Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
I. LỜI NÓI ĐẦU
Mấy thập kỷ gần đây hành tinh xanh - trái đất của chúng ta đang phải đối
mặt với một thảm họa lớn: đó là môi trường bị ô nhiễm. Vấn đề môi trường đã
trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, từ người dân bình thường đến các nhà
chính trị đứng đầu các nước. Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường ở các nước là
một vấn đề hết sức cấp bách, đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhà nước, các cơ
quan chức năng và toàn thể cộng đồng.
Đất nước ta đang chuyển mình theo con đường Công nghiệp hóa –hiện
đại hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra liên tục các khu đô thị mọc lên dày đặc và
trở thành nơi tập trung sản xuất công nghiệp, nhiều ngành công nghiệp phát
triển mạnh mẽ, nhiều nhà máy xí nghiệp được xây dựng, trong đó có nhiều nhà
máy có quy mô lớn…Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước liên tục gia tăng,
đời sống nhân dân ngày càng ổn định, cơ hội việc làm mở rộng, chất lượng
cuộc sống ngày càng được nâng cao….Bên cạnh những lợi ích đó, quá trình đô
thị hóa làm phát sinh hàng loạt vấn đề về môi trường: ô nhiễm không khí, ô
nhiễm tiếng ồn, nhất là ô nhiễm chất thải rắn. Đây là một vấn đề trở nên rất bức
xúc cần phải giải quyết ở các đô thị.
Ô nhiễm môi trường và đặc biệt là ô nhiễm chất thải rắn đang thật sự là
một vấn đề bức nhức nhối mà toàn thế giới quan tâm, nó là một trong những sự
kiện luôn nóng bỏng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mặc dù biết
được sự ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường sống nhưng dường như ý
thức bảo vệ của người dân ở các khu đô thị, bệnh viện và các khu công nghiệp
lại chưa được nâng cao, cách thức quản lý của nhà nước còn lỏng lẻo, chưa
thực sự hiệu quả. Bởi vậy, việc tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho mỗi người dân, đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý của nhà nước
về vấn đề chất thải rắn ở đô thị là rất cần thiết.
1
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành tốt bài tiểu luận nhưng
không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chúng em rất mong sự góp ý
của thầy giúp chúng em hoàn thiện hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy.
2
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Ở ĐÔ THỊ
1. Khái niệm chất thải rắn.
Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được
con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các
hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng
v.v…). Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động
sản xuất và hoạt động sống.
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị)
được định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu
vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó,
chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như
một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy.
2. Nguồn tạo thành chất thải rắn
Với dân số gần 86 triệu dân và mọi hoạt động của người dân đều phát
sinh chất thải, hàng trăm ngàn cơ sở dịch vụ, văn phòng, trường học và các cơ
sở công nghiệp lớn, vừa và nhỏ nên nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn
của đô thị rất đa dạng. Thông thường rác thải thường phát sinh từ các nguồn
sau:
Khu dân cư;
Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ...);
Cơ quan, công sở (trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện...);
Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng;
Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đường
phố...);
3
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Nhà máy xử lý chất thải;
Công nghiệp;
Nông nghiệp.
3. Đặc trưng của chất thải rắn:
Dạng rắn, về mặt vật lý nó cũng chứa các vật chất giống như sản phẩm
hữu dụng;
Bị loại bỏ trong cuộc sống, tính thiếu hữu dụng, thiếu giá trị sử dụng;
Cần phải được thu dọn và xử lý.
4. Quản lý chất lượng môi trường và quản lý chất thải rắn
* Quản lý chất lượng môi trường.
Quản lý chất lượng môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
phương hướng và mục đích xác định của một chủ thể (con người, địa phương,
quốc gia, tổ chức quốc tế…) đối với một đối tượng nhất định (môt trường sống)
nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người
trong những khoảng thời gian dự định.
* Quản lý chất thải rắn:
Theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP định nghĩa về quản lý chất thải rắn như
sau:
Quản lý chất thải rắn là vấn đề then chốt của việc đảm bảo môi trường
sống của con người mà các đô thị cần phải có kế hoạch tổng thể quản lý chất
thải rắn thích hợp mới có thể xử lý kịp thời và có hiệu quả.
* Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị:
Là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về chất thải rắn đô thị có vai
trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến chất thải rắn liên quan đến vấn đề về
quản lý hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật.
4
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
* Hoạt động quản lý chất thải rắn:
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn
ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con
người.
Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong hệ thống quản lý chất thải
rắn ở một số đô thị lớn ở Việt Nam:
Bộ Khoa học công nghệ và Bộ môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến
lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho nhà nước trong việc
đề xuất luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia.
Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý
chất thải rắn.
Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện,
Sở Khoa học công nghệ, sở tài nguyên môi trường và Sở Giao thông thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung
và luật pháp về bảo vệ môi trường của Nhà nước thông qua việc xây dựng các
quy tắc, quy chế cụ thể trong việc bảo vệ môi trường của thành phố.
Công ty môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xử lý
chất thải rắn, bảo vệ vệ sinh môi trường thành phố theo chức trách được giao.
5
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHẤT THẢI
RẮN Ở ĐÔ THỊ HIỆN NAY
1. Thực trạng chung về chất thải rắn ở đô thị.
Chất thải rắn ở đô thị ngày càng có những diễn biến phức tạp. Chất thải
từ các nguồn như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng, y tế, làng nghề và sinh hoạt đô thị đang ngày càng tăng nhanh về chủng
loại, số lượng và tính độc hại. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
trung bình đạt 21.000 tấn/ngày. Chôn lấp vẫn là hình thức phổ biến với số
lượng trung bình 1 bãi chôn lấp đô thị. 85% số đô thị từ thị xã trở lên sử dụng
biện pháp chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, tốn nhiều diện
tích đất. Vấn đề quản lý chất thải rắn, đặc biệt là xử lý rác, nước rác, tình trạng
ô nhiễm môi trường đô thị, vùng ven đô thị và môi trường xung quanh các cơ
sở xử lý rác đang là mối quan tâm của nhiều địa phương, mặt khác lựa chọn địa
điểm để xây dựng cơ sở xử lý chất.
Hiện nay, việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp chưa
đáp ứng yêu cầu, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm quan trọng môi
trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan
đô thị và sức khỏe cộng đồng.
Lượng rác thải đô thị và công nghiệp ngày càng tăng, tính độc hại của
chất thải sinh hoạt cũng tăng, cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu
tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất
cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất,
kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức
sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao
gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông
nghiệp, chất thải xây dựng...
6
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Nguyên nhân là do các ngành chức năng chưa thực sự quan tâm đến vấn
đề xử lý chất thải, bảo vệ môi trường mà chỉ tập trung phát triển kinh tế và đáp
ứng nhu cầu của cuộc sống, nguy cơ ô nhiễm môi trường do các chất thải gây ra
đã và đang trở thành một vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở
nước ta hiện nay.
Chất thải rắn không được xử lý an toàn đã tích tụ lâu dài trong môi
trường, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và không khí, ảnh hưởng đến
các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.
Kết quả điều tra ban đầu về chất thải rắn nguy hại (CTNH) cho thấy: Ở
nước ta các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển rất đa
dạng và phong phú về loại hình, ngành nghề như công nghiệp hóa chất, luyện
kim, dệt nhuộm, giấy và bột giấy, nhựa, cao su, công nghiệp thực phẩm, dược
phẩm...
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam về chất thải rắn, tổng
lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu
tấn, trong đó chất thải nguy hại công nghiệp vào khoảng 130.000 tấn/năm.
Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ miền Nam, đặc biệt
là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất
thải nguy hại phát sinh của cả nước.
Tiếp theo là các tỉnh miền Bắc với lượng chất thải nông nghiệp phát sinh
chiếm 31%. Thêm vào đó, gần 1.500 làng miền Bắc với phát sinh chất thải
nông nghiệp chiếm 31%, mà chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc
mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải rắn sản xuất, bao gồm cả chất thải
nông nghiệp và không nguy hại.
Khối lượng rác thải ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê, hiện nay tổng
lượng rác thải rắn sinh hoạt phát sinh trong toàn quốc ước tính khoảng 1,28
triệu tấn/năm. Trong đó khu vực đô thị là (từ loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm
7
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
(chiếm 54%), lượng chất thải còn lại tập trung ở các xã, thị trấn thuọc huyện.
Dự báo tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng 22 triệu
tấn/năm. Như vậy với lượng gia tăng lượng chất thải rắn như trên thì nguy cơ ô
nhiễm môi trường và tác động tới sức khỏe cộng đồng do chất thải rắn gây ra
đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi
trường ở nước ta. Bên cạnh đó việc rác thải ồ ạt được đưa vào nước ta bất chấp
sự ô nhiễm môi trường. Cuối tháng 10 vừa qua, hơn 100 container chứa đầy rác
thải gồm sắt thép phế liệu gỉ sét, bao bì, ống bơ sắt... bốc mùi hôi thối nồng nặc,
đe dọa ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được nhập về. Không chỉ rác thải qua
tái chế, nhiều doanh nghiệp đã bất chấp nhập cả rác thải nguy hại cấm nhập
cấm xuất như: ắc quy chì, …
Số liệu thống kê thì các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia chuyển
khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất hơn 3.500 container phế thải vào Việt Nam,
trong đó có hơn 2.000 container với khối lượng khoảng 40.000 tấn ắc quy chì
phế thải qua cảng Hải Phòng. Đây là những mặt hàng đã được quy định kiểm
soát kỹ lưỡng bởi công ước Basel, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng trong quá trình vận chuyển, tái chế.
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, vi phạm môi trường, nhập
khẩu phế liệu, rác thải nguy hại bằng nhiều con đường khác nhau đang từng
ngày từng giờ tuồn về Việt Nam ngày càng tinh vi với số lượng và số vụ không
hề giảm.
Lý giải điều này, ông Nguyễn Văn Tài - Phó vụ trưởng Vụ Môi trường
(Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng, nguyên nhân chính là sự hám lợi của
các đơn vị trong nước mà bất chấp các quy định của pháp luật. Không hẳn các
doanh nghiệp không nhận thức được vấn đề vi phạm mà lợi nhuận từ rác thải đã
làm doanh nghiệp mờ mắt.
Bên cạnh đó, trước tình trạng giá nguyên liệu liên tục tăng cao khiến
nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách nhập khẩu và sử dụng nguyên liệu phế thải
8
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
hoặc tái chế với giá thấp hơn nhiều hàng chính phẩm. Nếu nhập khẩu hạt nhựa
nguyên chất giá thị trường từ 20.000 đến 25.000 đồng/kg, trong khi nhựa tái
chế trong nước giá từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg.
Thủ đoạn thường thấy của doanh nghiệp là khai báo hàng hóa một đằng,
nhập hàng một nẻo hoặc khai phế liệu nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hóa
được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất, nhưng trên thực tế toàn là
rác thải nguy hại.
Ngoài giấy ghi nhập vỏ chai nhựa đựng nước uống (chai PET) nhưng lại
là túi nilon, sợi hóa học... thu gom từ các bãi rác, ô nhiễm và mùi hôi thối nồng
nặc.
Chất thải rắn sinh hoạt thải ra ở các kênh rạch
Về chất thải rắn, phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng trên 15 triệu
tấn/năm, trong đó khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại.
Rác thải sinh hoạt đô thị và công nghiệp chiếm lượng lớn khoảng 70% 80% tổng lượng chất thải phát sinh lượng chất rắn công nghiệp chiếm khoảng
20% tổng lượng chất thải lượng chất thải rắn nguy hại chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng
9
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
2% tổng lượng thải) nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe và môi
trường rất cao và có xu hướng gia tăng, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử
lý hiệu quả dẫn tới việc xử lý ô nhiễm môi trường và quản lý nguy cơ ô nhiễm
môi trường do chất thải gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách của công tác bảo
vệ môi trường ở nước ta hiện nay.
* Những con số đáng báo động
Kết quả điều tra ban đầu về chất thải rắn nguy hại (CTRNH) cho thấy: Ô
nhiễm chất thải rắn tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp vùng Đông Nam
Bộ, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp như: luyện
kim, dệt, nhuộm, nhựa, cao su…
Theo số liệu thống kê năm 2007 của Cục Bảo vệ môi trường, tổng khối
lượng phát sinh chất thải rắn nguy hại tại 64 tỉnh thành trong cả nước là
16.927,80 tấn/ngày, tương đương 6.170.868 tấn/năm. Như vậy, trung bình tại
mỗi đô thị của các tỉnh, thành phố trong cả nước phát sinh ra 4,5 tấn/ngày.
Trong đó, TP Hồ Chí Minh là nơi có khối lượng phát sinh lớn nhất với khoảng
5.500 tấn/ngày chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) (đô thị có khối lượng phát
sinh CTRSH ít nhất là thị xã Bắc Kạn với 12,3 tấn/ngày).
Sơ đồ thể hiện lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại các
vùng địa lý.
10
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Khối lượng phát sinh trung bình tại các đô thị của các vùng dao động khá
lớn, lớn nhất là vùng Đông Nam Bộ với 839,13 tấn/ngày/đô thị tương đương
306.280,63 tấn/năm (chiếm khoảng 65% CTRNH trên cả nước), tiếp đến là
vùng đồng bằng Sông Hồng với 389,3 tấn/ngày/đô thị tương đương 142.094,5
tấn/năm ( chiếm khoảng 32% CTRNH trên cả nước). Thấp nhất là Vùng Tây
Bắc với 43,9 tấn/ngày/đô thị tương đương 16.023,5 tấn/năm.
Tại Hà Nội, tổng lượng rác thải sinh hoạt đô thị của thành phố vào
khoảng 2.800 tấn/ngày, ngoài ra chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng, chất
thải y tế với khối lượng 2.000 tấn/ngày. Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong các loại, khoảng 60%, chất thải xây dựng chiếm khoảng
25%, chất thải công nghiệp 10% và lượng chất thải phân bùn bể phốt là 5%.
Tại các bệnh viện, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế được phân cấp theo
từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế. Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh
trong quá trình khám chữa bệnh mỗi ngày vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y
tế, trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34
tấn/ngày.
Trung bình mỗi ngày có khoảng 2 tấn rác thải đổ xuống sông Cà Lồ
(Đông Anh, Hà Nội).
11
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Theo một lãnh đạo Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường
đô thị (URENCO), tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt
khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%, lượng chất thải
rắn công nghiệp được thu gom đạt 85 - 90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt
khoảng 60 - 70%. Nếu phân chia lượng chất thải rắn y tế nguy hại theo địa bàn
thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và TP HCM; 65% còn
lại ở các tỉnh, thành khác. Theo ông Trần Thế Loãn, Trưởng Phòng tổ chức
kiểm soát ô nhiễm, Cục Bảo vệ môi trường, nếu chất thải rắn không được quản
lý đúng đắn sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất (các tác nhân gây ô
nhiễm tồn dư trong đất như kim loại nặng, các hoá chất độc hại có trong chất
thải rắn...), ô nhiễm môi trường nước (các tác nhân gây ô nhiễm từ chất thải rắn
hoà tan hoặc bị cuốn theo nước rỉ rác xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước
ngầm, sông hồ ao biển....) và ô nhiễm môi trường không khí (mùi, các hoá chất
bay hơi từ chất thải rắn…). Khống chế chất thải rắn, trông chờ ý thức người
dân. Theo nhận định của phòng tổ chức kiểm soát ô nhiễm môi trường, nguyên
nhân là do các ngành chức năng chưa thực sự quan tâm đến vấn đề xử lý chất
thải mà chỉ tập trung phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Bên
cạnh đó, người dân chưa có ý thức trong việc chôn lấp, xử lý chất thải đúng yêu
cầu. Để giải quyết tình trạng này, các nhà khoa học kỹ thuật đã đưa ra nhiều
giải pháp như: đốt trong các lò đốt chuyên dùng, phân loại để tái chế riêng từng
loại (làm phân bón, vật liệu nhựa tái chế, vật liệu xây dựng các công trình
không đòi hỏi chất lượng cao…)
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã có nhiều kế hoạch và đang thực hiện để
xử lý các cơ sở gây ô nhiễm và các vùng bị ô nhiễm. Trả lời báo chí trong kỳ
họp thứ tư Quốc hội khóa XII đang diễn ra, Bộ Trưởng Tài nguyên và
Môi trường Phạm Khôi Nguyên cho biết: “Sắp tới, Bộ Tài nguyên và Môi
trường sẽ có nhiều cuộc kiểm tra theo hướng tổng tiến công các cô sở gây ô
nhiễm môi trường. Trước mắt, sẽ tập trung kiểm tra các doanh nghiệp có khả
12
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
năng gây ô nhiễm môi trường cao như các nhà máy giấy, nhà máy bia, doanh
nghiệp hoá chất, đóng tàu”.
Tuy nhiên, theo ông Trần Thế Loãn, việc giải quyết cần dần dần và cần
nhiều kinh phí từ nhiều nguồn lực khác nhau, cũng như quyết tâm của các cấp
chính quyền. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của cộng đồng, nâng cao nhận thức,
trách nhiệm của người dân trong thay đổi thói quen tiêu dùng, -giảm thiểu phát
sinh, phân loại, xử lý chất thải rắn đúng quy định.
“Ô nhiễm đất do chất thải rắn: Các tác nhân ô nhiễm trong chất thải rắn
đặc biệt là các hoá chất độc hại thâm nhiễm vào môi trường đất, tồn tại trong
đất và đi vào chuỗi thức ăn, qua đó xâm nhập và tích tụ trong cơ thể người. Ở
một liều lượng nhất định, các tác nhân này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
con người như gây ung thư, ngộ độc, các bệnh hệ tiêu hoá, tim mạch ... ”
“ Ô nhiễm nguồn nước: Đây được coi là nguy cơ lớn nhất đối với sức
khoẻ người dân từ chất thải rắn đặc biệt là chất thải nguy hại ở thể rắn. Các
tác nhân gây ô nhiễm như các chất độc hại, các mầm bệnh.... thấm nhiễm vào
nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) gây ô nhiễm nguồn nước uống, nước
sinh hoạt gây các bệnh đường tiêu hoá như tiêu chảy, giun sán....mắc các bệnh
truyền nhiễm như viêm gan; ngộ độc thực phẩm; các bệnh về mắt, da liễu, phụ
khoa......”
“Ô nhiễm không khí: Do nền khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao làm bay hơi
nhiều chất độc hại từ chất thải rắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ
người dân đặc biệt là những người lao động thường xuyên tiếp xúc với các
nguồn chất thải, gây các bệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm
đường hô hấp trên”
a. Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân,
hộ gia đình, nơi công cộng.
13
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Rác tại chợ Mai Xuân Thưởng
Rác xả trên đường nội bộ tại chợ Bình
Tây
Hình ảnh lưu trữ rác tại chợ
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, hiện tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô
thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày, tổng lượng chất
thải rắn sinh hoạt phát sinh trong toàn quốc ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm,
trong đó khu vực đô thị (từ loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%),
lượng chất thải rắn còn lại tập trung ở các xã, thị trấn thuộc huyện. Dự báo đến
năm 2015, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính
khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần
hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần
22 triệu tấn/năm. Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng
nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu
do điều kiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa
điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng
được nguồn tài nguyên từ rác thải. Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế
chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng
nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách.
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có
xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ
lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh
14
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ
(19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%),
Cao Lãnh (12,5%)... Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH
tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô
thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả
nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình,
nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở,
đường phố, các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất
thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để
vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô
thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh. Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000
tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ
tất cả các đô thị (hình 1 và bảng 1).
15
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị
vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm
(chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả
nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh
CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền
núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350
tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây
Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%) (Hình 2.2). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí
Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát
sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao
Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và
thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc
biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và
loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương
đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh
CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
16
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị
phát triển du lịch như Tp Hạ Long 1,38kg/người/ngày; Tp Hội An 1,08kg/người/ngày; Tp
Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; Tp Ninh Bình 1,30kg/người/ngày. Các đô thị có tỷ lệ phát sinh
CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ
0,31kg/người/ngày;
Thị
xã
Gia
Nghĩa
0,35kg/người/ngày;
Thị
xã
Kon
Tum
0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình
quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là
0,73kg/người/ngày (bảng 2).
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng
phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với
tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng
lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV
lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất
cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm). Dự báo tổng lượng chất thải rắn
sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Để quản lý tốt
nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn
nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư
công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
do chất thải rắn sinh hoạt gây ra.
17
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Giai đoạn 2009 đến 2015 sẽ có 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô
thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó khoảng 60%
được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng
lượng. Giai đoạn 2016 đến 2020 sẽ có 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt
đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 85%
được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng
lượng.
Như vậy, với lượng gia tăng chất thải rắn sinh hoạt như trên thì nguy cơ
ô nhiễm môi trường và tác động tới sức khoẻ cộng đồng do chất thải rắn gây ra
đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi
trường ở nước ta. Tuy nhiên cho đến nay, công tác quản lý chất thải rắn vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn.
Hầu hết chất thải rắn sinh hoạt đô thị Việt Nam được xử lý bằng phương
pháp chôn lấp là chủ yếu, trong đó chỉ có khoảng 15% bãi chôn lấp chất thải
rắn đảm bảo tiêu chuẩn hợp vệ sinh, còn lại đều là các bãi rác lộ thiên hoặc đổ
tự nhiên tại các bãi rác tạm. Phần lớn các bãi rác được xây dựng trước đây
không có quy hoạch lựa chọn địa điểm mà chỉ có một số bãi chôn lấp rác mới
xây dựng gần đây được thực hiện theo quy hoạch đô thị được phê duyệt.
Tại các xã, thị trấn thuộc huyện, tình hình quản lý chất thải rắn hiện cũng
đang rất bức xúc. Hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch cụ thể vị trí
bãi rác cho các thị trấn và cụm dân cư. Rác sau khi thu gom không được xử lý,
chôn lấp đúng quy định mà chỉ đơn giản là gom lại để tập trung một chỗ. Thậm
chí, hiện tượng vứt rác bừa bãi xuống kênh mương, sông, hồ ở vùng nông thôn
đang diễn ra phổ biến, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt đối với
nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
b. Về chất thải công nghiệp
18
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày
càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những
điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được
mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt
khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất
thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng.
Đến nay cả nước đã có gần 140 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất
(KCX) được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, phân bố trên gần 50
tỉnh, thành trong cả nước và thu hút được hơn 1,2 triệu lao động trực tiếp và
gián tiếp. Quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX đã có đóng góp
đáng kể vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước góp phần đặc
biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, vấn đề môi trường
tại các KCN, KCX hiện nay đang còn nhiều điều bất cập và ngày càng trở nên
bức xúc. Số liệu điều tra cho thấy, trong số KCN, KCX chỉ có 33 khu đã có
công trình xử lý nước thải tập trung, 10 khu đang xây dựng, các khu còn lại
chưa đầu tư cho công trình xử lý nước thải.
Theo số lượng thống kê của bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, tổng lượng chất thải rắn công nghiệp chiếm
15%- 26% của chất thải rắn thành phố, trong đó khoảng 35%-41% mang tính
nguy hại.
19
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải công nghiệp nguy hại, là một
trong những thách thức lớn đối với công tác quản lý môi trường của nhiều đô
thị, nhất là những đô thị có khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,…
Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm,
khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải
công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc
và miền Nam. 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở
Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng
bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ
yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh khoảng
774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp
130.000 tấn/năm. Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy
hại của cả nước.
Theo báo cáo của Cục Môi trường, thì tổng lượng chất thải công nghiệp
nguy hại phát sinh mỗi năm tại 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm khoảng
113.118 tấn. Từ số liệu thống kê nêu trên có thể thấy lượng chất thải nguy hại
phát sinh ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam lớn khoảng gấp ba lần lượng
chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và lớn gấp
khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung.
20
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Đối với chất rắn, đa số các khu công nghiệp chưa tổ chức được hệ thống
phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại một cách an toàn
về môi trường.
c. Về chất thải rắn y tế
Hiện nay cả nước có khoảng hơn 12.500 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó
có khoảng 850 cơ sở là các bệnh viện với quy mô khác nhau. Phần lớn các bệnh
viện đặt trong các khu dân cư đông đúc. Trong năm 2001, Bộ Y tế đã tiến hành
khảo sát tại 280 bệnh viện đại diện cho tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước
về vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế. Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy
tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất
khác nhau. Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh trong quá trình khám chữa
bệnh mỗi ngày vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y tế, trong đó lượng chất thải
rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34 tấn/ngày. Nếu phân chia lượng
chất thải rắn y tế nguy hại theo địa bàn thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại
tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 65% còn lại ở các tỉnh, thành
21
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
khác. Mặt khác, nếu phân lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo khu vực của
các tỉnh, thành thì 70% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở các tỉnh, thành
phố, thị xã thuộc các đô thị và 30% ở các huyện, xã, nông thôn, miền núi. Ước
tính, trong tổng lượng khoảng 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh hàng năm thì
chất thải y tế nguy hại vào khoảng 21.000 tấn. Đến năm 2010 thì lượng chất
thải rắn y tế nguy hại vào khoảng 25.000 tấn/năm.
Chất thải rắn y tế
22
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Với hiện trạng trên về chất thải rắn y tế, Việt Nam đang đối mặt nhiều
nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị
ô nhiễm cả đất, nước và không khí…
Thông điệp trên đưa ra tại “Diễn đàn Quốc gia về sức khỏe môi trường”
do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường
(TN&MT) và Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội vào ngày 29/11.
Nhiều tham luận đề ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa và kiểm sóat tác
động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng.
Cục Y tế dự phòng Việt Nam đưa ra khuyến cáo, “ô nhiễm môi trường”
tại nước ta đã gia tăng mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe. Ngày càng có nhiều vấn
đề về sức khỏe liên quan đến yếu tố môi trường bị ô nhiễm.
23
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Chất thải đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng động, đặc biệt
nghiêm trọng ở những bãi chôn lấp rác,...
Theo đánh giá của chuyên gia, trong các loại chất thải nguy hại (chất thải
công nghiệp nguy hại và chất thải y tế) là mối hiểm họa đặc biệt. Chất thải rắn
đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng động; nghiêm trọng nhất là đối với dân
cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng
nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến mức báo động.
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy,
dịch tả, thương hàn,… do loại chất thải rắn gây ra.
Thống kê cho thấy, nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở đô
thị lớn như Hà Nội, TP.HCM. Tại các đô thị này, tuy chỉ chiếm tỉ lệ 24% dân
số cả nước, nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, chiếm gần
50% tổng lượng chất thải sinh họat cả nước.
Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, đất, ngày càng kéo tỷ
lệ bệnh nhân có liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường ngày càng cao.
Ngoài ra, một trong những tác động lên môi trường và sức khỏe cộng
động là việc lạm dụng các sản phẩm hóa học…
24
Quản lý nhà nước về chất thải rắn ở đô thị
Bộ TN&MT đề nghị cần sớm xây dựng và phát triển hệ thống giám sát,
đánh giá và thống kê ảnh hưởng xấu của các yếu tố môi trường lên sức khỏe
người dân. Đặc biệt, ưu tiên xử lý các loại hóa chất độc hại, bảo vệ nguồn nước
ngầm và nước uống, tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân dân sống tại
vùng chịu ảnh hưởng của ô nhiễm, suy thoái môi trường.
d. Về chất thải nông nghiệp nguy hại (vùng ngoại thành)
Chất thải rắn từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu do thuốc bảo vệ thực vật
tồn lưu và việc quản lý, sử dụng phân bón hóa học và các loại bao bì. Ở nước
ta, thuốc bảo vệ thực vật đã được sử dụng từ những năm 40 của thế kỷ trước để
phòng trừ các loại dịch bệnh. Vào những năm cuối của thập kỷ 80, số lượng
thuốc bảo vệ thực vật sử dụng là 10.000 tấn/năm, thì khi bước sang những năm
của thập kỷ, số lượng thuốc BVTV đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn vào năm
1990), thậm chí tăng lên gấp ba (33.000 tấn/năm vào năm 1995). Diện tích đất
canh tác sử dụng thuốc BVTV cũng tăng theo thời gian từ 0,48% (năm 1960)
đến nay là 100%. Đến những năm gần đây, việc sử dụng thuốc BVTV đã tăng
lên đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại, với hơn 1.000 loại hóa chất BVTV
đang được lưu hành trên thị trường.
Chất thải rắn nông nghiệp mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại
thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn hóa chất
tồn lưu bao gồm các loại hóa chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá
hạn sử dụng. Chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng Đồng
bằng sông Cửu Long.
Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, trong năm 2008, toàn miền Bắc thải
ra hơn 51 triệu tấn rác thải, chất thải rắn do vật nuôi thải ra môi trường bao gồm
thức ăn gia súc, phân bón, phân lợn, gia súc... Đáng lo ngại là chất thải rắn có
nguy cơ ô nhiễm cao như chất thải của các hợp tác xã nuôi bò sữa, dê, cừu... thì
hầu như không được xử lý. Bên cạnh đó chất thải lỏng trong chăn nuôi cũng
đang trong tình trạng, mạnh ai nấy thải ra môi trường. Theo tính toán của Cục
25