tắc thực hành” của TS. David Bland thì người tham gia
bảo hiểm chịu trách nhiệm hoàn toàn “All business transactions should be
undertaken in good fail. It effect that is saying that there should be an absense
of fraud or frauduienr intenrt. This does not mean that the seller is under any
duty to point out the defects in the goods he is selling”.
Tuy nhiên theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam thì lại có sự
công bằng giữa người bảo hiểm và tham gia bảo hiểm trong trường hợp kí kết
và giải thích hợp đồng . Cụ thể, Tại Điểm a, Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh
doanh bảo hiểm (Luật KDBH) quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ
giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền
và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm. Khoản 1 Điều 19 Luật KDBH cũng quy
định: Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các
điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo
hiểm phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó.
4
Ngược lại, bên mua bảo hiểm khi tham gia quan hệ bảo hiểm cũng phải
công bố các thông tin liên quan đến tài sản mà mình mua bảo hiểm. Theo quy
định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 18, Luật KDBH thì: “Bên mua bảo hiểm có
nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo
hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm”. Và để đảm bảo nguyên tắc
trung thực tuyệt đối của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm
cũng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin
mà họ đưa ra. Tuy nhiên, như đã trình bày, chỉ có doanh nghiệp bảo hiểm là
người biết rõ nhất sản phẩm bảo hiểm mà mình thiết kế, bao gồm những thông
tin nào là cần thiết cho việc hình thành nên quan hệ hợp đồng bảo hiểm, do
vậy, pháp luật cho phép bên mua bảo hiểm chỉ phải cung cấp các thông tin liên
quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm mà
thôi. Như vậy, nếu việc không cung cấp thông tin từ phía bên mua bảo hiểm là
do doanh nghiệp bảo hiểm không yêu cầu, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng
không được áp dụng trường hợp này để đơn phương đình chỉ thực hiện hợp
đồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 19, Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp
thông tin. Một định nghĩa công bằng hơn và bao hàm hơn để tham khảo cho
bài khóa luận này được nêu ra dưới đây.
“Trục lợi bảo hiểm là các hành vi vi phạm các nguyên tắc bảo
hiểm của các chủ thể tham gia trong hợp đồng bảo hiểm nhằm giành
được những quyền lợi riêng tham gia của nhiều bên tham gia, từ nhân
viên môi giới, bên giám định tổn thất, người tham gia bảo hiểm’’.
Vì vậy trong bảo hiểm nói riêng phải hiểu rủi ro đạo đức là trường hợp
đặc biệt hơn, xảy ra do sự tìm kiếm những lợi ích riêng của người thiếu đạo
đức.
+Ví dụ :
Chủ một chiếc xe Accura mua bảo hiểm ngày 28/12/2008 và báo tai nạn
xảy ra tại Lâm Đồng. Trong biên bản tai nạn được CA Lâm Đồng ký vào ngày
17/1/2009 nhưng lại ký dấu treo. Toàn bộ thiệt hại của chiếc xe này khoảng
200 triệu đồng. Tuy nhiên, khi giám định tại garage thì phát hiện chiếc xe này
bị đóng bụi bẩn như đã nằm tại garage lâu lắm. Sau khi kiểm tra sổ của bảo vệ
garage thì biết chiếc xe này được kéo về garage ngày 27/12/2008, tức là thời
điểm trước ngày mua bảo hiểm. Như vậy, sau khi xe bị tai nạn, chủ xe mới gắn
biển số xe bị hư hại này vào chiếc xe khác cùng loại còn nguyên vẹn và mua
bảo hiểm để được đền bù cho chiếc xe bị thiệt hại.
1.2.Đối tượng thực hiện hành vi trục lợi bảo hiểm bao gồm:
a. Hành vi trục lợi bảo hiểm của bên được bảo hiểm
b. Hành vi trục lợi bảo hiểm của bên trung gian bảo hiểm
c. Hành vi trục lợi của cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp bảo hiểm.
d. Hành vi tiếp tay cho trục lợi bảo hiểm của một số đối tượng khác
5
2.Đặc điểm của trục lợi bảo hiểm
Ta thấy rằng : “Bản chất của bảo hiểm là hệ thống quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái
giá trị nhằm hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm cho mục đích bù đắp
tổn thất do rủi ro bất ngờ gây ra cho bên được bảo hiểm, đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất được thường xuyên và liên tục” ,thì bảo hiểm thể
hiện là một nhánh nhỏ trong hệ thống tài chính, do vậy trục lợi bảo hiểm cũng
mang hai đặc điểm cơ bản về sự thất bại trong hệ thống tài chính do thông tin
bất cân xứng đó là lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
- Lựa chọn đối nghịch: là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra
trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Chọn lựa đối nghịch xảy ra ở các thị trường
khi những người đi vay có khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn –
tức là rủi ro không hoàn thành trách nhiệm theo hợp đồng. Trong việc trục lợi
bảo hiểm thì lựa chọn đối nghịch được thể hiện khi mà người tham gia bảo
hiểm kê khai về đối tượng bảo hiểm một cách không trung thực nhằm giảm
phí bảo hiểm xuống mức thấp nhất, mặc dù người bảo hiểm đã kiểm tra nhưng
không đánh giá hết được những gian lận này. Đôi khi , trong bảo hiểm điều
này diễn ra ngược lại, chẳng hạn như người tham gia bảo hiểm không có hiểu
biết về bảo hiểm nhưng lại tham gia bảo hiểm, mặc dù không có nhu cầu rõ
ràng.
Tuy nhiên trong một số nước ở Anh, Mĩ thì việc chọn lựa đối nghịch
được quy định rõ là chịu trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm vì không ai
hiểu nhu cầu bảo hiểm hơn người tham gia bảo hiểm, mặc dù sản phẩm bảo
hiểm lại do người bảo hiểm cung cấp.
- Rủi ro đạo đức: là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau
khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính xảy ra
khi một trong hai bên phải chịu một rủi ro là phía đối tác có ý muốn thực hiện
những họat động không đúng mục đích của bên còn lại. Đây là loại rủi ro phát
sinh khi ý thức chủ thể tham gia họat động tài chính bị suy thoái. Trong bảo
hiểm thì rủi ro đạo đức xảy ra một cách tinh vi hơn với sự trợ giúp của một
bên liên quan nào đấy, thường là bên giám định tổn thất bảo hiểm. Tuy vậy
trong một vài trường hợp trong bảo hiểm thì rủi ro đạo đức được chuẩn bị rất
lâu trước khi kí kết hợp đồng với sự tham gia của nhiều bên tham gia, từ nhân
viên môi giới, bên giám định tổn thất, người tham gia bảo hiểm. Vì vậy trong
bảo hiểm nói riêng phải hiểu rủi ro đạo đức là trường hợp đặc biệt hơn, xảy ra
do sự tìm kiếm những lợi ích riêng của người thiếu đạo đức.
6
3. Phân loại các hình thức trục lợi bảo hiểm
Căn cứ để phân lọai trục lợi bảo hiểm thường được phân loại theo các
tiêu chí là: Hình thức trục lợi, đặc điểm của trục lợi và lĩnh vực trục lợi.
a) Căn cứ vào lĩnh vực trục lợi:
- Trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ: Là hình thức trục lợi bảo
hiểm liên quan đến sức khỏe, tuổi thọ và tài chính của con người. Đối tượng
bảo hiểm khó có thể đánh giá tổn thất một cách chính xác và có nhiều trường
hợp đặc biệt trong hợp đồng. Hình thức trục lợi bảo hiểm thường thường
không được rõ ràng rất khó phân xử.
- Trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ: là tất cả các hình thức
trục lợi bảo hiểm còn lại, có một đối tượng bảo hiểm rõ ràng, có thể đánh giá
được tổn thất một cách khách quan.
b) Căn cứ vào đặc điểm trục lợi
- Trục lợi do lựa chọn đối nghịch: là hình thức trục lợi xảy ra trong
việc kê khai trong quá trình bảo hiểm không đúng với sự thật của các chủ thể
bảo hiểm. Đôi khi những vụ trục lợi bảo hiểm do thông tin bất đối xứng chỉ là
do vô ý hoặc thiếu hiểu biết về bảo hiểm, tuy nhiên khi sự việc xảy ra thực tế
không phải là lí do được chấp nhận.
- Trục lợi do rủi ro đạo đức: là hình thức trục lợi dựa trên sự hiểu biết
sâu sắc về chính sách bảo hiểm của công ty cũng như luật pháp bảo hiểm và
môi trường kinh doanh bảo hiểm. Trục lợi bảo hiểm theo hình thức này
thường được chuẩn bị kĩ lưỡng với các tình tiết và kịch bản lên sẵn. Do vậy rất
khó khăn để phát hiện và xử lí triệt để.
c) Căn cứ theo hình thức trục lợi bảo hiểm:
- Khai tăng trị giá tổn thất
Hành vi này thường được thực hiện bằng cách lợi dụng tổn thất xảy ra để
làm hư hỏng thêm tài sản được bảo hiểm nhằm được trả tiền bồi thường cao
hơn, hoặc làm hư hỏng toàn bộ tài sản đã được bảo hiểm để được bồi thường
tài sản có trị giá lớn hơn. Một cách khác là tổn thất ít, lẽ ra không được bồi
thường, nhưng làm cho tổn thất vượt quá mức miễn thường để được bồi
thường.
Ví dụ: Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển quy định: “Mức
miễn thường là 0,35% trách nhiệm qua cân tại cảng”. Trên thực tế, trọng lượng
hàng hóa bị thiếu là 0,34% nên không được bồi thường. Bên mua bảo hiểm có
thể trục lợi bảo hiểm qua việc “tìm cách” nâng con số này lên trên 0,35% để
được bồi thường.
7
- Đã xảy ra tổn thất mới đi mua bảo hiểm
Hình thức trục lợi bảo hiểm này không phải là hiếm. Đối tượng bảo hiểm
(máy móc, phương tiện vận chuyển…) đã bị tổn thất tức là sự kiện bảo hiểm đã
xảy ra, bên mua bảo hiểm mới đi giao kết hợp đồng bảo hiểm để được bồi
thường hoặc được trả tiền bảo hiểm.
Ví dụ: Tàu biển đã bị đắm, toàn bộ hàng hóa bị tổn thất, chủ hàng mới đi
mua bảo hiểm. Thực tế cho thấy, có khi người bán bảo hiểm không biết là tàu
đã bị đắm, nhưng phần lớn là có sự “bắt tay… bẩn” với nhau để ghi ngày giao
kết hợp đồng bảo hiểm trước ngày xảy ra đắm tàu, làm cho hợp đồng bảo hiểm
có giá trị pháp lý. Đúng ra là hợp đồng này vô hiệu vì sự kiện bảo hiểm đã xảy
ra, đối tượng bảo hiểm (ở đây là hàng hóa) không còn tồn tại (Điều 22, Luật
Kinh doanh bảo hiểm).
- Bảo hiểm trùng
Bảo hiểm trùng là việc bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm
với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng,
với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm. Trong trường hợp này (bảo hiểm
trùng), theo Luật Kinh doanh bảo hiểm thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mỗi
doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền
bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà
bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp
bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản. Khi xảy ra tổn thất
cho tài sản mà rủi ro gây ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và trong thời gian
có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, do các doanh nghiệp bảo hiểm không biết
bên tham gia bảo hiểm đã “bắt cá nhiều tay” nên cùng trả tiền bảo hiểm mà kết
quả là bên mua bảo hiểm được bồi thường gấp nhiều lần trị giá tài sản.
Ví dụ: Một tài sản trị giá 10 tỷ đồng được mua bảo hiểm ở 3 doanh
nghiệp bảo hiểm với số tiền bảo hiểm ở mỗi doanh nghiệp là 10 tỷ đồng. Khi
có tổn thất toàn bộ, 3 công ty phải trả 30 tỷ đồng, trong khi lẽ ra chỉ phải cùng
nhau chi trả tổng cộng là 10 tỷ đồng.
- Cố ý gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm
Đây là hình thức trục lợi bảo hiểm rất tinh vi, có kiến thức nghiệp vụ cao
về bảo hiểm, được chuẩn bị kỹ lưỡng, số tiền trục lợi thường lớn, rất khó điều
tra hoặc tìm ra được sự thật thì tốn nhiều công sức, tiền của. Một cách khá phổ
biến là tìm cách hủy hoại tài sản trong một hoàn cảnh được dàn dựng như thật.
Ví dụ như cố ý đánh đắm tàu biển trong một tình huống được tạo ra rất “hợp
lý” (thời tiết xấu, hỏng máy, cố ý đâm va…). Tất nhiên là kẻ trục lợi nắm vững
mọi điều khoản của hợp đồng bảo hiểm để chắc chắn rủi ro không nằm trong
trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng để
không bị từ chối bồi thường. Kiểu trục lợi này “rất nguy hiểm”, với hậu quả
nghiêm trọng về mặt tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm khi có thông đồng
giữa bên mua bảo hiểm và những “con sâu” trong doanh nghiệp bảo hiểm
8
nâng giá trị tài sản được bảo hiểm trước khi tham gia bảo hiểm.
Chẳng hạn như, một tàu biển trị giá 30 triệu đô-la, được “bắt tay” nâng lên 32
triệu đô-la; sau đó tàu bị đắm rất “hợp lý” và “ngẫu nhiên”, số tiền bảo hiểm
phải trả là 32 triệu đô-la (gian lận 2 triệu đô-la!). Một cách làm khác là thay thế
những thiết bị đắt tiền của tài sản được bảo hiểm bằng những đồ “rởm” sau đó
hủy hoại tài sản đó. Dĩ nhiên là số tiền bồi thường sẽ được tính cho đồ “xịn”
như khi tham gia bảo hiểm. Cách trục lợi này thường xảy ra với các tài sản có
giá trị cao, có lắp đặt thiết bị đắt tiền như tàu thủy, xe chuyên dụng
- Khai ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm trước thời hạn hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm phải có thời hạn bảo hiểm, tức là nếu trong khoảng
thời gian đó có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền
bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.
Ví dụ: Một “Giấy chứng nhận bảo hiểm môtô-xe máy” có ghi thời hạn
bảo hiểm: 24 tháng, từ 8 giờ 50 phút ngày 28-9-2005 đến 8 giờ 50 phút ngày
28-9-2007. Nếu tai nạn cho người đi xe máy xảy ra ngày 29-9-2007 thì kẻ trục
lợi bảo hiểm sẽ “đạo diễn” sao cho tai nạn xảy ra trước 8 giờ 50 phút ngày 289-2007.
- Lập hồ sơ giả
Cách trục lợi này thường phải có “tay trong” ở các doanh nghiệp bảo
hiểm và “bắt tay” với đường dây sửa chữa đối tượng bảo hiểm là tài sản như
phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị… Tuy không có tổn thất thực tế đối với
đối tượng bảo hiểm nhưng vẫn có đầy đủ chứng từ hợp lệ (hóa đơn sửa chữa,
mua vật tư, phụ tùng…) với đầy đủ chữ ký thật, dấu thật, chứng từ thật hoàn
toàn nhưng chỉ có “sự thật” là… giả.
- Tạo dựng hiện trường giả
Trục lợi bảo hiểm theo cách này thường biểu hiện ở việc tạo ra một hiện
trường như… thật. Ví dụ: Giả vờ bị mất cắp hàng hóa thì khóa cửa kho bị phá,
niêm phong hầm hàng bị mở, mái kho bị dỡ ra… Có trường hợp còn “đóng
kịch” là bị cướp tài sản, bị trói, nhét giẻ vào miệng; tự đốt nhà kho sau khi tẩu
tán tài sản…, thay hàng hóa, phương tiện vận chuyển bị hư hỏng nhưng không
tham gia bảo hiểm bằng hàng hóa, phương tiện vận chuyển có tham gia bảo
hiểm để lập sơ đồ, bản ảnh, bản vẽ… nhằm hợp lý hóa hồ sơ.
Ví dụ: như đánh tráo biển số của xe ôtô không tham gia bảo hiểm nhưng bị tai
nạn bằng biển số của xe có tham gia bảo hiểm nhưng không bị tai nạn… Trong
bảo hiểm nhân thọ, đã xảy ra việc tự gây thương tích như gẫy chân, tay, vỡ
đầu… sau khi đã tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm rất lớn, nhưng khi
doanh nghiệp bảo hiểm nghi ngờ, phối hợp với cảnh sát giao thông để dựng lại
hiện trường tai nạn thì thấy không thể… gẫy chân, tay, vỡ đầu được vì khai là
do ngã xe máy mà xe và mặt đường không có một vết xây sát nào và khai thời
gian ngã vào giờ tan tầm mà lại không có ai trông thấy để làm chứng.
9
4. Dấu hiệu của trục lợi bảo hiểm:
Theo thống kê của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiện tượng khách hàng có
hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm mục đích trục lợi bảo
hiểm đang diễn ra ngày càng phổ biến và thường biểu hiện qua một số đặc
điểm sau:
- Người được bảo hiểm chết do các bệnh có thời gian tiến triển bệnh lí
kéo dài như: ung thư, lao, xơ gan, suy thận, suy tim...
- Người được bảo hiểm chết khi hợp đồng có hiệu lực trong những năm
đầu.
- Người được bảo hiểm đã điều trị bệnh ( thuộc trường hợp những bệnh
không chấp nhận bảo hiểm) trước khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực dưới tên
người khác.
- Hợp đồng có số tiền bảo hiểm lớn so với khả năng tài chính, hoàn cảnh
kinh tế của người tham gia bảo hiểm.
- Rủi ro xảy ra liên quan đến nhiều hợp đồng bảo hiểm được phát hành
vào những thời điểm gần nhau.
- Quan hệ giữa người tham gia bảo hiểm, người được hưởng quyền lợi
bảo hiểm và người được bảo hiểm ít ràng buộc về mặt huyết thống.
- Người yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm không cung cấp các thông
tin về quá trình điều trị bệnh trước lúc tử vong, kê khai chung chung về nguyên
nhân chết như: chết do bệnh già, chết đột tử tại nhà, không rõ nguyên nhân,
không có ai chứng kiến.
- Các thông tin về rủi ro xảy ra và quá trình cấp cứu, điều trị không logic
giữa các giấy tờ và chứng từ do người yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm
cung cấp.
- Khai báo rủi ro xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt: tự ngã, tai nạn xảy ra
trong đêm không có mặt của công an...
Trong số những dấu hiệu kể trên, hiện tượng trục lợi bảo hiểm thường
xảy ra phổ biến nhất là việc khách hàng kê khai không trung thực về tình trạng
sức khỏe của người được bảo hiểm trong giấy yêu cầu bảo hiểm- một phần của
hợp đồng bảo hiểm.
10
5.Nguyên nhân ,Hậu quả
5.1. Nguyên nhân trục lợi bảo hiểm
*Về phía doanh nghiệp
_Công tác tuyển dụng, đào tạo, quản lý đại lý, cán bộ còn bị buông lỏng;
quy trình kiểm tra, kiểm soat nội bộ; các quy trình nghiệp vụ, quy trình ra
quyết định kinh doanh, quản lý tài chính, hách toán, kế toán, đầu tư, giải quyết,
bồi thường…chưa chặt chẽ và còn có những lỗ hổng có thể bị kẻ xấu lợi dụng;
Ví dụ : Do lỗi vô tình hay cố ý của các nhân viên bảo hiểm. Họ có thể vô
tình ghi sai ngày tham gia bảo hiểm trên giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc do
thiếu trách nhiệm đã không đánh giá đúng mức độ trầm trọng của rủi ro cũng
có thể nhân viên bảo hiểm thông đồng với khách hàng để trục lợi bảo hiểm. Họ
có thể đánh giá cao mức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách
hàng lợi dụng các kẽ hở về giấy tờ, về thủ tục giám định, bồi thường để trục
lợi.
_Vai trò kiểm tra, giám sát của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các
cổ đông đối với các hoạt động hàng ngày của giám đốc doanh nghiệp còn chưa
được phát huy đầy đủ;
_Giữa các doanh nghiệp bảo hiểm chưa có cơ chế hợp tác, phối hợp, chia
sẻ thông tin hoặc tuyên truyền nâng cao nhận thức củ người dân và tranh thủ sự
ủng hộ công luận.
_Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng chịu sức ép về thời hạn giải
quyết bồi thường dẫn đến không có đủ thời gian và nguồn lực cần thiết để điều
tra đầy đủ về những vụ có dấu hiệu trục lợi hoặc có nghi vấn trước khi quyết
định việc trả tiền bảo hiểm.
* Về phía người tham gia bảo hiểm
_Một bộ phận người tham gia bảo hiểm không ý thức được trách nhiệm
đạo đức và pháp lý của mình nên đã cố tình kê khai khống mức độ thiệt hại,
hay lợi dụng những kẽ hở trong hợp đồng bảo hiểm hay quy trình nghiệp vụ
của DNBH để thu lợi bất chính.
_Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian
lận với những người có liên quan như y, bác sỹ, những người làm chứng trong
các tai nạn, rủi ro… Ví dụ như mua chuộc bác sỹ để dựng lên bệnh án hoặc
làm giả, kê những đơn thuốc đắt tiền để đòi được số tiền bảo hiểm nhiều hơn…
khá phổ biến trong loại hình bảo hiểm con người
* Về phía các nhà cung cấp dịch vụ
Một số tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cho bên mua bảo hiểm hay
người được bảo hiểm đã vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho hành vi trục lợi bằng
những việc làm của mình (ví dụ cấp giấy chứng nhận thương tật, cấp giấy
chứng từ trong đó nguyên nhân dẫn đến tử vong không phù hợp với thực tế…)
11
* Ngoài ra còn các nguyên nhân sau :
+ Do những kẽ hở pháp luật và do thực hiện pháp luật không nghiêm,
thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý nên nhiều người nảy sinh hành vi gian
lận.
-Ví dụ các nghiệp vụ bảo hiểm mà luật kinh doanh bảo hiểm quy định
bắt buộc như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba, nhưng các chủ xe không tham gia bảo hiểm vì không có sự kiểm tra xử
phạt.
+ Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất là
những văn bản pháp quy về bảo hiểm. Nhiều người dân nhận thức còn rất mơ
hồ về bảo hiểm và họ cho rằng quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi. Cho nên
đã có rất nhiều trường hợp nói sai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo
hiểm.
+ Không gian địa lý cũng là nơi phát sinh gian lận bảo hiểm. Đối với
những tổn thất xảy ra ở xa, hoang vắng, ít người qua lại (đối với bảo hiểm xe
cơ giới, tàu thuyền), khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết
hiện trường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là rất dễ xảy ra.
5.2.Hậu quả của trục lợi bảo hiểm
_Đối với DNBH, hậu quả có thể tính toán được do hành vi trục lợi bảo
hiểm là làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh bị hạn chế. Thậm chí còn gây
tác động xấu đến uy tín của doanh nghiệp.Khi lợi nhuận của lợi nhuận của
công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho Ngân sách nhà nước cũng
phải giảm. Điều này kéo theo việc đầu tư cho xã hội cũng giảm và lợi ích
chung của xã hội bị mất đi là không nhỏ
_Đối với khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền
lợi. Bởi vì, phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để chi trả cho cả những
khoản tiền gian lận không được phát hiện ra.Do vậy, những DNBH nào có
nhiều vụ gian lận sẽ có mức phí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên
quyết chống và loại trừ những kẻ trục lợi bảo hiểm.
_Đối với xã hội, gian lận bảo hiểm là một nguy cơ về đạo đức, làm tha
hóa, biến chất cán bộ Nhà nước, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lành
mạnh và thiếu sự công bằng. Từ đó còn dẫn đến tình trạng coi thường luật
pháp, gây rối trật tự an ninh xã hội.
-Hành vi gian lận không chỉ ảnh hưởng tới từng công ty riêng lẻ mà nó
làm suy yếu cả ngành bảo hiểm nói chung. Mà như đã biết bảo hiểm là ngành
kinh tế có vai trò ổn định kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư nước ngoài. Vì vậy,
việc gian lận đã gián tiếp ảnh hưởng xấu tới việc thu hút đầu tư nói riêng và sự
phát triển kinh tế xã hội nói chung.
12
-Bảo hiểm có vai trò thành lập nên một quỹ tài chính để giúp dỡ những
người gặp rủi ro. Vì vậy nếu hành vi gian lận trot lọt thì những kẻ phi pháp lại
được lợi. Điều này gây ra sự bất công trong xã hội.
-Nền kinh tế nước ta đang phát triển, thị trường bảo hiểm còn non trẻ nên
những hành vi gian lận cũng mới ở dạng bộc phát, lẻ tẻ. Nhưng nếu không có
những biện pháp ngăn chặn kịp thời thì các hành vi này sẽ phát triển thành các
hành vi tội phạm có tổ chức. Đồng thời sẽ tạo ra tâm lý coi thường kỷ cương
và pháp luật.
-Hậu quả to lớn nhất là nguy cơ về đạo đức. Bởi tính chất phát triển và
quy mô tổ chức của những vụ trục lợi sẽ kéo theo sự tha hóa, biến chất của đội
ngủ nhân viên các ngành công an, Viện kiểm soát, y tế…
Tóm lại, hành vi trục lợi bảo hiểm đã gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ
hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm mà còn ảnh hưởng tới đạo đức xã
hội và pháp luật của Nhà nước. Cuộc chiến chống lại những hành vi gian lận
này đang gặp rất nhiều khó khan. Đây không chỉ là vấn đề riêng của ngành bảo
hiểm nước ta mà của tất cả các nước trên thế giới.
6.Nêu chế tài xử lý hành vi bảo hiểm
Xét dưới góc độ pháp lý,trục lợi bảo hiểm là hành vi vi phạm pháp
luật.Do đó tùy theo tính chất,mức độ vi phạm,hậu quả gây ra,phương thức và
thủ đoạn thực hiện... mà người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị xử lí về dân
sự,xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.Về dân sự,theo quy định tại Điều 17 luật kinh doanh bảo hiểm,khi phát
hiện hành vi trục lợi,DNBH có quyền :
- Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường
cho người được bảo hiểm.
- đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm
đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài ra,theo quy định của Bộ Luật dân sự,hợp đồng dân sự được giao
kết do bị lừa dối có thể dẫn đến hợp đồng bị tuyên là vô hiệu và “ không làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên; các bên khôi phục tình trạng
ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây ra thiệt hại phải
bồi thường. Tùy từng trường hợp, xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài
sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thế bị tịch thu theo quy định của
pháp luật”.
13
2. Về hành chính, đối với những hành vi trục lợi bảo hiểm không có đủ
các điều kiện để cấu thành tội phạm( chẳng hạn mức độ không nghiêm trọng,
vi phạm lần đầu, đã khắc phục được hậu quả v.v. ), người thực hiện hành vi
trục lợi có thể phải chịu các chế tài hành chính thèo quy định tại Điều 15, nghị
đính 118/2003/NĐ-CP ngày 13/10/2003 của Chính phủ như sau:
“1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng tới 5.000.000 đồng
đối với cá nhân , tổ chức có hành vi trục lợi nhận tiền bồi dưỡng, tiền bảo hiểm
“ 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng tới 10.000.000 đồng đối với cán bộ,
nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lí bảo hiểm hay doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm có 1 trong những hành vi sau đây
a) Yêu cầu người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm trả thù lao, hay
các quyền lợi vật chất khác trái pháp luật trong quá trình giải quyết bồi thường,
trả tiền bảo hiểm;
b) Đồng lõa với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải
quyết bồi thường bảo hiểm. Trả tiền bảo hiểm trái pháp luật.
“ 3.Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do các hành vi vi phạm
hành chính gây ra được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”
3.Về hình sự, tùy vào các tình tiết của từng vụ việc cụ thể, hành vi trục
lợi bảo hiểm có thể bị khép vào các tội tham ô (Điều 278), tội hối lộ (điều 279)
v.v. với khung hình phạt có thể lên đến chung thân hoặc tử hình.
II.Thực trạng trục lợi bảo hiểm
1.Tình hình trục lợi bảo hiểm ở 1 số nước trên thế giới.
Có một thực tế là thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển, mức độ trục
lợi càng nghiêm trọng, thủ đoạn càng tinh vi khiến cho việc phát triển, điều tra,
truy tố, xét xử càng trở nên khó khăn.
Theo đánh giá của các tổ chức nghiên cứu về trục lợi bảo hiểm ở Mỹ, nếu
trục lợi bảo hiểm là một doanh nghiệp thì doanh nghiệp này sẽ đứng đầu trong
danh sách 500 công tý lớn nhất thế giới về doanh thu theo kết quả xếp hạng
của Tạp chí Fortune.
14
Dưới đây là tóm tắt mức độ thiệt hại do trục lợi bảo hiểm gây ra tại một
số nước trên thế giới.
Nước
Nam Phi
Đức
Thụy Sỹ
New
Zealand
Mỹ
Canada
Ireland
Châu Âu
Tổn thất do trục lợi bảo hiểm gây ra
8-35% số kiếu nại bảo hiểm được các doanh nghiệp bảo hiểm chi
trả có đấu hiệu trục lợi, gây ra thiệt hại khoảng 2-3 tỷ Rand
(khoảng 300-420 triệu USD).
10-30% số phí bảo hiểm thu được bị thất thoát do trục lợi trong
khâu bồi thường.
10% quyền lợi bảo hiểm đã được cho trả cho các khiếu nại giả
mạo.
Trên 50% số khiếu nại bồi thường có yếu tố trục lợi.
Chỉ tính riêng các vụ đã phát hiện, mỗi năm số tiền trục lợi bảo
hiểm đã lên tới 96 tỷ đô la; do trục lợi bảo hiểm, mỗi hộ gia đình
Mỹ phải đóng thêm từ 200-300USD phí bảo hiểm/ năm.
1/3 số khiếu nại về tai nạn xe cơ giới có yếu tố trục lợi.
¼ số vụ hỏa hoạn là do hành vi cố ý đốt nhà để dược nhận tiền
bảo hiểm
Hàng năm số gia đình trục lợi khoảng 30 tỷ USD, trục lợi trong
bảo hiểm ý tế nên tới 54 tỷ USD
10-15% khiếu nạn bồi thường được chi trả có đấu hiệu trục lợi.
Trục lợi bảo hiểm làm tăng phí bảo hiểm phi nhân thọ lên tới 1,3
tỷ USD hàng năm.
Tổn thất do trục lợi bảo hiểm đối với ngành bảo hiểm lên tới 100
triệu bảng
Số tiền trục lợi bảo hiểm hàng năm của 25 nước thành viên
không dưới 8 tỷ euro, tương đương 2% doanh thu phí hàng năm
của khu vực này.
Nhìn chung, pháp luật các nước coi hành vi trục lợi bảo hiểm là nghiêm
trọng và quy định những chế tài xử phạt nghiêm khắc. Điều 131 Luật bảo hiểm
Trung quốc quy định:” người giao kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo
hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm có hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ bị coi là tội
phạm và chịu sự điều tra của các cơ quan chức năng theo quy định của pháp
luật”.
15
Theo luật pháp của bang California (Mỹ), chỉ riêng người tham gia bảo
hiểm đưa ra các khiếu nại dối trá đã bị coi là tội có thể phạt tù đến 5 năm với
số tiền phạt tù là 50.000 USD, còn việc nhận tiền bồi thường trục lợi sẽ bị phạt
với tội danh là trộm cắp với những tình tiết tăng nặng. Theo số liệu do Liên
minh chông Trục lợi bảo hiểm của Mỹ công bố tháng 12 năm 2003, chỉ tính
riêng năm 2002, các cơ quan quản lý bảo hiểm tiểu bang ở Mỹ đã điều tra
33.000 vụ trục lợi bảo hiểm, trong đó đưa ra truy tố, xét xử hình sự 2500 vụ.
Ở những nước có tình trạng trục lợi phát triển, số vụ trục lợi nhiều, tính
chất nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi, người ta thường thành lập những cơ quan
chuyên trách trong cơ cấu quản lý bảo hiểm. Điển hình cho xu hướng quản lý
này là Mỹ. Để phục vụ cho công tác phòng chống trục lợi, người ta đã thành
lập Phòng Giải quyết trục lợi trực thuộc cơ quan quản lý ở mỗi tiểu bang, bao
gồm các nhân viên là các sĩ quan cảnh sát, điều tra viên chuyên nghành hay
những người có nhiều kinh nhiệm trong công tác điều tra, đánh giá tổn thất,
giải quyết các bồi thường tại các DNBH. Cơ quan này phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện điều tra truy tố và xét xử
những hành vi trục lợi bảo hiểm.
2.Thực trạng trục lợi bảo hiểm ở việt nam
2.1.Thực trạng trục lợi ở việt nam hiện nay
16
Hiện nay vấn đề trục lợi bảo hiểm đã trở thành một vấn đề nhức nhối, một
thách thứ với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam. Trục lợi bảo hiểm đã
và đang diễn ra ở nhiều nghiệp vụ bảo hiểm. Trong việc cấp đơn bảo hiểm,
do tính minh bạch chưa cao nên người tham gia bảo hiểm có xu hướng trục
lợi Do vô tình hay cố ý cac nhân viên bảo hiểm có thể ghi sai ngày tham gia
bảo hiểm trên giấy chứng nhận chứng nhậ bảo hiểm hoặc do thiếu trách
nhiệm đã không đánh giá được đầy đủ, chính xác mức độ trầm trọng của rủi
ro. Cũng có thể nhân viên hoặc đại lý bảo hiểm thông đồng với khách hàng
trục lợi bảo hiểm: đánh giá mức độ tổn thất cao hơn thực tế hoặc “vẽ
đường”…cho khách hàng lợi dụng kẽ hở về giấy tờ, thủ tục giám định để
trục lợi…
17
_Tình trạng trục lợi bảo hiểm tại Việt Nam là khá phổ biến nhưng để phát
hiện được lại rất khó khăn. Trong những trường hợp này, giải pháp duy nhất
được áp dụng hiện nay là công ty bảo hiểm hủy hợp đồng và việc chấm dứt
hợp đồng bảo hiểm là hợp pháp và được quy định trong Điều 23, Luật Kinh
doanh bảo hiểm.
_Tại các nước phát triển, việc chấm dứt bảo hiểm trước thời hạn của các
công ty bảo hiểm đối với những khách hàng không trung thực, rủi ro cao,
không có ý thức bảo vệ tài sản của mình là việc bình thường. Riêng tại thị
trường Việt Nam, việc đơn phương chấm dứt bảo hiểm của các công ty bảo
hiểm thường ít xảy ra, mặc dù điều này luôn có qui định trong hợp đồng bảo
hiểm
_Tại một cuộc hội thảo chuyên đề về trục lợi bảo hiểm do Hiệp hội Bảo
hiểm Việt Nam tổ chức, đại diện Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã bày tỏ sự lo
ngại về tình trạng trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm có nguy cơ tăng cao. Năm
2010, Bộ Tài chính tiến hành khảo sát tại 5 doanh nghiệp có thị phần bảo hiểm
lớn nhất ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, số tiền bồi thường bảo hiểm do các
hành vi trục lợi đã lên tới 10% tổng chi phí bồi hoàn cho khách hàng mỗi năm.
Con số này được cho là cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.
_ Số liệu thống kê cho thấy, trong giai đoạn từ 2007-2011, tổng số vụ
trục lợi bảo hiểm tại thị trường Việt Nam bị phát hiện là 44.704 vụ, với tổng số
tiền là hơn 410 tỉ đồng , bình quân mỗi năm gần 9 nghìn vụ. Tổng số tiền bị
trục lợi trong thời gian nói trên là hơn 410 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực bảo hiểm
phi nhân thọ là 3.973 vụ, với tổng số tiền là 149,95 tỷ đồng và bảo hiểm nhân
thọ là 40.731 vụ, với tổng số tiền là 261,812 tỷ đồng. Ông Trịnh Thanh Hoan
cho biết, bảo hiểm xe cơ giới và con người là 2 lĩnh vực có số vụ trục lợi bảo
hiểm nhiều nhất và phức tạp nhất. Nguyên nhân là do có số đông người tham
gia bảo hiểm và có nhiều hồ sơ yêu cầu bồi thường nhất khiến các công ty bảo
hiểm khó tổ chức giám định chính xác nguyên nhân và mức độ thiệt hại của
các hồ sơ yêu cầu bồi thường hoặc chi trả.
_ Nguồn tin từ Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, số tiền thất thoát do trục
lợi bảo hiểm khá lớn, ước tính riêng về xe cơ giới hằng năm đã chiếm trên 10%
tổng số tiền bồi thường.
_ Năm 2011, trường hợp trục lợi bảo hiểm do tai nạn, thiệt hại trên 30
triệu đồng được Bảo Việt phát hiện lên đến 80 vụ. , doanh nghiệp này phát
hiện 4 vụ gian lận bảo hiểm có giá trị hơn 200 triệu đồng. Số vụ có mức bồi
thường tương đương ở các năm 2008, 2009 và 2010 lần lượt là 9, 10 và 5 vụ.
_ Tính đến tháng 7/2012, Công ty bảo hiểm Bảo Việt đã thống kê 5 vụ
tai nạn có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm, với số tiền thiệt hại từ 5 triệu đồng đến
400 triệu đồng. Các sai phạm thường là khai báo sai sự cố; hiện trường không
18
phù hợp với lời khai của người mua bảo hiểm; sau khi xảy ra rủi ro, khách
hàng mới mua bảo hiểm rồi làm lệch thời điểm xảy ra tai nạn...
_Tại Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ (BHNT) tuy mới hình thành 8 năm,
song đã có những dấu hiệu trục lợi và lừa đảo, mặc dù, số lượng chưa nhiều,
thủ đoạn chưa tinh vi và mức độ chưa thật nghiêm trọng.
_Theo số liệu thống kê sơ bộ của 4 doanh nghiệp BHNT có vốn đầu tư
nước ngoài (Prudential, Manulife, BM-CMG và AIA), trong tổng số 11.001
yêu cầu trả tiền bảo hiểm mà các Công ty này nhận được, số vụ đã xác định có
dấu hiệu trục lợi và từ chối bồi thường chỉ chiếm tỷ lệ khoảng từ 2-3%.
_Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm AAA
cho biết, trục lợi không chỉ là một vấn nạn của ngành bảo hiểm, mà còn là
nguyên nhân chính dẫn đến nhiều năm thua lỗ của các công ty bảo hiểm. Ở
Việt Nam, trục lợi bảo hiểm diễn biến khá nghiêm trọng so với các quốc gia
khác bởi trình độ quản lý, tập quán kinh doanh bảo hiểm chưa theo đúng chuẩn
mực thị trường, luật pháp về vấn đề này còn lỏng lẻo. Vì vậy, theo bà Kim
Liên, trong điều kiện hiện nay khi pháp luật chưa đủ sức răn đe các đối tượng
trục lợi bảo hiểm, thì các công ty bảo hiểm phải tìm cách tự bảo vệ mình trước.
Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thành lập những phòng, tổ công tác
chuyên trách điều tra đấu tranh chống trục lợi bảo hiểm. Riêng đối với AAA,
từ giữa 2011 đến giữa 2012, Phòng Điều tra của Công ty đã điều tra kết luận
trên 30 vụ trục lợi bảo hiểm lớn với số tiền trên 5 tỷ đồng. Đến nay, Phòng
giám định bồi thường tập trung của công ty đã phối hợp với một số cơ quan sở
ngành xác minh nguồn gốc đối với các khiếu nại với số tiền bồi thường từ 50
triệu đồng trở lên… Nhiều vụ việc, doanh nghiệp bảo hiểm nhận thấy có dấu
hiệu trục lợi nhưng không thể thu thập bằng chứng, bởi chính hệ thống pháp
luật chưa mở cho doanh nghiệp thẩm quyền yêu cầu các cơ quan đang lưu giữ
bằng chứng phải cung cấp.
Vì vậy, hầu như doanh nghiệp bảo hiểm phải tự “bơi” trong khi nạn trục
lợi đang diễn ra ngày càng gia tăng và phức tạp. Rất nhiều vụ việc, doanh
nghiệp bảo hiểm đã phải “ngậm đắng” chấp nhận giải quyết bồi thường cho
khách hàng trong khi biết chắc rằng đây là trường hợp gian lận dẫn đến tiền lệ
xấu về sau do hệ thống pháp luật chưa đủ chế tài răn đe hoặc đơn giản là vì
“chưa có tiền lệ”. Trên thực tế, từ khi mở cửa thị trường bảo hiểm cho đến nay,
chưa có một vụ việc gian lận bảo hiểm nào bị truy tố ra trước pháp luật, chưa
một cá nhân nào phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trục lợi bảo hiểm.
Và chừng nào chưa có các quy định pháp luật rõ ràng hơn, chưa có các chế tài
mạnh mẽ hơn cho các hành vi trục lợi bảo hiểm, thì khi đó vẫn còn rất nhiều sự
thiệt hại cho ngành bảo hiểm nói riêng và xã hội nói chung.
19
2.2.BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HÀNH VI TRỤC LỢI BẢO HIỂM
Các hành vi gian lận, trục lợi trong bảo hiểm là hành vi phạm pháp, có
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm, quyền và lợi ích
chính đáng của những người tham gia bảo hiểm chân chính, góp phần dẫn đến
những bất ổn trong đời sống xã hội. do đó cần phải ngăn chặn và xử lý nghiêm
minh, kịp những hành vi này bằng các biện pháp đồng bộ như :
1, về phía các doanh nghiệp bảo hiểm:
-Tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm đáp ứng các yêu cầu
rõ ràng, công khai, minh bạch, hiệu quả và tuân thủ pháp luật trong quản trị và
điều hành doanh nghiệp. theo hướng đi này, cần khuyến khích các doanh
nghiệp bảo hiểm đáp ứng đủ điều kiện để ra niêm yết trên thị trường chứng
khoán nhằm nâng cao hiệu quả giám sát đối với các hoạt động của doanh
nghiệp, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
-Thường xuyên rà soát và tổ chức thực hiện nghiêm các quy trình nghiệp
vụ, đặc biệt là các quy trình khai thác thẩm định bảo hiểm, quản lý tiền mặt,
chi trả quyền lợi bảo hiểm để phát hiện và khắc phục kịp thời những kẽ hở; xác
định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận.
-Nâng cao chất lượng tuyển dụng, đào tạo, quản lý và sử dụng đại lý,
nhân viên, gắn trách nhiệm và hiệu quả công việc vơi chế độ đãi ngộ.
-Khẩn trương xây dựng, không ngừng hoàn thiện cơ chế trao đổi thông
tin, chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các
DNBH và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện và đưa ra truy tố
trước pháp luật những thủ doạn tinh vi nhằm mục đích răn đe những kẻ rắp tâm
phạm tội...
- Từng bước chuyên môn hóa công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm
thông qua việc thành lập những bộ phận chuyên trách việc điều tra, xử lý
những vụ việc có dấu hiệu hay nghi vấn trục lợi bảo hiểm.
-Duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để phục vụ khách hàng tốt
hơn đồng thời kịp thời phát hiện những trường hợp có nghi vấn; xây dựng mối
quan hệ hợp tác, tin cậy với các nhà cung cấp dịch vụ.
-Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về
bảo hiểm nói chung và đấu tranh phòng chống trục lợi bảo hiểm nói riêng; từng
bước hình thành quan điểm và thái độ phê phán nghiêm khắc đối với mọi biểu
hiện trục lợi; tạo dư luận xã hội để thu hút sự quan tâm, chú ý của công luận
đối với các nỗ lực đấu tranh phòng và chống trục lợi bảo hiểm.
2, về phía các cơ quan chức năng
-Tiếp tục và thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, giám sát toàn
diện các mặt hoạt động và tình hình tài chính của các DNBH, duy trì cạnh
20
tranh lnh mnh trờn th trng vỡ quyn li ca ngi tham gia bo him v
s phỏt trin bn vng ca th trng.
-Khuyn khớch cỏc DNBH xõy dng cỏc nguyờn tc qun tr doanh
nghip an ton, thn trng v hiu qu; ỏp dng cỏc quy trỡnh kim tra, kim
soỏt ni b, quy trỡnh x lớ cụng vic, phi hp gia cỏc phũng ban chc nng;
-p dng nghiờm minh cỏc ch ti hnh chớnh, hỡnh s rn e, x lý
nhng trng hp c tỡnh vi phm, bo m trt t, k cng phỏp lut.
-Do nhng hnh vi trc li cú liờn quan n nhiu i tng, s dng
nhng phng thc, th on v mc vi phm khỏc nhau u tranh cú
hiu qu i vi cỏc hnh vi ny ũi hi phi cú s phi hp cht ch gia cỏc
bờn cú liờn quan bao gm: cỏc DNBH, ngi tham gia bo him, cỏc nh cung
cp dch v v c quan chc nng.
B.Liờn h vi hnh vi trc li trong bo him xe c gii v
gii phỏp ngn chn hnh vi trc li trong bo him xe c
gii
I.S LC V TRC LI BO HIM XE C GII
Xe cơ giới:
Là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đờng bộ bằng động cơ của chính chiếc
xe đó, trừ xe đạp máy.
Theo Luật giao thông đờng bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.
Phơng tiện giao thông cơ giới đờng bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy
kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe t ơng tự kể cả xe cơ giới
dành cho ngời tàn tật.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có
tham gia giao thông đờng bộ.
1. Cỏc hnh vi trc li bo him xe c gii
a. Xột v loi hỡnh : Bo him xe c gii cú cỏc loi hỡnh sau:
- Bo him trỏch nhim dõn s ca ch xe vi ngi th ba v ngi v
ti sn
- Bo him vt cht xe
- Bo him tai nn ngi ngi trờn xe
- Bo him trỏch nhim ca ch xe c gii i vi hng hoỏ vn chuyn
trờn xe
-Ngoi ra mt vn nn hin nay i vi cỏc doanh nghip bo him cựng
vn trc li phớ bo him i vi loi hỡnh bo him xe c gii ,lng phớ
trc li khụng nh din ra thng xuyờn .
-i vi loi hỡnh bo him vt cht xe: Hnh vi trc li bo him xy ra
ph bin l thụng ng vi ngi bỏn bo him hp thc hoỏ thi hn bo
him vi thi gian xy ra tai nn. õy cng l loi hỡnh m trc li bo him
21
xảy ra chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tất cả các hành vi trục lợi bảo hiểm ở các loại
hình bảo hiểm xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay và thường xảy ra trong các
trường hợp sau:
- Tai nạn rồi mới mua bảo hiểm
- Tai nạn xảy ra khi hết hiệu lực bảo hiểm
Cả hai trường hợp trên xảy ra khi chủ xe cấu kết vơi nhân viên, đại lý bán bảo
hiểm hoặc nhâ viên đại lý bán bảo hiểm làm việc thiếu trách nhiệm, không tuân
thủ quy trình bán hàng của Công ty đã đề ra.
-Đối với loại hình bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba : Hành vi trục lợi chủ yếu là trục lợi bảo hiểm về trách nhiệm của chủ
xe đối với tài sản.
-Đối với loại hình bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe : Hành vi trục lợi
bảo hiểm chủ yếu xảy ra với tai nạn người ngồi trên xe máy. Hành vi trục lợi
này thường được biểu hiện qua việc: Thiệt hại về người đôi khi không xuất
phát từ hành vi điều khiển phương tiện bị tai nạn, hoặc có nguyên nhân xuất
phát từ hành vi của người điều khiển xe máy nhưng chủ xe lại không mua bảo
hiểm tai nạn người ngồi trên xe hoặc xe không có bảo hiểm. Sau khi xảy ra tai
nạn cho người ngồi trên xe mới mua bảo hiểm và hợp thức hoá hồ sơ đòi bồi
thường bảo hiểm.
-Đối với thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe : Khi có tổn thất xảy ra
với xe chở hàng hoá, chủ xe có hành vi tẩu tán hàng hoá sau đó mới thông báo
cho công ty bảo hiểm. Cán bộ giám định không mẫn cán xác định thực tế
lượng hàng tổn thất hoặc do đặc thù của nhiều loại hàng hoá không xác định
được lượng tổn thất tại thời điểm xảy ra tai nạn nên việc xác định lượng tổn
thất bị phụ thuộc vào khai báo của chủ xe.
b. Xét về trình tự theo thời gian đối với tai nạn
- Hành vi trục lợi bảo hiểm xảy ra mang tính chất phổ biến là sau khi tai
nạn xuất hiện, ý thức của người bảo hiểm do không mua các loại hình bảo
hiểm đối với những tổn thất xảy ra đã thông đồng, cấu kết với người bán bảo
hiểm, người giám định, công an để hợp thức hoá hồ sơ tai nạn – bồi thường
nhằm trục lợi bảo hiểm.
Hành vi trục lợi bảo hiểm này thường xảy ra với loại hình bảo hiểm vật
chất xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba về người và tài sản.
- Hành vi trục lợi trước khi tai nạn xảy ra đối với loại hình bảo hiểm vật
chất xe được thể hiện ở việc các chủ xe mua bảo hiểm cao hơn giá trị thực của
xe, sau khi tai nạn xảy ra đã tìm cách huỷ hoại tài sản bằng cách đốt xe hoặc
đẩy xe xuống vực. Đối với loại hình này, chủ xe thường dựa vào địa điểm xảy
ra tai nạn là những nơi địa thế hiểm trở, đường vắng ít người qua lại, cách xa
các khu dân cư... để thực hiện các hành vi huỷ hoại về tài sản. Dấu hiệu ban
đầu thường cho thấy, khi xe lao xuống vực lái xe không bị xây xát gì hoặc
22
hướng chuyển động của xe không đúng như quán tính khi xe mất lái bị lao
xuống vực.
- Hành vi trục lợi sau tai nạn và khi sửa chữa xe. Ở hành vi này, chủ xe thường
khai man về số lượng các bộ phận xe bị tổn thất nhiều hơn thiệt hại thực tế
bằng cách thônog đồng với cán bộ giám định, xưởng sửa chữa để trục lợi bảo
hiểm.
c. Xét đối tượng cấu kết để trục lợi bảo hiểm , bao gồm:
- Cấu kết với người bán bảo hiểm.
Hành vi trục lợi này thường xảy ra đối với những xe khi tai nạn không
mua bảo hiểm đối với tổn thất hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm đã hết hiệu lực.
Hành vi này xảy ra thường là do khách hàng thông đồng với người cấp bảo
hiểm để ghi lùi ngày hiệu lực bảo hiểm nhằm hợp thức hoá hồ sơ, hoặc ghi
cùng ngày hiệu lực bảo hiểm nhưng lại cấu kết với Công an ghi sai ngày xảy ra
tai nạn sau đó mới thông báo với giám định bảo hiểm ngày tai nạn xảy ra cho
phù hợp với ngày được ghi trong hồ sơ Công an .
- Cấu kết đối với Công an để trục lợi bảo hiểm.
Hành vi này xảy ra thường là để làm sai ngày xảy ra tai nạn, làm sai lệch
hiện trường tai nạn dẫn đến việc xác định lỗi, phân lỗi của các bên trong các vụ
tai nạn. Thông thường là làm sai lệch hoặc đảo ngược về lỗi xảy ra tai nạn giữa
các bên. Mục đích của việc thực hiện các hành vi này thường là để trục lỗi bảo
hiểm TNDS.
- Cấu kết với cán bộ giám định.
Hành vi cấu kết này chủ yếu là nhằm làm tăng số lượng và giá trị tổn thất
để tăng số tiền bồi thường thiệt hại khi duyệt hồ sơ bồi thường. Hành vi trục lợi
này xảy ra phổ biến đối với loại hình bảo hiểm vật chất xe hoặc trách nhiệm
dân sự của chủ xe đối với người thứ ba.
- Cấu kết với xưởng sửa chữa.
Hành vi phổ biến là khai man về số lượng và mức độ tổn thất của các bộ
phận lớn hơn tổn thất thực tế. Việc khai báo gian dối này chủ yếu do các chủ
xe tự thực hiện trong quá trình tự ý tháo dỡ, thay thế các chi tiết và các bộ phận
máy xe cơ giới khi đưa xe vào xưởng sửa chữa, đổi các phụ tùng không hỏng
và đưa các phụ tùng hư hại vào rồi thông báo cho cán bộ giám định đến giám
định hoặc thông đồng với cả cán bộ giám định và chủ xưởng để trục lợi bảo
hiểm.
2. Thực trạng,nguyên nhân trục lợi bảo hiểm xe cơ giới hiện nay
2.1.Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới hiện nay
Trên thế giới:
23
T khi ra đời cho đến nay, hoạt động của ngành bảo hiểm đã và đang tiếp tục phát
triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Đồng thời cùng với xu hớng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, thị trờng bảo hiểm thế
giới cũng ngày một phát triển và hình thành nên những tập đoàn bảo hiểm lớn về quy mô cũng
nh tiềm lực kinh tế với số vốn khổng lồ nh thị trờng bảo hiểm Lloyd, thị trờng bảo hiểm Bermula
Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của thị trờng bảo hiểm thì hiện tợng gian lận, lừa đảo của
khách hàng trên thế giới cũng ngày một tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Theo thông tin của hiệp hội bảo hiểm Anh quốc (ABT), năm 2003 số tiền chi phí cho
các vụ bồi thờng gian lận lên tới 1,1 tỷ USD tăng 8% so với năm 2002. Trong đó:
- Bảo hiểm xe cơ giới là 481 triệu USD, tăng 10 lần so với năm 2002.
- Bảo hiểm tai nạn con ngời, du lịch là 287 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.
- Bảo hiểm tài sản (trong lĩnh vực kinh doanh) là 74 triệu USD, tăng 20% so với năm
2002.
Còn tại Mỹ, Công ty Infoglige bang Texas đa ra số liệu về lừa đảo bảo hiểm đối với xe
cơ giới đạt 16 tỷ USD/năm.
Tại Pháp chỉ riêng các yêu cầu gian lận về cháy, mất cắp xe hơi và mất trộm tại nhà,
các hãng bảo hiểm Pháp đã phải trả gần 12 tỷ FR. Còn số này ở Canada là 1,3 - 2 tỷ USD.
(Theo tạp chí : Tài chính quốc tế năm 2004).
Ti Vit nam:
_Vn nn trc li bo him xe c gii (vn luụn dn u v doanh thu
phớ bo him cho cỏc cụng ty bo him phi nhõn th) ó lm au u cỏc cụng
ty bo him
_Theo thng kờ ca Hip hi Bo him Vit Nam, doanh thu phớ bo
him xe c gii 6 thỏng u nm 2012 trờn th trng l 3.168 t ng, trong ú
ó gii quyt bi thng cho cỏc v tai nn giao thụng liờn quan n xe c gii
l 1.565 t ng (chim ti 50% doanh thu).
_Nu tớnh riờng t l bi thng bo him xe c gii ti mt doanh
nghip bo him, n c nh ti Cụng ty CP Bo him AAA, trong 7 nm qua
ó chim ti 62%, doanh nghip ny ó gii quyt bi thng hn 10.000 v
tai nn giao thụng ln nh cho khỏch hng ca mỡnh vi s tin lờn ti gn
1.000 t ng. iu ny cng thy õy l mt con s khng m mt doanh
nghip bo him buc phi nhỡn thờm mt khớa cnh tiờu cc khỏc, liu rng
s tin ln y cú thc s v n c tn tay khỏch hng gp tai nn giao
thụng hay li lt vo tỳi ca cỏc ch xe ang khộo che y rt nhiu mỏnh khúe
trc li bo him?
- Bờn cnh ú, do phỏp lut cha cú ch ti sc rn e cỏc i tng
trc li bo him xe c gii, nờn cỏc cụng ty bo him u phi ngh cỏch t
cu mỡnh. - Gn õy mt s doanh nghip bo him ó phi hp vi cỏc
garage xe nhm kim soỏt hot ng chi tr bo him. Riờng mt doanh nghip
bo him ln ti TP HCM ó chn cỏch ký hp ng c quyn vi 39 ch
doanh nghip garage(gara xe, sa xe) trong tng s 235 n v ó tng hp
tỏc vi doanh nghip ny trc ú. Trờn thc t, õy l cỏc garage ó thc s
24
đáp ứng được những yêu cầu mà bảo hiểm và khách hàng mong đợi, đó là: sự
phối hợp, hợp tác hiệu quả, chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng đạt
chuẩn mực, chi phí giá thành hợp lý với thị trường, thực hiện đúng cam kết
thời gian sửa chữa mang lại sự hài lòng cho khách hàng.
2.2 Nguyên nhân
Sở dĩ hành vi trục lợi bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm trở nên phổ biến
và khó kiểm soát là do xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Thứ nhất do hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua
hệ thống các đại lý. Trong khi đó các đại lý này không được trang bị đầy đủ
các kỹ năng bán hàng bảo hiểm. Bên cạnh đó, sự ràng buộc giữa các đại lý bảo
hiểm và Công ty bảo hiểm chủ yếu dựa trên các Hợp đồng đại lý. Do vậy, mối
quan hệ ràng buộc giữa Công ty bảo hiểm và các đại lý này không chặt chẽ.
Thành viên phía đại lý vì mục tiêu lợi nhuận sẵn sàng câu kết với khách hàng
để trục lợi bảo hiểm.
Ngoài ra do việc phát triển doanh thu đặc biệt về việc bán bảo hiểm xe
máy nhiều đơn vị không coi trọng về tính pháp lý trong việc bán bảo hiểm ,vì
vậy nhiều đại lý bán bảo hiểm xe máy không ký hợp đồng ,hoặc có ký nhưng
lại không điều tra việc hộ khẩu thường trú dẫn đến khi bán thu được tiền phí
các đại lý này khong nộp tiền sau đó trốn mất,hoặc đại lý hay cán bộ thu tiền
phí sau đó tiêu cho mục đích cá nhân ,đến khi kiểm tra phát hiện số tiền chiếm
dụng các đại lý hoặc cán bộ bán bảo hiểm chiếm dụng không thu hồi
được.muốn thu hồi phải nhờ cơ quan pháp luật can thiệp,nhưng số tiền thu hồi
chậm và không thu hồi được hoàn toàn
- Về hệ thống, quy trình bán hàng mặc dù các đơn vị bảo hiểm đã có quy
định cụ thể, đặc biệt là quy trình báo phát sinh khi bán bảo hiểm. Nhưng các
đại lý thường không chấp hành họăc chấp hành không nghiêm túc, đặc biệt là
quy trình kiểm tra xe trước khi cấp bảo hiểm vật chất cho xe. Việc thu tiền và
báo phát sinh sau khi cấp bảo hiểm, các đại lý cũng chấp hành không nghiêm
túc. Thêm vào đó, về phía cơ quan bảo hiểm khi phát hiện các hành vi không
chấp hành quy định bán bảo hiểm của đại lý, các cán bộ quản lý đại lý cũng
không xử lý nghiêm túc, nhắc nhở hoặc cắt hợp đồng đại lý bảo hiểm đã tạo ra
kẻ hở để đại lý cấu kết với khách hàng hoặc bị khách hàng lừa dối khi mua bảo
hiểm. Tiêu biểu là hành vi cấu kết ghi lùi ngày hiệu lực của bảo hiểm xe máy
giữa khách hàng và đại lý bảo hiểm.
- Về phía cán bộ giám định phương tiện cơ giới thường ngại đến hiện
trường tai nạn khi vụ tai nạn xảy ra hoặc quá tin tưởng ở lái xe khi hỏi về mức
độ tổn thất, nên đã để cho chủ xe thông báo và chủ động hoàn tất hồ sơ tai nạn
với công an nơi xảy ra tai nạn.
Đây là kẻ hở để chủ xe cấu kết với công an để làm sai lệch hồ sơ tai nạn.
Bên cạnh đó, do trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ giám định còn
25