Tải bản đầy đủ (.pdf) (61 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn FDI ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (770.7 KB, 61 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

PHẠM THỊ LAN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
KHẢ NĂNG THU HÚT NGUỒN VỐN FDI
Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. TRẦN THỊ HOA LÝ

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân em đã
nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn tới các
thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong
khoa giáo dục chính trị đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm sâu sắc nhất tới cô giáo ThS. Trần Thị Hoa Lý
- người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình nghiên
cứu khóa luận.
Tôi xin cảm ơn tới các bạn, và toàn thể gia đình đã góp ý và ủng hộ tôi
hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, bạn bè để khóa luận của em được
hoàn thiện hơn.


Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Phạm Thị Lan


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung và những số liệu đã trình bày trong khóa
luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo
Thạc sĩ Trần Thị Hoa Lý. Những nội dung trong khóa luận chính xác, không
trùng với nội dung nghiên cứu của các tác giả khác. Nếu sai tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Phạm Thị Lan


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CCN:

Cụm công nghệp

CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

DNNN:


Doanh nghiệp nhà nước

ĐTNN:

Đầu tư nước ngoài

ĐTTTNN:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP:

Tổng sản phẩm quốc dân

KCN:

Khu công nghiệp

ODA:

Hỗ trợ phát triển chính thức

USD:

Đô la Mỹ



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN FDI .................................. 5
1.1. Các hình thức và đặc điểm của vốn FDI ................................................ 5
1.2. Vai trò của vốn FDI.............................................................................. 13
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn FDI ......................... 16
Chương 2. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI Ở TỈNH VĨNH PHÚC
HIỆN NAY ...................................................................................................... 20
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc . 20
2.2. Những thành tựu đạt được trong việc thu hút vốn FDI ở Vĩnh Phúc
hiện nay ....................................................................................................... 30
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc thu
hút vốn FDI ở Vĩnh Phúc hiện nay. ............................................................ 34
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN FDI VÀO VĨNH PHÚC ........... 41
3.1. Phương hướng đề ra đối với hoạt động thu hút FDI tỉnh Vĩnh Phúc . 41
3.2.Những giải pháp cơ bản nhằm thu hút vốn FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc .... 45
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 55


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước điều kiện quan trọng và cần thiết là phải thu hút được các nguồn vốn
đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Đối với Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay Đảng ta xác định vốn trong nước là quyết định nhưng vốn đầu tư

nước ngoài cũng có vai trò hết sức quan trọng. Ngoài ý nghĩa về vốn thì đầu
tư trực tiếp nước ngoài giúp cho chúng ta tiếp thu các công nghệ hiện đại và
những kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước phát triển.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, cửa ngõ Tây Bắc của
thủ đô Hà Nội, có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Nhìn
chung Vĩnh Phúc là một tỉnh có nền kinh tế mang đặc trưng của một tỉnh
nông nghiệp, điểm xuất phát thấp, nguồn vốn tích lũy từ nội bộ chưa thể đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn vốn
phát triển còn hạn hẹp có thể nói là thiếu vốn trầm trọng, ở các cơ sở sản xuất
trên địa bàn tỉnh về thiết bị và công nghệ vẫn còn lạc hậu, trình độ quản lí còn
yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Do vậy việc thu hút vốn đầu tư
nói chung và vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nói riêng là rất quan trọng và cấp
thiết với tỉnh đảm bảo cho tỉnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
- hiện đại hóa.
Nhận thức được tầm quan trọng đó của vốn FDI, Vĩnh Phúc cũng như
các tỉnh khác trong cả nước đã tích cực đẩy mạnh công tác kinh tế đối ngoại
và thực hiện những biện pháp nhằm thu hút các dự án FDI và đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ.Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
(29/12/1987) đến nay việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh
Phúc đã thu được những kết quả khả quan. Đầu tư trực tiếp nước ngoài bước

1


đầu đã góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh làm thay đổi hẳn cơ cấu
kinh tế. Tuy nhiên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.Vì vậy cần phải xem xét thực trạng đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Phúc để tìm ra các nguyên nhân yếu kém,
trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn
vốn nước ngoài.

Xuất phát từ thực tế trên việc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm
nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”, là
một việc làm quan trọng và có ý nghĩa thiết thực cả về mặt khoa học lí luận và
thực tiễn. Đây là lí do tôi chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại
học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích
Nghiên cứu thực trạng thu hút vốn FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn
hiện nay. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền
kinh tế thị trường
- Đánh giá thực trạng tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
tỉnh Vĩnh Phúc những khó khăn và thuận lợi.
- Đề ra các giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn FDI vào
tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cuus: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực
tiễn về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong đó đề tài tập trung

2


nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng
thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải
pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay.
3. Tình hình nghiên cứu của vấn đề

Qua thực tiễn hơn 20 năm thực hiện luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam, đề tài đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tác giả nghiên cứu
dưới nhiều khía cạnh khác nhau:
- Trần Xuân Nam “Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 2005.
- PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn”, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội 2007.
- Trần Xuân Tùng, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - thực trạng
và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội - 2005.
- TS, Nguyễn Trọng Xuân, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 2002.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí về vấn đề
này. Các công trình trên đã tiếp cận và giải quyết những khía cạnh khác nhau
của vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài. Xong đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Vĩnh
Phúc. Do đó, việc nghiên cứu hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Vĩnh Phúc là hết sức cần thiết.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài

3


Khóa luận nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
.Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận còn sử dụng chủ yếu các phương pháp
sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê, so sánh
- Phương pháp điều tra xã hội học…
5. Ý nghĩa của đề tài
Hệ thống hóa lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Vĩnh Phúc.
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho ngành kinh tế học,
chính trị học và các bạn đọc quan tâm
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
khóa luận gồm 3 chương, 8 tiết.

4


Chƣơng 1
MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN FDI
1.1. Các hình thức và đặc điểm của vốn FDI
1.1.1. Khái niệm vốn FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tên tiếng Anh: Foreign Direct Investment,
viết tắt là FDI) là một hình thức di chuyển vốn quốc tế, là hình thức đầu tư dài
hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ
sở sản xuất, kinh doanh tại nước đó. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ
nắm quyền quản lí các cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Khái niệm FDI được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Theo quan niệm của “quỹ tiền tệ quốc tế” (IMF): “FDI là “một khoản
đầu tư với những quan hệ lâu dài theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế
(nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một
nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh
hưởng trong việc quản lí doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là người
sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước
khác.Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của
nước ngoài. Có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng

thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Theo quan niệm của “Tổ chức thương mại thế giới” (WTO): Đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lí
tài sản đó. Phương diện quản lí là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài
chính khác. Trong phần lớn trường hợp cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó
quản lí ở nước ngoài là cơ sở kinh doanh và nhà đầu tư thường hay gọi là “công
ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

5


“Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế quốc tế” (OECD) đưa ra khái
niệm: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở
hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu biểu quyết. Điểm mấu chốt
của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”.
“Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (12/1987) đưa ra khái niệm:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất cứa tài khoản nào đó được chính phủ
Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành
lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy
định của luật này”.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào
vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lí hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu
hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng

và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và
kinh ngiệm quản lí…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu
giấy ghi nợ…). Như vậy, FDI bao giờ cũng là một kiểu quan hệ quốc tế có
nhân tố nước ngoài.
1.1.2. Các hình thức của vốn FDI
Tại điều 4, “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (12/1987) quy định:
“Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các
hình thức sau đây:
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký
kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận

6


đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ
nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà
không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp
nhân mới nào.
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm.
+ Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký
kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ.
+ Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một công
ty mới.
+ Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù
hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu
của hợp đồng.
Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn
bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty
liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu

tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia một xí nghiệp liên
doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh đặc điểm của hình
thức liên doanh này là:
+ Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân
mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
+ Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp
liên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
+ Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,
đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỉ lệ góp vốn. Theo luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam (1987) tỉ lệ góp vốn của bên hoặc các bên nước
ngoài tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định, không quy định giới hạn tối

7


đa và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định. Đối với các
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, các dự án vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án trồng rừng thì tỉ
lệ này có thể thấp đến 20% nhưng phải được cơ quan cấp giấy cho phép đầu
tư chấp nhận.
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên thế giới từ trước tới nay, nó là hình thức thâm nhập vào thị trường
nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả thông qua hợp tác
- Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài: Đây là hình
thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá
nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này là:
Được thành lập dưới hình thức công ty TNHH và là một pháp nhân mới ở
nước nhận đầu tư. Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầ tư
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các chủ

đầu tư lựa chọn nhiều hơn vì họ được tự mình quản lí, điều hành và hưởng lợi
nhuận do kết quả đầu tư mang lại sau khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế với
nước chủ nhà. Đối với nước chủ nhà, nhất là những nước đang phát triển do
trình độ và kinh nghiệm quản lí còn hạn chế, nguồn vốn có hạn trong khi rất
cần những dự án có số vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài mức độ mạo
hiểm cao thì việc để các nhà đầu tư nước ngoài 100 % vốn là rất cần thiết.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao
(Building Operate Transfer - BOT) là mô hình liên kết giữa các nhà đầu tư
nước ngoài với cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp hay hiện đại hóa công
trình) trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lí sau
đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.

8


- Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
(BTO), là văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam với
các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng
xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt
Nam. Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời
gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lí.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT), là hình
thức hợp đồng kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và
nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi xây dựng xong công trình, nhà ĐTNN chuyển
giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanh toán bằng
tiền hoặc bằng tài sản nào đó, tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra và một tỉ lệ
lợi nhuận hợp lí.
- Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company):
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở

mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua
việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và đã tạo ra
rất nhiều thuận lợi, cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều
dự án khác nhau tạo điều kiện thuận lợi cho họ điều phối và hỗ trợ các công ty
trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hóa.Lập kế hoạch chỉ đạo kiểm
soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục đầu tư. Công ty mẹ cung cấp
cho các công ty con các dịch vụ như: kiểm toán nội bộ, quan hệ đối ngoại,
phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển.
- Hình thức công ty cổ phần: Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách
nhiệm hữu hạn) là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và
các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào

9


doanh nghiệp. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối đa không
hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của
công ty cổ phần là có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Về cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng
quản trị và giám đốc. Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát
quản lý hoạt động của công ty cổ phần. Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông
có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.
Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt
động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa.

- Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài: Hình thức này được phân biệt
với hình thức công ty con 100% vốn nước ngoài ở chỗ chi nhánh không được
coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty con thường là một pháp nhân
độc lập. Trách nhiệm của công ty con thường giới hạn trong phạm vi tài sản ở
nước sở tại, trong khi trách nhiệm của chi nhánh theo quy định của một số
nước, không chỉ giới hạn trong tài sản của chi nhánh,mà còn được mở rộng đến
cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài.
Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản
chi phí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước
ngoài. Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lí của
công ty mẹ ở nước ngoài vào phần thu nhập chịu thuế ở nước sở tại.
Do không thành lập một pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh
thường đơn giản, không phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty,
thường chỉ thông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước
chủ nhà.
10


- Hình thức công ty hợp danh:
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp
danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn. Thành
viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghệ nghiệp
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công
ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kì một loại chứng khoán
nào. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề
quản lí công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỉ
lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lí công ty và
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.

Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài hình thức của công ty này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về
thân nhân trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này
trước hết rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm
rõ rệt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
- Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A) (Merger & Acquisition)
Là một hình thức liên quan tới việc mua lại và hợp nhất với một doanh
nghiệp nước ngoài đang hoạt động. Với hình thức này có thể tận dụng lợi thế
của đối tác ở nơi tiếp nhận đầu tư tận dụng thị trường, tiết kiệm thời gian,
giảm thiểu rủi ro.
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang
một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị
sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành doanh
nghiệp mới.

11


Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, chính phủ nước nhận đầu
tư còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: khu
chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế…Trong đó, khu chế xuất
là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định do chính phủ nước nhận đầu
tư cho phép thành lập, trong đó có thể do một hoặc một số xí ngiệp sản xuất
hàng hóa phục vụ xuất khẩu hoăc thay thế hàng nhập khẩu. Trong khu chế
xuất, áp dụng chế độ tự do thuế quan, tự do mậu dịch. Khu công nghiệp theo
luật pháp Việt Nam quy định là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất do chính phủ thành lập hoặc cho phép

thành lập.
Tóm lại đầu tư trực tiếp nước ngoài được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau và mỗi hình thức đều có mặt mạnh, mặt hạn chế của nó nên cần
phải đa dạng hóa các hình thức đầu tư nhằm đem lại hiệu quả cao đáp ứng
mục tiêu phát triển đất nước.
1.1.3. Các đặc điểm của vốn FDI
- Về mặt quản lý: Các nhà đầu tư nước ngoài phải đóng một số vốn tối
thiểu vào vốn pháp định, tùy theo quy định của luật đầu tư mỗi nước. Vốn
pháp định trong dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn tự có của chủ đầu tư
được quy định theo luật đầu tư. Sau khi góp vốn hợp lệ, nhà đầu tư có quyền
tham gia vào việc quản lý và điều hành dự án đầu tư. Ở Việt Nam, Luật đầu
tư nước ngoài quy định tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài tối thiểu không dưới
30% vốn pháp định và không quy định giới hạn tối đa. Ở Mĩ tỷ lệ này được
quy định là 10%, một số nước khác là 20%. Quyền quản lý dự án đầu tư phụ
thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên. Nếu vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài là 100% thì nhà đầu tư có toàn quyền quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên
việc hoạt động của doanh nghiệp có vốn góp nước ngoài cho dù bất kỳ hình
thức nào thì cũng đều phải tuân theo quy định của nước sở tại.

12


- Về mặt chuyên môn: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ
gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn gắn với việc chuyển giao công nghệ,
chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả
phía đầu tư và phía nhận đầu tư. Đối với các ngành đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao, chu chuyển vốn nhanh và đem lại lợi nhuận cao thì thường
được các nhà đầu tư nước ngoài ưu tiên đầu tư.
- Về mặt hoạt động: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực
hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng
phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát

nhập các doanh nghiệp với nhau. Ngoài ra hiện nay thì hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty
xuyên quốc gia. Các công ty mẹ có thể thông qua các công ty con để trực tiếp
đầu tư vào quốc gia có công ty con đó.
1.2. Vai trò của vốn FDI đối với kinh tế - xã hội.
Ngày nay xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng mở rộng và
được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Đó là quá trình các nền kinh
tế của các nước tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và phụ thuộc vào nhau.
Đứng trước xu hướng đó Đảng và nhà nước Việt Nam đã chủ động lợi dụng
“những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng
thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lí để bổ sung và phát
huy có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nước. Và phương pháp hữu
hiệu nhất để thực hiện chủ trương này là “Đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ kinh tế đối ngoại” trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động to
lớn đến việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị xã hội.
1.2.1. Vốn FDI góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vốn FDI ngày
càng đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

13


kinh tế đối với bất kì một quốc gia nào, một địa phương nào. Điều đó thể hiện
ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, FDI bổ sung cho nguồn vốn trong nước.
Vốn là yếu tố rất quan trọng đối với việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế, khi một nền kinh tế luôn muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn
hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ
nước ngoài, trong đó có vốn FDI
Vốn cho đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn

nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển nói chung trong đó Việt Nam
nói riêng khi mà sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn viện trợ của các
nước xã hội chủ nghĩa không còn nữa, nguồn vốn đầu tư ngân sách còn eo
hẹp, các DNNN gặp nhiều khó khăn, vốn tiềm ẩn trong dân chưa được huy
động nhiều, vốn ODA còn hạn hẹp thì nguồn vốn FDI có ý ngĩa đặc biệt quan
trọng đối với nền kinh tế của đất nước.
Sự hoạt động của nguồn vốn FDI như là một trong những động lực gây
phản ứng dây truyền làm thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước.
Một số chuyên gia kinh tế tính toán rằng cứ 1 đồng vốn FDI hoạt động sẽ làm
cho 4 đồng vốn trong nước hoạt động theo. Như vậy FDI còn có vai trò giúp
Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối, bền vững theo yêu cầu của công
cuôc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, FDI hỗ trợ quá trình tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lí
Thông qua FDI các công ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ
nước mình hoặc nước khác sang cho nước chủ nhà, chuyển giao công nghệ là
một trong 4 kênh làm xuất hiện “tác động tràn” đối với doanh nghiệp do đó
nước chủ nhà có thể nhận được những công nghệ kĩ thuật tiên tiến, hiện đại
(những kinh nghiệm quản lí, năng lực maketting, đội ngũ lao động được đào
tạo rèn luyện về mọi mặt (trình độ kĩ thuật, phương pháp làm việc, kỉ luật lao

14


động) . Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo năng suất lao động cao hơn,tiết kiệm thời gian cho quá trình sản xuất
nhằm giúp các nước đang phát triển thích ứng nhanh với cơ chế thị trường
Thứ ba, FDI tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào
mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn
ĐTNN mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí

nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì
vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ tư, FDI góp phần tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công.
Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước cũng như nâng cao
hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực thi
chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đó cũng chính là mục đích của
các nước đầu tư FDI nhằm đạt chi phí sản xuất thấp. Song song với việc giải
quyết việc làm là việc không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng lao động
tạo ra cho nền kinh tế nhiều đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ khoa
học công nghệ cao, đội ngũ cán bộ quản lí có năng lực…góp phần quan trọng
trong việc phát triển kinh tế xã hội, thu hút FDI không chỉ có lao động thông
thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và
được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn ĐTNN.
Thứ năm, FDI tạo ra nguồn thu ngân sách lớn.
FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách cho nhà nước
thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài đây là nguồn thu quan
trọng đảm bảo cho các hoạt động của nhà nước được ổn định, tăng thêm các
khoản chi cho các hoạt động của công cộng, các vấn đề xã hội được quan tâm
nhiều hơn, phúc lợi xã hội được tăng thêm, đặc biệt đời sống nhân dân ngày
càng được cải thiện.
15


1.2.2. Vốn FDI góp phần vào việc ổn định chính trị - xã hội
Vốn FDI có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
góp phần tạo cho kinh tế được ổn định. Bên cạnh những vai trò quan trọng đối
với kinh tế xã hội nguồn vốn FDI còn có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định
chính trị, xã hội của các nước nhận vồn đầu tư.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp FDI tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người

lao động, giảm lao động thừa thãi ở các địa phương nâng cao thu nhập từ đó
nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động. Bên cạnh đó, việc đóng
thuế của các doanh nghiệp FDI tạo ra nguồn thu mới cho Nhà nước chi tiêu vào
việc tăng cường phúc lợi xã hội, thực hiện cải thiện đời sống của nhân dân.
Về mặt chính trị, khi kinh tế phát triển. thì sẽ kéo theo chính trị vững
mạnh và ổn định. Từ đó góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và giữ vững chủ
quyền của Quốc gia dân tộc
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng thu hút vốn FDI
ĐTTTNN là hoạt động kinh tế có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển
của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tuy
nhiên việc thu hút vốn ĐTTTNN không phải là việc làm dễ dàng, quá trình
này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau có chủ quan và cả khách
quan. Cụ thể các yếu tố đó là:
Một là, luật đầu tư và các chính sách của nước nhận đầu tư
Luật đầu tư là yếu tố kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của các hoạt
động ĐTTTNN thông qua cơ chế, thủ tục, ưu đãi… được quy định trong luật.
Các chính sách của nước đầu tư, bao gồm:
- Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận đầu tư
là yếu tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ giá
hối đoái bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất nhập khẩu

16


- Chính sách thuế và ưu đãi thường được áp dụng để thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài.
- Chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách này ổn định thì sẽ góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư ở trong nước lẫn nước
ngoài. Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các
nhà đầu tư sẽ không thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài

dự kiến thì khó có thể tiên định được của kết quả hoạt động kinh doanh.
Chính sách thương mại với thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương mại
…sẽ kích thích hoặc hạn chế đến việc thu hút ĐTTTNN.
Hai là, tình hình chính trị - văn hóa, xã hội
Ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của Chính phủ đối với
các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư. Đồng thời, đây là nhân tố tác động đến
tính rủi ro của các hoạt động đầu tư
Đây là yếu tố cũng rất quan trọng được các nhà đầu tư xem xét cẩn
trọng mỗi khi quyết định bỏ vốn đầu tư, bởi vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt
hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài
Ba là, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ cho việc hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Cơ sở hạ tầng thường được các nhà đầu tư đưa ra xem xét kĩ lưỡng khi
đưa ra quyết định đầu tư. Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như: giao
thông vận tải, điện, nước…sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các
dự án đầu tư từ nước ngoài.Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp, xí nghiệp trong quá trình hoạt động và ngược lại nếu như
không có cơ sở hạ tầng hay các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì sẽ
cản trở hoạt động của các doanh nghiệp, các nhà máy …chính vì vậy cơ sở hạ
tầng là yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư cần xem xét trước khi có quyết
định đầu tư vào bất kì quốc gia nào đó hay bất kì địa phương nào.

17


Bên cạnh đó hệ thống các dịch vụ phụ trợ cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh như: hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện
thủ tục giấy tờ có liên quan, cung cấp thông tin thị trường, các chương trình
Maketting…, cũng được coi là yếu tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng

của các doanh nghiệp. Vì vậy, nó cũng được các nhà đầu tư nước ngoài quan
tâm và cân nhắc trước khi quyết định đầu tư.
Bốn là, quy mô thị trường
Đây có thể coi là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc thu hút vốn
ĐTTTNN. Nó được thể hiện ở quy mô, dung lượng của thị trường, ở sức mua
của tầng lớp dân cư, ở khả năng mở rộng đầu tư …đặc biệt là hoạt động của
thị trường nhân lực. Công nhân lao động với giá mua sức lao động rẻ là mối
quan tâm hàng đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn
bỏ vốn vào các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn.Trình
độ nghề nghiệp và học vấn của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển
vọng) cũng có ý nghĩa nhất định.
Quy mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong những nhân
tố quan trọng việc thu hút đầu tư nước ngoài. Khi đề cập đến quy mô thị
trường, tổng giá trị GDP - chỉ số đo lường quy mô của nền kinh tế - thường
được quan tâm. Nhiều nghiên cứu cho thấy FDI là hàm số phụ thuộc vào quy
mô thị trường của nước mời gọi đầu tư. Nhằm kêu gọi và mở rộng thị phần,
các công ty đa quốc gia (MNEs) thường thiết lập các nhà máy ở các nước dựa
theo chiến lược thay thế nhập khẩu ở các nước này. Các nghiên cứu khác
cũng chỉ ra rằng mức tăng trưởng GDP cũng là tín hiệu tốt cho việc thu hút
FDI. Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh
dạn đầu tư vào những nơi có kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có
các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận.

18


Năm là: Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên
nhiên, dân số… Đây là những yếu tố tác động quan trọng đến tính sinh lãi
hoặc rủi ro của các hoạt động đầu tư. Quá trình đầu tư đều phải tiến hành

chuyên chở hàng hóa và dịch vụ giữa các điểm sản xuất và tiêu thụ ảnh hưởng
đến giá thành và rủi ro trong quá trình vận chuyển. Chất lượng và tính đa
dạng của sản phẩm phụ thuộc vào khí hậu, mật độ dân số cũng như tài nguyên
thiên nhiên.Các quốc gia hay các khu vực có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận
lợi thì vốn đầu tư nước ngoài sẽ được ưu đãi nhiều hơn ví dụ như gần biển
hay gần khu vực trọng điểm kinh tế…
Sáu là, khả năng hồi hương vốn đầu tư.
Bất kì một nhà đầu tư nào trước khi họ đầu tư thì họ cũng phải tính đến
khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận của mình sau khi đi đầu tư vì vậy khả năng
hồi hương vốn được xem là một yếu tố quan trọng trong quyết định ĐTTTNN
của các nhà đầu tư, bởi họ sẽ không thể nào mà đầu tư vào nước không có
tiềm năng, không có khả năng thu lại vốn, không có đảm bảo về kinh tế và sự
ổn định về chính trị, xã hội. Các nước hay các khu vực có tiềm năng kinh tế,
chính trị xã hội ổn định sẽ thu hút các nhà đầu tư

19


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của bất kì một địa phương nào bao giờ
cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến quyết định của các nhà
đầu tư. Các nhân tố này không chỉ tác động đến quy mô mà còn quy định một
số đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài tại địa phương. Vì vậy trước khi
nghiên cứu thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc không thể không xem xét đến
các điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội tại đây.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận
chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu

đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này
không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà
đầu tư, tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ. Do vậy nó là
nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư.
- Vị trí địa lí:
Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập năm 1950 trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh
Vĩnh Yên và Phúc Yên. Tháng 3 năm 1968 Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất
thành tỉnh Vĩnh Phúc. Vĩnh Phúc nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền núi
và đồng bằng vì vẫn có ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi.
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và
miền núi phía ắc, có tọa độ từ 21035’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến
21019’ (tại xã Trung Hà, huyện Yên Lạc) vĩ độ ắc; từ 1050109’ (tại xã Bạch
Lưu, huyện Sông Lô) đến 105047’ (tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh
độ Đông.

20


×