ề cuôộc khủng hoảng tiền têộ ở Đông Nam A
•
•
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn.
Từ giữa những năm 60 đến nay, các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NIEs) ở Đông
Nam A' (ĐNA) đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của rất nhiều người trên thế giới bởi lẽ
tốc độ tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế khác đều khá cao. Thế nhưng giờ đây
bên cạnh sự thần kỳ đó, các nước Đông Nam A' (ĐNA) đang được cả thế giới theo dõi
hàng ngày bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ được bắt đầu từ Thái Lan và trong đó nguy cơ
lan ra toàn bộ khu vực. Dưới đây là một số ý kiến sơ bộ về cuộc khủng hoảng này.
I. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Trong giai đoạn 1985 - 1995, nền kinh tế Thái Lan đạt mức tăng trưởng kinh tế rất cao,
bình quân 9%/năm. Thế nhưng năm 1996, chỉ số này tụt xuống còn 6,4%/năm, và dự kiến
năm 1997, chỉ còn 5% hoặc thấp hơn. Đồng thời cùng với mức tăng trưởng bắt đầu giảm
xuống, ngày 1/7/1997 Thái Lan đã chính thức tuyên bố thả nổi đồng Baht sau hàng chục
năm duy trì tỷ giá hối đoái cố định. Và chỉ sau 1 ngày đồng Baht đã bị mất giá 20%. Tỷ
giá của đồng Baht so với USD đang từ 25 Baht/1 USD xuống còn 39 Baht/1 USD. Tại
thời điểm thấp nhất tỷ giá này chỉ còn 38 Baht/1 USD. Đồng thời giá cổ phiếu và trái
phiếu trên thị trường Thái Lan cũng giảm mạnh, có thời điểm đã giảm đến 23% so với
ngày trước khi quyết định thả nổi đồng Baht. Điều này sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần đối
với các công ty tài chính Thái Lan và gây tổn hại cho nền kinh tế nước này. Vậy nguyên
nhân nào buộc Chính phủ Thái Lan phải thả nổi đồng tiền của mình và đồng Baht lại bị
mất giá khủng khiếp như vậy? Theo các chuyên gia về kinh tế quốc tế, có một số nguyên
nhân chính như sau :
1. Đã từ lâu rất nhiều học giả trên khắp thế giới đều ngưỡng mộ "Thuyết châu A'" là học
thuyết coi trọng chính sách kinh tế chỉ huy hướng vào xuất khẩu trong một nền chính trị
gò ép đã giúp các nước này cất cánh rất nhanh. Có những nước chỉ trong vòng 15 - 20
năm đã có thể bắt kịp phương Tây. Nhưng thực ra, cách tăng trưởng này đã bị lạc hướng
trong những năm gần đây. Chính sách kinh tế chỉ huy đã dẫn đến sự thông đồng giữa
chính trị và kinh doanh, và do đó đã tạo ra một thiểu số những người có quyền lực và có
tiền tiến hành các hoạt động đầu cơ, đặc biệt về địa ốc. Số tiền thu lợi chui vào túi những
người này chứ không phải dùng để hiện đại hoá kỹ nghệ và nâng cao hiệu quả của hệ
thống sản xuất nội địa. Do đó, theo Paul Kugman mặc dù các nước Đông A' trong hơn 3
thập kỷ qua luôn tăng trưởng không ngừng, nhưng chắc chắn tốc độ tăng trưởng sẽ bị hạn
chế do kỹ thuật sản xuất thiếu hiệu quả hoặc kỹ thuật sản xuất không được nâng cao. Nếu
các nước châu A' vẫn tiếp tục áp dụng mô hình đầu tư tràn lan như trước đây mà không
thay đổi chính sách tổng thể, lấy nâng cao hiệu suất sản xuất và đổi mới kỹ thuật để thúc
đẩy kinh tế phát triển, thì cho dù tổng sản xuất của các nước châu A' có thể đứng đầu thế
giới, thì điều đó cũng chỉ có thể là do số dân của châu A' quá nhiều mà thôi, còn chỉ tiêu
thu nhập quốc dân đầu người ở châu A' vẫn thuộc loại thấp của thế giới. Do đó, có thể
thấy do mô hình tăng trưởng chủ yếu chú trọng vào đầu tư tràn lan, tất yếu sẽ dẫn đến tốc
độ tăng trưởng giảm, vì vậy sức mạnh của nền kinh tế sẽ đi xuống và giá trị đồng tiền sẽ
không còn cao như cũ, nếu không có sự điều chỉnh của ngân hàng Trung ương. Và điều
đó tất yếu dẫn đến phải thả nổi đồng tiền để nó trở về với giá trị đích thực của nó. Đây có
thể coi là nguyên nhân tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở tất cả các nước ĐNA
trong đó có Thái Lan.
2. Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ việc theo đuổi một chiến
lược phát triển không cân đối. Trong suốt 30 năm qua, Thái Lan hầu như tập trung mọi
nỗ lực cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và dịch chuyển cơ cấu theo hướng hướng vào xuất
khẩu, nhưng đồng thời Thái Lan lại không chú ý quan tâm thoả đáng tới hệ thống tài
chính. Vì vậy khi nền kinh tế bước vào nhịp tăng trưởng mới, khi nhu cầu phát triển và
các điều kiện, nhất là điều kiện quốc tế thay đổi thì chỉ cần một sự cố chưa nghiêm trọng
lắm cũng đủ để tạo nên cơn bão tài chính của Thái Lan. Logic này phù hợp với dự đoán
mà một số nhà kinh tế đưa ra cách đây vài năm cho rằng, việc ít quan tâm phát triển khu
vực tài chính, nhanh chóng hiện đại hoá nó với hai cấu trúc xương sống là ngân hàng và
thị trường chứng khoán sẽ tạo thành điểm tắc nghẽn lớn nhất đối với tiến trình phát triển
kinh tế của các con rồng. Thực tiễn Thái Lan đã cho thấy rằng ngay cả khi một nước đang
thực thi thành công mô hình phát triển thì ranh giới giữa sự thần kỳ và khủng hoảng vẫn
rất mong manh.
3. Cũng như nhiều nền kinh tế mới công nghiệp hoá Đông A' khác, nền kinh tế Thái Lan
tăng trưởng chủ yếu dựa vào mức tăng trưởng của xuất khẩu, trong đó đặc biệt lệ thuộc
vào mức tăng trưởng của xuất khẩu điện tử. Thế nhưng trong thời gian gần đây sức tăng
trưởng xuất khẩu của Thái Lan bị suy yếu nhanh chóng. Năm 1996, xuất khẩu của Thái
Lan tăng chưa đầy 4%, so với mức tăng bình quân hơn 25% của giai đoạn 1985 - 1995.
Nguyên nhân của tình hình này là sự sụt giảm nhu cầu trên thị trường hàng điện tử của
thế giới, đồng thời thị trường tiêu thụ hàng dệt, sợi của Thái Lan cũng bị giảm sút mạnh
do sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách là đối thủ cạnh tranh hùng mạnh nhất trong lĩnh
vực này (Do giá nhân công ở Thái Lan làm mất lợi thế cạnh tranh của mình so với Trung
Quốc). Ngoài ra do sự đánh giá quá cao giá trị đồng Baht trong một thời gian dài đã làm
suy yếu sức cạnh tranh xuất khẩu và giảm tính hấp dẫn của ngành du lịch. Đồng thời
cũng giống như các nước Đông A' khác để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, Thái
Lan đã liên tục nhập khẩu nhiều tư bản để tài trợ các cơ hội đầu tư. Do đó, có thể thấy
Thái Lan trở thành quốc gia có mức gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn nhất trên thế
giới. Năm 1996, mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan, Malaysia ngang với mức
thâm hụt của Mehico năm 1994 (khoảng 8,2% GDP). Theo tính toán của IMF nếu mức
thâm hụt của tài khoản vãng lai của một nước ở mức 5% của GDP thì nước đó được coi
là đang đứng trước nguy cơ của cuộc khủng hoảng.
4. Giống như nhiều nước láng giềng, Thái Lan thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định
so với đồng USD. Điều đó đồng nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht
nên đã làm giảm sút năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Thái Lan. Thật vậy, ngay từ đầu
năm 1996 người ta đã dự báo rằng các đồng tiền châu A', trong đó có đồng Baht đã duy
trì tỷ giá hối đoái của mình căn cứ theo đồng USD, trong khi đó giá trị của đồng USD so
với đồng Yên Nhật và các đồng tiền khác tăng rất mạnh. Tuy tỷ giá chính thức giữa đồng
Baht so với đồng USD có tăng lên, nhưng nếu theo thuyết ngang giá trong sức mua thì
đồng Baht đã giảm giá rất nhiều (khoảng 20%) so với đồng USD mà lại chỉ được điều
chỉnh rất ít (khoảng 6%). Do đó việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả
lại giá trị đích thực cho nó, nếu không, nền kinh tế hướng vào xuất khẩu của Thái Lan sẽ
không thể xuất khẩu được nữa vì giá hàng hoá đã tăng một cách tương đối so với giá
hàng hoá ở nước ngoài.
Hơn nữa khi các nhà đầu cơ dự đoán thấy đồng Baht được định giá quá cao họ sẽ đua
nhau đi vay đồng Baht ở ngân hàng, rồi đem số tiền đó để đi mua USD và chờ đợi khi
đồng Baht bị phá giá thì họ sẽ thu lợi lớn. Quá trình này đã thúc đẩy cuộc khủng hoảng
tài chính ở Thái Lan chóng xảy ra.
Một số ýkiến cho rằng cũng giống như ở nhiều nước trên thế giới, nạn tham nhũng, hối lộ
ở Thái Lan đã gây ra tình trạng trì trệ kinh tế dẫn đến xuất khẩu giảm, thâm hụt cán cân
thanh toán và do đó dẫn đến phá giá.
Tóm lại, Thái Lan và một số nước ĐNA khác rơi vào cuộc khủng hoảng tiền tệ vừa qua
là do các nước này đã dùng đồng đô la Mỹ để đảm bảo giá trị cho đồng tiền riêng của họ.
Một hệ thống tiền tệ cố định, thiếu linh động như vậy tất yếu sẽ bị khủng hoảng. Vì tỷ giá
hối đoái cố định sẽ không cho phép có được sự điều chỉnh qui củ có trật tự như trong
trường hợp tỷ giá hối đoái được thả nổi.
II. Tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ tới hệ thống tài chính của khu vực và
châu A'.
1. Điều đáng báo động nhất sau khi Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht là nó không chỉ
tác động tiêu cực đến nền kinh tế Thái Lan mà nó còn gây ra một cuộc khủng hoảng tài
chính lan truyền sang tất cả các nước ĐNA khác. Không chỉ đồng Baht mà cả đồng Peso
(Philippines), đồng Ringit (Malaysia), đồng đô la (Singapore) và đồng Rupiah
(Indonesia) cũng đều bị sức ép phải giảm giá so với đồng USD.
Khi đồng Baht bị thả nổi, các quĩ đầu tư cũng như các nhà đầu cơ đã không bỏ lỡ cơ hội
hưởng chênh lệch giá, họ không chỉ tấn công vào đồng Baht mà còn cả vào đồng Peso
Philippines và đồng Rupiah Indonesia. Sau khi các đồng tiền này lần lượt bị phá giá, giới
đầu cơ đã quay sang tấn công vào đồng đô la Singapore và đồng Ringit Mlaysia.
Mặc dù có đủ khả năng để nâng đỡ đồng tiền của mình, nhưng chính phủ Malaysia và
Singapore đã tỏ ra không thiết tha để thực hiện điều này bởi vì nếu họ can thiệp để ổn
định đồng nội tệ của mình thì giá trị của các đồng tiền này sẽ quá cao so với các đồng tiền
khác trong khu vực và do vậy đã làm giảm khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu. Cuộc
khủng hoảng tài chính ở ĐNA có thể sẽ làm cho các nhà đầu tư của Mỹ và châu Âu là
những người thường có cái nhìn toàn cục sẽ rút vốn của họ để chuyển sang các vùng
ngoài châu A'. Chẳng hạn sang Mỹ, Đông Âu hoặc Mỹ Latinh. Còn các nhà đầu tư châu
A' sẽ chuyển vốn của mình sang các thị trường ngoài ĐNA là nơi ít bị ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính hơn, chẳng hạn như Hồng Kông, Trung Quốc và Â'n Độ.
Tuy nhiên theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế thì trong ngắn hạn, nhiều đồng tiền
ĐNA có thể tiếp tục bị giảm giá nhưng với tốc độ chậm lại và với tỷ giá giảm rất ít.
Nhưng không phải vì thế mà nguồn vốn của các nước này sẽ ồ ạt ra đi, lãi suất và lạm
phát sẽ tăng vọt, kinh tế sẽ đình đốn và ngừng trệ, mà trái lại, việc phá giá của các đồng
tiền ĐNA sẽ có thể là sự mở đầu cho các đồng tiền này biểu hiện đúng giá trị thực của
mình mà không cần có sự can thiệp quá mức của chính phủ và tạo cơ hội đẩy mạnh xuất
khẩu. Xuất khẩu tăng sẽ lại là tiền đề để các đồng tiền ĐNA ổn định và vững lên một
cách lý tưởng. Do đó các nước ĐNA sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh như đã từng phát triển
trong hơn ba thập kỷ qua.
2. Cú sốc tiền tệ Thái Lan còn có một tác động rất lớn khác, đó là tác động tới các thị
trường chứng khoán ở ĐNA. Trong mấy ngày đầu kể từ khi cuộc khủng hoảng mới xảy
ra, các thị trường trái phiếu ở ĐNA đã chống đỡ thành công được trước những ảnh hưởng
lan truyền từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan. Thậm chí các thị trường trái phiếu,
cổ phiếu của Philipppines, Malaysia và Indonesia còn được lợi nhiều do có nhiều nhà đầu
cơ háo lời đã chuyển từ Thái Lan sang mua chứng khoán ở các nước ĐNA khác có lợi tức
cao hơn. Nhưng cho đến nay, các thị trường trái phiếu ở châu A' nói chung và ĐNA nói
riêng đều tỏ ra uể oải vì dường như các nhà đầu tư đã cảm nhận được sâu sắc những tác
động tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan đến các thị trường trái phiếu, cổ
phiếu trong khu vực và ở châu lục này.
3. Do các đồng tiền bị phá giá nên mức giá của các hàng hoá nhu yếu phẩm sẽ tăng lên và
lạm phát có thể xảy ra ở mức cao hơn bình thường ở tất cả các nước ĐNA. Giá lương
thực và các nhu yếu phẩm khác tăng từ 0,3% đến 1,56% trong khi đó mức tăng của
những mặt hàng như nước giải khát đóng chai, xăng dầu, điện thoại di động, hàng điện
tử, xe máy, băng video, sơn và thép thanh có thể tăng từ 2,72 đến 5%. Một số mặt hàng
khác như sữa, dầu ăn, cá, ô tô chở khách... có thể tăng từ 5,5 đến 13,7%.
Những ngành ít phải nhập khẩu nguyên vật liệu sẽ có nhiều triển vọng tốt đẹp và có
doanh thu cao vì chúng không phải đối chọi với mức giá hàng nhập khác tăng tương đối.
Ví dụ như ngành dệt, may là có nhiều lợi thế vì ngành này chỉ phải nhập một tỷ lệ nhỏ
nguyên liệu từ nước ngoài. Tuy nhiên, để cạnh tranh tốt với sản phẩm cùng loại của các
công ty khác trên thế giới thì ngành này lại phải đương đầu với khó khăn do phải vay nợ
nước ngoài để nâng cấp trang thiết bị. Với sự mất giá của đồng tiền ĐNA từ 20% đến
50%, khu vực tư nhân nói chung đang có nguy cơ lỗ nặng ở những khoản vay mượn
ngoài.
Trong khi đó một số ngành khác, chẳng hạn ngành sản xuất thép sẽ bị ảnh hưởng mạnh vì
phần lớn ngành này ở các nước ĐNA phải nhập khẩu tới 50% nguyên liệu, với mức giá
nhập cao tương đối, do đó sẽ đẩy giá thành sản xuất thép tăng lên.
Đối với sản xuất nông nghiệp, do giá nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất như phân hoá
học, thuốc trừ sâu, giống cây, công cụ sản xuất xăng dầu, giá vận chuyển, giá nhân công
đều tăng nên đòi hỏi người nông dân phải có nhiều vốn hơn để đầu tư sản xuất. Thêm vào
đó, lãi xuất ngân hàng cao, từ 30% đến 50% một tháng khiến chi phí cho đầu tư sản xuất
và xuất khẩu càng cao. Ngoài ra, những nhà hoạt động xuất khẩu dễ gặp phải rủi ro vì tỷ
giá hối đoái không ổn định.
4. Các đồng tiền ĐNA bị phá giá trong hơn hai tháng qua đã làm cho hàng xuất khẩu của
họ có khả năng cạnh tranh hơn ở các thị trường Mỹ và Nhật Bản, do đó thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu của các nước này. Dấu hiệu phục hồi xuất khẩu đang ở trong tầm tay của
họ. Hầu hết tất cả các nước trong khu vực đã thông báo tốc độ xuất khẩu đang tăng nhanh
trong mấy tháng qua. Tại Philippines, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng 22%. Trong
7 tháng đầu năm 1997 đạt 13,76 tỷ USD so với 11,27 tỷ USD trong cùng kỳ năm 1996.
Tại Singapore nước có hướng buôn bán chiếm 2/3 nền kinh tế của họ đã có mức tăng
xuất khẩu các hàng hoá phi dầu mỏ là 6,9% trong tháng 7/1997 so với cùng tháng này
năm ngoái, vượt mức 5,5% là mức các nhà phân tích đã dự đoán. Hoạt động xuất khẩu
của Thái Lan, Indonesia cũng đang được cải thiện. Lẽ dĩ nhiên ngoài nguyên nhân đồng
tiền bị mất giá, còn có nhiều nguyên nhân khác đã thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của
nước này, ví như nhu cầu về hàng điện tử, mặt hàng xuất khẩu chiến lược chủ chốt của
các nước ĐNA đang phục hồi. Đồng thời các nước này còn thông qua hàng loạt các biện
pháp thúc đẩy xuất khẩu như cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho hoạt động xuất khẩu và
thiết lập các liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu.
5. Các nhà kinh tế đều nhận định rằng tất cả các nước ĐNA hiện đang lâm vào cuộc
khủng hoảng tiền tệ sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn trong năm 1997 và 1998.
Theo dự đoán mới đây nhất, tổng sản phẩm quốc nội của Malaysia tăng khoảng 7,7%
trong năm 1997 và 7,6% trong năm 1998 so với năm 1996 là 8,3%. GDP của Thái Lan dự
tính sẽ tăng khoảng 1,9% trong năm nay và 2,3% trong năm 1996 là 7,2%. Trong khi đó
GDP của Philippines có thể có mức tăng xấp xỉ mức tăng của năm 1996 (5,8%) đạt 5,6%
trong năm 1997 và 5,8% trong năm 1998. Mức tăng trưởng GDP của Indonesia cũng ít bị
ảnh hưởng và có mức tăng tương tự như năm 1996 cho hai năm 1997 và 1998 là vào
khoảng 7,5%. Còn mức tăng GDP của Singapore so với năm 1996 (8,0%), thì trong năm
1997 có thấp hơn chút ít đạt 7,5%.
Vậy tại sao sự phá giá tiền tệ lại có ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng ? Điều đó được lý
giải như sau: trước đây các nước ĐNA đã thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng, khối lượng
tiền tệ tăng rất nhanh do chính phủ chi rất nhiều tiền cho các công trình đầu tư công cộng,
chẳng hạn ở Malaysia, lượng cung ứng tiền tệ cả năm 1996 vẫn tăng vượt chỉ tiêu 20%
do ngân hàng Trung ương đề ra. Điều đó dẫn tới bội chi ngân sách và để bù đắp khoản
bội chi thì các nước này đã phải tiến hành vay nợ nước ngoài. Tỷ lệ nợ nước ngoài so với
GDP của Indonesia, Philippines và Thái Lan trong năm 1996 còn lớn hơn cả của Mehico
khi xảy ra khủng hoảng vào năm 1994. Tới khi khủng hoảng xảy ra các nước này phải
thực hiện triệt để chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm chi tiêu cho đầu tư công cộng. Đồng
thời để giảm bớt tốc độ phá giá, các nước này đã nâng lãi suất cho vay lên cao trên 30%
tháng, điều đó hạn chế đầu tư tư nhân. Do đó đã làm tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội giảm xuống. Tuy nhiên do tác động của phá giá nên đã tăng sức cạnh tranh hàng
xuất khẩu của các nước ĐNA so với Nhật và Mỹ, điều đó đã thúc đẩy hoatụ động sản
xuất xuất khẩu, do đó đã làm cho tốc độ tăng GDP được phục hồi đôi chút.
6. Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA chắc chắn sẽ có tác động tới đồng tiền của các khu
vực khác ở châu A' như tác động tới các đồng Won của Hàn Quốc, Nhân dân tệ của
Trung Quốc, Rupi của Â'n Độ và đô la của Hồng Kông. Vì nền kinh tế của các khu vực
này sẽ phải tự động điều chỉnh giá trị các đồng tiền của mình để có thể cạnh tranh được
với các nước xuất khẩu khác ở châu A'. Tuy nhiên, mức độ điều chỉnh giá trị của các
đồng tiền ở các khu vực khác nhau đến đâu lại phụ thuộc vào tiềm lực và sức mạnh kinh
tế của từng nước.
Ơ Trung Quốc, tỷ giá của đồng Nhân dân tệ (NDT) trong tháng 6/1997 là 8,2923
NDT/USD, thì bước sang tháng 7, khi cuộc khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA bắt đầu bùng nổ
thì tỷ giá của NDT so với đô la Mỹ đã tăng lên 8,2907 NDT/USD, rồi sau đó đạt 8,2903
NDT/USD vào ngày 1/8/1997 đạt 8,2855 NDT/USD. Vậy tại sao giá trị đồng NDT không
bị giảm giá do tác động của khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA? Người ta đưa ra ba lý do sau
đây:
Một là, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tiếp tục cao, đạt khoảng 120 tỷ USD vào cuối
tháng 6/1997 và dự kiến sẽ tăng lên 135 tỷ USD vào cuối năm 1997.
Hai là, thặng dư thương mại của Trung Quốc vẫn tăng mạnh, ước tính vào cuối 6 tháng
đầu năm 1997 thặng dư mậu dịch của Trung Quốc đạt 17,7 tỷ USD so với 12 tỷ USD của
cả năm 1996.
Ba là, Trung Quốc quản lý rất chặt chẽ và có hiệu quả luồng vốn đầu tư và nợ nước
ngoài. Trung Quốc là quốc gia thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, nhưng phần lớn là
vốn đầu tư trực tiếp và dài hạn, cho nên các nhà đầu tư không thể đột ngột chuyển một
lượng tiền lớn ra khỏi Trung Quốc để có thể châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tiền tệ và
phá giá đồng tiền nước này. Nợ nước ngoài của Trung Quốc chủ yếu là các khoản nợ
trung và dài hạn nên khó có thể gây sức ép đầu cơ, phá giá tiền tệ.
Hiện nay đồng đô la Hồng Kông vẫn chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ ở
ĐNA, nhưng theo các nhà phân tích tiền tệ, thì đồng HKD chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng vì
thứ nhất thị trường chứng khoán Hồng Kông rất nhạy cảm. Do trong năm 1997, tỷ giá
giữa đồng USD và HKD tương đối ổn định, điều đó đã kích thích các nhà đầu tư mua
chứng khoán bằng HKD, khiến tổng vốn chứng khoán tăng 20% so với cùng kỳ năm
ngoái, con số vào khoảng 100 tỷ HKD. Nếu người ta có cảm nhận là đồng HKD sẽ xuống
giá thì khi đó các nhà đầu tư sẽ ngay lập tức quyết định đổi tiền của họ sang một đồng
tiền khác ổn định hơn, khi đó đồng HKD sẽ phải chịu một áp lực không thể chịu đựng
nổi. Và nếu tình hình nghiêm trọng hơn nữa, thì Trung Quốc sẽ phải can thiệp để duy trì
sự ổn định của đồng HKD như họ đã cam kết. Số dự trữ ngoại hối của Trung Quốc cùng
với dự trữ của Hồng Kông đủ để đảm bảo duy trì được sự ổn định của HKD.
Thứ hai, do các đồng tiền ĐNA bị mất giá so với đồng USD, nên hiện nay người Mỹ và
người nước ngoài có thể mua bán và đầu tư với giá rẻ hơn nhiều tại các nước này. Thế
nhưng chính giá rẻ tại các nước ĐNA đã khiến cho Hồng Kông khó có thể cạnh tranh về
giá với các nước này. Chính vì thế Hồng Kông sẽ phải chịu mức thâm hụt cán cân thương
mại lớn và điều đó sẽ gây áp lực buộc đồng HKD phải giảm giá để tăng sức cạnh tranh
của mình. Chẳng hạn, hiện nay, Hồng Kông đang bị mất dần khách du lịch vì họ nhận
thấy nơi đây không những đắt đỏ mà không còn hấp dẫn như trước nữa. Tuy nhiên, vì lý
do kinh tế và chính trị, Hồng Kông sẽ cố giữ không phá giá đồng tiền của mình.
Ơ Hàn Quốc và Â'n Độ, cả hai đồng Won và Rupi đều đã bị ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tiền tệ ĐNA, và đều đã bị xuống giá, tuy nhiên, ngân hàng trung ương của Hàn
Quốc và Â'n Độ đã định ra tuyên bố là sẽ theo đuổi các chính sách để đảm bảo ổn định
được thị trường tài chính trong nước. Chẳng hạn, ngân hàng Trung ương cả hai nước đã
bỏ ra nhiều tỷ đô la Mỹ để mua đồng nội tệ vào nhằm duy trì tỷ giá trị đồng nội tệ của
mình.
7. Theo số liệu ước tính, năm 1996 giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang các
nước ĐNA chiếm khoảng 20% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Quan hệ ngoại
thương giữa nước ta với các nước ĐNA chủ yếu được thanh toán bằng USD hoặc vàng,
nhưng khi các đồng tiền ĐNA bị phá giá mạnh (xem bảng) sẽ tác động xấu đến các doanh
nghiệp có quan hệ làm ăn buôn bán với các nước ĐNA.
Bảng : Tình hình phá giá của các đồng tiền ĐNA
Đồng Tỷ giá so với USD Mức độ
ngày 1/7 6/10 phá giá
Baht / USD 25,65 36,37 42%
Rupi / USD 24,75 38,65 56%
Peso / USD 26,37 34,92 32%
MR / USD 2,5 3,38 35%
SGD / USD 1,43 1,548 8,3%
Nguồn : Tin kinh tế Việt Nam ngày 6/8/97, Đài BBC 6/10/97
Ngoại trừ đồng SGD bị phá giá 8,3%, 4 đồng tiền khác của khu vực ĐNA bị phá giá từ
32% đến 56% so với USD, trong khi đó đồng Việt Nam chỉ bị mất giá chút ít so với USD
(mới đây, ngày 17/10 ta mới bắt đầu phá giá 4,5% giá trị đồng Việt Nam) sẽ làm cho
hàng nhập khẩu từ các nước ĐNA vào Việt Nam bán với mức giá rẻ gần như tương ứng
với mức phá giá tương ứng của đồng tiền của các nước. Do đó hàng nhập từ các nước
ĐNA sẽ lấn át hàng nội của chúng ta ngay tại thị trường Việt Nam. Chính điều này đã
khuyến khích các nhà xuất khẩu của các nước ĐNA tăng lượng hàng bán sang Việt Nam,
đồng thời cũng khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hoá từ ĐNA
do giá rẻ hơn bằng cả hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch (buôn lậu qua biên giới).
Tình trạng buôn lậu trong thời gian này trở nên rất nghiêm trọng đặc biệt đối với biên
giới trên bộ. Chỉ tính riêng cửa khẩu Lao Bảo Quảng Trị, 90% hàng nhập lậu là hàng từ
Thái Lan. Các doanh nghiệp Việt Nam trong cả nước còn tồn kho nhiều hàng của ĐNA
sẽ bị lỗ nặng vì giá các loại hàng hoá này giảm nghiêm trọng. Rủi ro này là bất khả kháng
và không thể dự đoán được.
Đồng thời do các đồng tiền của ĐNA bị phá giá ở mức cao, điều đó tạo ra sức ép đối với
hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ĐNA phải giảm giá, nếu không
họ sẽ không nhập hàng của ta. Như vậy, nguồn thu do xuất khẩu sẽ giảm vì hai lẽ: thứ
nhất, giá xuất khẩu hạ thì những doanh nghiệp nhỏ sản xuất hàng xuất khẩu có thể phải
ngừng sản xuất vì doanh thu không đủ trang trải cho các yếu tố đầu vào. Thứ hai, những
doanh nghiệp lớn có thể tìm được thị trường khác khi bị ép giá, nhưng lượng xuất khẩu sẽ
giảm đi, đồng thời doanh thu cũng giảm xuống do giá xuất khẩu hạ.
Tóm lại cuộc khủng hoảng tiền tệ ĐNA bắt nguồn từ Thái Lan đã có ảnh hưởng tới toàn
khu vực ĐNA nói riêng và với châu A' nói chung, nhưng nó chỉ gây ra bất ổn định tài
chính ở những nơi có những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế và các nhà lãnh
đạo tỏ ra mất bình tĩnh khi cuộc khủng hoảng xảy ra.
III. Phương hướng khắc phục.
Nền tài chính thế giới đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mehico bắt đầu vào
ngày 20/12/1994 khi nước này tuyên bố phá giá đồng Peso 40% so với USD. (Nếu trước
ngày phá giá 1 USD bằng 3,46 Peso thì sau ngày phá giá 1 USD bằng 6 Peso, thậm chí có
lúc 1 USD bằng 8 Peso). Nợ nước ngoài của Mehico vượt quá 200 tỷ USD. Lạm phát ít
nhất lên tới 60%, thất nghiệp từ 3,6% tăng lên xấp xỉ 10%. Tốc độ tăng trưởng năm 1995
là âm 6,2%. Khi đó chính quyền Mehico phải kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ Mehico
thoát khỏi cuộc khủng hoảng. (Phan Huyền Trân, tạp chí Cộng sản tháng 6/1996).
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mehico tưởng chừng không thể khắc phục được, vậy mà
chỉ sau chưa đầy ba năm, cùng với các tín hiệu của thị trường tiêu thụ, tốc độ tăng trưởng
của quí II năm 1997 đạt 8,8% (năm 1996 đạt 5,1%). Vậy biện pháp nào đã giúp Mehico
vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng này ? Người ta thấy có ba yếu tố sau :
Thứ nhất, nguồn tín dụng quốc tế dưới áp lực của Mỹ đã có ảnh hưởng quyết định nhằm
khôi phục lòng tin của người dân trong nước. Số vốn ngang với 260 tỷ FF (104 tỷ từ
Washington, 94 tỷ của IMF, 52 tỷ của Ngân hàng thanh toán quốc tế...) bắt đầu được giải
ngân từ tháng 2/1995 đã cứu giúp được một chính phủ từng vay mượn ngắn hạn quá
nhiều (dưới hình thức các trái phiếu kho bạc) ra khỏi tình trạng phá sản.
Thứ hai, nguồn tín dụng quốc tế đã đi kèm với điều kiện buộc Mehico phải chấp nhận
một kế hoạch khắc khổ (kiểm soát tiền lương, tiết kiệm, và các chi tiêu công cộng) và
phải giảm mức thâm hụt tài khoản vãng lai.
Thứ ba, dưới ảnh hưởng của đồng Peso mất giá và buộc phải giảm thuế quan (theo thoả
thuận của hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ - NAFTA) khối lượng xuất khẩu của Mehico
sang Mỹ tăng dần. Nhờ có tỷ trọng xuất khẩu trong GDP từ 17% năm 1994 đã tới 30%
năm 1996, và nó đã góp phần giải quyết được 45% số chỗ làm việc mới tạo ra trong năm
1996. Đồng Peso, hiện nay đã tăng giá từ 40% so với đồng USD. Do đó các nguồn vốn từ
nước ngoài lại quay trở lại với Mehico.
Đó là cuộc khủng hoảng Mehico và các giải pháp thoát ra khỏi cuộckhủng hoảng này.
Bây giờ ta hãy quay trở lại với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA để nghiên cứu xem nên
thoát khỏi cuộc khủng hoảng này bằng cách nào ? Trước tiên cần phải nhận định rằng
mặc dù các nước ĐNA đang ở trong tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhưng các
chỉ tiêu kinh tế, xã hội khác là tích cực nếu so với tình hình Mehico 1994 : các nước này
đều có hệ thống thuế mạnh và dự trữ ngoại tệ cao. Nợ nước ngoài được quản lý tốt. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế tuy có giảm nhưng vẫn còn cao hơn sự tăng trưởng ở nhiều khu
vực khác trên thế giới. Tuy nhiên, sự bất ổn trên thị trường tiền tệ ĐNA sẽ còn tiếp tục và
các đồng tiền này sẽ còn bị chao đảo nhưng với mức độ thấp hơn, do đó đối sách cho
cuộc khủng hoảng tiền tệ và cải thiện cơ cấu kinh tế ở đây là :
Thứ nhất, để cho các đồng nội tệ tự điều chỉnh theo tỷ giá thật của nó. Lúc đầu, tuy tình
trạng thâm hụt cán cân thanh toán sẽ làm đồng tiền giảm giá, nhưng sau do đồng tiền
giảm giá cán cân mậu dịch cũng như các cán cân thanh toán cân bằng hơn, đồng tiền sẽ
ổn định lại và đầu tư nước ngoài sẽ quaynhanh trở lại như trường hợp của Mehico.
Thứ hai, cho phép ngân hàng Trung ương tận dụng sự linh hoạt của đồng tiền thả nổi để
điều chỉnh chính sách tiền tệ đáp ứng được nhu cầu trong nước. Đồng thời phải tiến hành
cải tổ hệ thống tài chính ngân hàng, cải tiến chế độ giám sát hoạt động của ngân dàng
nhằm chấm dứt thời gian cho vay không tính đến hiệu quả, không tính đến khả năng thu
hồi vốn hoặc cho vay quá mức vào khu vực bất động sản (là nguyên nhân chủ yếu làm
cho nợ khó đòi tăng nhanh và dẫn đến phá sản).
Thứ ba, tạm thời giữ lãi suất cao để kiềm chế lạm phát và giảm nhập khẩu. Chính phủ
phải thực hiện một chiến dịch khắc khổ nhằm chống lại kim ngạch nhập khẩu tăng quá
cao và bội chi ngân sách quá lớn như cắt giảm chi tiêu cho những dự án lớn phải nhập
khẩu nhiều hoặc thậm chí tạm hoãn thi hành một số dự án khổng lồ có mức đầu tư quá
lớn. Thúc đẩy xuất khẩu. Đồng thời tích cực thực hiện dự án vay tín dụng từ các tổ chức
quốc tế để đáp ứng đầy đủ việc chi trả các khoản nợ nước ngoài đến hạn góp phần khôi
phục lòng tin cho dân chúng.
Đến nay Nhật, ASEAN và các nền kinh tế CA-TBD khác như Australia, Trung Quốc,
Hồng Kông về cơ bản đã nhất trí thành lập quỹ tiền tệ châu A' có tác dụng duy trì sự ổn
định của thị trường tài chính và tiền tệ ở các nước này với điều kiện là quỹ này phải phù
hợp với các chức năng của IMF. Quy mô và cơ chế hoạt động của quĩ tiền tệ châu A' sẽ
được bàn tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính của các nước thành viên APEC.
Quĩ tiền tệ châu A' chỉ cấp vốn cho những nước nào đáp ứng được các mục tiêu chính
sách của IMF và nó sẽ giám sát các chỉ số kinh tế của mỗi nước nhằm ngăn chặn các cuộc
khủng hoảng tiền tệ hiện đang làm xáo động các nước ĐNA, đồng thời tổ chức này cũng
giúp các nước thành viên sớm giải quyết nhanh và tốt cho cuộc khủng hoảng này.
Tóm lại, hơn 10 năm qua, các nước ĐNA vẫn biết rằng cần phải cải cách nền kinh tế một
cách triệt để hơn, nhất là hệ thống tài chính ngân hàng. Nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế
nhanh, liên tục trong thập niên qua đã làm trì hoãn mọi dự kiến cấu trúc lại nền kinh tế
của các nước này, nhưng đến nay tình thế đã bắt buộc phải tiến hành triệt để cuộc cải
cách này. Do đó, cuộc khủng hoảng tiền tệ, một mặt nào đó đã tạo cơ hội để các nước
ĐNA cải cách nền kinh tế của mình. Tuy rằng cải cách, trong ngắn hạn sẽ dẫn đến thất
nghiệp, lạm phát tăng, đời sống của nhân dân khó khăn hơn. Nhưng về dài hạn nó sẽ
mang lại sự phát triển ổn định và phồn vinh cho các quốc gia Đông Nam A'./.