Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

Nguyên nhân của việc áp dụng hạn chế pháp luật phá sản doanh nghiệp việt nam luận văn ths luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.87 MB, 130 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

m

*

HÀ MINH TÚ

NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC ÁP DỤNG HẠN CHẾ PHÁP LUẬT
PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60105

LUẬN VĂN THẠC Sĩ LUẬT HỌC






*

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT

H à N ộ i- N ă m 2003


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU

Trang

1.

Tính cấp thiết của đề tài.

1

2.

Tình hình nghiên cứu đề tài.

2

3.

Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3

4.

Phương pháp nghiên cứu.

4

5.


Những đóng góp mới của luận văn.

4

6.

Bố cục của luận văn.

5

CHƯƠNG 1
NHŨNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỂ PHÁ SÀN DOANH NGHIỆP.

6

6

1.1.1 Tính tất yếu của phá sản trong nền kinh tế thị trường.

6

1.1.2 Khái niệm về phá sản và đặc điểm của phá sản.

9

1.1.2.1 Khái niệm phá sản .


9

1.1.2.2 Khái niệm tình trạng phá sản doanh nghiệp.

10

1.1.2.3 Đặc điểm của thủ tục phá sản.

14

1.1.2.4 Phân biệt giải thể và phá sản.

15

1.2 PHÁP LUẬT VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP.

18

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam và trên thế giới.

18

1.2.2 Mục tiêu của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường.

20

1.2.3 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường.

21


1.2.4 Các xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật phá sản hiện đại.

24


2.2.1.8 Một số nhận xét và kết luận tổng quan về pháp luật phá sản doanh
nghiệp Việt nam

91

2.2.2 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁC LÀM HẠN CHẾ HIỆU LỤC CỦA
93

PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TRONG THỤC TlỄN.

2.2.2.1

Nguyên nhân từ những nhận thức không đúng về phá sản.

93

2.2.2.2

Nguyên nhân từ những vi phạm các quy định của pháp luật phásản
doanh nghiệp.

96

2.2.2.3


Nguyên nhân từ sự không tuân thủ các quy định tài chính - kế toán.

96

2.2.2.4

Nguyên nhân do năng lực của đội ngũ Thẩm phán chưa đáp ứng
được những đòi hỏi của việc giải quyết phá sản.

97

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
~

99

HIỆU L ự c PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRONG THỰC TIÊN








3.1 NHỮNG KIẾN NGHỊ SỬA Đ ổ i SỬA Đ ổ i PHÁPLUẬT PHÁ SẢN.

99


3.1.1 Mở rộng phạm vi áp đụng của Luật phá sản.

100

3.1.2 Qui định rõ tiêu chí xác định tình trạng phá sản của doanh nghiệp.

103

3.1.3 Qui định rõ khái niệm về nợ đến hạn và nợ có bảo đảm một phần.

104

3.1.4 Bổ sung những đối tượng có quyển nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.

105

3.1.5 Cần có sự phân biệt giữa quyền nộp đơn của chủ nợ và nghĩa vụ nộp
đơn của doanh nghiệp mắc nợ.

106

3.1.6 Qui định bổ sung về người đại diện của doanh nghiệp.

108

3.1.7 Cần thống nhất các qui định về kiểm toán báo cáo tài chính.

108


3.1.8 Một số vấn đề khác liên quan đến việc nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

109

3.1.9 Về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát doanh nghiệp cùa Thẩm phán trong
quá trình giải quyết phá sản.

111


3.1.10 Cần cho phép thẩm phán áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
sớm hơn.

112

3.1.11 Qui định cụ thể nguyên tắc giải quyết xung độtvề thủ tục giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản và các thủ tục tố tụng khác.

113

3.1.12 Về khiếu nại danh sách chủ nợ.

114

3.1.13 Qui định bổ sung về Hội nghị chủ nợ.

115

3.1.14 Khởi động lại thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp sau khi việc giải

quyết phá sản doanh nghiệp bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ.

116

3.1.15 Qui định lại về thứ tự ưu tiên thanh toán nợ.

116

3.1.16 Bổ sung và làm rõ một số qui định về thi hành quyết định tuyên bố
phá sản doanh nghiệp

117

3.1.17 Vấn đề hoà giải, tổ chức iại doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
3.2 NHOIMG

118
119

k iế n n g h ị l iê n q u a n đ ế n v iệ c t h ự c h iệ n p h á p

LUẬT PHÁ SẢN.
3.2.1 Tăng cường bổi dưỡng và nâng cao kỹ năng nghiêp vu của đôi ngũ
Thẩm phán.

119

3.2.2 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật phá sản.

120


3.2.3 Tăng cường kỷ Luật tài chính - kế toán.

120

3.2.4 Xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia về quản lý và phục hồi
doanh nghiệp.

121

Kết luận.

122

Tài liệu tham khảo.

123

c


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nựớc ta
đã có những bước chuyển đổi tích cực từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, cạnh
tranh là một quy luật tất yếu, khách quan và điều đó đòi hỏi Nhà nước cần phải tôn
trọng những lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, tạo mọi điểu kiện cho mọi
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế làm ăn có hiệu quả. Mặt khác mỗi doanh

nghiệp cũng phải ý thức được rằng bên cạnh những thời cơ và thuận lợi mói thì đổng
thời cũng phải chấp nhận những quy luật cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị tnròng.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, với một môi trường đầy cạnh tranh, việc
một doanh nghiệp (do nhiều nguyên nhân khác nhau) bị thua lỗ dẫn đến phá sản là
một hiện tượng tất yếu xảy ra, và kéo theo đó là hàng loạt các quan hệ phát sinh cần
phải được xử lý, điểu chỉnh kịp thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể, góp phần sắp xếp lại ưật tự kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Xuất phát từ những yêu cầu của nền kinh tế, để đáp ứng nhiệm vụ phát triển
nền kinh tế thị trường và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nước ta, ngày
30/12/1993 Luật phá sản doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1994.
Luật phá sản doanh nghiệp ra đời cùng với nó là hàng loạt các văn bản hướng
dẫn đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập một hành lang pháp lý cho việc xử lý
những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt
động đòi nợ và thanh toán nợ, góp phần tạo lập môi trưòng kinh doanh bình đẳng và
lành mạnh, đồng thời cũng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật kinh tế của nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên, quá trình thực thi pháp luật phá sản doanh nghiệp trong hơn 9
hăm cho thấy, việc thực thi Luật phá sản doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn

1


vướng mắc, pháp luật phá sản doanh nghiệp vẫn chưa thật sự phát huy đầy đủ vai trò
đích thực của mình, chưa thâm nhập vào đời sống kinh tế, xã hội nước ta.
Theo số liệu thống kê của ngành Toà án, số lượng đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản hàng năm nộp đến Toà và được thụ lý là rất ít, trung bình hằng năm không quá
30 đơn. Trong số đó, hầu hết là bị Toà án trả lại đơn, hoặc bị đình chỉ hoặc tạm đình
chỉ. Tổng số doanh nghiệp bị Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản trong suốt thời
gian thi hành Luật phá sản doanh nghiệp chỉ dừng lại ở con số 61 doanh nghiệp. Sẽ

là rất đáng mừng nếu các con số này biểu hiện đúng thực trạng nền kinh tế nước ta,
song đáng tiếc lại không phải, mà ngược lại là “Cấc doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản trên thực tế không ít nhưng yêu cầu tuyên b ố phá sản doanh nghiệp
thì ngày càng ít đi" (Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao năm 2001). Đây
là một thực trạng rất đáng lo ngại của pháp luật phá sản Việt Nam.
Do vậy, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật phá sản,
để pháp luật phá sản thật sự đóng vai trò là nhân tố làm lành mạnh hoá nền kinh tế
và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thì nhiệm vụ cấp bách đặt ra hiện nay là
cần phải nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn, chỉ ra
những hạn chế đang tổn tại trong pháp luật phá sản hiện hành, những nguyên nhân
làm giảm hiệu lực và hiệu quả của pháp luật phá sản trong những năm qua, từ đó
đưa ra những giải pháp khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập đó nhằm nhanh
chóng bổ sung, hoàn thiện hộ thống pháp luật về phá sản doanh nghiệp của nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Ngay từ khi Luật phá sản được ban hành, nhiều công trình nghiên cứu ở các
cấp độ khác nhau về ĩĩnh vực này đã được thực hiện. Ở cấp độ đào tạo cử nhân luật
học, vấn đề phá sản đã được nghiên cứu và được cập nhật như một môn học trong
hầu hết các giáo trình “Luật kinh tế” của các cơ sở đào tạo cử nhân luật như: Khoa
luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học luật Hà Nội. Kế theo đó là một khối lượng
lớn các luận văn tốt nghiệp đại học luật được thực hiện ở hầu hết các cơ sở đào tạo
luật học. Ở cấp đô đào tạo thạc sĩ luật học các nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực
này cũng được các học viên lựa chọn. Đáng kể là nhiều luận văn cao học luật được
viết về đề tài này ở nhiều cơ sở đào tạo trên đại học như: '‘T rình tự, thủ tục pháp lý

2


của việc tuyên b ố phá sản doanh nghiệp” của Nguyễn Việt Vương -1996; “Địa vị
pháp lý của các chủ thể tham gia giải quyết phá sản doanh nghiệp” của Phan Thị
Thanh Thuỷ - 1996; “Luật phá sản doanh nghiệp - đặc điểm, tình hình thực hiện và

những kiến nghị hoàn thiện” của Lại Anh Tuấn - 1997; “Hoàn thiện pháp luật phá
sản doanh nghiệp” của Bùi Xuân Hải - 2000... Gần đây, năm 1999 Toà án nhân dân
tối cao đã hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp bộ về “TTiụt tiễn thi hành và đòi hỏi
khách quan của việc sủa đổi, bổ sung Luật phá sản doanh n g h i ệ p Bên canh đó,
các tạp chí chuyên ngành còn đăng tải nhiều bài viết về chủ đề trên.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây hoặc là chỉ xem xét vấn đề ở
góc độ là mồ tả và giải thích pháp luật, hoặc là minh hoạ về lý thuyết hay thực tế
tình hình thi hành pháp luật. VI vậy, vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận văn này phải tiếp
cận là phải xem xét toàn diện và đầy đủ cả vấn đề lý luận và thực tiễn mới phát sinh
trong thực tiễn thi hành pháp luật phá sản doanh nghiệp từ trước đến nay, từ đó tìm
ra, phân tích và đánh giá toàn diện những nguyên nhân đã khiến pháp luật phá sản
chưa phát huy được vai trò thật sự của mình trong đời sống kinh tế - xã hội nước ta
trong thời gian qua vì mục đích hoàn thiện và phát triển pháp luật phá sản hiện hành.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Luật phá sản doanh nghiệp có một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế
thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy luật này chưa thực sự phát huy hết được vai
trò vốn có của mình. Mặt khác, khi áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp, do tính
phức tạp và tính liên quan của nó, cho nên bên cạnh việc phải có một cơ sở lý luận
vững chắc, thì cần phải có một hộ thống pháp luật đồng bộ, để giải quyết các vấn đề
phức tạp nảy sinh trong quá trình thi hành luật.
Vì vậy, đề tài hướng tới nghiên cứu một cách toàn diện nhất những vấn để lý
luận và thực tiễn về phá sản và pháp Luật phá sản doanh nghiệp như: Bản chất, đặc
điểm của phá sản doanh nghiộp, vị trí và vai trò của Luật phá sản doanh nghiệp
trong mối quan hệ với kinh tế và pháp luật kinh tế ở nước ta, quá trình tổ chức thực
hiện Luật phá sản doanh nghiệp, kết hợp đi sâu phân tích một số nội dung cụ thể của
Luật phá sản doanh nghiệp, tìm ra những điểm hạn chế cả về mặt lý luận và thực
tiễn áp dụng luật. Từ các quy định trong luật, sẽ xem xét các vấn đề nảy sinh trong

3



thực tế mà luật chưa quy định hoặc chưa làm rõ, đề ra những giải pháp và cơ sở lý
luận để giải quyết các vấn đề phát sinh đó góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
phá sản hiện hành.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu duy
vật lịch sử và đuy vật biện chứng của triết học Mác - Lê nin, chỉ rõ sự ra đời tất yếu
của Luật phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, cơ sở khách
quan của việc tồn tại các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp, của mục đích yêu
cầu mà Luật phá sản doanh nghiệp đặt ra. Đổng thời chỉ rõ quá trình nghiên cứu vận
dụng pháp luật phá sản nước ngoài để xây dựng Luật phá sản doanh nghiệp Việt
Nam là quá trình phủ định biện chứng và có kế thừa.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh,
tổng hợp, nghiên cứu điển hình... Bên cạnh việc nghiên cứu luật pháp Việt Nam, tác
giả còn nghiên cứu pháp luật phá sản và cách xử lý phá sản của một số nước trên thế
giói, so sánh để thấy được những đặc điểm riêng của Luật phá sản Việt Nam. Liên
hệ đối chiếu giữa luật với thực tiễn để xem xét đánh giá những vấn đề đã phù hợp,
chưa phù hợp, còn khuyết thiếu, cần sửa đổi bổ sung, nhằm đưa ra những giải pháp
để hoàn thiện một số vấn đề cơ bản mà Luật phá sản doanh nghiệp đã quy định.
5. Những đóng góp mới của luận văn.
Từ khi Luật phá sản doanh nghiệp ra đời đến nay, đã có một số đề tài nghiên
cứu về vấn đề này dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn
này, tác giả đã nghiên cứu Luật phá sản doanh nghiệp với một cách tiếp cận mới cụ
thể là:
Nghiên cứu vể Luật phá sản doanh nghiệp trong một chỉnh thể thống nhất cả
về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng, trên cơ sở những tư duy pháp lý hiện đại, thông
dụng và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam.
Phân tích và so sánh những đặc điểm cơ bản của Luật phá sản doanh nghiệp
Việt Nam với pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới. Từ đó, làm rõ những
điểm khác biệt và tính lạc hậu trong các quy định của pháp luật phá sản doanh

nghiệp Việt Nam hiện hành.

4


Phân tích một sô' nội dung cơ bản của Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam
trên cơ sở những số liệu thực tế, để thấy được mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn,
nêu bật và làm rõ những bất cập, hạn chế cùa pháp luật phá sản doanh nghiệp hiện
hành như là một trong những nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất khiến pháp
luật phá sản chưa phát huy hết vai trò tích cực của mình trong trong thực tiễn cuộc
sống ở nưóc ta, có so sánh với các quy định và cách xử lý phá sản của các nước trên
thế giới.
Cuối cùng là đưa ra những giải pháp và kiến nghị (xuất phát từ thực tiễn giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Toà án) nhằm hoàn thiện Luật phá
sản doanh nghiệp, nâng cao chất lượng giải quyết phá sản doanh nghiệp, giúp cho các
chủ thể kinh doanh ở nước ta có quan niệm đúng đắn về hiện tượng phá sản và biết
cách chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản và đặc biệt là đảm bảo tính khả thi của Luật phá sản doanh nghiệp
trong thực tế.
6. Bố cục của luận văn.
Với phạm vi và đối tượng nghiên cứu như đã nêu trên, luận văn sẽ được viết
thành ba chương như sau:
CHƯƠNG 1: NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ
PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP.
CHƯONG2:

NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC ÁP DỤNG HẠN CHẾ PHÁP
LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 3: M ỘT s ố KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU


L ực PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRONG THỰC TIÊN

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Tính tất yếu của phá sản trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn là mục đích tối cao mà mọi
doanh nghiệp đều hướng tới, nó cũng là cơ sở cho sự tồn tại cùa mỗi doanh nghiệp,
đồng thời là động lực cơ bản thúc đẩy các doanh nghiệp lao vào quá trình cạnh tranh
nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Do vậy, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan và
kết quả của quá trình này là một số doanh nghiệp dần mạnh lên chiếm lĩnh thị
trường ngược lại một số doanh nghiệp khác dần yếu đi, sản xuất kinh doanh đình
đốn, nợ nần chồng chất và đi tói chỗ mất khả năng chi ưả các nghĩa vụ tài chính của
mình. Khi đó chúng ta có một khái niệm để chỉ những doanh nghiệp roi vào tình
trạng này: Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Bên cạnh việc các doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản như là một sản
phẩm tất yếu của quá trình cạnh tranh. Một loạt nguyên nhân khác cũng trực tiếp dẫn
tới tình trạng phá sản doanh nghiệp, đó là những rỏi ro (xuất phát từ nhiều phía) mà
bất cứ doanh nghiệp nào cũng gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể kể
tên sau đây:


Rủi ro do những chính sách của Nhà nước.


Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, những chính sách của Nhà nước luôn
luôn đóng một vai trò quan trọng quyết định tới sự hưng thịnh hay sự suy vong của
mỗi doanh nghiệp, thậm chí cả một ngành nghề.
Chính sách của Nhà nưóe bao giờ cũng là cơ sở nền tảng cho doanh nghiệp
những hoạch định mang tính chiến lược cũng như những kế hoạch sản xuất kinh
doanh cụ thể trong từng thời kỳ. Việc thay đổi chính sách liên tục và đột ngột hoặc

6


sự thiếu thực tế, khả năng dự báo thấp của các chính sách, có thể gây lẻD sự bất ổn
và ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví
dụ, sự thiếu ổn định trong chính sách của Nhà nước ta đối với ngành công nghiệp
sản xuất xe máy trong thời gian gần đây đang khiến cho nhiều doanh nghiệp sản
xuất và kinh doanh xe máy lâm vào tình cảnh lao đao.
Vì vậy, để có được sự phát triển ổn định, bất kỳ một nển kinh tế nào cũng
luôn đòi hỏi một chính sách nhất quán và bền vững xuất phát từ phía nhà nước.


Rủi ro ngoại hối - lãi xuất - lạm phát.

Trong kinh doanh, tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính có lãi cùa việc bán hàng, đến giá cả hàng hoá
và vì vậy, nó quyết định đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong giao thương,
đặc biệt là giao thương quốc tế.
Sự biến động lớn mang tính đột biến của tỉ giá hối đoái, là một ưong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự suy thoái của toàn bộ nền kinh tế nói chung và sự
phá sản của hàng loạt doanh nghiệp nói riêng. Cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á
năm 1997 là một ví dụ điển hình.
Tương tự như tỉ giá hối đoái, lạm phát là sự mất giá của đổng tiền bản địa so

với hàng hoá lưu thông trên thị trường, nếu ở một mức độ vừa phải thì nó là một
nhân tố kích thích sự tăng trưởng, nhưng ngược lại nếu lạm phát quá cao thì lại là
nhân tố cản ưở sự tăng trưởng, gây nên sự thoái và phá sản của doanh nghiệp.


Rủi ro do biến động giá cả trong nước và quốc tế.

Trong thời đại hiện nay, với xu hưóng toàn cầu hoá, các giao lưu kinh tế
không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một khu vực mà nó mang tính toàn
cầu. Thị trường trong nước có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với thị trường quốc tế
thông qua hoạt động thương mại quốc tế, kinh doanh xuất nhập khẩu. Mặt khác, với
sự phân công lao động và sản xuất ngày càng sâu sắc thì sự biến động giá cả của
một mặt hàng trên thị trường thương mại quốc tế không chỉ có ảnh hưởng rất lón tới
giá cả của mặt hàng đó trên thị trường ữong nước mà thậm chí còn có ảnh hưởng tới
toàn bộ nền kinh tế. Chẳng hạn như sự biến động về giá xăng dầu, phân bón.... sẽ

7


ảnh hưỏng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hàng loạt các ngành sản xuất khác như chăn
nuôi, trống trọt, giao thông vận tải...
Xét ưên bình diện hẹp hơn, những biến động xấu của giá cả hàng hoá trên thị
trường thế giới có thể là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự phá sản của nhiều doanh
nghiệp. Ví dụ sự tụt giảm về giá của cà phê trên thị trưòng thế giới trong thời gian vừa
qua đã khiến cho ngành trồng trọt, sản xuất, chế biến và kinh doanh cà phê ở nước ta
lâm vào tình trạng đình trộ, nhiều doanh nghiệp gặp khó khần và đi tói phá sản.


Rủi ro ngành hàng.


Bất kỳ kinh doanh một ngành hàng nào cũng đều có những thuận lợi và khó
khăn mang tính đặc trưng của ngành hàng đó, chẳng hạn như ngành trồng ưọt thì bị
phụ thuộc rất lớn bởi các yếu tố tự nhiên như thời tiết, thời vụ, con giống.v.v.. ngành
sản xuất chế biến thì phụ thuộc lớn tới nguồn nguyên liệu được cung cấp.
Những rủi ro đặc trưng của ngành hàng đôi khi lại đóng vai trò như một nhân
tố chính dẫn tới sự suy thoái và phá sản của doanh nghiệp,


Rủi ro do khủng hoảng.

Sự phân loại khủng hoảng là hết sức đa dạng. Xét về tính toàn diện thì đó là
khủng hoảng cục bộ và khủng hoảng toàn diện. Xét về mặt xã hội thì có khủng
hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng.bệnh tật... Nói chung trên bất kỳ
khía cạnh nào sự khủng hoảng luôn mang tính dây truyền và đem lại sự bất ổn cho
toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Sự khủng hoảng, khi xảy ra, luôn dẫn tới sư phá sản của hàng loat các' doanh
nghiệp. Chẳng hạn, sự hoành hành của dịch bệnh SARS trong thời gian qua đã làm
doanh thu của ngành kinh doanh du lịch và hàng không trên toàn thế giói giảm sút
nghiêm trọng và nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này đang đứng trước
bờ vực phá sản.


Rủi ro quản trị doanh nghiệp.

Việc một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không phụ
thuộc rất lớn vào nhân tố con người. Đặc biệt là việc quản lý doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp thành công trên thương trường không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố
khách quan như yếu tố về vốn, công nghệ... mà còn phụ thuộc rất lớn vào các nhân

8



tố chủ quan như việc xác định đúng định hướng kinh doanh, lập kế hoạch kinh
doanh và tổ chức thực hiện kế hoạch đúng hướng, đạt hiệu suất cao, quản lý và đầu
tư đồng vốn có hiệu quả, khả năng quản lý tài chính tốt... Do vậy, muốn sử dụng
một cách có hiệu qùa các nguồn lực của mình, mỗi doanh nghiệp cần phải có một
đội ngũ lãnh đạo có trình độ, có năng lực và trách nhiệm cao.
Thống kê cho thấy, khổng chỉ ở riêng Việt Nam mà trên toàn thế giới, quản
trị doanh nghiệp yếu kém là nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất dẫn tới sự phá sản
của doanh nghiệp.
Những phân tích trên đây có thể thấy rằng, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phá
sản của doanh nghiệp là hết sức đa dạng. Tuy nhiên dù với nguyên nhân nào thì tựu
chung, phá sân cũng luôn là một hiện tượng tất yếu tồn tại trong nền kinh tế thị trường.
Nó hiện hữu như là một sản phẩm tất yếu của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải
tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất luận đó là nền kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa hay ỉà nền kinh tế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghía.
1.1.2 Khái niệm về phá sản và đặc điểm của phá sản.
1.1.2.1 Khái niệm phá s ả n .
Danh từ phá sản bắt nguồn từ chữ “Ruin” trong tiếng La tinh có nghĩa là sự
“khánh tận” là việc mất khả năng thanh toán. Trong tiếng Anh, người ta dùng từ
“Bankrupey” còn tiếng Pháp là từ “Baqneoute” với nghĩa là “sự phá sản” . Từ điển
tiếng Việt do nhà xuất bản Đà Nang và trung tâm từ điển học xuất bản năm 1998
định nghĩa phá sản lă “lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường là vỡ nợ,
do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại” trong dân gian phá sản có nghĩa là “sạt nghiệp”,
là “trắng tay”, là “ vỡ nợ” w...
Như vậy, phá sản trước hết là một hiện tượng kinh tế, là một hiện thực khách
quan, một sản phẩm tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Xét dưới góc độ kinh tế,
doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản do rất nhiều nguyên nhân khác nhau và
biểu hiện ra như là một thực trạng thất bại kinh tế trầm trọng mang tính quyết định
đối với sự tồn vong của doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong trạng thái này thường biểu

hiện ra về mặt tài chính là doanh nghiệp đang ở tình trạng tài chính bi đát, dẫn tói:

9




Doanh nghiệp khồng còn khả năng trả nợ các khoản nợ đến hạn mặc dù nợ
phải trả nhỏ hơn tổng tài sản có của doanh nghiệp song các tài sản này không
thể hiện kim hoá được để trả nợ.



Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn do nợ lớn hơn có nói
cách khác là tổng số nợ của doanh nghiệp lớn hơn tổng trị giá tài sản của
doanh nghiệp.
Dưới góc độ pháp lý, phá sản được hiểu như là một thủ tục xử lý tình trạng

mất khả năng thanh toán nợ của một chủ thể kinh doanh do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền (mà chủ yếu là Toà án) tiến hành. Thông qua thủ tục này, tất cả các chủ
nợ đều có được cơ hội tham gia vào việc thanh toán nợ và có thể được nhận đủ toàn
bộ số nợ hoặc chỉ nhận được một phần nợ theo tỷ lệ tương ứng trong khối tài sản
chung của doanh nghiệp mắc nợ và như vậy, trong thủ tục phá sản thì tất cả các chủ
nợ đều bình đẳng về quyền đòi nợ nhưng rất có thể chỉ một phần yêu cầu thanh toán
nợ của họ được thoả mãn. Điều đó đặc biệt đúng khi doanh nghiệp mắc nợ là một
pháp nhân và đang trong trạng thái tổng số nợ của doanh nghiệp lớn hơn tổng số tài
sản có.
Thừa nhận thực trạng kinh tế khó khăn (phá sản) của các doanh nghiệp, và để
đánh giá doanh nghiệp đã thực sự rơi vào tình trạng phá sản hay chưa, pháp luật khi điều
chỉnh lĩnh vực phá sản đã đưa ra một khái niệm: Tình trạng phá sản doanh nghiệp.

1.1.2.2 Khái niệm tình trạng phá sản doanh nghiệp.
Khái niệm tình trạng phá sản là một khái niệm cơ bản và quan trọng trong
pháp luật phá sản của mọi quốc gia, thể hiện tập trung nhất quan điểm thái độ của
Nhà nưóc khi đánh giá một doanh nghiệp đã thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay
chưa cũng như ỉà đường lối để giải quyết phá sản doanh nghiệp.
Tình trạng phá sản doanh nghiệp chính là cơ sở, căn cứ để Toà án xem xét và
quyết định mở hay không mở thù tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Khi xây
dựng khái niệm này, mỗi quốc gia đều căn cứ trên cơ sở tình trạng kinh tế - xã hội
cùa mình để quy định cho phù hợp. Nghiên cứu cho thấy, có hai cách thức chủ yếu
để xây dựng khái niệm này.

10


a. Xác định tình trạng phá sản dựa trên tiêu chuẩn dòng tiền mặt (hay
còn gọi là tiêu chí định tính).
Tư duy cơ bản áp dụng cho trường hợp này dựa trên cơ sở khả năng thanh
toán nhanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể bị suy đoán là đang lâm vào tình
trạng bi đát khi khống thanh toán ngav tức khắc một hay nhiều món nợ đến hạn nào
đó. Với tiêu chí này, con nợ bị tuyên bố phá sản không chỉ là những doanh nghiệp
không còn tài sản hoặc còn ít tài sản mà ngược lại, thậm chí còn rất nhiều tài sản
nhưng không thể hiện kim ngay được để trả nợ.
Như vậy, đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của tiêu chí này là tính tức thời
của viêc trả nơ. Trên thế giới có nhiều quốc gia áp dụng căn cứ này, chẳng hạn như
ở Singapore theo luật được ban hành 1995 và có hiệu lực ngày 15/7/1995 thì con nợ
bị xem xét phá sản trên cơ sở con nợ không thể trả nợ một hay nhiểu món nợ quá
hạn không dưói 2000 dollar Singapore, những khoản nợ này phải có thể trả được cho
chủ nợ bằng một phán quyết hoặc một quyết định có tính cưỡng chế tại Singapore.
Con nợ được suy đoán không có khả năng thanh toán bất kỳ khoản nợ nào nếu món
nợ đó phải được thanh toán tức khắc và:



Chủ nợ đã tống đạt đến con nợ yêu cầu đòi nợ theo các hình thức luật định.



ít nhất là 21 ngày kể từ ngày tống đạt theo luật định và con nợ không tuân thủ
yẽu cầu này, cũng như không nộp đơn yêu cầu Toà án đặt vấn đề này sang
một bên.
Sự suy đoán này có thể chỉ bác bỏ khi có bằng chứng ngược lại.
Ngoài ra, sự suy đoán không có khả năng thanh toán có thể được nêu khi:



Giải pháp được đưa ra không thoả đáng so với sự phán đoán của chủ nợ.



Con nợ dãiĩLkhỏi Singapore, hoặc vẫn còn ở ngoài Singapore với ý định làm
cản trở, trì hoãn hoặc gây cẳQ trở ngại cho chủ nợ trong việc thu hồi nợ.
Pháp luật vương quốc Anh quy định: một doanh nghiệp mất khả năng thanh

toán nợ khi có một chủ nợ cổ số tiền trên 50 bảng và:


Gửi đơn đòi nợ mà sau 3 tuần doanh nghiệp đã không trả hoặc không thương
lượng xong với chủ nợ hay không tìm biện pháp bảo đảm cho số nợ đó.




Có án lệnh buộc doanh nghiệp trả nợ nhưng không thi hành được.

11




Khiếu nại số nợ không xong.
Có thể thấy rằng, việc quy định của pháp luật các nước theo khuynh hướng

này thể hiện những quan điểm tích cực sau đây:


Định hướng chủ nợ là rất rõ ràng khi tạo ra mộtcơ chế dễđàng cho chủ

nợ

bắt đầu một vụ kiện phá sản.


Tăng cường đạo đức kinh doanh khibắt buộc con nợ phảicó trách nhiệmhơn
trong việc thực hiện những nghĩa vụ tài chính của mình bằng việc đe doạ áp
dụng thủ tục phá sản như là một biện pháp đòi nợ có thể thực hiện. Điều này
có ý nghĩa rất lớn nhằm ngăn tình trạng đầu tư mạo hiểm cũng như sự lạm
dụng “tiền của người khác” để kinh doanh thu lợi cho mình gây bất bình
đẳng trong canh tranh.



Mang tính phòng ngừa phá sản rất cao khi cho phép sớm áp dụng thủ tục phá

sản đối với những doanh nghiệp có những dấu hiệu lâm vào tình trạng bi đát
về tài chính có thể dẫn tới thanh lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tiêu chí này vẫn chưa phản ánh đúng thực chất của phá sản là tình

hình tài chính của doanh nghiệp đang Ưong tình trạng thực sự bi đát trầm trọng
không phải là hiện tượng nhất thời. Các doanh nghiệp rơi vào tình trạng này chưa
chắc là không còn tài sản gì hoặc còn rất ít tài sản mà ngược lại họ có thể còn rất
nhiều tài sản song chưa thể hiện kim hoá ngay được.
Mặt khác, việc cho phép chủ nợ dễ đàng bắt đầu một vụ kiện phá sản có thể
sẽ bị chủ nợ lạm dụng á‘p dụng thủ tục phá sản tràn lan gây tổn hại đến uy tín và lợi
ích chính đáng của doanh nghiệp trên thương trường. Tiêu chí này cũng cho phép
các doanh nghiệp lợi dụng như một thủ đoạn để triệt hạ đối thủ kinh doanh.
Để khắc phục tình trạng này, pháp luật một số nước đưa ra một số khái niệm
không có khả năng thanh toán chi trả (Insolveney) như ở Anh quốc và được áp dụng
một thủ tục khác vói thủ tục phá sản (Bankrupey). Doanh nghiệp không có khả năng
chi trả là việc doanh nghiệp tạm thời không có khả năng thoả mãn yêu cầu thanh
toán nợ đến hạn cho các chủ nợ bằng tài sản hiện có, song không phải đã mất khả
năng thanh toán, bởi vì bằng những khoản tín dụng sẽ có và có thể thấy trước như
các khoản vay doanh nghiệp sẽ thanh toán được nghĩa vụ tài chính cuả mình.

12


b. Xác định tình trạng phá sản của doanh nghiệp trén tiêu chuẩn cân đối
tài chính của doanh nghiệp (hay tiêu chí định lượng).
Tư duy cơ bản áp dụng cho trường hợp này là doanh nghiệp chỉ bị coi là lâm
vào phá sản khi có những bằng chứng rõ ràng cho thấy tình hình tài chính của doanh
nghiệp rất kém cỏi, bi đát mà biểu hiện cụ thể là tổng tài sản của doanh nghiệp nhỏ
hơn tổng số nợ hoặc doanh nghiệp bị mất cân đối trong cán cân thanh toán.
Do vậy, khác với tiêu chí định tính luôn quan tâm tói tính tức thòi của việc trả

nơ, tiêu chí nàv tiếp cân vấn dé phá sản ờ góc dô tài chính- kế toán, trên cơ sỏ cân
đối tài sản hiên cổ vói tổng số nơ.
Khuynh hưóng này được thể hiện trong pháp luật phá sản của một số quốc
gia. Ví dụ điều 1 Luật phá sản Liên bang Nga quy định “tình trạng phá sản cùa
doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh
toán hàng hoá (công việc dịch vụ) kể cả việc mất khả năng báo đảm các thanh toán
phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc
nợ vượt quá tài sẩn của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh toán của
doanh nghiệp mắc nự'
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào -bảng cân đối tài sản có của doanh nghiệp và
tổng số nợ thì cũng khó có thể kết luận ngay rằng doanh nghiệp hiện đang lâm vào
tình trạng mất khả năng thanh toán trầm trọng và đi đến phá sản. Tiêu trí này cũng
gặp phải một trở ngại khi bắt đầu một vụ kiện phá sản khi yêu cầu người nộp đơn phải
cung cấp đầy đủ những bằng chứng cụ thể chứng minh sự mất cân đối giữa tổng số nợ
và tổng giá trị tài sản cùa doanh nghiệp. Rõ ràng, nó làm hạn chế quyền đệ đơn yêu
cầu giải quyết phá sản doanh nghiệp từ phía chủ nợ thậm chí, từ chính con nợ nếu sổ
sách, tài liệu kế toán không tuân theo những chuẩn mực rõ ràng, minh bạch.
Như vậy, cả hai cách xác định tình trạng phá sản như trên đều chưa phản ánh
một cách rõ ràng tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ưong tình trạng thực sự
bi đát, trầm trọng mà chỉ mang tính dự báo về tình trạng mất khả năng thanh toán
hoàn toàn của doanh nghiệp, nói cách khác khái niệm tình trạng mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn của doanh nghiệp trong pháp luật phá sản khống nên và khống cần
thiết phải là tình trạng tài chính của doanh nghiệp rất trầm Ưọng, bi đát. Điều này


cho phép sóm phát hiện ra những doanh nghiệp có biểu hiện xấu về tài chính để từ
đó sớm có biện pháp khắc phục hiệu quả, bảo vệ hữu hiệu lợi ích cho các chủ nợ,
doanh nghiệp mắc nợ và các bên có liên quan.
So với tiêu chí định lượng, tiêu chí đinh tính rộng mở hơn rất nhiều, nó cho
phép sớm áp dụng thủ tục phá sản ngay khi doanh nghiệp mới chỉ có những dấu hiệu

tài chính bất thường. Điều này mang tính dự báo và ngăn ngừa sự phá sản rất cao.
Khái niệm tình trạng phá sản không có nghĩa là doanh nghiệp đã bị phá sản.
Doanh nghiệp đã bị phá sản khi và chỉ khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền tuyên bố phá sản và tài sản bị thanh lý để chia cho các chủ nợ.
1.1.2.3 Đặc điểm của thủ tục phá sản.
Thủ tục phá sản là tổng thể các quy phạm pháp luật, quy định cách thức, trình
tự nhằm xử lý những doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản. Nó có những đặc
trưng cơ bản sau:


Phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt, thể hiện qua tính tập thể của thủ tục
phá sản. Theo đó, tất cả các chủ nợ (người khởi đơn và không khởi đơn) đều
có cơ hội tham gia quá trình đòi nợ .và thanh toán nợ. Các chủ nợ sẽ được
phân chia thành các nhóm khác nhau và các yêu cầu của tất cả các chủ nợ sẽ
được xem xét một cách công bằng và minh bạch, tại cùng một địa điểm, thòi
điểm và theo mởt thứ tự ưu tiên.



Tính tập thể của thủ tục phá sản cũng đòi hỏi quyền tự do kinh doanh của con
nợ sẽ bị hạn chế khi đặt con nợ trong sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ cừa các
chủ thể liên quan (Toà án, các chủ nợ.... ), con nợ sẽ bị hạn chế quyền định
đoạt tài sản, các nhà quản lý của doanh nghiệp phá sản sẽ bị hạn chế quyền
quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc phải trao quyền quản lý doanh nghiệp
cho những người khác (được Toà án chỉ định hoặc do chủ nợ cử ra) nhằm
mục đích hạn chế tối đa những hành vi có thể gây thiệt hại cho chủ nợ.



Tính tập thể của thủ tục phá sản cũng yêu cầu việc giải quyết quyền lợi cho

nhóm chủ nợ này cũng không làm thiệt hại cho nhóm chủ nợ khác cũng như
bản thân con Ĩ1Ợ. Vì vậy, các chủ nợ sẽ phải hạn chế tối đa những hành vi
pháp lý đơn phương chống lại con nợ. Nói cách khác, khi thủ tục phá sản

14


được mở, các đơn kiện đòi nợ riêng lẻ sẽ bị đình chỉ và các yêu cầu sẽ được
giải quyết luôn trong thủ tục phá sản.


Xuất phát từ tính tập thể của thủ tục, nhằm bảo đảm lợi ích cho các bên liên
quan, trong quá trình giải quyết phá sản, toàn bộ tài sản của con nợ sẽ được
đánh giá, tổng kết và đưa vào một quỹ chung để chi trả cho các chủ nợ theo thứ
tự ưu tiên.



Sau khi doanh nghiệp bị thanh lý và tài sản được chia cho các chủ nợ thì con
nợ bị xoá sổ và được giải thoát hoàn toàn trách nhiệm về tài chính đối với các
chủ nợ.
1.1.2.4 Phân biệt giải thể và phá sản.
Phá sản và giải thể là hai chế định hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên vẫn có

những điểm tương đổng nhất định. Do vậy việc phân biệt hai chế định này có ý
nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng giúp, chúng ta áp dụng đúng trình tự, thủ tục,
đảm bảo lợi ích cho các chủ thể liên quan,
a. Những điểm giống nhau.
Phá sản và giải thể là hai chế định có những nét tương đồng nhất định được
thể hiện qua những điểm cơ bản sau đây:



Về mục đích áp dụng: Thủ tục phá sản được áp dụng để xử lý các doanh
nghiệp gặp khó khăn về tài chính, theo đó doanh nghiệp mắc nợ có thể bị
thanh lý, tài sản bị phân chia cho các chủ nợ và chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại
của mình. Thủ tục giải thể, trong nhiều trường hợp, cũng được áp dụng với
mục đích như vậy. Đây chính là điều kiện dẫn tói sự lẫn lộn giữa thủ tục phá
sản với thủ tục giải thể của các chủ thể có liên quan.



Tính công khai cùa thủ tục: Cả hai thủ tục đều phải được thông báo công khai
cho các bên có liên quan.



Về xử lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ: Trong cả hai thủ tục, tài sản của
doanh nghiệp được gộp vào một quĩ chung để chi trả cho các chủ nợ. Họ
được phân chia thành từng nhóm chủ nợ. Trong mỗi nhóm, các chủ nợ đều có
quyền ngang nhau trong việc đòi nợ và thanh toán nợ, mọi yêu cầu của chủ
nợ đều được đưa ra xem xét và được thanh toán theo một thứ tự nhất định.

15


b. Sự khác biệt giữa giải thể và phá sản.
Thứ nhất, vể lý do áp dụng thủ tục.
Nếu như thủ tục phá sản áp dụng vào lý do duy nhất là tình trạng mất khả
năng thanh toán nợ đến hạn thì lý do dẫn đến giải thể rộng hơn rất nhiều mà có thể
chỉ ra sau đây:



Hết hạn nhưng không gia hạn giấy đăng ký kinh doanh



Vi phạm những quy định của pháp luật (không đảm bảo về số lượng thành
viên tối thiểu, về vốn pháp định, không hoạt động trong vòng một năm,
không báo cáo kinh doanh, ngành nghề bị cấm....) và bị thu hồi giấy phép.



Thoả thuận của các thành viên sỏ hữu hay quyết định của chủ sở hữu hoặc
đại diện của chủ sở hữu doanh nghiệp, khi doanh nghiệp không còn mục tiêu
hoặc không đạt được mục tiêu hoạt động



Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến giải thể thì cũng
không đến mức mất khả năng thanh toán nợ đến hạn dù có thể thua lỗ đến 3/4
tổng vốn điều lệ.
Thứ hai, về tính chất cùa thủ tục.
Giải thể mang tính chất của một thủ tục hành chính, doanh nghiệp muốn giải

thể phải nộp đơn tới cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập và cấp giấy phép
kinh doanh giải quyết. Trong khi đó, phá sản lại là một thủ tục tư pháp do Toà án
tiến hành.
Thứ ba. về đối tượng có quyền đề nghị áp dụng thủ tục.
Đối tượng có quyền đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là chủ nợ,
người lao động và bản thân chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh

nghiệp. Trong khi đó, đối tượng có quyền nộp đơn đề nghị giải thể là chủ sở hữu
doanh nghiệp hoặc thành viên cuả công ty hoặc đại hội cổ đồng.
Thứ tư. về đối tượng có quyền quyết đinh.
Đối tượng có quyền quyết định giải thể doanh nghiệp Nhà nước chính là
người quyết đinh thành lập doanh nghiệp đó. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc
(doanh theo Luật doanh nghiệp 1999 thì việc quyết định giải thể doanh nghiệp hoàn
toàn do doanh nghiệp quyết định, trừ phi doanh nghiệp bị các cơ quan chức năng

16


yêu cầu hoặc thu hồi giấy phép. Còn đối với phá sản chỉ có Toà án mới có quyền
quyết định.
Thứ năm«vai trò của các chủ nợ.
Trong giải thể, các chủ nợ hoàn toàn bị động toàn bộ thủ tục giải thể sẽ do
hội đổng giải thể doanh nghiệp tiến hành. Trong thủ tục phá sản các chủ nợ đóng vai
trò tích cực hơn khi tham gia vào quyết định hầu hết các quá trình của thủ tục như
khởi động thủ tục bằng việc đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, tham
gia hội nghị chù nợ, thông qua phương án hoà giải, phương án phân chia tài sản của
doanh nghiệp, thực hiện giám sát doanh nghiệp w...
Thứ sáu, kết thúc của thủ tục.
Giải thể bao giờ cũng dẫn đến việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp và
xoá tên của doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh. Kể từ thòi điểm đó doanh
nghiệp không còn tổn tại. Song đối với phá sản không chắc đã dẫn đến kết quả đó,
Trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, do nhiều nguyên nhân khác
nhau làm cho quá trình giải quyết bị tạm ngưng hoặc bị đình chỉ. Thậm chí, doanh
nghiệp có thể được mua lại khi đang trong tiến trình của thủ tục và tiếp tục được duy
trì hoạt động theo một phương thức quản lý mới. Lẽ đương nhiên, chủ sở hữu mới
phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản nợ.
Thứ bảy, về điều kiện áp dụng thủ tục.

Doanh nghiệp, để được tiến hành theo thủ tục giải thể, phải không được thua
lỗ đến mức mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, doanh nghiệp phải thanh toán hết
mọi khoản nợ và thanh lý mọi hợp đồng đã ký kết. Thủ tục phá sản không đặt ra
điều kiện này mà chỉ yêu cầu doanh nghiệp, để được áp dụng thủ tục phá sản, phải
đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đế hạn, việc doanh nghiệp có
thanh toán hết được mọi khoản nợ hay không phải là vấn đề quan trọng.
Thứ tám, Trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh nghiệp.
Sau khi doanh nghiệp bị giải thể, người quản lý doanh nghiệp hết trách nhiệm
và không bị hạn chế trong việc đảm đương các chức vụ điều hành, quản lý các
doanh nghiệp khác. Trái lại, trong thủ tục phá sản, chế tài của pháp luật được đặt ra


bằng việc cấm người quản lý doanh nghiệp đảm đương các chức vụ điều hành, quản
lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào trong một khoảng thời gian nhất định.
1.2 PHÁP LUẬT VỂ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP.
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật phá sản ở Việt Nam và
trên thế giới.
Trong thời kỳ cổ đại, các quan hệ giao lưu thương mại của người La Mã cổ đại
đã rất phát triển và do vậy, sự phá sản của các thương gia trong thời kỳ này đã là một
thực tế phổ biến. Các tài liệu lịch sử đã chứng minh rằng, pháp luật về pháp sản đã ra
đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của các quan hệ thương mại từ thời La Mã
cổ đại.
Trong thời kỳ này, việc phá sản của một thương gia đồng nghĩa với việc kinh
doanh cùa người này đã hoàn toàn thất bại, con nợ đã không thanh toán được các
khoản nợ và tài sản của họ sẽ bị các chủ nợ xâu xé, tranh giành. Thậm chí, bản thân
họ và gia đình sẽ bị bắt làm nô lệ. Tình trạng này tất yếu dẫn tới sự bất ổn cùa xã hội
đã buộc Nhà nước La Mã đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để từ đó phân chia
cho các chủ nợ theo một trật tự nhất định. Dần dần, Nhà nước La Mã đã quy chuẩn
cách thức xử lý tình trạng thương gia gặp khó khăn trong kinh doanh đến mức
không trả được nợ đến hạn, hình thành nên pháp luật về phá sản.

Trong thời trung cổ, tại nhiểu quốc gia Châu Âu, các chế định pháp luật liên
quan đến việc xử lý tình trạng không thanh toán được nợ cũng đã được ban hành.
Ban đầu chỉ bó hẹp trong lĩnh vực thương mại, sau đó dần được mở rộng ra nhiều
lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung, pháp luật về phá sản trong các thời đại nêu trên đều mang nặng
tính trừng phạt gắt gao, con nợ khi không trả được nợ, thì không chỉ tài sản của họ sẽ
bị đem ra thanh lý ngay mà ngay chính bản thân họ và gia đình cũng chịu những chế
tài mang tính hình sự rất nghiêm khắc như bị bỏ tù, bị bắt làm nô lệ thậm chí có thể bị
giết.v.v.. Điều này đã gây ra nhiều thiệt hại cho con nợ và gây bất ổn trong xã hội.
Trong thời đại hiện nay, với sự bùng nổ của nhân quyền, tự do và dân chủ,
pháp luật phá sản hiện đại đã có cách nhìn khoan dung hơn đối với những người lâm
vào tình trạng phá sản, bởi bản thân hoạt động kinh doanh đã là một lĩnh vực đầy

18


khó khăn và rủi ro. Mặt khác, hậu quả của phá sản là rất lớn, thương gia bị phá sản
được coi là những người kém may mắn, sa cơ, thất thế cần được bảo vệ. Do vậy, xu
hướng pháp luật phá sản hiện nay trên thế giới không chỉ đặt ra những thiết chế bảo
vệ lợi ích cho chủ nợ mà còn quan tâm bảo vệ lợi ích của cả con nợ.
Bên cạnh đó, pháp luật phá sản hiện đại còn phản ánh những xu thế chung của
thòd đại. Cùng với sự bùng nổ của xu thế toàn cầu hoá, nhu cầu về hội nhập kinh tế
quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Pháp luật
phá sản của mỗi nước không chỉ phản ánh những đặc điểm kinh tế, xã hội, chính trị
... của quốc gia mình mà còn phản ánh những xu hướng chung của thời đại. Vì thế,
nhu cầu nhất thể hoá pháp luật phá sản đang là vấh đề đặt ra bằng việc giải quyết
các xung đột pháp luật giữa các quốc gia thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế
song phương và đa phương. Chẳng hạn, trong khuôn khổ của liên minh Châu âu
đang cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật chung. Tuy nhiên, cho đến nay,
riêng trong lĩnh vực phá sản lại chưa đạt được sự nhất trí do có sự khác biệt rất lớn

trong việc sắp xếp thứ tự thanh toán. [35, Tr 8]
Ở Việt Nam, pháp luật về phá sản đã được du nhập vào trong quá trình xâm
lược của thực dân Pháp và sự phát triển của nó được chia làm nhiều giai đoạn.
Ngay sau khi bình định xong xứ Nam Kỳ và đặt được ách đô hộ tại đây, người
Pháp đã cho áp dụng chế định về phá sản cho toàn xứ Nam Kỳ. Chế định này hoàn
toàn được “học tập” từ Bộ luật thương mại Pháp. Sau đó, chế định này cũng được áp
dụng tại Bắc*Kỳ vào năm 1888 (ngay sau khi người Pháp hoàn thành quá trình xâm
lược nước ta). Năm 1942 triều đình Huế ban hành Bộ luật thương mại áp dụng trên
lãnh thổ Trung Kỳ.
Nhìn chung, pháp luật thời kỳ này phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa
của người Pháp tại Đông Dương (Việt Nam).
Năm 1954, sau khi người Pháp rút chạy khỏi Việt Nam, lãnh thổ nước ta chia
làm hai miền với hai chế độ chính tri khác nhau. Tại miền Nam tính từ vĩ tuyến 17
trở vào, chính quyền Sài Gòn ban đầu cũng cho áp dụng chế định phá sản và nó
mang nặng dấu ấn pháp luật của người Pháp. Đến năm 1972, chính quyền Sài Gòn

19


mới ban hành Luật thương mại riêng trong đó có phân biệt chế định khánh tận và tư
pháp thanh toán.
Tại Miển Bắc, có thể khẳng định trong suốt một giai đoạn từ năm 1954 đến
năm 1985 với việc duy trì cơ chế quản lý tập trung bao cấp pháp luật phá sản doanh
nghiệp không được đặt ra và không tồn tại.
Chỉ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, khi nền kinh tế thị trường được thừa
nhận và phát triển, vấn đề phá sản doanh nghiệp mới được đặt ra và pháp luật về phá
sản doanh nghiệp mới được quan tâm như một bộ phận quan trọng của hệ thống
pháp luật kinh tế. Tuy nhiên, pháp Luật phá sản doanh nghiệp với tính cách là một
hệ thống cũng chỉ mới xuất hiện khi ngày 30/12/1993 Luật phá sản doanh nghiệp
Việt Nam được Quốc Hội thông qua, được công bô' vào ngày 30/12/1993 và có hiệu

lực thi hành từ ngày 01/07/1994. Sau đó là một loạt các văn bản dưới luật của Chính
phủ và Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng và thi hành Luật phá sản
doanh nghiệp.
Nhìn chung Luật phá sản doanh nghiệp hiện hành đo được xây dựng và ban
hành ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới nên còn chịu nhiều ảnh hưởng của pháp
luật các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và còn mang nặng dấu ấn tư duy của thời kỳ
trước đây.
1.2.2 Mục tiêu của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường.
Phá sản là một hiện tượng nội tại, tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Phá
sản trước hết là một hiện tượng kinh tế được biểu hiện ra như là một sản phẩm tất
yếu cùa quá trình cạnh tranh, đào thải, chọn lọc tự nhiên, giúp loại bỏ những doanh
nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tạo sự bình đẳng trong canh tranh và làm trong sạch,
lành mạnh hoá nển kinh tế.
Sự tồn tại của thù tục phá sản và việc đe doạ áp dụng thủ tục phá sản là một cơ
chế quan trọng đưa các bên có liên quan vào những nguyên tắc bắt buộc của thị
trưòng, góp phần nâng cao đạo đức trong kinh doanh. Xét về mặt này, phá sản mang
tính tích cực.
Tuy nhiên, phá sản cũng thể hiện nhiều tính tiêu cực. Trước hết, phá sản biểu
hiện tập trung những xung đột về lợi ích giữa các bên có liên quan như xung đột về

20


lợi ích giữa các chủ nợ với nhau, xung đột giữa các chủ nợ với con nợ....những xung
đột này có thể gây nên tình trạng vô chính phủ trong việc đòi nợ và thanh toán nợ.
Tiếp đó, phá sản có thể đem lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế- xã hội như
nạn thất nghiệp và sự bất ổn xã hội do thất nghiệp gây nên, làm tăng gánh nặng đối
với ngân sách Nhà nước và xã hội, tạo ra những tác động bất lợi đối với chính sách
kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Mặt khác, phá sản cũng sẽ làm mất đi một công cụ sản
xuất và sẽ kéo theo sự khó khăn về tài chính của các đối tác khác của doanh nghiệp

bị phá sản (tính dây truyền của phá sản)
Tất cả những vấn đề đó đặt ra yêu cầu phải có sự điều chỉnh của pháp luật về
phá sản. Vì vậy, pháp luật phá sản luôn mong muốn đạt được những mục tiêu sau đây:


Bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa kinh tế và xã hội.



Bảo đảm tính công bằng và bình đẳng đối với các thành phần kinh tế, các
nhóm lợi ích, các chủ thể liên quan.



Hạn chế và xoá bỏ tình trạng vô chính phủ trong việc thu hổi và thanh toán nợ.
1.2.3 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường.
Pháp luật phá sản doanh nghiệp là một tổng thể các quy định của Nhà nước

liên quan đến việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán cùa doanh nghiệp
(tình trạng phá sản). Nó là một bộ phận hợp thành quan trọng trong hệ thống pháp
luật kinh tế, điều chỉnh một lĩnh vực đặc biệt của nền kinh tế thị trường: Lĩnh vực
phá sản doanh nghiệp. Pháp luật phá sản, có vai trò rất quan trọng đối với đời sống
kinh tế - xã hội, vai trò đó được thể hiện chù yếu ở những nội dung cơ bản sau đây:
a. Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ, cung cấp
cho các chủ nợ một công cụ để thực hiện việc đòi nợ.
Khi một doanh nghiệp bị “vỡ nợ”, các chủ nợ là những người trước tiên có
nguy cơ mất trắng những khoản tín dụng mà trước đây đã cung ứng cho con nợ. Do
vậy, pháp luật phá sản, ngay từ khi ra đời đã đặt lợi ích của chủ nợ là mục tiêu đầu
tiên cần bảo vệ. Mặt khác, phá sản luôn mang tính dây truyền, sự “vỡ nợ” của một
doanh nghiệp này có thể kéo theo sự “đổ vỡ” của một loạt doanh nghiệp khác. Bởi

vậy, việc bảo vộ lợi ích của chù nợ cũng gắn liền với việc bảo vệ và duy trì sự ổn
định của nền kinh tế.

21


×