Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Việc chuyển đổi cơ chế hành thu từ “đối tượng nộp thuế kê khai, cơ quan thuế tính và ra thông báo” sang cơ chế “ đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính tự nộp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (89.19 KB, 9 trang )

Lớp: KH10TCC1
Bài kiểm tra điều kiện môn : Quản lý thuế
Đề bài: Việc chuyển đổi cơ chế hành thu từ “đối tượng nộp thuế kê khai, cơ
quan thuế tính và ra thông báo” sang cơ chế “ Đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự
tính tự nộp “ đã và sẽ tạo ra những thay đổi gì trong tổ chức bộ máy và hoạt động
của nganh thuế Việt Nam?
Bài làm:
Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế khu vựcvà thế giới.
Hội nhập tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển, thu hútđược nhiều nguồn
đầu tư từ bên ngoài , mở rộng được thị trường, được đốixử bình đẳng trên trường
quốc tế. Để quá trình hội nhập được nhanhchóng Đảng và Nhà nước ta đang tiến
hành sửa đổi, hoàn thiện và xâydựng thêm nhiều hệ thống luật mới , cải cách nền
hành chính nhà nước…Cải cách hành chính thuế là một nội dung quan trọng của
cải cách hànhchính nhà nước hiện nay. Trong những năm trước,đặc biệt
trong năm 2004và những tháng đầu năm 2005 ngành thuế đã có những bước
đi đột phátrong cải cách hành chính thuế với việc được tổ chức lại bộ máy
cơ quanthuế các cấp, triển khai áp dụng thí điểm cơ chế cơ sở kinh doanh tự
kêkhai, tự nộp thuế theo QĐ 197/2003/QĐ - TTg và triển khai sâu rộng
chươngtrình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế.

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân cónghĩa vụ phải thực
hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các vănbản pháp luật do Nhà nước ban
hành, không mang tính chất đối giá vàhoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
Thuế không phải là một hiệntượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính
con người định ra vànó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật .


Việc chuyển đổi cơ chế hành thu từ “ đối tượng nộp thuế kê khai, cơ quan thuế
tính và ra thông báo “ sang cơ chế “ đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính, tự nộp”
đã và đang tạo ra nhiều thay đổi cho tổ chức bộ máy và hoạt động của ngành thuế
Việt Nam.


Cơ chế hành thu là cách thức mà chủ thể quản lý lựa chọn để tác động đến hành
vi tính thuế, nộp thuế của đối tượng nộp thuế, là cách thức tổ chức thu nộp
thuế.trên thế giới có 2 cơ chế hành thu chủ yếu là cơ chế thông báo và cơ chế tự
tính thuế.
Cơ chế tự khai tư nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó các đốitượng nộp thuế
tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kìkê khai của mình và căn cứ
vào những quy định của pháp luật tự xácđịnh nghĩa vụ thuế của mình, kê khai,
nộp thuế vào ngân sách Nhànước, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung
thực, chính xáccủa việc kê khai.

Cơ chế tự khai tư nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó các đốitượng nộp thuế
tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kì kê khai của mình và căn cứ
vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai,
nộp thuế vào ngân sách Nhànước, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung
thực, chính xáccủa việc kê khai
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là một phương thức quản lý thuế được xây dựng dựa
trên nền tảng là sự tuân thủ tự nguyện của đốitượng nộp thuế, quản lý thuế dựa trên
kĩ thuật quản lý rủi ro.Cơ chế tự khai tự nộp thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân nộp
thuếphải nâng cao trách nhiệm vì tờ khai là do tổ chức, cá nhân nộp thuế tựlập trên
cơ sở sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ vềthuế mà không cần có
sự xác nhận của cơ quan thuế. Tổ chức, cá nhânnộp thuế phải chịu trách nhiệm về


kết quả của việc tính thuế, kê khaithuế của mình trước pháp luật.Theo cơ chế này
cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kêkhai , nộp thuế của tổ chức, cá nhân
kinh doanh nhưng cơ quan thuếsẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện
pháp xử phạt,cưỡng chế theo luật định đối với những trường hợp có hành vi vi
phạmpháp luật về thế như không nộp thuế,trốn thuế, gian lận về thuế …Áp dụng
cơ chế tự khai, tự nộp, cơ quan Thuế phải tăng cưòngcông tác tuyên truyền, phổ
biến và giải đáp các vướng mắc về chính sách, chế độ thủ tục về thuế mà các tổ chức, cá

nhân thường gặp trongquá trình kê khai nộp thuế để đối tượng nộp thuế thực hiện tốt
nghĩa vụthuế của mình đối với Nhà nước.Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý
thuế hiện đại, hiệu quả,được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép
các cơquan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâutrong quản lý
cải tiến các quy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minhbạch trong quản lý thuế,
đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cảicách hành chính thuế.

1.Ưu điểm:
a.tiết kiệm thời gian và công sức
Khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì hàng tháng cán bộ quản lýthu thuế sẽ không
phải mất thời gian để tính toán lại số thuế phải nộpcủa đối tượng nộp thuế, không
phải mất thời gian đi gửi thông báothuế cho đối tượng nộpthuế. Hơn nữa, trong cơ
chế ‘’ Thông báo thuế”trường hợp đối tượng nộp thuếđã thực hiện nghiêm túc luật
thuế, kêkhai và tính toán chính xác số thuế phải nộp thì rõ ràng việc phải tínhtoán
lại của cơ quan thuế là thừa và lãng phí thời gian, công sức. Với sốlượng các đối
tượng nộp thuế hiên lên đến gần 100 ngàn doanh nghiệpvà các tổ chức kinh tế hơn
1,4 triệu tổ chức hộ kinh doanh cá thể thìviệc không phải tính toán lại số thuế phải
nộp sẽ tiết kiệm được rấtnhiều thời gian và công sức cho cán bộ quản lý thu


thuế. Đối với các đối tượng nộp thuế thì với việc cơ chế tự khai, tự nộp sẽlàm giảm
được các thủ tục hành chính trong việc thực hiện nghĩa vụ kêkhai và nộp thuế của
mình, do đó cũng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gianvà công sức.
b .Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính về thuế.
Khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì hàng tháng cơ quan Thuếkhông phải gửi hàng triệu
thông báo thuế nên ngành thuế tiết kiệm đượcchi phí giấy mực, in ấn, cước phí bưu
điện… đem lại một hiệu quả kinhtế không nhỏ, bởi chi phí hành thu càng thấp thì
hiệu quả công tác quảnlý thuế càng được nâng cao.Ngoài ra, khi thực hiện cơ chế
tự khai, tựnộp cơ cấu tổ chức của cơ quan Thuế được tổ chức theo chức năngnên
bộ máy quản lý sẽ gọn nhẹ hơn bớt cồng kềnh ,do đó giảm đượcmột phần lớn chi

phí quản lý mà hiệu quả quản lý vẫn cao.
c. Nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế.
Với cơ chế ‘’ Thông báo thuế “ trách nhiệm pháp lý của đối tượngnộp thuế đối với
tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp khôngcao bởi vì số thuế họ phải
nộp được xác định theo thông báo của cơ quan Thuế. Vì vậy, có thể có tình trạng
các cơ sở kinh doanh tính toánsố liệu một cách qua loa, đại khái và nếu cán bộ thuế
kiểm tra không kỹthì có thể dẫn đến sai số thuế phải nộp mà các cơ sở kinh doanh
đókhông hề có lỗi. Nhưng khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì đốitượng nộp thuế
phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thựccủa số liệu kê khai và cả
tính chính xác của việc tính toán số thuế phảinộp.Tức là, đối tượng nộp thuế được
nâng cao trách nhiệm pháp lýtrongviệc kê khai thuế với Nhà nước, tăng sự
tự giác ,được chủ độngtrong việc thựchiện nghĩa vụ của mình.Hơn nữa,còn thiết
lập được niềmtin giữa cơ quan Thuế và người nộp thuế.
d. Tạo tiền đề nâng cao hiệu quả công tác của cơ quan Thuế .
Thực hiện áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế cơ quan Thuế cóđiều kiện để cải
tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả nhất cácnguồn lực hiện có ,công tác
quản lý thu thuế được tổ chức theo hướngngày càng hiện đại và chuyên môn


hóa . Nhờ việc không mất thời giantính toán lại số thuế phải nộp của đối tượng nộp
thuế và phát hành thôngbáo thuế mà cán bộ Thuế có điều kiện tập trung thời gian
và công sứccho các công việc quản lý khác như: công tác phục vụ , hỗ trợ các
tổchức, cá nhân sản xuất kinh doanh hiểu và tự giác thực hiện các nghĩavụ thuế của
mình đối với Ngân sách nhà nước, công tác thanh tra ,kiểmtra,công tác đôn đốc thu
nộp và cưỡng chế thuế…Triển khai thực hiệncơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành
thuế đẩy mạnh hiện đại hóa côngtác quản lý mà cụ thể là đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ tin họctrong công tác quản lý thu thuế.Đó là tiền đề để nâng cao hiệu
quả côngtác quản lý thu thuế.
2 . h ạ n c h ế c ủ a c ơ c h ế k ê k h ai , t ự t í n h t ự n ộ p :
Khi áp dụng một cơ chế chính sách mới bên cạnh những lợi ích tolớn thì cũng

có nhiều điểm hạn chế. Do đó, việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế nếu không
đáp úng đựợc những điều kiện nhất địnhthì sẽ có những hạn chếsau:
a. Nguy cơ trốn lậu thuế, thất thoát thuế lớn nếu trình độdân trí thấp và
không có biện pháp quản lý thuế phù hợp.
Nếu không có biện pháp quản lý phù hợp, chẳng hạn công táckiểm tra không
kịp thời, việc phổ biến các luật thuế kém hiệu quả, côngtác hướng dẫn các
đối tượng nộp thuế không đầy đủ, chu đáo … Có thểdẫn đến các tình trạng đối
tượng nộp thuế lợi dụng việc không kiểm tratính toán lại số thu thường kì của cơ
quan Thuế để cố tình kê khai sainhằm trốn lậu thuế. Trong trường hợpdo hiểu biết
các luật thuế của đốitượng nộp thuế kém và công tác hướng dẫncủa cơ quan Thuế
khônghiệu quả thì có thể có tình trạng kê khai sai số thuế phải nộp một cáchvô ý.
Vói trình độ dân trí của nước ta còn thấp ,ý thức tự giác và tuânthủ pháp luật của
người dân chưa cao thì nguy cơ thất thoát thuế là rấtlớn.
b. Đòi hỏi cao về cơ sở vật chất và trình độ quản lý của cáccơ quan
Nhà Nước


Để áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp một cách hiệu quả đòi hỏi cơsở vật chất của
ngành thuế phải được hiện đại hóa, đặc biệt là hệ thốngcơ sở vật chất phục vụ cho
công tác thông tin, liên lạc sao cho việc kiểmtra, đối chiếu số liệu có thể phục vụ
nhanh chóng và chính xác. Do đó,cần phải có sự đầu tư ban đầu rất lớn trong khi
ngân sách nhà nước cònhạn hẹp. Mặt khác, trình độ quản lý của các quan hành
pháp hiện naycòn thấp, nếu không có sự chuẩn bị kĩ càng có thể xảy ra tình
trạngbuông lỏng công tác quản lý thuế.

3.thực trạng ở Việt Nam
Sáu tháng đầu năm 2009 ngành thuế đã tổ chức 1.335 hội nghị,đối thoạivới 14.453
DN,Doanh nhân,các cơ sở kinh doanh về thủ tục hành chínhthuế và tinh thần,thái
độ phục vụ của cán bộ thuế .Đã trả lời ngay tại Hộinghị 3.169/3.203 câu hỏi. Số
còn lại nhưng vướng mắc về cơ chế chínhsách đã được Tổng cục thuế nghiên

cứu ,giải quyết giứt điểm.Nhữngvướng mắc đã được giải đáp kịp thời,do đó được
dư luận xã hội và cộngđồng DN hoan nghênhTổng cục Thuế cũng đã mở
trang website điện tử, xuất bản các loại ấnphẩm về thuế để tuyên truyền hướng dẫn về
các nội dung chính sáchthuế; thủ tục về thuế.Quy mô bộ máy ngày càng được hoàn thiện đáp
ứng được nhu cầu nhiệmvụ đề ra
Nhờ cải cách trong công tác quản lý nên cũng đã tạo ra một môi trườngquản lý nề
nếp, văn minh, buộc cán bộ thuế, cơ quan thuế thay đổi phongcách tiếp xúc với NNT thông
qua cách thức đón tiếp chu đáo, lịch sự, côngkhai, minh bạch, với mục tiêu tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho NNT.Nhờ đưa cơ chế "một cửa" vào hoạt động tập trung mọi
hồ sơ tài liệu vềmột đầu mối tiếp nhận, theo dõi quá trình xử lí và trả kết quả yêu cầu, thủtục
hành chính thuế đã tăng cường kiểm soát nội bộ và giúp lãnh đạo kiểmtra, đôn đốc


tiến độ giải quyết các yêu cầu, vướng mắc của NNT một cáchkịp thời; đồng thời
việc tăng cường sử dụng các ứng dụng tin học trongcông tác tiếp nhận, luân
chuyển và trả kết quả tại bộ phận “một cửa” cũngđã cho phép hạn chế tình trạng chậm
muộn như trước kia.
* Những khó khăn, thách thức khi áp dụng cơ chế tự khai,tự snộp.
Đổi mới quản lý thuế, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp theo tổngkết của các cục
thuế địa phương thực hiện thí điểm đã đạt được kếtquả đáng kể, tổng số thu vượt
so với dự toán, tỷ lệ tờ khai thuế lỗi giảm,cơ quan Thuế được phân bổ nguồn lực theo
hướng chuyên môn hóanên trình độ nghiệp vụ của các cán bộ thuế được đáp ứng nâng cao,đáp
ứng yêu cầu của cơ chế mới, cải tiến cácquy trình quản lý thuế rõ ràng làm tăng sự
minh bạch, giảm được lỗiquản lý…Tuy nhiên, khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp
thì chúng ta còn gặp phảinhững khó khăn, thách thức sau:
a. “ Gánh nặng” từ dự toán thuế.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta tăng trưởng chưa thật sựvững chắc thì dự toán thu
thuế mà ngành thuế được Quốc hội và chínhphủ giao thực hiện hàng năm liên tục tăng,
năm sau cao hơn nămtrước ít nhất là 10%, là một nhiệm vụ rất nặng nề bởi vì thuế
là nguồnthu chủ yếu để bù đắp cho Ngân sách nhà nước. Đi cùng với việc cảitiến

cách hành thu theo hướng hiện đại, ngành thuế luôn phải đối mặtvà bám sát nhiệm vụ
là hoàn thành dự toán thu được giao. Điều nàylàm cho quá trình thực hiện các bước cải
cách quy trình thu thuế nói chung, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế nói riêng
diễn ra dè dặt,từng bước để tránh gây ảnh hưởng đến kết quả thu.
b. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, quyền hạn của cơ quanThuế chưa ngang
tầm. Các thủ tục về kê khai thuế, chính sáchthuế chưa rõ ràng .
Hiện nay, mặc dù chính sách thuế liên tục được sửa đổi, bổsung, cho phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế- xã hội và phù hợp vớithông lệ quốc tế, nhưng nhìn chung hệ
thống chính sách vẫn còn phứctạp, còn nhiều quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế, chưa
đảm bảo sựtrung lập của thuế. Các thủ tục kê khai nộp thuế mặc dù đã đượcđơn


giản hóa, giảm bớt được những giấy tờ không cần thiết… nhưngvẫn còn nhiều
điểm chưa tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở kinh doanhvà chưa phù hợp với yêu
cầu của hệ thống tự khai, tự nộp thuế. Cácmẫu tờ khai thuế hoặc đơn giản quá hoặc
phức tạp quá và còn nhiềubiển mẫu kèm theo tờ khai nên chưa phù hợp và tạo điều
kiện cho đốitượng nộp thuế dễ kê khai, cơ quan Thuế dễ thanh tra, kiểm tra.
c. Công nghệ quản lý thuế theo cơ chế mới cònhạn chế.
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi cơ quan quản lý thuế và đốitượng nộp thuế
phải có sự trao đổi thông tin chặt chẽ với nhau, phải cậpnhật kịp thời những thay
đổi về kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng vớisự tiến bộ của công nghệ thông tin,
hiện nay việc tin học hóa quá tìnhquản lý tuy đã có những tiến bộ so với trước
nhưng vẫn còn nhiều hạnchế, chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế mới. Hệ
thống ứng dụngđã tham gia hỗ trợ trong một số các quy trình nghiệp vụ, nhưng hệ
thốngchỉ mới dừng ở mức độ tính thuế và theo dõi thống kê chứ chưa hỗ trợtối đa
cho yêu cầu quản lý thuế như thanh tra, kiểm tra, thu nợ, cung cấpthông tin về đối
tượng nộp thuế… các thông tin về số thu còn chậm,chưa phục vụ tôt cho việc
chỉ đạo điều hành thu, chưa kết nối thông tin với cơ quan quản lý nhà nước để
có thông tin về đối tượng nộp thuế,ứng dụng tin học trong công tác hỗ trợ đối
tượng nộp thuế chưanhiều. Mặt khác, việc nộp thuế thông qua các phương tiện tự

động chưađược trang bị đồng bộ ảnh hưởng nhiều đến thời gian cũng như hiệuquả
quản lý. Trình độ về công nghệ thông tin của các cán bộ quản lýthuế còn thấp nên
việc ứng dụng tin học trong quản lý còn hạn chế.
Như vậy ,ápdụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế mang lại lợi ích cho
cảcơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đây là cơ chế quản lý thu thuế hiệnđại, hiệu
quả nhằm mục đích tăng tính tự giác, nâng cao trách nhiệm củađối tượng nộp thuế
đối với nhà nước. Cơ chế này góp phần hiện đại hóaquá trình quản lý thuế chuyên
môn hóa theo chức năng, công việc. Hiệnnay ở Việt Nam cơ chế thu nộp phù hợp


là một cơ chế kết hợp giữa cơchế tự khai, tự nộp với cơ chế thông báo thuế. Cơ chế
tự khai, tự nộpcần được áp dụng một cách chọn lọc do vậy cơ quan Thuế cần phải
thậntrọng và nên áp dụng từng bước cơ chế này để tránh gây thất thu thuếcho ngân
sách nhà nước, đạt hiệu quả quản lý cao, đáp ứng được yêucầu của cải cách hành
chính thuế.



×