MỤC LỤC
Trang
LỜI GIỚI THIỆU
7
Chương 1: HỘI AN - MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ PHONG TRÀO
YÊU NƯỚC CỦA NÔNG DÂN TRƯỚC KHI ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM RA ĐỜI
9
9
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An
1.3. Nông dân Hội An với các hoạt động kinh tế - văn hóa
1.4. Phong trào yêu nước của nông dân Hội An trước khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời
Chương 2: PHONG TRÀO NÔNG DÂN HỘI AN TRONG CUỘC ĐẤU
TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM (1930 – 1945)
2.1. Sự ra đời của Nông hội Đỏ ở Hội An và phong trào đấu tranh cách
mạng của nông dân Hội An trong những năm 1930 – 1935
2.2. Phong trào đấu tranh cách mạng của nông dân Hội An trong những
năm 1936 – 1939
2.3. Nông dân Hội An tham gia phong trào giải phóng dân tộc và khởi
nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám (1939 - 1945)
14
19
28
41
41
52
62
Chương 3: NÔNG DÂN HỘI AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)
81
3.1. Tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, diệt
giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và xây dựng đời sống văn hóa mới
(1945 – 1946)
81
3.2. Nông dân Hội An cùng nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954)
92
Chương 4: PHONG TRÀO NÔNG DÂN HỘI AN TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
129
4.1. Nông dân Hội An tham gia bảo vệ và xây dựng lực lượng cách
mạng, nổi dậy “Đồng khởi”, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1954 - 1965)
4.2. Xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh
cách mạng, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ (1965 – 1968)
129
3
148
165
4.3. Nông dân Hội An trong cuộc đấu tranh chống chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh” của Mỹ (1969 – 1972), đòi thi hành Hiệp định Paris, tham gia
cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng quê hương (1973 – 1975)
Chương 5: PHONG TRÀO NÔNG DÂN VÀ HỘI NÔNG DÂN HỘI AN
GÓP PHẦN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, ỔN ĐỊNH ĐỜI
SỐNG, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI (1975 1985)
183
5.1. Nông dân Hội An khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống
(1975 – 1976)
5.2. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, xây dựng và củng cố tổ chức Hội
Nông dân thị xã Hội An
183
Chương 6: PHONG TRÀO NÔNG DÂN VÀ HỘI NÔNG DÂN HỘI AN
THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 2010)
214
6.1. Phong trào nông dân và Hội Nông dân Hội An trong những năm đầu
của thời kỳ đổi mới (1986 – 1996)
214
6.2. Hội Nông dân và phong trào nông dân Hội An trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước (1997 - 2010)
198
230
KẾT LUẬN
266
PHỤ LỤC
275
TÀI LIỆU THAM KHẢO
285
4
LỜI GIỚI THIỆU
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành uỷ, của Hội Nông dân
tỉnh Quảng Nam, sự hỗ trợ, tạo điều kiện của UBND thành phố Hội An; Ban Thường
vụ Hội Nông dân thành phố Hội An triển khai công trình:“Lịch sử phong trào nông
dân và Hội Nông dân thành phố Hội An 1930 – 2010”, nhằm phác họa lại chặng
đường 80 năm đầy khó khăn, thử thách, đau thương mà anh dũng, đồng thời trân trọng
ghi nhận những đóng góp của các thế hệ nông dân Hội An. Công trình này không
những góp phần khẳng định vai trò lịch sử đặc biệt quan trọng của giai cấp nông dân
và tổ chức Hội Nông dân Hội An trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và xây dựng
quê hương Hội An, mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc truyền thống hào hùng của các
thế hệ nông dân đi trước cho các thế hệ con em Hội An ngày nay lòng tự hào, ý chí
quyết tâm vượt mọi khó khăn vững bước tiến vào tương lai.
Để công trình “Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân thành phố Hội
An 1930 – 2010” được biên soạn và xuất bản thành sách, chúng tôi đã nhận được sự
chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền thành phố Hội An; sự ủng hộ,
cung cấp, thẩm định tư liệu và đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng đề cương, bản
thảo của Ban Tuyên giáo Thành uỷ, Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam, các đồng chí cán
bộ, chiến sĩ cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Hội Nông dân Hội An các thời kỳ...
Thay mặt Ban Thường vụ Hội Nông dân thành phố Hội An chúng tôi xin chân thành
cám ơn Ban Thường vụ Thành uỷ, UBND thành phố Hội An, Ban Tuyên giáo Thành
uỷ, Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam, các đồng chí là cán bộ, chiến sĩ và hội viên Hội
Nông dân Hội An qua các thời kỳ, các nhà khoa học và nhóm biên soạn là cán bộ
giảng viên thuộc Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã giúp
đỡ tạo điều kiện về vật chất, tinh thần và công sức để tập sách này ra đời.
Do thời gian hạn chế và do chưa có điều kiện tiếp cận, khảo cứu đầy đủ các
nguồn tư liệu, tập sách này chắc hẳn còn hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến quý báu của các đồng chí lãnh đạo, các bạn đọc gần xa để
chỉnh lý, bổ sung cho lần tái bản được tốt hơn.
Hội An, ngày 5 tháng 6 năm 2011
Thay mặt Ban Thường vụ
Hội Nông dân thành phố Hội An
Chủ tịch
Phan Văn Liêu
5
Chương 1
HỘI AN - MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI
VÀ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA
NÔNG DÂN TRƯỚC KHI ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
1.1. Điều kiện tự nhiên
Hội An nằm ở vị trí 15 o53’ vĩ độ Bắc, 108 o20’ kinh độ Đông. Với tọa độ đó,
Hội An gần như là trung độ của đất nước, chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía Đông
Nam 25 km, và cách dinh trấn Quảng Nam - thủ phủ thứ 2 của Đàng Trong (trong các
thế kỷ XVII, XVIII) khoảng 8 km. Vì vậy, ngay dưới thời Champa và thời Chúa
Nguyễn, Hội An đã được xem là cửa ngõ quan yếu của tỉnh Quảng Nam nói riêng và
Đàng Trong nói chung.
Không chỉ có vị trí chiến lược, Hội An còn có nhiều yếu tố tự nhiên độc đáo
của một vùng đất cửa sông - ven biển.
Phía Tây và Tây Bắc Hội An giáp huyện Điện Bàn, phía Tây Nam giáp huyện
Duy Xuyên. Nhờ vào vị trí này, Hội An có điều kiện thông thương với các vùng khác
của xứ Quảng. Từ Hội An ngược dòng Thu Bồn, Vu Gia có thể đến được các vùng
trung du, miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam; theo sông Đế Võng có thể vươn ra phía
Bắc nối thông Cửa Đại – Hội An với Cửa Hàn – Đà Nẵng. Đồng thời, Điện Bàn và
Duy Xuyên cũng là hai huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp,
lại rất giàu có về nông lâm thổ sản, với nhiều chủng loại rất phong phú, là nơi cung cấp
nhiều hàng hóa, sản vật đáp ứng nhu cầu của các thương nhân đến buôn bán ở Hội An
trong nhiều thế kỷ.
Phía Đông Hội An giáp với biển Đông, là nơi có Đại Chiêm hải khẩu (nay là
Cửa Đại) vừa rộng, vừa sâu rất thuận lợi cho thương thuyền ra vào. Từ đây theo đường
biển có thể lan tỏa, giao lưu với cả nước và cả thế giới.
Cách Cửa Đại khoảng 8 hải lý là cụm đảo Cù Lao Chàm, gồm 8 đảo lớn nhỏ là
hòn Ông, hòn Tai, hòn Lao, hòn Dài, hòn Mồ, hòn Lá, hòn Khô mẹ và hòn Khô con;
với tổng diện tích của các đảo hơn 15 km 2, trong đó diện tích rừng chiếm khoảng 90%
[3, tr.12]. Hơn 3000 năm trước, tại Cù Lao Chàm đã có con người cư trú, với nhiều
dấu vết, di chỉ thuộc văn hóa Tiền Sa Huỳnh. Từ khoảng thế kỷ X-XI, Cù Lao Chàm
đã trở thành tiền tiêu của Cửa Đại, là điểm dừng chân lấy nước ngọt, trú bão cho các
thương thuyền trên con đường hàng hải cũng như khi đến buôn bán với Hội An và
Đàng Trong. Sách Đại Nam nhất thống chí viết “Cách huyện Duyên Phước 68 dặm về
phía Đông, ngất ngưởng giữa biển, gọi là đảo Ngọa Long, cũng còn gọi là Hòn Cù
Lao, có tên nữa là Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất Lao, làm trấn sơn của cửa biển Đại
Chiêm; Dân phường Tân Hiệp ở phía Nam núi”.
Hội An có một phức hệ sông ngòi, đầm, bàu khá dày đặc, chúng tạo thành
những “ngã tư nước”. Trong đó, hệ thống sông Thu Bồn đóng vai trò là trục chủ đạo,
6
nối liền hai miền xuôi ngược và nối thêm cả hai chiều vận chuyển Bắc - Nam, kết
thành một mạng lưới giao thông thủy nội địa giữa Hội An và các vùng trong tỉnh. Hệ
sông này có đỉnh từ ngọn núi Ngọc Linh chảy theo một chiều dài hơn 200 km, diện
tích lưu vực khoảng 10.350 km2, có hình rẻ quạt ở vùng đồng bằng hạ lưu, rồi lại tập
trung thành một dòng chảy ra hướng Cửa Đại qua khu vực Hội An. Cùng với hệ thống
sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, trong các thế kỷ XVI - XIX là huyết mạch giao thông
chính nối liền Cửa Đại (Hội An) với Cửa Hàn (Đà Nẵng). Con sông này đã được sách
Đại Nam nhất thống chí ghi lại như sau: “Lộ Cảnh Giang ở cuối hai huyện Diên
Phước và Hòa Vang, sông này từ xã Thanh Châu chảy ra phía Bắc đến phía Tây núi
Tam Thai (Non Nước) nhập với sông Cẩm Lệ, nay nước sông cạn, ghe thuyền không đi
được” [58, tr.41]. Trước khi bị bồi lấp vào nửa sau thế kỷ XIX, sông Cổ Cò là một lộ
trình giao thông đường thủy thuận lợi, được nhiều thương khách sử dụng khi đến giao
thương với Hội An. Có thể nói, các nguồn sông này đóng vai trò đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế - văn hóa Hội An. Đó là huyết mạch giao thông, là nguồn
phù sa bồi đắp nên nhiều vùng đất trù phú thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đồng
thời đây cũng là nguồn nước tưới dồi dào cho hoạt động sản xuất của cư dân nơi đây.
Tuy nhiên, hệ thống sông ở Hội An cũng có một số điểm hạn chế mà trong bản
đồ vẽ năm 1787 của le Floch de la Cariere đã có ghi chú “Con sông Hội An cũng có
những bất tiện y như con sông ở kinh đô (sông Hương), một dải cát ngầm trài ngang
trên sông làm cho sông cạn, chỉ cho phép tàu nhỏ vào được mà thôi” “các tàu có
trọng tải lớn không thể vào sông Hội An nên phải xuống hàng ở Đà Nẵng”[56, tr.91].
Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy tàn của thương
cảng Hội An vào cuối thế kỷ XIX.
Hội An có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8; mùa mưa
kéo dài từ tháng 9, tháng 10 đến tháng giêng năm sau. Mùa đông nhiệt độ trung bình
khoảng 23 - 240 C. Mùa hạ, nhiệt độ trong các tháng tương đối đồng đều nhau từ 28 0 300C. Số giờ nắng trung bình trong năm 2.158 giờ. Độ ẩm không khí mùa đông 82 84%, mùa hạ giảm còn 75 – 78%. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.069 mm, phần
lớn tập trung vào mùa đông, trung bình mỗi năm có 120 - 140 ngày mưa. Tháng có
mưa nhiều nhất là tháng 9, 10. Vào thời gian này hàng năm, Hội An thường xuyên phải
chịu cảnh lụt lội, ngập nước gây ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh, đặc biệt là hoạt
động sản xuất nông nghiệp của nông dân.
Địa hình, đất đai ở Hội An rất đa dạng, gồm đủ các loại hình sông, biển, đầm
lầy, hồ… nhưng chủ yếu vẫn là địa hình có nguồn gốc sông và biển. Tuy không có
những đồng bằng rộng lớn như các vùng khác trong tỉnh, nhưng ở đây lại có một số
vùng đất bồi (Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Cẩm Nam) rất màu mỡ, phù hợp với nhiều loại
cây lương thực và rau màu. Do địa hình ở đây chủ yếu có nguồn gốc sông và biển nên
phần lớn đất đai ở đây thường bị chua, mặn, bạc màu. Người nông dân phải tốn rất
nhiều công sức cải tạo. Hơn nữa, do đất đai bị chia nhỏ thành nhiều loại ở những khu
vực không tập trung đã khiến cho nông nghiệp ở Hội An khó có thể tổ chức trồng trọt
quy mô lớn với một loại cây trồng nhất định nhưng bù lại cây trồng ở đây lại có sự
phong phú về chủng loại và đa dạng các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Hiểu rõ đặc
7
tính đó, người nông dân Hội An đã sớm khắc phục những hạn chế của đất đai, địa hình
đưa nông nghiệp phát triển cùng các ngành kinh tế khác.
Nhìn chung, Hội An có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, cùng nhiều yếu tố
tự nhiên thuận lợi, từ đó, đã tạo cho Hội An có vai trò quan trọng trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, quân sự đối với tỉnh Quảng Nam nói riêng và Đàng Trong
(trong các thế kỷ XVI – XIX) nói chung. Chính vì vậy, ngay từ thời Champa và thời
các Chúa Nguyễn, Hội An đã là một thương cảng vô cùng hấp dẫn đối với các nhà
buôn và hàng hải phương Tây cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á; trong
suốt thời Pháp thuộc cũng như thời Mỹ - ngụy, Hội An luôn được chọn làm nơi đặt các
cơ quan đầu não của chính quyền tay sai và là trung tâm của tỉnh lỵ Quảng Nam. Tuy
nhiên, điều kiện tự nhiên của Hội An cũng có nhiều điểm bất lợi. Địa hình, địa mạo bị
chia cắt bởi khá nhiều kênh rạch, sông lớn, sông nhỏ, đầm, bàu nước cùng với diện tích
khá lớn của nỗng, doi, bãi cát khiến cho diện tích đất trồng quá ít so với diện tích đất
tự nhiên. Thiên tai, lụt lội diễn ra hằng năm tàn phá nhà cửa, hoa màu... Đặc điểm tự
nhiên này đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Hội
An, góp phần hình thành ở nơi đây nhiều đặc thù về tính cách, tư duy kinh tế và sắc
thái văn hóa rất riêng biệt mang đậm chất “Hội An”.
1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An
Hội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, được kết tinh qua
nhiều thời đại và từng nổi tiếng trên thương trường quốc tế với nhiều tên gọi khác nhau
như Faifo, Hoài Phố, Hội An...
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ hơn 2000 năm trước, mảnh đất này đã
tồn tại và phát triển nền văn hoá Sa Huỳnh muộn. Kế tiếp văn hoá Sa Huỳnh là hơn
ngàn năm nền văn hoá Champa rực rỡ.
Vào năm 1306, vua Champa là Chế Mân lấy hai Châu Ô, Lý (đất từ Quảng Trị
đến bờ Bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay) làm sính lễ cưới công chúa
Huyền Trân của Đại Việt. Vua Trần Anh Tông đổi Châu Ô thành Thuận Châu (bao
gồm các huyện Triệu Phong, Hải Lăng của Quảng Trị và Quảng Điền, Hương Trà của
Thừa Thiên Huế ngày nay) và Châu Lý làm Hóa Châu (gồm các huyện Phú Vang, Phú
Lộc của Thừa Thiên Huế và Hòa Vang (Đà Nẵng), Đại Lộc, Điện Bàn của Quảng Nam
ngày nay). Đến thời nhà Hồ, cương giới phía Nam Đại Việt mở rộng đến Chiêm Động
- Cổ Lũy (tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi ngày nay). Hồ Quý Ly lấy đất đó chia thành
các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và thực thi nhiều chính sách, vừa động viên khuyến
khích, vừa bằng hành chính kiên quyết để người Việt vào định cư khai khẩn. Từ đây,
Hội An đã trở thành một phần lãnh thổ của nước Đại Việt, nhưng trên thực tế, vì
những vùng đất này quá xa tầm kiểm soát của nhà Hồ, cộng thêm sự tranh chấp, quấy
phá liên tục của người Champa, nên những vùng đất mới này vẫn chỉ có cư dân
8
Champa sinh sống, còn người Việt tuy đã có mặt nhưng rất ít ỏi và cũng chưa thể định
hình tổ chức làng xã một cách rõ ràng.
Thời Lê, sau khi vua Lê Thánh Tông sáp nhập vùng Vijaya (Bình Định, Phú
Yên) vào Đại Việt thì các châu Thuận Hóa, Quảng Nam mới thực sự được yên ổn để
xây dựng và củng cố. Lúc này, vua Lê Thánh Tông cho đổi hai châu Thuận, Hóa thành
Thừa tuyên Thuận Hóa trên cơ sở địa giới cũ, gồm 2 phủ 8 huyện. Và lập Đạo Thừa
tuyên Quảng Nam từ đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa cũ đến phủ Hoài Nhơn, gồm 3 phủ 9
huyện, trải dài từ bờ Nam sông Thu Bồn đến tỉnh Bình Định ngày nay. Những cải cách
hành chính của vua Lê càng thúc đẩy làn sóng di cư vào phương Nam của cư dân Việt
trở nên ồ ạt hơn. Những vùng đất phì nhiêu chưa khai phá tiếp tục là đối tượng được
chọn lựa trước. Trong gia phả các tộc họ tiền hiền ở các làng xã Cẩm Thanh, Thanh
Hà, Cẩm Nam… đều ghi rằng tổ tiên của họ là người từ phương Bắc theo vua Lê
Thánh Tông đi bình Chiêm, rồi ở lại đất Hội An khai khẩn lập làng.
Việc di dân, lập làng ở Hội An và Đàng Trong tiếp tục được diễn ra mạnh mẽ
gắn với kế sách tạo nghiệp lâu dài của các chúa Nguyễn bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Nhằm củng cố thế lực cát cứ
chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và tiến dần về phương Nam, năm 1602, Nguyễn
Hoàng cho lập Trấn dinh Quảng Nam. Sau đó chúa cho chia đặt lại hệ thống đơn vị
hành chính của Thuận Quảng, tách huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong ra để lập phủ
Điện Bàn [43, tr.43]. Từ đây cả vùng đất rộng lớn từ đèo Hải Vân đến núi Đá Bia (Phú
Yên) mới trở nên yên ổn, thu hút đông đảo cư dân chủ yếu ở vùng Thanh - Nghệ vào
khai khẩn đất đai, tạo ấp, lập làng, xây dựng cuộc sống mới. Vào thời điểm này, quá
trình tụ cư của cư dân Đại Việt trên đất Hội An cũng đang định hình. Đây chính là điều
kiện thuận lợi để Hội An (Quảng Nam) tiếp nhận luồng di dân mới từ phía Bắc vào lập
nghiệp. Tấm bia mộ cụ tổ tộc Lê, một trong 4 tộc tiền hiền của làng Cẩm Phô có viết:
“…đời truyền trước Gia Dũ Hoàng Đế (tức Nguyễn Hoàng) khai khẩn Thuận, Quảng,
cụ từ miền bắc vào (không rõ tỉnh) cùng thời các cụ trong tộc họ: Huỳnh, Trần,
Nguyễn đến khai phá đất Thuận, Quảng. Các cụ khai khẩn mấy trăm mẫu ruộng đất,
phía Đông, Tây có sông bao bọc trở thành một làng tuyệt đẹp” [64, tr.62]. Cũng trong
giai đoạn này theo các tài liệu điền dã, đồ tịch, thư tịch, bia ký thì tên làng/xã Hội An
bắt đầu xuất hiện1.
1
Trong Thiên Nam Tứ chí lộ đồ thư của vị đại thần dưới thời Lê là Đỗ Bá vẽ
(1630 – 1635) có ghi địa danh Hội An phố, Hội An đàm/đầm, Hội An
kiều/cầu, Hội An khố/kho; hay trên tấm bia Phổ đà sơn linh trung phật ghi tên
những người cúng tiền/hương xây dựng chùa tại động Hoa Nghiêm (Ngũ
Hành Sơn – Non Nước) thì có 3 lần nhắc đến tên làng/xã Hội An. Tại Cù Lao
Chàm, qua khảo cổ và văn bia di tích cũng thể hiện rõ đây đã có cư dân việt
lưu trú từ thế kỷ XVII với địa danh như Cù Lao xứ, Tân Hiệp phường. Trên
tấm bia tại đình Xuân Mỹ cũng cho biết làng này được hình thành từ thế kỷ
XVII với nghề gương, lược bằng sừng [64, tr.62]
9
Cùng với việc định cư, lập làng của người Việt, trong thế kỷ XVII, do nhiều
nguyên nhân, Hội An nổi lên như một trung tâm thương mại nổi tiếng không chỉ trong
nước mà cả quốc tế với sự có mặt của thương thuyền các nước Trung, Nhật, Ấn Độ,
Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp… đến giao thương mậu dịch. Trong số các thương nhân đến
buôn bán ở Hội An, có thương nhân người Trung Hoa và Nhật Bản đã được Chúa
Nguyễn ưu ái cho lập phố định cư sinh sống và buôn bán lâu dài trên đất Hội An. C.
Borri năm 1618 đã ghi chép sự kiện này như sau: “Vì cho tiện việc hội chợ, Chúa
Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỷ lệ với số
người của họ để dựng lên một đô thị. Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn. Chúng ta
có thể nói có hai thành phố, một của Trung Quốc, một của Nhật Bản. Họ sống riêng
biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong tục tập quán mỗi nước” [36, tr.92]. Như vậy,
cùng với người Việt, người Trung Hoa và Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
thương cảng quốc tế Hội An phát triển và trở thành thành phần quan trọng trong cộng
đồng cư dân Hội An thế kỷ XVII.
Đến cuối thế kỷ XIX, hệ thống sông nước ở Hội An có nhiều biến động lớn,
Cửa Đại di chuyển vị trí thường xuyên, ngày càng nông và có xu hướng hẹp dần; sông
Cổ Cò - con đường thủy nội địa nối Hội An với cảng Đà Nẵng trong nhiều thế kỷ trước
bị bồi lấp, sự phát triển và bành trướng của hệ thống giao thông đường bộ, quốc lộ I,
con đường giao thông huyết mạch của cả nước không đi qua Hội An khiến cho Hội An
bị biệt lập. Hơn nữa, trước âm mưu xâm chiếm của chủ nghĩa tư bản, triều Nguyễn đã
thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”. Những lý do đó đã dần làm mất đi vai trò
quan trọng của thương cảng Hội An vào đầu thế kỷ XX. Nhưng chính trong thời gian
này, số dân cư ở Hội An cũng gia tăng nhanh, diện tích đất khai phá cũng được mở
rộng, do đó nhiều làng xã mới được hình thành như Hòa Yên, Tân Hòa. Đồng thời, vào
thời điểm này, một số làng quy mô dân số, diện tích đất phát triển đã tách ra thành các
làng nhỏ như làng Thanh Châu tách thành Thanh Đông, Thanh Tây, Thanh Nam; làng
Kim Bồng tách thành Kim Bồng Đông, Kim Bồng Tây. Hoặc, dưới làng hình thành
các thôn, sau đó thành ấp như làng Thanh Hà gồm 13 ấp (Hậu Xá, Thanh Chiếm, An
Bang, Bộc Thủy, Nam Diêu, Cửa Suối, Bầu Ốc, Trảng Kèo, Trảng Sỏi, Đồng Nà, Trà
Quế, Cồn Động, Bến Trễ).
Dưới thời Pháp thuộc, Hội An là tỉnh lỵ, nơi đặt hầu hết các cơ quan đầu não
của chính quyền tay sai. Ngày 20-10-1898, dưới sức ép của thực dân Pháp, vua Thành
Thái đã ra chỉ dụ thành lập thị xã Faifo (Hội An) làm tỉnh lỵ Quảng Nam. Đạo dụ này
được Toàn quyền Đông Dương Foures ra nghị định chuẩn y vào ngày 30-8-1899 và
giới hạn phạm vi hành chính của thị xã gồm Hội An, Cẩm Phô, Minh Hương, Sơn
Phong. [64, tr.69].
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với quyết định thành lập thị xã
Hội An, bao gồm 18 xã nội, ngoại thành, Tỉnh ủy Quảng Nam đẩy mạnh xây dựng lực
lượng, ổn định đời sống nhân dân, chuẩn bị kháng chiến chống Pháp. Hưởng ứng Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Hội An cùng nhân
dân cả nước đứng dậy chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.
10
Sau năm 1954, chính quyền ngụy Sài Gòn vẫn lấy Hội An làm tỉnh lỵ của tỉnh
Quảng Nam và tháng 7-1956, lập Khu hành chính Cẩm Phô, thuộc quận Điện Bàn.
Đến tháng 7-1962, chính quyền Sài Gòn chia tách Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng
Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng. Tam Kỳ trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tín,
Hội An là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, chúng cho lập Quận Hiếu Nhơn
thay cho Khu Hành chính Cẩm Phô, quận lỵ đóng tại Sơn Phô, Cẩm Châu.
Còn về phía Chính phủ Cách mạng thì đến tháng 11-1962, lại quyết định chia
tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành 2 tỉnh mới là Quảng Nam và Quảng Đà. Lúc này,
Hội An thuộc tỉnh Quảng Đà.
Sau tháng 4-1975, thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và từ tháng
01-1997, thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam.
Đến năm 2008, thị xã Hội An chính thức được công nhận là thành phố trực
thuộc tỉnh Quảng Nam, có diện tích 6.146,88 ha, 90.150 nhân khẩu, với 13 đơn vị hành
chính, gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An,
Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại và 4 xã là Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim và xã đảo
Tân Hiệp.
1.3. Nông dân Hội An với các hoạt động kinh tế - văn hóa
Qua lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hội An, chúng ta có thể
khẳng định chủ nhân xây dựng nên một Hội An như ngày nay chủ yếu là những lưu
dân Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cụ thể là Thanh Hóa – Nghệ An – Hà
Tĩnh. Họ là những người “Nam tiến” vì kế sinh nhai, vì muốn tìm nơi “đất lành chim
đậu”; họ cũng có thể là những người đã chán ngấy cái cơ chế thống trị của triều Lê
đang trên đà suy thoái, muốn tìm một vùng đất mới để thoát khỏi những ràng buộc
khắt khe, những bất công gặp phải ở nơi bản quán; hoặc do hành động phản kháng
triều đình họ phải đi tìm chốn dung thân, cũng có thể đó là những người bị bắt làm tù
binh trong những cuộc tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến...
Những lưu dân này trừ một số ít là trí thức, thợ thủ công, người buôn bán, còn
tuyệt đại đa số đều là nông dân. Hành trang những người nông dân này mang theo vào
vùng đất mới là vốn liếng văn hóa, kinh nghiệm sản xuất truyền thống của vùng đất
phương Bắc, là lòng dũng cảm, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó cùng với quyết tâm
vươn lên, khao khát được đổi đời. Khi đến vùng đất mới họ phải đối mặt với muôn vàn
hiểm nguy từ thiên tai, thú dữ và khí hậu khắc nghiệt, buộc các thế hệ lưu dân này phải
cùng cộng cư, chung lưng đấu cật với cư dân bản xứ, phải vật lộn, gồng mình lên để
sinh tồn. Chính yếu tố lịch sử, xã hội và tự nhiên đó đã góp phần tạo nên cá tính địa
phương, những tư duy kinh tế mới và sự phong phú đa dạng về văn hóa ở người nông
dân Hội An.
Những người có dịp tiếp xúc với người nông dân Hội An đều nhận xét họ thật
thà, chất phác nhưng mạnh mẽ, cương cường khí khái; rất cần cù, giản dị, hào nhã,
thân mật, hiếu khách. Họ cũng rất coi trọng tình nghĩa thủy chung, trong đó có tình
nghĩa vợ chồng, tình làng nghĩa xóm và cao hơn cả là tình yêu quê hương, đất nước.
Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583 – 1632) đến Hội An năm 1618 và lưu trú ở đây gần 5
11
năm, đã nhận xét về tính cách người Hội An nói chung và người nông dân Hội An nói
riêng như sau: “...họ rất xã giao, lịch sự và thân mật đối với chúng ta... như thể người
ta đã quen biết chúng tôi từ rất lâu... Từ tính tình rất trọng khách và cách ăn ở giản dị
đó mà họ đoàn kết với nhau, rất hiểu biết nhau, đối xử với nhau rất thành thật, rất
trong sáng, như thể tất cả đều là anh em với nhau, cùng ăn uống và cùng chung sống
trong một nhà, mặc dầu trước đó chưa bao giờ họ thấy nhau, biết nhau” [36, tr.49].
Ở Hội An, ngoài người Chăm, người Việt còn giao lưu, tiếp xúc với nhiều
người ngoại quốc đến từ nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và một số nước
phương Tây, chung sống hòa hợp, lâu dài với người Nhật và người Trung Quốc. Quá
trình giao lưu, tiếp xúc rộng mở đó đã tạo nên con người Hội An có tính cách cởi mở,
năng động, nhạy bén, nhanh tiếp thu yếu tố mới. Đó cũng là đặc điểm khác biệt của
người nông dân Hội An so với các địa phương khác.
Chính tính cách đó đã giúp những người nông dân ở đây sớm phát hiện ở
những cộng đồng cư dân cùng chung sống với mình nhiều giá trị văn hóa phong phú
và nhiều kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh hữu ích. Người Chăm – chủ nhân xưa của
vùng đất này có kỹ thuật canh tác trên đất khô rất hiệu quả, có nhiều giống lúa mới, kỹ
thuật đắp đập lớn và tưới ruộng bằng hệ thống bờ xe nước quy mô, kinh nghiệm về
việc tìm mạch nước ngầm và thiết lập hệ thống giếng nước ven các chân đồi, kỹ thuật
luyện kim, nghề chế biến mắm cá, kỹ thuật đóng ghe bầu, nghề đi biển... Đặc biệt, sản
phẩm của người Chăm làm ra không chỉ để tự cấp tự túc, hoặc trao đổi qua lại trong
địa phương hẹp, trong nội địa mà còn để trao đổi buôn bán với bên ngoài. Còn người
Trung Quốc lại rất giỏi trong việc buôn bán, kinh doanh, có nhiều nghề thủ công đặc
sắc, nhiều kinh nghiệm trong nghề thuốc bắc, y dược....
Những kinh nghiệm đó đã nhanh chóng được người Việt tiếp thu và vận dụng
vào các hoạt động sản xuất và đời sống. Đồng thời, thực tế mới mẻ đó đã khiến những
lưu dân Việt ở Hội An phải xét lại quan niệm “dĩ nông vi bản” của Nho giáo vốn đã ăn
sâu vào trong tiềm thức mình. Cộng thêm điều kiện tự nhiên đa dạng, vị trí địa lý vô
cùng thuận lợi của Hội An, cùng các yếu tố thời đại của lịch sử thế giới Đông – Tây,
chính sách ngoại thương táo bạo, độc đáo của các chúa Nguyễn, trên nền tảng của một
cảng thị quốc tế từ thời vương quốc Champa đã cho phép người Hội An dần hình thành
một tư duy kinh tế mở với cấu trúc kinh tế đa ngành, nông nghiệp đi đôi với thủ công
nghiệp, khai thác lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển nội thương và cả ngoại thương
cùng một lúc.
Hội An cũng như các địa phương khác trong cả nước, kinh tế nông nghiệp luôn
đóng vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế, nơi đây có đầy đủ điều kiện thuận lợi cho
một nền kinh tế nông nghiệp trồng trọt phát triển với các loại cây trồng: cây lương thực
(lúa, ngô, khoai, sắn), cây thực phẩm (rau các loại, đậu các loại), cây công nghiệp (đậu
phộng, mè, cói)… Về cơ bản người nông dân Hội An vẫn sản xuất theo phương thức
truyền thống của người Việt cổ, đồng thời tiếp thu, vận dụng kinh nghiệm sản xuất của
người Chăm trong công tác thủy lợi, chống hạn, chống ngập úng, cải tiến công cụ lao
động… Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân vẫn theo phương thức cổ truyền
12
là trồng trọt kết hợp với chăn nuôi. Gia đình nào cũng có nuôi heo, gà, vịt, trâu, bò để
tăng thêm thu nhập và nâng cao chất lượng bữa ăn cho gia đình. Vào đầu thế kỷ XX,
người nông dân Hội An bắt đầu trồng hoa, cây cảnh để phục vụ nhu cầu của thị trường.
Đây là một nghề khá mới mẻ đối với nông dân, tuy chưa phát triển rộng rãi nhưng
bước đầu đã mang lại hiệu quả rất khả quan, góp phần phát triển kinh tế của địa
phương. Từ trong nông nghiệp cũng đã hình thành nên các làng nghề chuyên canh một
loại cây trồng, trong đó nổi tiếng nhất là làng rau Trà Quế ở xã Cẩm Hà. Hầu hết các
loại rau đặc trưng của vùng nhiệt đới đều thích hợp với đất Trà Quế, rau ở đây có
hương vị đặc biệt không giống với bất kỳ nơi nào, trở thành một thương hiệu rau nổi
tiếng không chỉ ở khu vực Quảng Nam mà cả các tỉnh thành trong cả nước. Bên cạnh
đó, làng rau Trà Quế cũng là một địa điểm tham quan hấp dẫn của du khách trong và
ngoài nước.
Dựa trên sự đa dạng về môi trường sinh thái tự nhiên, đặc biệt là các dạng sinh
thái sông nước, cùng với nó là sự phong phú các loại thủy, hải sản, nông dân Hội An
không chỉ biết trồng trọt mà với kinh nghiệm truyền thống vốn có, họ đã kế thừa phát
huy và khai thác triệt để nguồn lợi trên sông nước, biển cả, đưa nghề đánh bắt thủy hải
sản trên sông - biển sớm phát triển. Ngoài ra, người nông dân ở đây còn có nghề khai
thác yến sào, đan lưới, chế biến thủy hải sản… Cùng với nền kinh tế nông nghiệp, ngư
nghiệp đã có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở địa phương. Đồng thời, tạo cơ
sở hình thành một số làng thuần ngư nghiệp (làng vạn chài) như Phước Trạch, An
Bàng… khá đặc trưng trong cộng đồng cư dân ở Hội An.
Để hỗ trợ cho nông nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của
cư dân, các nghề thủ công truyền thống ở Hội An đã sớm hình thành và phát triển với
nhiều ngành nghề đa dạng như: nghề rèn nằm rải rác ở các điểm giao thông liên làng xã, thôn - ấp; nghề thau thiếc tập trung ở làng Mậu Tài; nghề làm gương, lược tập
trung ở Xuân Mỹ; nghề đan lát, làm nhà tre, làm liễn đối tập trung ở các làng An Mỹ,
Sơn Phô, Thanh Hà, Thanh Châu; nghề dệt chiếu, dệt vải, thêu tập trung ở các làng
Cẩm Phô, Kim Bồng, Thanh Châu; nghề làm đường, làm dầu phụng, dầu mè ở An Mỹ,
Thanh Châu, Thanh Hà, Kim Bồng; nghề nung vôi tập trung ở các điểm ven sông…
Tuy nhiên, các nghề thủ công có quy mô lớn, tập trung, thu hút nhiều lao động và sản
phẩm có giá trị cao, nổi tiếng đáng kể ở Hội An là nghề mộc ở Kim Bồng, nghề gốm ở
Thanh Hà và nghề khai thác yến sào ở Thanh Châu.
Nghề mộc là một nghề ra đời sớm, thịnh hành và phát triển mạnh mẽ trên đất
Hội An. Địa danh Kim Bồng gắn với nghề mộc đã được Lê Quý Đôn đề cập trong
“Phủ biên tạp lục” từ thế kỷ XVIII. Nhiều thế hệ thợ Kim Bồng không những đã để
lại dấu vết tài nghệ tuyệt vời của mình ở di tích Đô thị cổ Hội An mà còn cả trong
nhiều di tích khác ở Đà Nẵng, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Sản phẩm dân dụng
của làng mộc Kim Bồng từ xưa đến nay không những có mặt ở nhiều nơi trong nước
mà còn vượt đại dương theo thuyền buôn có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay,
nghề mộc Kim Bồng vẫn là một trong những nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở
miền Trung – Việt Nam và cả trên thị trường quốc tế.
13
Cùng với nghề mộc Kim Bồng, nghề gốm ở Thanh Hà cũng đã phát triển từ rất
sớm. Nhiều tư liệu cho biết, vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, ông bà tổ tiên của 8
tộc tiền hiền của làng Thanh Hà, vốn là người Thanh Hóa vào đây lập nghiệp. Lúc đầu,
có một số xóm - ấp làm nghề gốm, gạch, ngói định cư ở Thanh Chiếm, An Bang, về
sau những người làm nghề này chuyển đến xóm Nam Diêu cho đến ngày nay. Trước
đây, nghề gốm chuyên sản xuất các loại sản phẩm gắn với nhu cầu đồ dùng sinh hoạt
hàng ngày của cư dân trong vùng như các loại đồ đựng (hũ, lu, chum, ảng, bình…), đồ
nấu (nồi, om, siêu, ấm…), dụng cụ sinh hoạt (cối, dĩa dầu, ông táo…) gốm kiến trúc
(gạch, ngói, máng xối, khung bông…), tượng thờ trong tín ngưỡng – tôn giáo dân gian
(ông Địa, Thần Tài, ngựa thần…). Hiện nay, tuy không còn hưng thịnh như các thời
kỳ trước, nhưng nghề gốm Thanh Hà vẫn được duy trì và phát triển theo một hướng
mới, gốm nghệ thuật và trang trí nội thất phục vụ du lịch sinh thái – làng nghề truyền
thống.
Nghề khai thác yến sào ở Thanh Châu là một nghề truyền thống khá đặc biệt
ở Hội An. Tuy nghề này không thu hút nhiều nhân công lao động như các nghề khác,
chỉ sử dụng số ít nam giới có sức khỏe, có kinh nghiệm và rất ít phụ nữ tham gia, đồng
thời cũng chỉ khi bước vào thời vụ thu hoạch tổ. Song, nghề khai thác yến có vai trò
quan trọng đối với hoạt động kinh tế, đời sống của cư dân Hội An, bởi đây là một sản
phẩm có giá trị xuất khẩu, đem lại nguồn lợi rất lớn cho địa phương.
Với những ưu thế đặc biệt của mình, cư dân Hội An đã vượt lên tâm lý truyền
thống “trọng nông, ức thương” của xã hội phong kiến Việt Nam, sớm phát triển kinh
tế thương nghiệp và dịch vụ, đưa nơi đây trở thành một thương cảng quốc tế nổi tiếng
của Việt Nam suốt thời kỳ trung cận đại ở khu vực Đông Nam Á và thế giới. Cảnh tấp
nập buôn bán trên bến cảng Hội An được Lê Quý Đôn ghi lại như sau : “phàm hóa vật
sản xuất từ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang, đường
thủy, đường bộ, đi thuyền, đi ngựa đều hội tập ở bến Hội An, vì thế khách phương Bắc
đều tụ tập ở đây để mua về nước” [43, tr.256]. Hàng hóa, sản phẩm từ Hội An – Xứ
Quảng, Đàng Trong xuất đi các nước có thể kể gồm có: hàng lâm thổ sản như gỗ, quế,
song mây, củ nâu, trầm hương, kỳ nam, xạ hương, các loại thuốc nam, da thú, ngà
voi…; thủy hải sản có hải sâm, đồi mồi, vây cá, da cá mập, tôm khô, tổ yến…; hàng
thủ công có tơ lụa, đường, mật mía, sản phẩm làm từ xà cừ… [67, tr.233].
Đặc biệt, ở Hội An có một hiện tượng rất độc đáo là ngay từ thế kỷ XVII,
XVIII, hằng năm đều có tổ chức “Hội chợ quốc tế” kéo dài giữa hai kỳ gió mùa mậu
dịch. Từ tháng đầu năm, khi mùa xuân về, gió mùa Đông Bắc đưa thuyền Nhật Bản,
Trung Quốc, Bồ Đào Nha… đến trao đổi hàng hóa ở Hội An, cùng thương nhân các
nước phương Tây, Nam và Đông Nam Châu Á tấp nập nhất vào tháng 3, 4, 5. Đến
cuối mùa mậu dịch khoảng tháng 7, 8 khi gió mùa Đông Nam còn thổi báo hiệu mùa
mưa bão sắp tới, đoàn thuyền buôn bắt đầu rời bến Hội An để về nước. Cristoforo
Borri vào đầu thế kỷ XVII đã ghi nhận “người Trung quốc và người Nhật Bản là
những thương khách chủ yếu trong một hội chợ năm nào cũng mở tại một hải cảng
của xứ Đàng Trong và kéo dài chừng 4 tháng…” [56, tr.89]. Không chỉ vậy, Hội An
còn tham gia vào hoạt động xuất khẩu, đóng vai trò “chuyển khẩu”, một hiện tượng rất
14
hiếm trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Theo tác giả Li Tana “Từ đầu thế kỷ 17 cái
hấp dẫn hơn hết các thương gia đến Đàng Trong chính là vai trò “chuyển khẩu” của
nó” [55, tr.117].
Để đáp ứng nhu cầu của các thương nhân lưu trú trong suốt mùa hội chợ, cũng
như nhu cầu xuất khẩu hàng hóa, một bộ phận người dân Hội An hoàn toàn có thể
sống được bằng hoạt động dịch vụ thông qua việc cho thuê nhà, làm đại lý, trung gian
thu mua hàng hóa… Theo Pierre Poivre (một thương nhân Pháp) “ở Hội An người ta
có thể tìm thấy những đại lý cho thuê, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Đại lý lớn nhất
giá thông thường là 100 đồng cho cả thời gian gió mùa” [64, tr.135].
Cùng với nền kinh tế mở là một nền văn hóa mở có sự giao lưu rộng lớn với
nhiều vùng miền trong cả nước và cả quốc tế. Hội An trở thành điểm gặp gỡ giao lưu
giữa các nền văn hóa Champa, Việt, Hoa, Nhật, Ấn, Đông Nam Á và phương Tây, là
cái nôi truyền bá Thiên chúa giáo và Phật giáo ở Đàng Trong, là cái nôi ra đời chữ
Quốc ngữ vào thế kỷ XVII. Chính sự giao thoa và hòa hợp đó đã tạo cho Hội An một
đặc trưng văn hóa riêng biệt khó tìm thấy ở những đô thị cùng thời trên đất nước Việt
Nam.
Đời sống tâm linh của cư dân Hội An cũng rất phong phú, trong đó tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên vẫn đóng vai trò chủ đạo. Hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ cúng
gia tiên, cả họ thì có nhà thờ họ. Các ngày giỗ tổ, ngày hội chạp mả thường được tổ
chức hết sức trang nghiêm, cung kính với nhiều hình thức cúng tế.
Các hình thức sinh hoạt truyền thống như: chúc xuân, Nguyên tiêu, lễ Cầu ngư,
tế Cá Ông, đua thuyền, cầu bông, Trung thu, Tết Nguyên đán, Tết Đoan ngọ... hát, múa
bả trạo, bài chòi, sắc bùa, hò khoan, đối đáp... luôn được diễn ra theo lệ kỳ hằng năm.
Các phong tục - tập quán trong gia đình, tộc họ và làng xã... vẫn được giữ gìn. Các
món ăn Cao lầu, Mì Quảng, bánh quai vạc, hoành thánh, bánh ít, bánh in... vẫn là
những món ăn phổ biến của người Hội An. Các loại hình văn nghệ dân gian khác: ca
dao, hò vè, tục ngữ, hát ru tuồng... vẫn được lưu truyền trong dân gian.
Cho đến ngày nay nhiều giá trị của di sản văn hóa Hội An vẫn được bảo lưu và
phát huy, tạo nên sức hấp dẫn độc đáo, hiếm có, càng làm tăng thêm ý nghĩa bảo tàng
“sống” của di sản văn hóa Hội An. Vì vậy, ngày 4 tháng 12 năm 1999, Hội An đã vinh
dự được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới.
1.4. Phong trào yêu nước của nông dân Hội An trước khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời.
- Đời sống của nông dân Hội An dưới chế độ cai trị của thực dân phong kiến
Việc triều đình Huế ký với Pháp hiệp ước Harmand (25-8-1883) và hiệp ước
Patenôtre (6-6-1884), nước ta căn bản đã trở thành thuộc địa Pháp với nhiều hình thức
cai trị khác nhau. Theo đó, tỉnh Quảng Nam là đất bảo hộ, tại đây chúng dựng lên một
chính quyền bảo hộ và một chính quyền Nam triều. Hội An là trung tâm tỉnh lỵ của
Quảng Nam, nơi đặt trụ sở của hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền thực dân
nên tình trạng bị bóc lột, áp bức càng trở nên thường xuyên và nặng nề hơn. Vì vậy,
15
đời sống của người nông dân Hội An cũng như các tầng lớp khác hết sức cơ cực, bần
hàn.
Nếu trước đây dưới chế độ phong kiến, người nông dân đói khổ vì thiên tai,
dịch bệnh, hạn hán, vì chế độ bóc lột hà khắc của địa chủ thì nay càng khổ hơn dưới
hai tầng áp bức bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến.
Ở các làng xã, thực dân Pháp tiếp tục duy trì bộ máy quản lý hết sức cồng
kềnh. Mỗi làng xã có hai cơ quan quản lý. Đó là cơ quan của nhà nước, đứng đầu là
các xã quan (hay còn gọi là lý dịch: gồm lý trưởng, phó lý, hương thân, hương hào,
khán thủ, hương trưởng) và Hội đồng kỳ mục của làng xã. Vai trò của các xã quan (lý
dịch) rất lớn, hầu như quyết định mọi việc trong làng nên chúng thường lợi dụng chức
vụ của mình để nhũng nhiễu, hà hiếp, bóc lột nông dân nghèo. Mỗi khi đến kỳ quân
cấp công điền, chúng thường lo tranh phần ruộng tốt, người nông dân chỉ được nhận
phần ruộng xấu, đầu bờ đuôi thẹo, năng suất thấp.
Không chỉ vậy, địa chủ ở các xã thôn còn cấu kết với xã quan cướp đoạt ruộng
đất của nông dân, bao chiếm đất công với nhiều thủ đoạn rất tinh vi. Đặc biệt, địa chủ
Hội An còn bao chiếm ruộng đất ở các nơi khác rồi thuê nông dân cày cấy với giá rẻ
mạt hoặc cho nông dân cấy rẽ thu tô cao, chúng còn cho nông dân vay nặng lãi nên rất
giàu có. Người nông dân mất đất sản xuất, phải đi làm thuê, cuốc mướn, bị địa chủ
bóc lột địa tô, đối xử rất thậm tệ. Dù người nông dân phải lao động vất vả, quanh năm
đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, bán mặt cho đất bán lưng cho trời nhưng cơm vẫn
không đủ ăn, áo không đủ mặc, thậm chí nhiều người đã phải chết vì đói.
Không chỉ bị bần cùng, đói khổ vì bị chiếm đoạt ruộng đất sản xuất, người
nông dân còn điêu đứng vì các loại thuế má, phu phen tạp dịch. Tính bình quân mỗi
năm số tiền thuế của một người phải nộp cho chính quyền tương đương với số ngày
công lao động của họ trong 3 - 4 tháng, nặng nhất là thuế thân, mỗi năm dân đinh phải
nộp từ 6 giác đến 3 đồng. Ngoài thuế, mỗi tráng đinh còn phải chịu nhiều sưu dịch:
dịch đón rước quan lại Pháp và Nam triều, dịch khiêng vác hàng hóa, dịch đào sông,
đắp đường và nhiều loại sưu dịch khác, nếu không đi phải trả tiền công. Tình cảnh này
đã được Phan Châu Trinh thuật lại như sau: “nay tạp dịch vừa xong tiếp theo là quan
dịch, quan dịch xong lại đến hương dịch, hương dịch xong lại có lệnh của cố dịch lại
tiếp đến. Trong một năm lại hết 5, 6 tháng phải đi làm sưu dịch. Ngã gục ngoài đường,
bị roi đánh, đói chết, đau chết. Không có ngày nào là không nghe nói. Ôi! thảm
thương” [47, tr.30].
Nhiều nông dân không đủ tiền nộp thuế, bị tước đoạt ruộng đất, nhà cửa, phải
làm mướn cho bọn địa chủ, hay làm công trong các đồn điền trồng cây công nghiệp,
chủ yếu là đồn điền cao su của Pháp; một số khác bỏ vùng nông thôn lên đô thị kiếm
sống bằng những nghề phụ như cắt tóc, làm phụ hồ, kéo xe, bán hàng rong, hoặc đi
làm bồi bếp, con sen, vú em, sống cuộc đời tôi tớ, bấp bênh. Một số khác vì không
chịu nổi ách áp bức, bóc lột đứng lên chống lại bọn địa chủ, lý dịch thì bị bắt bớ, tù
đày, hoặc phải trốn lánh đi nơi khác.
16
Tuyệt đại đa số nông dân ở Hội An không biết chữ, cho đến những năm 1940,
ở cả tỉnh Quảng Nam, mỗi phủ huyện đồng bằng chỉ có 1-2 trường tiểu học, không có
trường trung học công lập, chỉ có một trường trung học tư thục ở Hội An, và cũng chỉ
có con những gia đình khá giả mới có điều kiện được đến trường. Không những không
quan tâm đến giáo dục, thực dân Pháp còn đầu độc nông dân bằng rượu cồn và thuốc
phiện gây đau thương cho biết bao gia đình, làm băng hoại nền văn hóa truyền thống
dân tộc.
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nông dân Hội An
cũng như các tầng lớp khác trong xã hội chịu nhiều áp bức, bóc lột, bị bần cùng, đói
khổ, tủi nhục, vì vậy, họ luôn sẵn sàng nổi dậy hưởng ứng mạnh mẽ các phong trào
yêu nước chống thực dân Pháp và chính quyền tay sai với ước mong giành lại độc lập
tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho chính bản thân mình.
- Phong trào yêu nước của nông dân Hội An trước khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời
Hội An là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, trong quá trình khai hoang,
mở đất, lập làng, nông dân Hội An đã sớm mang trong mình tình yêu quê hương đất
nước, tinh thần đấu tranh kiên cường chống áp bức bất công và kẻ thù xâm lược, sẵn
sàng hy sinh để bảo vệ bờ cõi quê hương.
Ngay từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần, khi một hạm đội Hà Lan gồm 5 tàu
thuyền do Liesvelt chỉ huy mưu toan đánh chiếm Cù Lao Chàm rồi đổ bộ vào bờ biển
từ Hội An đến Đà Nẵng (7-5-1642), nông dân Hội An đã cùng với lực lượng quân đội
của chúa Nguyễn bao vây tiêu diệt, tên sĩ quan chỉ huy bị giết tại trận.
Khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng xâm lược Việt Nam tại cửa biển Đà
Nẵng, nông dân Hội An đã cùng cả nước đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh
những đội quân chính quy của triều đình, xuất hiện nhiều đội “thân biền binh dõng”
của nông dân nơi đây. Họ tham gia xây dồn lũy, phòng tuyến, chuyển lương, tiếp tế,
xây dựng các trận địa pháo, đan sọt tre, chở đất đá ngăn sông Vĩnh Điện không cho
thuyền tam bản của quân Pháp ngược sông Hàn vào đánh tỉnh thành Quảng Nam...
Trong những năm 1885 – 1888, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm
Nghi, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Duy Hiệu - một người con của đất Thanh Hà (Hội
An), văn thân, sĩ phu và đông đảo nông dân Hội An đã hăng hái hưởng ứng Phong
trào Nghĩa hội; trong đó, có một số người đã đảm nhận những trọng trách quan trọng
trong nghĩa quân như ông Lương Như Bích, Trần Trung Tri ở Cẩm Phô, Châu Thượng
Văn ở làng Minh Hương, Nguyễn Bính ở Sơn Phô, ông Võ Khắc Tuy ở An Bàng và
ông Nguyễn Nhạc ở Cồn Động… Trong các đơn vị đoàn kết quân, nghĩa dũng quân
và hương binh của Nghĩa hội, nông dân là lực lượng chủ lực, đông đảo nhất. Ngoài
thoát ly đứng vào quân ngũ, nông dân các làng nơi có chiến sự tích cực thực hiện
“vườn không nhà trống”, không họp chợ, triệt để bất hợp tác với giặc, đem lương thực
vào núi cất giấu, ủng hộ cho nghĩa quân, tham gia đánh du kích tiêu diệt sinh lực địch.
Khâm sứ Pháp Baille, người được chứng kiến những việc làm ủng hộ nghĩa quân của
17
nông dân đương thời đã rất ngạc nhiên, ông viết “Thanh thế Hiệu lan mạnh lạ lùng
trong hạt. Theo mệnh lệnh y, các làng bỏ hoang, dân quê tự đốt nhà và thanh dã trước
khi quân ta (Pháp) tới. Một hôm y ra lệnh cho một địa hạt khá lớn phá hết nhà ngói, vì
sợ quân ta hoặc công vụ ta dùng làm trụ sở. Thế mà người ta ngoan ngoãn thi hành,
kể cả những kẻ giàu có nhất cũng bị cảm hóa bởi lời y và tự ra tay phá tài sản của
mình” [39, tr.117].
Các cuộc khởi nghĩa do sĩ phu yêu nước lãnh đạo bị đàn áp, phong trào Cần
Vương thất bại nhưng phong trào yêu nước của nhân dân vẫn âm ỉ và chuyển sang một
hướng mới.
Những năm 1903 - 1908, ở Quảng Nam dấy lên phong trào Duy Tân sôi nổi.
Phong trào này là một cuộc vận động cải cách về văn hóa, xã hội, xuất phát từ chủ
thuyết “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của chí sĩ Phan Châu Trinh được
nhân dân trong tỉnh hưởng ứng. Hội An được xem là cửa ngõ của trào lưu yêu nước
này gắn với tên tuổi của Châu Thượng Văn, một trong những nhân vật chủ chốt trong
Duy Tân hội. Ngôi nhà của ông là cơ sở quan trọng của Duy Tân hội. Đây là nơi họp
mặt các nhà yêu nước trong Nam ngoài Bắc, nơi bí mật đón tiếp những người hoạt
động trong Duy Tân hội, cũng là nơi đưa sách báo ra nước ngoài và nhận sách báo tiến
bộ từ nước ngoài gửi về, cũng là nơi làm cơ quan tài chính của tổ chức này. Chính nhờ
địa chỉ liên lạc này mà Hội An giữ một vị trí quan trọng trong hai phong trào yêu nước
đầu thế kỷ là phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân, là cơ sở để tập hợp những
người yêu nước trong và ngoài tỉnh. Hội buôn “Quảng Nam hiệp thương công ty” ra
đời ở Hội An là một trong những tổ chức thương nghiệp mang đầy đủ ý nghĩa chính trị
tiêu biểu của Quảng Nam thời đó.
Công cuộc Duy tân đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của nông dân, dẫn đến
những thay đổi lớn trong đời sống nông thôn lúc bấy giờ. Những hủ tục, mê tín dị đoan
dần được xóa bỏ, người dân cắt tóc ngắn, thay đổi trong cách ăn mặc, tích cực chống
áp bức bất công, tham gia xây dựng làng kiểu mẫu, góp công, góp sức xây dựng trường
học, tham gia các lớp tân học… Đồng thời, qua phong trào, người nông dân cũng đã
dần hình thành ý thức “dĩ nông hợp quần”, cùng nhau làm ăn tập thể trong các nông
đoàn, hợp xã, tổ chức các hội vòng công … để không chỉ đoàn kết tương trợ nhau
trong sản xuất, mà qua đó còn nâng cao ý thức tự tôn dân tộc, hướng đến mục đích
giành lại quyền độc lập tự chủ cho đất nước đã rơi vào tay quân xâm lược.
Những năm 1907 – 1908, thuế khóa ngày càng nặng nề hơn, lại liên tiếp bị bắt
đi làm sưu dịch khiến cho nông dân ngày càng kiệt sức. Phản đối lại sự hà hiếp, bóc lột
đó, ngày 11-3-1908, hơn 400 nông dân Đại Lộc kéo đến huyện lỵ với lá đơn xin giảm
thuế yêu cầu quan huyện chuyển đạt lên cấp trên, sau đó, đoàn biểu tình kéo xuống
Tòa Công sứ Pháp tại Hội An. Nghe tin nông dân Đại Lộc biểu tình, nông dân các
huyện trong tỉnh đồng loạt hưởng ứng kéo đến các phủ, huyện đường, cử thêm người
tiếp viện ra Tòa Công sứ nên số người biểu tình ở đây nhanh chóng tăng lên 6.000 7.000 người. Hội An tràn ngập cả một biển người quật khởi, nông dân Hội An vừa là
lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh, vừa tự cung cấp quần áo, thuốc men, lương
18
thực, thực phẩm, sắp xếp nơi ăn ở cho cả vạn người đấu tranh với kẻ thù trong gần một
tháng. Huỳnh Thúc Kháng đã nhận định “đây là một cuộc nổi dậy mạnh mẽ của nhân
dân”, là “tự sức quần chúng phơi gan, trải ruột, đem thịt máu ra chống với hai chính
phủ: chính phủ bảo hộ giặc Pháp và chính phủ bù nhìn Nam triều”.
Thực dân Pháp ra sức đàn áp, chúng đưa quân tỏa xuống tận các xã khủng bố
nhân dân, triệt phá luôn các cơ sở của phong trào Duy Tân. Hàng ngàn người bị tra
khảo, hàng trăm người bị bắt giam tại nhà lao tỉnh, nhiều người bị đày ra Côn Đảo. Ở
Hội An, mật thám lục soát nhà ông Châu Thượng Văn là một trong những đầu mối
quan trọng của cuộc đấu tranh chống thuế ở Hội An. Chúng thu được nhiều tài liệu,
sách báo thuộc loại “cấm thư” từ nước ngoài gửi về. Châu Thượng Văn liền bị bắt
giam, ông đã không khai báo, tuyệt thực ở nhà lao Hội An hơn 20 ngày. Sau đó ông bị
đưa đi đày ở Lao Bảo nhưng do kiệt sức, ông chết ở nhà lao Thừa Phủ Huế.
Phong trào chống sưu thuế tạm lắng một thời gian, từ năm 1912, một số nhà
yêu nước bị bắt hết hạn tù quay về địa phương tiếp tục cuộc vận động cứu nước nhằm
mưu một cuộc khởi nghĩa để đánh đuổi quân Pháp xâm lược, khôi phục độc lập cho
nước Việt Nam. Đứng đầu cuộc vận động là Thái Phiên.
Nhân lúc Pháp đang đánh nhau với Đức trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ
nhất, những nhà lãnh đạo xem đây là cơ hội tốt cho Việt Nam tranh lấy độc lập bằng
phát động một cuộc khởi nghĩa. Hội An là điểm khởi nghĩa quan trọng của tỉnh Quảng
Nam do y sĩ Lê Đình Dương và Quảng Thái chỉ huy. Nông dân Hội An tích cực tham
gia cuộc vận động cứu nước này. Nhiều nơi lập ra các đội dân binh ngày đêm luyện tập
quân sự. Nông dân còn quyên lương thực cho nghĩa quân ăn tập, nhiều người thoát ly
hẳn gia đình lên các căn cứ ở Phước Sơn, Phú Vinh, Phú Tích mở lò rèn vũ khí. Do
công cuộc chuẩn bị chưa thật chín, lại nhiều lần thay đổi thời gian khởi nghĩa nên vụ
mưu khởi đã bị thất bại. Tuy thất bại nhưng đây chính là mốc son đánh dấu sự mở đầu
cho phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân ta.
Trong những năm 1925 – 1926, có nhiều cuộc vận động yêu nước, nhiều nhà
trí thức đến diễn thuyết ở Hội An được đông đảo nông dân hưởng ứng, tiêu biểu là
cuộc đấu tranh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh.
Để tỏ lòng thương tiếc cụ Phan Châu Trinh, nông dân Hội An đã cùng với nhân dân
toàn thị xã đồng lòng đội nón quai đen, bỏ nhiều buổi không đi chợ, nhiều nơi tổ chức
đọc thơ, hò bài văn tế cụ Phan Châu Trinh của cụ Phan Bội Châu....
Trong khi cả dân tộc ta khao khát con đường giải phóng đúng đắn thì năm
1917, cách mạng tháng 10 Nga thành công, Chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá
khắp thế giới. Qua các bài viết của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở các sách báo Người
cùng khổ, Đường cách mệnh, nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp được bí mật truyền
về Việt Nam, những luận điểm về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của Người
đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào yêu nước. Nhiều trí thức và thanh niên tiến bộ
đã chọn con đường cứu nước theo luồng tư tưởng mới, tư tưởng “cách mạng vô sản”.
19
Sau những năm bôn ba hải ngoại, cuối năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc
với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản về Quảng Châu (Trung Quốc) xây dựng
phong trào công nhân và cộng sản ở Đông Nam Châu Á. Tháng 6 – 1925, Người thành
lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để tập hợp những thanh niên Việt Nam có
xu hướng Cộng sản.
Trong lúc này ở Quảng Nam, sau những cuộc vận động cách mạng đầu thế kỷ
XX bị thất bại, nhân dân càng khao khát tự do, càng nung nấu ý chí cách mạng. Đúng
lúc này những tư tưởng cách mạng vô sản thông qua các hoạt động của tổ chức Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo đã ảnh hưởng
đến phong trào yêu nước ở Quảng Nam, một số thanh niên, trí thức đã tìm cách bắt
liên lạc với các tổ chức cách mạng. Năm 1927, đồng chí Phan Thêm 2 ra Quảng Trị liên
lạc được với tổ chức cách mạng và được kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên ở Quảng Trị. Sau đó, đồng chí về lại Hội An phát triển hội viên và
xúc tiến việc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hội An. Tháng
10 – 1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hội An được thành lập tại nhà Đức
An (nay là số nhà 129, đường Trần Phú, Hội An), gồm 3 đồng chí, do đồng chí Phan
Thêm làm Bí thư.
Để mở rộng quan hệ với quần chúng và đẩy mạnh phong trào cách mạng đi lên,
Hội đã chú ý đẩy mạnh phong trào thanh niên bằng hoạt động thể dục thể thao, lập
“Phân hội thể thao” trực thuộc Hội Thể thao Hội An. Thực chất “Phân hội thể thao”
là một đội bóng đá có tên là “Ôro” thu hút rất nhiều thanh niên, học sinh, nông dân,
công nhân và những người lao động thủ công. Qua hoạt động, đội bóng đá Ôro đã gây
được phong trào sôi nổi, rộng rãi ở nội thành và các xã xung quanh như: Cẩm Phô,
Thanh Hà, Lai Nghi, Kim Bồng… Đồng thời, Hội còn tổ chức thêm một gánh hát cải
lương cũng đặt tên là “Ôro” gồm một số thanh niên, học sinh tiến bộ tự sáng tác
những vở cải lương, hát tuồng nhằm tuyên truyền tư tưởng yêu nước, có nội dung tiến
bộ. Từ các hoạt động này, nhiều thanh niên nông dân đã được tuyên truyền tư tưởng
cách mạng, được vận động tham gia vào các tổ chức quần chúng yêu nước.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hội An còn chú ý hướng hoạt động
vào nông thôn, lập nông hội và các tổ chức biến tướng trong nông dân, tuyên truyền
vận động thanh niên nông dân đấu tranh bỏ hủ tục ở chốn hương thôn, bỏ lệ phân biệt
ngôi thứ ở chốn đình trung, bỏ lệ dân ngụ cư “quơ bổi thui trâu”, phục dịch trong
những ngày cúng tế. Nhờ đó, tuy không có những cuộc đấu tranh rầm rộ như của công
nhân nhưng trong nông dân cũng đã xuất hiện một số cuộc đấu tranh do Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên Hội An hướng dẫn và đã giành được những kết quả đáng kể.
Điểm nổi bật của phong trào giai đoạn này là những cuộc đấu tranh chống thực dân
phong kiến cướp ruộng đất đòi giảm sưu thuế, đòi chia lại công điền công thổ, chống
bọn cường hào, ác bá địa phương và đòi cải lương hương tục.
Tức Cao Hồng Lãnh, sinh năm 1906 ở xã Minh Hương, nay là phường
Minh An, TP Hội An
20
2
Nhìn chung, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, nông dân Hội An
cũng như các tầng lớp khác chịu nhiều áp bức bất công, đời sống hết sức cơ cực bần
hàn. Với ước mong được thoát cảnh nô lệ, mang lại độc lập tự do cho dân tộc, người
nông dân Hội An tuy nghèo khổ, khó khăn nhưng lại rất giàu lòng yêu nước, chấp
nhận hiểm nguy, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân, tham gia tích cực các phong trào yêu
nước do các văn thân, chí sí tiến bộ lãnh đạo. Các phong trào yêu nước trên đã thể hiện
ý chí bất khuất của nông dân Hội An trước áp bức bất công của chế độ phong kiến và
sự nô dịch của ngoại bang, nhưng cuối cùng đều bị thực dân Pháp đàn áp. Cũng như tất
cả nhân dân Việt Nam, nông dân Hội An đang cần có một đảng chính trị sáng suốt có
đường lối cứu nước đúng đắn lãnh đạo.
*
*
*
Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn
tài nguyên nhân văn khá dồi dào, giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy,
Hội An có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội.
Các di tích khảo cổ học cho thấy con người đã sinh sống trên đất Hội An từ khá
sớm. Văn hóa Hội An có những sắc thái riêng, trong đó nổi bật là sự giao lưu, hội nhập
với các nền văn hóa của nhiều nước trong khu vực và thế giới, trong đó, chịu ảnh
hưởng đậm nét nhất là văn hóa Champa, Trung Quốc và Nhật Bản.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các phong trào yêu nước ở Hội An đã
nổ ra sôi nổi và liên tục. Nông dân Hội An đã cùng các tầng lớp khác tham gia tích cực
trong cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ Đà Nẵng (1858 – 1860), hưởng ứng mạnh
mẽ phong trào Cần Vương cứu nước (cuối thế kỷ XIX), phong trào Đông Du (1905 –
1909) và phong trào Duy Tân (1904 – 1908), phong trào Chống thuế 1908, cuộc vận
động khởi nghĩa Thái Phiên – Trần Cao Vân (1916).
Chính các yếu tố địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử, đặc biệt là các
phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là tiền đề vững chắc để nông dân
cùng với nhân dân Hội An bước vào trang sử mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
21
Chương 2
PHONG TRÀO NÔNG DÂN HỘI AN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH
CHÍNH QUYỀN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN
ĐÔNG DƯƠNG THỊ XÃ HỘI AN
1930 – 1945
2.1. Sự ra đời của Nông hội Đỏ ở Hội An và phong trào đấu tranh cách
mạng của nông dân Hội An trong những năm 1930 – 1935
- Sự ra đời của Nông hội Đỏ ở Hội An
Trước yêu cầu cấp thiết của các phong trào yêu nước đòi hỏi phải có một tổ
chức chính trị thống nhất, với đường lối cách mạng đúng đắn, ngày 3-2-1930, dưới sự
chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thành lập
tại Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc). Trên cơ sở ấy, Tỉnh bộ lâm thời Đông
Dương Cộng sản đảng ở Quảng Nam nhất trí thực hiện chủ trương hợp nhất của Trung
ương Đảng. Ngày 28-3-1930, Ban chấp hành lâm thời Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam ra
Thông cáo về việc thành lập Đảng bộ và công bố từ nay chỉ có một đảng duy nhất là
Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn đường cho công, nông, binh, nhân dân lao động bị áp
bức đấu tranh giành độc lập dân tộc. Bản Thông cáo viết: “phong trào cộng sản tỉnh
Quảng Nam ta cùng xu hướng chung với cả nước, nó phát triển trên cơ sở đấu tranh
của vô sản, dân cày và những người bị áp bức trên toàn tỉnh”[7, tr.77].
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Quảng Nam, tháng 4-1930, Chi bộ Đảng Cộng
sản đầu tiên của Hội An đã được thành lập, gồm ba đồng chí, do đồng chí Hà Mùi làm
Bí thư.
Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Chi bộ Hội An ra đời là sự kiện lịch sử quan trọng
có ý nghĩa rất lớn đối với phong trào cách mạng ở địa phương, đánh dấu mốc lịch sử
của nhân dân Quảng Nam nói chung và Hội An nói riêng bước vào thời kỳ mới - thời
kỳ đấu tranh dân tộc, dân chủ theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta rất coi trọng việc đoàn kết, tập hợp lực lượng
nông dân, xem đây là lực lượng chủ lực của cách mạng. Tại Hội nghị thành lập Đảng
đã nêu ra những vấn đề cơ bản đối với giai cấp nông dân ''Đảng phải đoàn kết được
đại đa số nông dân, phải dựa vững vào nông dân nghèo làm cách mạng thổ địa, đánh
đổ bọn địa chủ và phong kiến''; đồng thời Đảng nhấn mạnh “Nông dân là lực lượng to
lớn của cách mạng'', vì vậy phải tập hợp nông dân vào một tổ chức dưới sự lãnh đạo
của giai cấp công nhân, đấu tranh giành độc lập tự do và thực hiện cách mạng ruộng
đất.
Sau đó, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 cũng đã phân tích một cách
biện chứng về vai trò, sự phát triển của “vô sản giai cấp” và nêu rõ: “Dân cày là hạng
người chiếm đại đa số ở Đông Dương, họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản
22
dân quyền”. “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai
cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi
hàng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể
giành quyền lãnh đạo dân cày được” [46, tr.31].
Cũng tại hội nghị này đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Tổng Nông
hội Đông Dương3. Điều lệ Tổng Nông hội Đông Dương gồm 8 điều trong đó nêu rõ
mục đích nhằm ''Thống nhất hết thảy Tổng Nông hội Đông Dương để tranh đấu, bênh
vực quyền lợi hàng ngày của nông dân và để thực hiện cách mạng thổ địa'' . Hội nghị
quyết định “phải chỉnh đốn nông hội lại cho có hệ thống theo điều lệ mới và dự bị việc
tổ chức Đông Dương Tổng nông hội. Phải tổ chức đội tự vệ của nông dân” [40, tr.90].
Nghị quyết đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giai cấp nông dân
Việt Nam, biểu hiện sự trưởng thành và lớn mạnh về mọi mặt của giai cấp nông dân
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù, về danh nghĩa Hội
Nông dân Việt Nam chưa được thành lập, nhưng các tổ chức Nông hội ở các cấp vẫn
tiếp tục hoạt động duới hình thức Nông hội Đỏ.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tổng Nông hội Đông Dương, các tổ chức Nông
hội đã có từ trước được tổ chức lại và chuyển thành tổ chức Nông hội Đỏ. Tại Quảng
Nam, trong năm 1930, nhiều tổ Nông hội Đỏ đã được hình thành, đầu tiên ở huyện
Quế Sơn, tập trung ở các làng Phú Trạch, Hòa Mỹ, Phú Trang, Phương Trì, Mông
Nghệ, Mông Lãnh, Nghi Hạ, Nghi Lộc… Tiếp đến là phủ Điện Bàn với nhiều tổ Nông
hội Đỏ ở các làng La Thọ, Bích Trâm, Lục Giáp, Cẩm Lậu, Thi Nhơn, Hà Mật, Hà
Thanh. Cùng với Quế Sơn, Điện Bàn, tổ chức Nông hội Đỏ cũng lần lượt ra đời ở các
phủ, huyện khác trong tỉnh.
Cũng chính trong thời gian này, một số xã ở Hội An cũng bắt đầu hình thành
các tổ Nông hội Đỏ. Lúc đầu, mỗi tổ chỉ có từ 3 – 5 người, hoạt động không thường
xuyên, chỉ họp khi có nhiệm vụ, công tác chủ yếu của tổ là tuyên truyền chủ trương,
đường lối của Đảng đến nông dân, đoàn kết nông dân chống lại sự hà hiếp của địa chủ
và chính quyền tay sai, vận động nông dân tham gia các phong trào đấu tranh cách
mạng do Đảng phát động, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất, làm ăn... Các tổ Nông
hội Đỏ chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ các đảng viên của chi bộ Hội An. 4
Hội An là trung tâm của tỉnh lỵ, địch kiểm soát rất gắt gao, vùng nông thôn và
thành thị ở đây thường hòa lẫn vào nhau nên so với các huyện khác trong tỉnh, việc
vận động thành lập tổ Nông hội Đỏ gặp nhiều khó khăn, do vậy, lúc ban đầu chỉ mới
có một số xã thành lập được tổ Nông hội Đỏ, hoạt động dưới sự chỉ đạo chung của Chi
bộ Hội An. Tuy chưa nhiều, chưa lớn mạnh nhưng sự ra đời của một số tổ Nông hội
3
4
Tên gọi đầu tiên của Hội Nông dân Việt Nam ngày nay
Theo lời kể của Bác Lâm Tình (Cẩm Thanh), bác Huỳnh Hồng (Cẩm
Kim)
23
Đỏ ở Hội An cũng đã cho thấy bước trưởng thành của giai cấp nông dân thị xã. Từ
đây, nông dân Hội An sẽ được tập hợp thống nhất trong tổ chức chính trị của giai cấp
mình dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy phong trào
nông dân Hội An ngày càng phát triển mạnh mẽ trong những năm 1930 – 1935.
- Phong trào đấu tranh cách mạng của nông dân Hội An trong những năm
1930 – 1935
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng trong nước
phát triển mạnh và trở thành cao trào với đỉnh điểm là Xô viết – Nghệ Tĩnh.
Hòa nhịp với cao trào cách mạng trên, được sự chỉ đạo của Đảng bộ Quảng
Nam, Chi bộ Hội An và các tổ Nông hội Đỏ tuy mới thành lập nhưng đã nhanh chóng
lãnh đạo nông dân cùng các lực lượng khác tham gia cao trào đấu tranh nhân ngày
Quốc tế Lao động 1-5 để tuyên truyền về sự ra đời của Đảng và biểu dương lực lượng.
Một số hội viên tích cực của các tổ Nông hội Đỏ đã tham gia treo cờ Đảng, rải truyền
đơn khắp thị xã, vùng ngoại ô cùng các đảng viên Cộng sản nhằm hưởng ứng ngày
Quốc tế lao động. Tại các đường phố, nhất là ở các cửa công sở, hãng buôn, Chùa
Cầu..., truyền đơn được dán lên tường, được rải xuống đường dày đặc. Cờ búa liềm
được treo ở các dây điện trước cổng nhà đèn, ở phố Chùa Cầu và một vài nơi khác. Ở
Kim Bồng, bờ Nam sông Thu Bồn, cờ búa liềm được treo trên cây đa ấp Vĩnh Hưng và
truyền đơn được rải từ ấp Vĩnh Hưng đến “Bến đò Phố” [23, tr.75]. Sự xuất hiện cờ
búa liềm và truyền đơn giữa thị xã làm cho bọn Pháp hết sức hoang mang, lo sợ, quần
chúng thì kinh ngạc, thán phục và bàn tán xôn xao. Ở Hội An mãi tới hơn 9 giờ sáng
hôm sau, bọn địch mới gỡ được cờ ra khỏi đường dây điện. Từ đó, tiếng đồn về hoạt
động của Cộng sản lan truyền sâu rộng trong quần chúng.
Vào đầu tháng 8 năm 1930, để chia lửa với nhân dân Nghệ Tĩnh, Tỉnh ủy
Quảng Nam chủ trương tổ chức một cuộc diễn thuyết công khai tại ngã ba nhà thờ Tin
Lành (Hội An) nhưng không thực hiện được. Tỉnh ủy lại quyết định tổ chức một cuộc
diễn thuyết tại bờ sông trước chùa Quảng Triệu (Hội An), nơi gần phố xá, gần bến
sông, dễ tập hợp quần chúng. Đồng chí Trần Kim Bảng được chọn làm diễn giả. Để
đảm bảo an toàn cho cuộc mít tinh, đông đảo nông dân vùng ven Hội An được cơ sở
cách mạng huy động tham dự mít tinh và làm mạng lưới bảo vệ từ vùng ngoài, còn lực
lượng tự vệ bảo vệ vòng trong cho cuộc mít tinh. Theo kế hoạch, lợi dụng lúc bọn lính
sơ hở khi thay phiên gác, trưa này 4-8-1930, đồng chí Trần Kim Bảng được Tỉnh ủy
phân công cải trang làm người chăn bò tiến vào tiếp cận địa điểm đã định, bất ngờ
nhảy lên ghế đá ở công viên, huýt còi, phất cờ đỏ búa liềm, hô hào quần chúng tham
dự buổi diễn thuyết. Được vận động, hướng dẫn từ trước, nông dân và đồng bào đi chợ
tập trung đến nghe rất đông. Đồng chí Trần Kim Bảng dõng dạc diễn thuyết hô hào
mọi người theo Đảng đứng lên hành động cách mạng, đánh đổ đế quốc Pháp và Nam
triều phong kiến tự giải phóng cho mình, ủng hộ cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Cuộc
mít tinh diễn thuyết ở Hội An thắng lợi, có ảnh hưởng rất lớn đến các tầng lớp nhân
dân, nhất là nông dân các phủ, huyện lân cận.
24
Qua các hoạt động tuyên truyền công khai của Tỉnh ủy Quảng Nam tại Hội An,
các chủ trương, đường lối của Đảng đã đến được với đông đảo quần chúng nhân dân,
đặc biệt là nông dân, tạo được mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng. Từ đây, nông
dân Hội An bắt đầu tham gia vào các phong trào đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh
đạo và chính qua các hoạt động này đã cho thấy vai trò của nông dân trong các phong
trào đấu tranh công khai, họ luôn là lực lượng đông đảo và tích cực nhất.
Cùng với việc tuyên truyền, vận động, Chi bộ Hội An rất quan tâm đến việc tổ
chức các hội quần chúng và mở rộng diện tập hợp lực lượng. Các tổ chức biến tướng
của các hội này như hội đọc sách báo tiến bộ, hội bóng đá… được duy trì. Những quần
chúng tích cực trong các hội biến tướng được lựa chọn kết nạp vào các tổ chức Công
hội Đỏ, Nông hội Đỏ, Cứu tế Đỏ. Những hội viên tích cực của Công hội Đỏ, Nông hội
Đỏ, Cứu tế Đỏ là những đối tượng phát triển Đảng. Theo chủ trương đó, một số hội
viên Nông hội Đỏ đã trở thành đối tượng Đảng, được đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Đây là lực lượng nòng cốt, có vai trò lãnh đạo của Nông hội Đỏ.
Lo sợ khí thế đấu tranh sôi sục, quyết liệt của nhân dân ta, chính quyền thực
dân Pháp và Nam triều tay sai đưa mật thám, binh lính truy lùng khắp phủ huyện
Quảng Nam, đặc biệt là Hội An, trung tâm của tỉnh lỵ, thẳng tay bắt bớ, đàn áp, đánh
phá tổ chức Đảng Cộng sản và các tổ chức quần chúng của Đảng, trong đó có nông hội
đỏ.
Cuối tháng 10-1930, cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam ở Hội An bị địch vây bắt.
Toàn bộ tài liệu của cơ quan Tỉnh ủy bị tịch thu. Cơ quan Xứ ủy Trung kỳ đóng tại Đà
Nẵng cũng bị địch phát hiện. Phần lớn các đảng viên, hội viên Công hội Đỏ, Nông hội
Đỏ, Cứu tế Đỏ trong tỉnh đều bị bắt, trong đó, có 3 đảng viên của chi bộ Hội An.
Trong nhà tù của địch, cùng với các đảng viên trung kiên của Đảng, những hội
viên nông hội vẫn giữ vững niềm tin vào cách mạng, đấu tranh chống lại chế độ giam
cầm khắc nghiệt của nhà tù, đòi cải thiện đời sống và vẫn tìm cách liên hệ với bên
ngoài. Đây cũng là lúc hội viên Nông hội Đỏ có điều kiện hiểu rõ hơn Đảng Cộng sản
qua những người bạn tù cộng sản. Số hội viên còn lại vẫn âm thầm hoạt động, trở
thành cơ sở bí mật để cán bộ, đảng viên móc nối, liên lạc, phục hồi, gây dựng lại tổ
chức cơ sở đảng và quần chúng.
Trước tình hình trên, ngày 20-3-1931, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ
thị về vấn đề chỉnh đốn Nông hội Đỏ, khẳng định vai trò to lớn của tổ chức này trong
cách mạng. Chỉ thị nêu rõ “giai cấp nông dân là một lực lượng chính của cách mạng,
nòng cốt là cố, bần nông” [46, tr.32]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ II
tháng 3-1931 cũng nhấn mạnh: ''cần phải đẩy mạnh việc tổ chức Nông hội làng, tuyên
truyền sâu rộng chủ trương của Đảng, trong điều kiện địch khủng bố trắng, nông dân
cùng các tầng lớp nhân dân đoàn kết đấu tranh, giương cao khẩu hiệu: chống sưu
thuế, địa tô, thất nghiệp, chống khủng bố trắng, chống chiến tranh'' [46, tr.32].
25
Thực hiện chủ trương trên, đồng thời để đẩy nhanh công tác khôi phục cơ sở
đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng, vạch ra phương hướng hoạt động trong
tình hình mới, trong hai ngày 27 và 28-2-1933, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ
Quảng Nam đã họp hội nghị, ra báo cáo và nghị quyết, nhận định tình hình và đề ra
phương hướng hoạt động. Tại hội nghị cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng
liên quan đến hoạt động của Nông hội Đỏ. Hội nghị nhận định:“Trong hai năm 1930 1931, đế quốc Pháp và phong kiến Nam triều ra tay khủng bố, nên đồng chí bị bắt, bị
tù đã đành mà quần chúng lao khổ có xu hướng cộng sản cũng liên lụy, thế nhưng thợ
thuyền, dân cày, binh lính, học sinh và các hạng người lao khổ không sợ cộng sản mà
còn xu hướng cộng sản, ai nấy đều căm giận đế quốc, phong kiến. Hoàn cảnh này làm
cho đồng chí ta dễ đường vận động” [8, tr.1].
Về phương hướng hoạt động của Nông hội Đỏ trong thời gian đến, hội nghị chỉ
rõ: “…tổ chức Nông hội làng ở miền biển rồi từ miền biển ăn lan vào miền nguồn”,
“phải xoay quanh vấn đề chống thuế, chống xâu, đòi thả chính trị phạm để tập hợp
quần chúng lao khổ chống đế quốc và phong kiến Nam triều đưa lao khổ tiến tới giành
chính quyền lập xô viết công nông binh” [8, tr.2]
Trong hai năm 1931 – 1932, các đồng chí tù chính trị ra tù về lại địa phương bị
bọn thống trị tại địa phương quản thúc, hàng tháng phải đến phủ hay huyện đường
trình diện. Trong các ngày lễ Quốc tế Lao động 1-5, Quốc tế chống chiến tranh 1-8 hay
Cách mạng Tháng Mười Nga 7-11, chúng bắt các đồng chí ta phải tập trung tại một địa
điểm nhất định để chúng quản lý, ai muốn đi ra ngoài phải được phép. Từ năm 1933, lệ
kiểm duyệt chính trị phạm ở các phủ, huyện đường cũng được bãi bỏ, việc quản thúc
các chính trị phạm lơi dần. Do đó, các đồng chí ta có điều kiện hoạt động, các chủ
trương của Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam ngày 27 và 28-2-1933 đã được các
cơ sở đảng và tổ chức quần chúng tiếp thu và thực hiện, phong trào trong tỉnh dần khôi
phục.
Trong những năm 1933 – 1935, cùng với việc đẩy mạnh phục hồi các tổ chức
đảng, các tổ Nông hội Đỏ ở Hội An dần được gây dựng lại, thu hút ngày càng đông
nông dân tham gia. Phong trào đấu tranh của nông dân trong thời gian này không có
nhiều hoạt động nổi bật nhưng vẫn có những hoạt động âm ỉ với địa bàn hoạt động
ngày càng mở rộng hơn. Ở một số xã, nông dân đã đấu tranh chống nạn cường hào bao
chiếm ruộng đất, quân cấp công điền bất minh, chống lại quan lại tham nhũng, vận
động người tốt ra tranh cử lý trưởng, chánh tổng nhằm bênh vực quyền lợi cho quần
chúng.
Nhìn chung, từ năm 1930 – 1935, ở Hội An, các hoạt động tuyên truyền, đấu
tranh cách mạng của Đảng diễn ra gần như công khai đã giúp người nông dân hiểu rõ
chủ trương, đường lối của Đảng, từ đó dưới sự vận động của các tổ Nông hội Đỏ, nông
dân các làng xã đã tích cực tham gia các phong trào đấu tranh với nhiều hình thức đấu
tranh phong phú, đa dạng. Nội dung đấu tranh của thời kỳ này chủ yếu tập trung đấu
tranh chống áp bức bóc lột, chống xâu thuế, chống bọn thống trị hà hiếp, đòi quyền
26
sống, đòi cấp lại công thổ cho công bằng, chống nạn hào lý bao chiếm ruộng đất, quân
cấp công điền, công thổ 5 bất minh, phụ thu lạm bổ; vạch mặt bọn quan lại cường hào
tham nhũng, hối lộ, cướp đoạt ruộng công điền của anh em tù chính trị. Qua đó cho
thấy, ngay từ những ngày đầu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nông dân đã là lực lượng cách mạng chủ yếu, góp phần quan trọng vào việc nuôi
dưỡng phong trào, tạo điều kiện để Đảng khôi phục và phát triển thực lực, tiếp tục lãnh
đạo cao trào đấu tranh mới.
Tuy nhiên, do mới được thành lập với lực lượng còn non yếu lại bị sự khủng
bố, theo dõi gắt gao của địch, nên tổ chức Nông hội Đỏ cũng như các tổ chức quần
chúng khác còn nhiều hạn chế, công tác vận động quần chúng còn yếu, việc tham gia
các phong trào còn mang tính thụ động, chưa có những phong trào do Nông hội Đỏ tự
tổ chức. Hội nghị Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Quảng Nam từ ngày 27 và 28-21933 đã nghiêm túc thừa nhận “từ sau khi bị địch khủng bố trắng, cách mạng vận
động yếu nên đấu tranh của nhân dân cũng ít ỏi, về tổ chức quần chúng thì số người
tham gia còn quá ít, công tác vận động quần chúng yếu vì sợ lộ liễu” [8, tr.1]. Đây
cũng là những hạn chế khó tránh khỏi đối với một tổ chức quần chúng mới ra đời trong
một điều kiện khó khăn, nhưng chính những hoạt động của Nông hội Đỏ trong giai
đoạn này là tiền đề quan trọng để nông dân tiếp tục phát huy vai trò của mình trong
phong trào cách mạng ở những giai đoạn kế tiếp.
2.2. Phong trào đấu tranh cách mạng của nông dân Hội An trong những
năm 1936 – 1939
Trong những năm 1936 – 1939, tình hình thế giới có nhiều sự kiện tác động
mạnh mẽ đến phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX,
thế lực phát xít lên cầm quyền ở một số nước như Đức, Italia, Nhật Bản ráo riết chạy
đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh thế giới.
Trước tình hình đó, tháng 7-1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản triệu
tập ở Mátxcơva, vạch rõ kẻ thù nguy hiểm trước mắt của nhân dân thế giới là chủ
nghĩa phát xít và đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản thế giới là đấu tranh chống chủ
nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hòa bình.
Dưới ánh sáng của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản và tình hình trong
nước thuận lợi, ngày 26-7-1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị
tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã xác định kẻ thù chung của nhân dân Đông Dương lúc
này không chỉ là thực dân Pháp, mà còn có bọn phản động thuộc địa tay sai. Hội nghị
quyết định tạm thời chưa nêu khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ,
giành độc lập và ruộng đất cho dân cày mà nêu mục tiêu trực tiếp trước mắt là đấu
tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi
Đây là một cách chia ruộng đất công dưới thời phong kiến, trong đó ruộng
đất của nhà nước được chia đều với số lượng nhất định cho những người nông
dân sống trong các công xã nông thôn canh tác.
27
5