ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA INRASARA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA INRASARA
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐÀO THỦY NGUYÊN
TS. DƢƠNG THU HẰNG
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nào khác. Các thông tin, số liệu trích dẫn trong
quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
lí luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế của tác giả. Những kiến thức mà thày
cô giáo truyền thụ đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt
quá trình thực hiện luận văn này.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với
PGS.TS Đào Thủy Nguyên – Trưởng khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Thái
Nguyên và TS Dương Thu Hằng – Giảng viên khoa Ngữ Văn trường ĐHSP
Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại
học trường ĐHSP Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến sự giúp đỡ của tác
giả Inrasara, người đã cung cấp cho tôi rất nhiều tư liệu khách quan, chính
xác, giup tôi có được những tài liệu tham khảo quý báu để nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,
bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi lúc khó khăn, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn
thành luận văn này.
Thái Nguyên, năm 2012
Nguyễn Thị Thanh Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2.Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2
2.1. Sơ lược về tình hình nghiên cứu văn chương của Inrasara ........................ 2
2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Inrasara........................................... 5
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 12
4.1. Đối tượng ................................................................................................. 12
4.2. Phạm vi tài liệu nghiên cứu. ..................................................................... 12
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 12
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 13
7. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................ 13
8. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 13
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 14
Chƣơng 1: VĂN CHƢƠNG INRASARA TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN
HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƢƠNG ĐẠI.................. 14
1.1. Phác thảo diện mạo văn xuôi (tiểu thuyết) của các cây bút dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện – đương đại ........................................................................ 14
1.2. Vài nét về chủ nghĩa hậu hiện đại, ảnh hưởng của nó đến văn học Việt
Nam và tư tưởng nghệ thuật của Inrasara ....................................................... 19
1.3. Đôi nét về nhà văn Inrasara và sự nghiệp văn học của ông ..................... 23
1.3.1.Tiểu sử và con người nhà văn Inrasara .................................................. 23
1.3.2. Sự nghiệp văn chương của Inrasara ...................................................... 26
1.3.3. Tiểu thuyết và quan niệm về tiểu thuyết của Inrasara .......................... 29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
Chƣơng 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA INRASARA .......................................................................................... 35
2.1. Cảm hứng về con người Chăm ................................................................ 35
2.1.1. Con người mang vẻ đẹp nguyên bản với số phận bí ẩn ........................ 35
2.1.2. Con người nhiều khát vọng, phát kiến nhưng cũng đầy ảo tưởng, bế tắc .. 39
2.1.3. Con người tài năng, giàu suy tư và nặng lòng với văn hóa Chăm ........ 47
2.1.4. Con người bình dị, đời thường với bộn bề những lo toan thường nhật...... 55
2.2. Cảm hứng về văn hóa Chăm .................................................................... 59
2.2.1. Cảm hứng về ngôn ngữ và văn học Chăm ............................................ 60
2.2.2. Cảm hứng về những giá trị văn hóa truyền thống và phong tục tập quán ...... 68
2.3. Cảm hứng về thiên nhiên miền duyên hải................................................ 73
2.3.1. Thiên nhiên khắc nghiệt, và rờn rợn ..................................................... 74
2.3.2. Thiên nhiên gần gũi, gắn bó và sẻ chia với cuộc sống con người ................... 76
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT CỦA INRASARA ........................................................................ 80
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................. 80
3.1.1. Miêu tả ngoại hình ................................................................................ 80
3.1.2. Xây dựng nhân vật dựa trên tâm thức dân tộc và cảm quan hậu hiện đại .... 83
3.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ............................................................... 89
3.2.1. Cốt truyện phân mảnh, cắt ghép và nới rộng không – thời gian ............... 90
3.2.2. Cốt truyện cắt dán, hòa trộn tiến tới xóa nhòa ranh giới các thể loại ... 93
3.3. Ngôn ngữ, giọng điệu ............................................................................... 95
3.3.1. Ngôn ngữ đời thường mang sắc thái bình dân, thông tục ..................... 95
3.3.2. Ngôn ngữ mang tính triết lí, chất chính luận, chất thơ; kết hợp ngôn ngữ
Việt – Chăm .................................................................................................. 100
3.3.3. Giọng điệu giễu nhại, trào lộng, hài hước, phi nghiêm cẩn ................ 104
KẾT LUẬN .................................................................................................. 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, văn học các dân tộc thiểu số còn
rất trẻ và chiếm tỉ lệ khá khiêm tốn. Tuy vậy, nó đã và đang dần trở thành một
bộ phận khăng khít, độc đáo, góp phần làm nên diện mạo đa dạng và phong
phú của văn học dân tộc. Thơ dân tộc thiểu số phong phú và chiếm ưu thế hơn
văn xuôi nhưng hiện nay văn xuôi dân tộc thiểu số đã và đang có những biến
chuyển tích cực cả về số lượng và chất lượng nghệ thuật. Văn xuôi nói chung
và tiểu thuyết nói riêng của một số cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam gần đây
có sự mở rộng về đề tài, có nhiều dấu hiệu mới trong cách nhìn và tư duy
nghệ thuật, trở thành mảng đề tài hấp dẫn, hứa hẹn những đóng góp nhất định
về khoa học và thực tiễn.
Đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số từ thời kì đầu cho đến nay không
ngừng lớn mạnh về số lượng và trưởng thành trong từng trang viết. Có những
tài năng xuất sắc, cũng có những tác giả chưa định hình được phong cách
riêng nhưng tất cả các văn nghệ sĩ đều nỗ lực, nghiêm túc trong sáng tạo nghệ
thuật với mong muốn giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình. Có thể kể
đến các tên tuổi tiêu biểu sau: miền Bắc có Triều Ân, Nông Minh Châu, Cao
Duy Sơn, Vi Hồng…; miền Trung có La Quán Miên, Kha Thị Thường…; Tây
Nguyên có Y Điêng, Hlinh Niê, Kim Nhất….Đặc biệt vùng duyên hải Nam
Trung Bộ có một tác giả đã trở thành một hiện tượng trong giới sáng tác văn
học suốt thời gian vừa qua. Ông là Inrasara – người được mệnh danh là “Đứa
con của Tháp nắng”, “Kẻ lưu giữ văn hóa Chăm”
Inrasara là một cây bút dân tộc thiểu số đã thành danh trong lĩnh vực
thơ ca và nghiên cứu, phê bình văn học. Với ý thức tìm hiểu tâm hồn dân tộc
cũng như giới thiệu để thế giới biết đến dân tộc Chăm, văn học Chăm,
Inrasara đã dành nhiều tâm huyết, không ngừng tìm tòi, sưu tầm để bảo tồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
kho tàng văn học Chăm; đồng thời có những thể nghiệm mới mẻ, cách tân
làm cho nó trở nên phong phú hơn. Ông vinh dự nhận được nhiều giải thưởng
văn học trong nước và quốc tế cho lĩnh vực nghiên cứu, phê bình và thơ. Gần
đây, Inrasara đã cho ra mắt bạn đọc hai cuốn tiểu thuyết với phong cách riêng:
Chân dung cát và Hàng mã kí ức. Từ khi được xuất bản và ra mắt công
chúng, hai cuốn tiểu thuyết này đã gây được sự chú ý với các nhà phê bình,
nghiên cứu và sự quan tâm của bạn đọc yêu mến Inrasara. Có nhiều những ý
kiến bàn luận, thậm chí tranh luận xung quanh hai cuốn tiểu thuyết này. Vậy
tiểu thuyết của Inrasara có những đặc điểm gì về nội dung và nghệ thuật?
Tiểu thuyết của ông có những tìm tòi, khám phá gì mới mẻ và những vấn đề
gì còn tồn tại? Đó là nội dung trọng tâm mà luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu.
2.Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lƣợc về tình hình nghiên cứu văn chƣơng của Inrasara
Inrasara từng bộc bạch: “Mỗi cuộc đời có định mệnh của nó. Định
mệnh mở ra ngay ở khởi đầu của hành trình đời người. Với tôi, văn chương
như là một định mệnh”. Định mệnh ấy cùng với một tinh thần lao động nghệ
thuật nghiêm túc, một sức sáng tạo dồi dào, Inrasara xứng đáng là người lao
động cần mẫn, chăm chỉ trên “cánh đồng chữ nghĩa”, giống như “gã nông phu
mắc nợ văn chương, chàng thi sĩ mang khối óc học thuật”(Nguyễn Hàng
Tình). Nâng niu và sống hết mình với văn hóa dân tộc Chăm, ông đã khẳng
định được cá tính sáng tạo độc đáo trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của
mình. Được mệnh danh là “Đứa con Tháp Chàm” và vinh dự nhận được nhiều
giải thưởng văn học trong nước và quốc tế cho lĩnh vực nghiên cứu và thơ,
Inrasara là nhân vật tiêu biểu xuất hiện với tần số khá cao trên truyền hình và
nhiều tờ báo với các cuộc tranh luận khác nhau. Văn nghiệp của ông trở thành
mảng đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình và là
đối tượng chính của các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Cụ thể là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
- Trần Xuân Quỳnh (2008), Thơ Inrasara, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Đà Lạt.
- Võ Thị Hạnh Thủy (2008), Thế giới nghệ thuật thơ Inrasara, Luận văn
thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
- Lê Thị Việt Hà (2009), Hành trình cách tân thơ của Inrasara, Luận
văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh.
- Trần Hoài Nam (2010), Inrasara Từ quan niệm đến phong cách, Luận văn
thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thủy (2010), Đặc điểm nghệ thuật thơ Inrasara, Luận
văn thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Huế.
- Nguyễn Thùy Dung (2010), Tinh thần hậu hiện đại trong thơ Inrasara,
Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Và hơn 20 khóa luận cử nhân khác cùng hàng trăm bài viết của các nhà
nghiên cứu, các nghệ sĩ và các bài phỏng vấn Inrasara trên các báo, tạp chí
chuyên ngành như: Tạp chí nhà văn, Tạp chí nghiên cứu văn học,Tạp chí
Sông Hương, Báo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt Nam), Báo Văn nghệ Thái
Nguyên (Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên), Báo Người lao động, Báo
Sài Gòn…. cũng như trên các tranh web: Phongdiep.net, Inrasara.com,
Vanchuongviet.org, Tienve.org…
Inrasara còn là nhân vật chính trong các phim tài liệu của đài truyền hình, trên
các kênh VTV1, VTV3, VCT1, HTV7, VOV1…..Năm 2005, ông được đài
truyền hình Việt Nam VTV bầu là nhân vật văn hóa trong năm.
Qua những thống kê trên ta có thể thấy, cuộc đời và văn nghiệp của
Inrasara đã thu hút được dư luận và sự quan tâm của giới nghiên cứu phê
bình, báo chí, truyền hình và đông đảo độc giả yêu văn chương. Đặc biệt thơ
của Inrasara có một sức lan tỏa mạnh trong đời sống văn học dân tộc thiểu số
nói riêng và văn học dân tộc đương đại nói chung. Ngay khi tập thơ đầu tiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
được xuất bản (Tháp Nắng – 1996), ông đã được dư luận quan tâm và giới
nghiên cứu đánh giá như một hiện tượng văn học. Sau này khi năm tập thơ
tiếp theo lần lượt được xuất bản, Inrasara đã mang đến một hương vị lạ cho
thơ Việt và góp phần không nhỏ vào công cuộc vận động cách tân của thơ
Việt Nam đương đại.
Thời kì đầu thơ ông đậm bản sắc dân tộc và mang phong cách hậu lãng
mạn; sau đó dần dần được đổi mới cách tân theo tinh thần hậu hiện đại, đặc
biệt ở phương diện nghệ thuật như việc sử dụng giọng điệu, ngôn ngữ, hình
thức thơ, kết cấu văn bản lạ với nhiều thể nghiệm mới mẻ. Các tác giả trong
các công trình nghiên cứu của mình đã đi sâu tìm hiểu rất nhiều phương diện
trong thơ của Inrasara. Cụ thể là: các phương diện sáng tạo nghệ thuật trong
thơ của Inrasara trong sự vận động phát triển thơ ca Việt Nam đương đại (Lê
Thị Việt Hà); quan niệm nghệ thuật của Inrasara, các phương diện của cái tôi
trữ tình, những đặc sắc nghệ thuật dưới cái nhìn hậu hiện đại trong thơ
Inrasara (Võ Thị Hạnh Thủy); cái hay cái mới trong thơ Inrasara xuất phát
từ quan niệm nghệ thuật của nhà thơ (Trần Hoài Nam), tinh thần hậu hiện
đại trong thơ Inrasara (Nguyễn Thùy Dung)…
Ở lĩnh vực phê bình, Inrasara cũng được đánh giá là đã tạo được một
phong cách riêng độc đáo thể hiện trong giọng điệu, đề tài và phương pháp
phê bình: “Inrasara đã thành công khi tạo được cho mình một phong cách
phê bình riêng. Điểm nổi bật của nhà phê bình Inrasara là tự tin, dũng cảm,
dám nói thẳng, nói thật những điều mình biết, mình nghĩ mà không sợ mất
lòng ai” [33]. Quan tâm đến nhiều vấn đề của đời sống văn chương, đặc biệt
là văn học thiểu số, Inrasara đã có những bài phê bình thể hiện được tài năng
cũng như những suy tư, trăn trở của mình đối với nền văn học nước nhà. Tác
giả Trần Hoài Nam cho rằng: “Thưởng thức phê bình Inrasara, người đọc
cũng bị hấp dẫn như đọc chính thơ ông vậy. Một chất lí luận vừa khúc triết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
vừa cảm xúc. Mỗi bài viết dù dài hay ngắn đều có bố cục chặt chẽ, mạch
lạc với sự phân bố hợp lí các luận điểm, luận cứ, luận chứng” [33]. Tiểu
thuyết của Inrasara cũng là một sự thể nghiệm hết sức mới mẻ của ông
trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật và bước đầu nhận được sự quan tâm
của dư luận. Những nghiên cứu về tiểu thuyết của Inrasara chúng tôi sẽ làm
rõ thêm ở phần sau.
Có thể thấy Inrasara đã mang đến một cơn gió lạ cho văn học thiểu số
đương đại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng. Chính thức bước chân
vào văn đàn chưa lâu, nhưng những sản phẩm của quá trình lao động nghệ
thuật của ông đều đã tạo được những dấu ấn riêng. Việc tiếp tục tìm hiểu,
nghiên cứu sâu thêm về Inrasara và sự nghiệp văn chương của ông là một việc
làm cần thiết. Không chỉ là để có cái nhìn rõ ràng, đánh giá một cách toàn
diện, chính xác về một cây bút dân tộc Chăm nói riêng mà còn để đánh giá,
nhận xét một cách toàn diện và đầy đủ hơn về thành tựu và hạn chế của văn
học dân tộc thiểu số đương đại nói chung trong tiến trình phát triển của văn
học dân tộc.
2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Inrasara
Tiểu thuyết Chân dung cát (2006) và Hàng mã kí ức (2011) của
Inrasara sau khi được ra mắt độc giả đã thu hút được sự quan tâm của đông
đảo dư luận và tạo được hiệu ứng trong đời sống văn chương. Hai cuốn tiểu
thuyết “là nỗ lực mới của ông trong việc khắc họa diện mạo Chăm và cố gắng
chinh phục thể loại, để có một ý niệm “tiểu thuyết” của riêng mình” [14, 5].
Tiểu thuyết của Inrasara xuất bản chưa lâu; mặt khác chúng lại là sự thể
nghiệm của ông theo lối hậu hiện đại, một điều rất mới mẻ trong văn xuôi
(tiểu thuyết) dân tộc thiểu số. Vì vậy mà các nghiên cứu, tìm hiểu về nó chưa
nhiều. Chủ yếu là các bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình, các bài
phỏng vấn, các bài viết nhỏ, đăng rải rác trên các phương tiện thông tin đại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
chúng. Tuy vậy, một số phương diện trong đặc điểm tiểu thuyết của Inrasara
cũng đã được các tác giả phát hiện và đề cập đến.
Về cảm hứng sáng tác:
Bất kì một tác phẩm nào cũng được bắt nguồn từ sự kết hợp giữa nội
dung hiện thực với cảm hứng sáng tác của nhà văn. Tiểu thuyết của Inrasara
cũng vậy. Phương diện được nhiều tác giả chú ý đến nhất trong cảm hứng
sáng tác của Inrasara là cảm hứng về con người. Trong lời giới thiệu Chân
dung cát, Khánh Phương đã nêu nhận định khái quát về con người trong tiểu
thuyết của Inrasara: “Có thể gặp những câu chuyện éo le, bí ẩn về những thân
phận dường như phải gánh chịu nỗi bi thương, cái phi lí, khát vọng và sự bế
tắc khủng khiếp của con người” [42]. Tác giả đã nhận thấy và chỉ ra những
phức cảm tính cách của con người Chăm trong tiểu thuyết của Inrasara. Đó là
những con người Chăm bí ẩn, không thuần nhất, đầy mâu thuẫn mà đặc biệt
nhất là ở họ luôn ẩn chứa một nỗi buồn khó hiểu: “Con người Chăm mạnh
mẽ, bản lĩnh văn hóa nhưng “buồn đến muốn tìm gò mối lủi vào”” [42].
Chung quan điểm này với Khánh Phương, Trần Vũ trong lời giới thiệu nhân
dịp xuất bản cuốn tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara cũng khẳng định:
“Nỗi buồn Chăm, bí ẩn Chăm, có lẽ đó là điều mỗi bạn đọc có thể hướng tới
và sẻ chia với tác giả Chân dung cát” [14, 8].
Các tác giả cũng nhận thấy trong Hàng mã kí ức, cảm hứng đậm nét
nhất trong sáng tác của Inrasara là cảm hứng về con người: “Inrasara rủ rỉ
câu chuyện, như lời tâm tình, về cuộc đời mình, về bạn bè, về làng xóm…”
(47). Từ những câu chuyện đó mà số phận của con người hiện lên một cách
vừa cụ thể lại vừa có gì đó khó hiểu mà Trần Can gọi đó là một “dấu chấm
hỏi”: “Hàng mã kí ức chỉ là một câu chuyện kể, những buồn vui của một
phận người hay nhiều phận người trong xã hội Chăm nhỏ bé trong một quãng
thời gian lịch sử được vẽ nên như những dấu chấm hỏi” [2]. Đó là những con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
người có nguyên mẫu thật trong đời sống nhưng được Inrasara tái hiện lại
trong một cuốn tiểu thuyết mang tính chất hư cấu. Tuy nhiên, theo như Th.S
Lê Thị Việt Hà đánh giá thì ở đó “Inrasara không ngại phơi trần bản chất
thật của con người như nó vốn có, đặc biệt trong cuộc sống xô bồ hiện tại”
[8]. Tác giả Đinh Trần Toán còn chỉ ra cảm hứng về con người trong sáng tác
của Inrasara là xuất phát từ cội nguồn văn hóa của dân tộc. Vì thế mà qua tiểu
thuyết “Ông vẽ gương mặt cha ông mình, thông qua đó vẽ gương mặt văn hóa
của dân tộc mình” [45].
Bên cạnh cảm hứng về con người, các tác giả cũng đã đề cập và chỉ ra
trong tiểu thuyết của Inrasara còn chứa đựng cảm hứng về dân tộc, văn hóa
Chăm. Trong Chân dung cát, Khánh Phương nhận định: “Có thể bắt gặp
những truyền thuyết xưa cũ vừa hào hùng vừa cay đắng của một cộng đồng
mạnh mẽ, có bề dày văn hóa và trí tưởng tượng mãnh liệt trong chặng đường
dài vươn mình huy hoàng và tàn lụi” [42]. PGS.TS Đào Thủy Nguyên và TS
Dương Thu Hằng trong bài viết Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam trên
hành trình hội nhập cũng chỉ ra có một Minh triết Chăm tồn tại đậm nét
trong Hàng mã kí ức và Inrasara đang tìm trở lại trong quá khứ để vẽ lại diện
mạo của nó như vai trò một “phu phục sử” (Đinh Trần Toán). Vũ Xuân Tửu
cũng nhận thấy có một “nền văn hóa tộc người Chăm Nam Trung Bộ” và
“những vỉa tầng văn hóa Chăm” [47] trong Hàng mã kí ức của Inrasara. Tác
giả cho rằng thông qua cảm hứng về văn hóa, cộng đồng dân tộc ấy
Inrasara muốn gửi một bức thông điệp theo cách của mình: “Không ai tìm
về quá khứ, chỉ để chơi như một thứ cổ vật, Hàng mã kí ức muốn gửi một
thông điệp,về phát triển văn hóa Chăm trong thời hiện đại” [47].
Có thể thấy, các tác giả đã quan tâm và chỉ ra được hai cảm hứng lớn
trong tiểu thuyết của Inrasara. Tuy nhiên sự tìm hiểu còn chưa được kĩ
lưỡng, chưa thật sâu và chưa có tính tổng hợp, khái quát. Một số nhận định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
mang tính chất cảm xúc, cảm nghĩ cá nhân. Cảm hứng về văn hóa chỉ được
nhắc đến thoáng qua, sơ sài. Vì thế trong công trình này, chúng tôi sẽ tìm
hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện, tổng hợp và khái quát cảm
hứng về con người và văn hóa Chăm trong tiểu thuyết của Inrasara. Phần
nào đó làm sáng tỏ nét khác biệt mang màu sắc dân tộc trong cảm hứng về
con người và văn hóa dân tộc trong tiểu thuyết của Inrasara so với các cây
bút dân tộc thiểu số ở các vùng miền khác, đặc biệt là ở miền núi phía Bắc
(Cao Duy Sơn, Vi Hồng).
Một phương diện khác trong cảm hứng sáng tác của Inrasara ở thể loại
tiểu thuyết là cảm hứng về thiên nhiên thì gần như chưa có một công trình,
một bài nghiên cứu, bài viết nào đề cập đến. Ở đề tài này chúng tôi sẽ tìm
hiểu, nghiên cứu phương diện này, giúp người đọc không chỉ nhận diện, có
thêm kiến thức về dải đất Nam Trung Bộ mà qua đó còn thấy được cuộc sống
ở các plây Chăm và tâm hồn con người Chăm qua cảm hứng về thiên nhiên
miền duyên hải trong tiểu thuyết của Inrasara.
Về phƣơng diện nghệ thuật:
Các phương diện nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết của Inrasara
được các tác giả chú ý và nghiên cứu là: nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ
và giọng điệu.
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các tác giả đã chỉ ra những thủ pháp
mà Inrasara sử dụng để xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của mình. Tác giả
Trần Vũ kết luận: Trong Chân dung cát, Inrasara “Không tập trung vào
những biểu hiện cụ thể của tiến trình, của sự kiện đời sống, tính cách, thân
phận…Inrasara khắc học chân dung Chăm bằng lát cắt bén ngọt: khắc họa
tinh thần Chăm. Mỗi chân dung hiện lên chủ yếu trên góc độ tinh thần; để
làm nên một diện mạo “lập thể” tinh thần Chăm. Cái nhìn hóm hỉnh, châm
biếm thực sự đắc dụng trong trường hợp này” [14, 5]. Vì thế hầu hết các nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
vật trong Chân dung cát theo ông là những “chân dung hoạt kê, châm biếm
nhưng lại đượm nét đằm thắm, sâu lắng – đó là nét duyên riêng của Chân
dung cát” [14, 7]. TS Phạm Duy Nghĩa trong công trình nghiên cứu Văn xuôi
Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi cũng đồng tình với quan điểm
trên. Ông cho rằng tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara đã xây dựng nhân
vật bằng cách sử dụng “yếu tố nghịch dị (grotesque) và bỡn cợt (humour)…”
có tác dụng “góp phần làm giảm bớt không khí trang nghiêm, quan phương,
thiếu vắng chất hài khá lâu trong văn học” [39, 144].
Tác giả Hoài Nam trong bài viết Tản mạn từ Chân dung cát cũng
phân tích và chỉ ra rằng: nhân vật của tác phẩm này được xây dựng dựa theo
cảm thức dân tộc của Inrasara. “Chân dung cát là một tập hợp các chân dung
Chăm, thì cũng rất cần phải nói một cách rõ ràng, đây là kết quả nghiên cứu
dân tộc tính dài lâu của Inrasara” [32]. Vì vậy mà những góc độ, diện mạo
tinh thần của các nhân vật đều được “Inrasara lí giải từ chiều sâu lịch sử văn
hóa xã hội Chăm...và bởi thế, nó mở rộng tối đa khả năng trầm tư mặc tưởng,
đi sâu vào thế giới siêu hình và nghệ thuật, nhưng đòng thời cũng thu hẹp tối
đa khả năng chiếm lĩnh đời sống thực tế” [42].
Về cốt truyện: Các tác giả thống nhất ở cùng quan điểm cho rằng
Inrasara đã sử dụng những kĩ thuật viết hậu hiện đại trong việc xây dựng cốt
truyện. Phạm Duy Nghĩa nhận định: “Tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara
là trường hợp vận dụng triệt để thao tác “cắt dán”, ghép mảnh của hậu hiện
đại đến mức khai tử cốt truyện, triệt tiêu sự kết nối thời gian và quá trình diễn
biến sự kiện, tước bỏ thắt nút – mở nút…” [39, 126]. Các tác giả khác ( Trần
Vũ, Khánh Phương, Phương Thủy, Như Hà, Hoài Nam…) cũng khẳng định
tiểu thuyết của Inrasara có một hình thức tổ chức cốt truyện mới lạ. Tác giả
Như Hà trong bài viết Truy tìm Chân dung cát đã nhận xét về cách thức tổ
chức, xây dựng cốt truyện của tác phẩm này: “Điều đặc biệt trong bút pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
của Chân dung cát mà bất kì độc giả nào cũng nhận ra là sự xáo trộn về cột
mốc thời gian, xáo trộn về sự thật với hư cấu; và cắt dán những “bản tin” có
sẵn từ các sách, các báo vào phần sáng tác” [9]. PGS.TS Đào Thủy Nguyên
và TS Dương Thu Hằng trong bài viết Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam
trên hành trình hội nhập cũng đã khẳng định điểm mới mẻ trong nghệ thuật
xây dựng cốt truyện của Chân dung cát và Hàng mã kí ức là “truyện không
có cốt truyện, truyện lồng trong truyện, thơ trong truyện và truyện trong
thơ...cái chết của thời gian – không gian, nhân vật và không nhân vật…” [40].
Về ngôn ngữ, giọng điệu: Đây là một phương diện nghệ thuật góp phần
tạo nên nét khác lạ trong tiểu thuyết của Inrasara. Nhìn nhận về phương diện
này trong tiểu thuyết Chân dung cát có những quan điểm có vẻ trái ngược
nhau. Tác giả Phương Thủy trong bài viết Chân dung cát- chân dung Chăm
thời hiện đại cho rằng: “Giọng điệu trong Chân dung cát là một sáng tạo
phong phú và hấp dẫn. Trong một tác phẩm chứa đựng kiến thức văn hóa sâu
rộng, Inrasara vẫn sử dụng thành công ngôn ngữ văn học hài hước, châm
biếm mà đậm chất thơ” [50]. Nhưng TS Phạm Duy Nghĩa lại cho rằng ngôn
ngữ trong tiểu thuyết Chân dung cát chưa đạt được hiệu quả nghệ thuật cao.
Điều này được ông đề cập đến trong thế so sánh với cách sử dụng ngôn ngữ
của các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số hiện đại và nhận thấy: “Ở Chân
dung cát của Inrasara có sự cách tân về ngôn ngữ một cách cực đoan. Ngoài
ngôn ngữ nghệ thuật, một lượng không nhỏ từ ngữ thuộc các phong cách
ngôn ngữ khác được đưa vào trang viết khiến cho văn bản được gọi là tiểu
thuyết này mang dáng dấp một công trình nghiên cứu xã hội khô khan, tính
khái niệm lấn át hình tượng” [39, 136]. Nó gần giống sản phẩm tiểu thuyết
của một nhà thơ, một nhà nghiên cứu.
Ngôn ngữ, giọng điệu trong Hàng mã kí ức theo Th.S Lê Thị Việt Hà
đánh giá là: “giàu màu sắc uy- mua, giọng văn khinh khoái với cái nhìn đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
chiều, qua tinh thần hậu hiện đại, tất cả nhẹ như không” [8].Theo tác giả Trần
Can, đó còn là “giọng văn khá duyên dáng, giản dị và lôi cuốn với những
buồn vui nhẹ nhõm của một người từng trải nỗi đời và nỗi người” [2].
Các tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ của
Inrasara. Trong bài viết Chân dung cát – chân dung Chăm thời hiện đại, tác
giả Phương Thủy nhận xét: “Đôi khi người đọc cảm thấy nhà văn đã quá tay
trong việc trình bày rất nhiều vốn từ ngữ trong kho kiến thức văn, sử, ngữ,
triết, cả phương Đông lẫn phương Tây trong tác phẩm của mình…” [50].
Chính điều này khiến cho độc giả có cảm giác là tác giả “lạm dụng và nói hơi
dài dòng” [8] gây không ít khó khăn trong việc tiếp nhận.
Có thể thấy, tuy các phương diện nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết
của Inrasara đều đã được tìm hiểu và đề cập đến nhưng còn sơ sài và chưa
thành hệ thống. Các thủ pháp và cách thức xây dựng nhân vật chưa được
nghiên cứu đầy đủ, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu chưa được
quan tâm nhiều. Đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Hàng mã kí ức – tác phẩm ra
đời sau. Các nghiên cứu, tìm hiểu của các tác giả chưa xác lập được một
diện mạo hình thức nghệ thuật đầy đủ và cụ thể về tiểu thuyết của Inrasara.
Các tác giả mới chủ yếu nêu ra nhận xét chứ chưa có sự phân tích một cách
sâu sắc. Vì thế, ở đề tài này, chúng tôi trên cơ sở kế thừa, tham khảo những
nhận định của những người nghiên cứu đi trước; đồng thời dựa trên cơ sở lí
thuyết hậu hiện đại để tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng, toàn
diện đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara. Từ đó thấy được
những điểm mới mẻ, đột phá của Inrasara trong cách viết so với các cây bút
tiểu thuyết dân tộc thiểu số khác cũng như nỗ lực của Inrasara trong việc
đưa văn học dân tộc thiểu số đền gần hơn hòa nhập với văn học nước nhà
nói riêng và văn học thế giới nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Như vậy, tuy chỉ với hai cuốn tiểu thuyết được xuất bản nhưng nhà văn dân
tộc thiểu số này đã tạo được những hiệu ứng khác nhau từ phía dư luận: vừa phê
phán có chỗ đồng tình và ủng hộ, vừa tranh luận và có chỗ chưa đồng tình. Các
bài viết, các bài phỏng vấn, nghiên cứu nhỏ lẻ mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận
định, đánh giá ban đầu chứ chưa có một công trình nào có tính tổng hợp và
chuyên sâu. Vì thế ở luận văn này chúng tôi chọn tiểu thuyết của Inrasara để tìm
hiểu, nghiên cứu, nhằm bước đầu tiếp cận một cách chuyên sâu và chỉ ra diện mạo
cũng như đóng góp cụ thể của tiểu thuyết Inrasara đối với tiểu thuyết dân tộc thiểu
số nói riêng và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
- Giới thiệu về tiểu thuyết của Inrasara - mảng văn học còn ít người
quan tâm và biết đến như một bộ phận của văn xuôi các dân tộc thiểu số nói
chung và của tác giả này nói riêng.
- Chỉ ra và phân tích làm rõ những đặc điểm cụ thể về nội dung và
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara. Qua đó góp phần khẳng định
đóng góp đồng thời là những hạn chế của tác giả này trong bức tranh toàn
cảnh về văn xuôi các dân tộc thiểu số nói riêng, tiểu thuyết đương đại Việt
Nam nói chung.
4. Đối tƣơng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng
Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara.
4.2. Phạm vi tài liệu nghiên cứu.
Hai cuốn tiểu thuyết của Inrasara: Chân dung cát (2006) và Hàng mã
kí ức (2011).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày những vấn đề khái quát về văn học dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện – đương đại. Phác thảo trên nét lớn diện mạo văn chương Inrasara
và vị trí của thể loại tiểu thuyết trong sự nghiệp văn học của ông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Tìm hiểu, khám phá những đặc điểm chính về nội dung và nghệ thuật
của tiểu thuyết Inrasara. Trên cơ sở nghiên cứu đó rút ra những nhận định,
đánh giá khách quan, khoa học về tiểu thuyết của Inrasara.
- Trong chừng mực có thể, so sánh và chỉ ra nét khác biệt giữa Inrasara
với các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số khác (Vi Hồng, Cao Duy Sơn)
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp tổng hợp, khái quát.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
7. Đóng góp mới của luận văn
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về
tiểu thuyết Inrasara. Chỉ ra được đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong hai
cuốn tiểu thuyết “nóng hổi” của ông.
- Có cái nhìn toàn diện, cụ thể, phong phú hơn về tiểu thuyết của các
cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình văn học đương đại. Cụ thể
là: thiểu thuyết của Inrasara mang tính hậu hiện đại cao – nét mới mẻ, đột phá
đối với văn học dân tộc thiểu số.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Văn chương Inrasara trong dòng chảy của văn học dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện - đương đại.
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Inrasara
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Inrasara.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
VĂN CHƢƠNG INRASARA TRONG DÒNG CHẢY CỦA
VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Phác thảo diện mạo văn xuôi (tiểu thuyết) của các cây bút dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện – đƣơng đại
Ra đời từ cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp cho đến nay, văn học dân tộc thiểu số đã đi được một
chặng đường dài. Hành trình ấy là một quá trình tự vận động không ngừng để
tự hoàn thiện, khẳng định vai trò và vị trí của văn học dân tộc thiểu số trong
nền văn học dân tộc. Những hạn chế, những khó khăn, thách thức vẫn còn và
cần khắc phục nhưng những thành tựu của nó đã đóng góp không nhỏ vào
việc hoàn chỉnh hơn bộ mặt văn học dân tộc.
So với thơ, văn xuôi dân tộc thiểu số xuất hiện muộn hơn và cũng
không phát triển mạnh bằng. Nhưng với sự vận động của thể loại và nhiều
nguyên nhân tác động, đến nay văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có được một
đội ngũ người viết tương đối đông và đạt được những thành tựu đáng kể. Các
tác giả thuộc nhiều dân tộc thiểu số anh em trên đất nước Việt Nam như: Tày,
Nùng, Thái, Hoa, Êđê, Bahnar, Chăm …. Đội ngũ tác giả văn xuôi dân tộc
thiểu số được phân bố ở 03 khu vực: miền núi phía Bắc (Vi Hồng, Triều
Ân, Cao Duy Sơn, Nông Viết Toại, Vi Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Lò Văn
Sĩ, Bế Thành Long, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Minh Ngọc, Nông Minh
Lập, Triệu Thị Mai, Bế Phương Mai…); khu vực Tây Nguyên (Y Điêng,
Hlinh Niê, Kim Nhất, Niê Thanh Mai…) và Tây Nam Bộ (Lý Lan,
Inrasara, Trà Vigia…). Trải qua quá trình hình thành và phát triển cho đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
nay đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số đã tăng lên đáng kể và trưởng
thành mau chóng. Tuy nhiên đội ngũ sáng tác và thành tựu của văn xuôi
dân tộc thiểu số ở từng khu vực có sự chênh lệch khá lớn. Có thể thấy văn
xuôi dân tộc thiểu số phát triển nhất ở miền núi phía Bắc với sự xuất hiện
của những nhà văn có vai trò tiên phong, với bộ ba cái tên quan trọng:
Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân. Còn cả một vùng rộng lớn của Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ thì số lượng tác giả lại quá mỏng và một số tác
phẩm của họ cũng chưa được biết đến rộng rãi trong dư luận.
Đời sống chính trị, xã hội, văn hóa và nhận thức trong tư tưởng có
những biến động, thay đổi là điều kiện, nguyên nhân để văn học các dân tộc
thiểu số thực sự vươn mình mạnh mẽ về mọi mặt và có bước trưởng thành rất
đáng tự hào. Đặc biệt thời kì đổi mới, các nhà văn dân tộc thiểu số luôn đứng
trong đội ngũ chung, đã và đang có những sáng tạo đạt chất lượng cao về tư
tưởng – nghệ thuật. Gần một thế kỉ đóng góp và cống hiến, các nhà văn dân
tộc thiểu số đã xây dựng được một diện mạo văn xuôi các dân tộc phong phú,
đa dạng, hiện đại mà vẫn đậm bản sắc dân tộc. Đến thời điểm này có thể
khẳng định, văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số
nói riêng là một mảng không thể thiếu của nền văn học nước nhà như lời
khẳng định của nhà thơ Mai Liễu: “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật” nước nhà [12,
9] và sẽ tiếp tục đồng hành cùng dòng chảy văn học Việt Nam trong tiến trình
hiện đại hóa. Từ nền văn học dân gian đến văn học viết thời kì hiện đại, văn
học các dân tộc thiểu số luôn có mặt và đã góp phần tạo nên diện mạo của
một nền văn học dân tộc Việt Nam phong phú và giàu bản sắc.
Trong văn xuôi dân tộc thiểu số, tiểu thuyết là một trong những tiểu
loại được nhiều cây bút yêu thích và lựa chọn để thử sức mình. Tiểu thuyết
của các cây bút dân tộc thiểu số ra đời muộn hơn so với truyện ngắn, vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
khoảng những năm 60 của thế kỉ XX với cuốn Muối lên rừng của Nông Minh
Châu (1964). Nhưng sau đó ngay lập tức tiểu thuyết bị chững lại trong một
khoảng thời gian khá dài (14 năm) rồi mới tiếp tục xuất hiện trở lại và dần
khẳng định được vị trí cũng như giá trị của mình trên văn đàn với số lượng
tác phẩm và tác giả ngày càng tăng dần. Từ thập niên 80 đến nay hàng loạt
cuốn tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số đã ra đời. Không chỉ là
tiểu thuyết của các cây quen thuộc như Vi Hồng (Đất bằng, Vãi đàng, Núi
cỏ yêu thương, Thung lũng đá rơi, Người trong ống, Gã ngược đời, Vào
hang, Lòng dạ đàn bà…), Triều Ân (Dặm ngàn rong ruổi) mà còn xuất
hiện những cuốn tiểu thuyết của các cây bút mới, tài năng và tâm huyết
như: Ma Trường Nguyên (Mũi tên ám khói, Gió Hoang…), Hoàng Thị
Cành (Làm dâu, Cướp chồng), Cao Duy Sơn (Người lang thang, Hoa
mận đỏ, Đàn trời…), Hữu Tiến (Dòng đời), Y Điêng (Hơ Giang), Inrasara
(Chân dung cát, Hàng mã kí ức).
Tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số theo sự biến động của thời
cuộc có nhiều đổi mới và ngày càng có sự cách tân theo hướng hiện đại nhằm
hòa nhập vào nền văn học dân tộc và thế giới. Thứ nhất là sự mở rộng về đề
tài, chủ đề. Nếu trước 1975 tiểu thuyết chủ yếu dựng lại bức tranh về cuộc
chiến đấu anh dũng của dân tộc, về thiên nhiên và con người miền núi nói
chung thì sau này các tác giả đã “cố gắng tái hiện nhiều mặt về đời sống của
đồng bào các dân tộc – quá khứ cũng như hiện tại – trong đó khắc họa những
số phận được đổi đời từ chế độ cũ sang chế độ mới, từ “thung lũng đau
thương ra cánh đồng vui”, từ chân trời một người đến chân trời tất cả”” [56,
21]. Từ năm 1986 trở đi, đề tài trong tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu
số có nhiều điểm mới. Một số tác phẩm tìm cảm hứng ở quá khứ, xoay quanh
vấn đề chiến tranh và cách mạng (Hơ Giang…). Bên cạnh đó là những tác
phẩm viết về công cuộc xây dựng, phát triển cuộc sống mới theo tinh thần của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
đại hội Đảng lần thứ VI (Mũi tên ám khói, Gió hoang…) và cả những mảng
tối của cơ chế xã hội bao cấp (Người trong ống, Gã ngược đời, Chồng thật
vợ giả, Xứ mưa, Đàn trời…); cuộc sống con người dân tộc thiểu số và số
phận con người, văn hóa dân tộc cũng được đưa vào tiểu thuyết (Chân dung
cát, Hàng mã kí ức)…Việc đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của đời
sống miền núi và khai thác vấn đề số phận cá nhân, đời tư làm cho tiểu thuyết
dân tộc thiểu số ngày càng đậm chất nhân văn, nhân bản, vừa đậm bản sắc
dân tộc vừa mang hơi thở hiện đại. Cách nhìn và tư duy nghệ thuật trong tiểu
thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số cũng có sự đổi mới. Thời kì đầu, tiểu
thuyết dân tộc thiểu số còn không tránh được những hạn chế như: tính điển
hình của nhân vật chưa cao, tâm lí nhân vật còn sơ sài, thậm chí mờ nhạt; cấu
trúc đơn giản theo mạch thời gian tuyến tính, kết thúc đóng; ngôn ngữ còn sáo
rỗng nhưng dần dần các tác giả có sự thay đổi và trưởng thành trong từng
trang viết “Nhiều tác phẩm xuất sắc trong số đó có được bản sắc dân tộc
riêng về dựng người, dựng cảnh, thể hiện ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy nghệ
thuật độc đáo. Và đã hình thành những phong cách riêng, nhiều vẻ, nhiều
giọng điệu với bút pháp văn xuôi hiện đại, góp phần làm phong phú bức tranh
của đời sống văn học nước ta” [56, 22]. Tiêu biểu như Vi Hồng, Cao Duy
Sơn, Triều Ân, Hữu Tiến….Đến Inrasara thì xu hướng hậu hiện đại đã bước
đầu được thể nghiệm trong tiểu thuyết với lối kết cấu cắt dán, xáo trộn nhiều
loại văn bản, mở rộng tối đa không – thời gian, ngôn ngữ mang nhiều sắc thái
mới mẻ, giọng điệu phi nghiêm cẩn.
Đội ngũ cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số qua các thời kì cũng có sự
tăng lên đáng kể. Nếu thời kì đầu các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số chỉ
có ở miền Bắc thì dần dần khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ cũng xuất
hiện những cây bút tiểu thuyết độc đáo và tài năng (Y Điêng, Inrasara). Ngay
cả ở khu vực miền Bắc, nếu thời kì đầu chỉ có một số cây bút tiêu biểu (Nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Mã A Lềnh...) thì về sau xuất hiện rất nhiều
gương mặt trẻ tài năng và tâm huyết (Hà Trung Nghĩa, Hoàng Hữu Sang, Ma
Trường Nguyên, Hữu Tiến, Cao Duy Sơn , Đoàn Ngọc Minh,…). Hiện nay có
thể thấy, trong nền văn xuôi dân tộc thiểu số, với thể loại tiểu thuyết thì ở
miền Bắc Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn vẫn là những tên tuổi giữ vai trò
quan trọng; Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đang dần dần xuất hiện những tên
tuổi triển vọng có những tư tưởng mới, cách tân tiểu thuyết, đưa tiểu thuyết
dân tộc thiểu số hội nhập dần với xu thế hiện đại của nền văn học nước nhà và
thế giới mà Inrasara là người đang đóng vai trò tiên phong.
Qua những nét phác họa trên có thể thấy, văn xuôi các dân tộc thiểu số
nói chung, tiểu thuyết nói riêng có sự phát triển khá phong phú với nhiều dấu
hiệu mới, đặc biệt là từ thời kì đổi mới. Nhiều vấn đề của đời sống hiện thực
đã được phản ánh chân thực và có chiều sâu, ngôn ngữ và hình thức tiểu
thuyết cũng bước đầu có những cách tân mới. Tuy nhiên số lượng tác giả và
tác phẩm còn chưa nhiều, sự chênh lêch số lượng tác giả giữa các vùng miền
còn lớn, chất lượng nghệ thuật giữa các tác phẩm của các tác giả hoặc cùng
một tác giả chưa có sự đồng đều. Có nhiều tác giả nhận được những giải
thưởng cao trong khi nhiều tác giả dù viết nhiều nhưng vẫn chưa có sự bứt
phá, mới mẻ. Một số tác phẩm còn nhiều hạn chế về nghệ thuật, sơ sài về nội
dung phản ánh.
Văn xuôi dân tộc thiểu số đã tạo được dấu ấn riêng và nhận được
những tình cảm trìu mến của độc giả. Có những tác phẩm đoạt được giải
thưởng văn học cao trong và ngoài nước đã cho thấy sức sống riêng và bản
lĩnh của mảng văn học này. Theo từng giai đoạn trưởng thành và phát triển,
bức tranh văn xuôi dân tộc thiểu số ngày càng được hoàn chỉnh dần, thu hút
được sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, các cây bút phê bình và
người yêu văn chương. Có nhiều công trình nghiên cứu công phu, tâm huyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
về văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng
đã được công bố hoặc còn đang được ấp ủ cho thấy sức hút cũng như tầm
quan trọng của mảng văn học này trong tổng thể nền văn học dân tộc. Tuy
vậy, các công trình vẫn chưa thật sự bao quát đầy đủ, nhiều chỗ còn chung
chung chưa khắc họa rõ nét, diện mạo cụ thể của mảng văn học đặc sắc này.
Đặc biệt là bộ phận văn xuôi, trong đó có tiểu thuyết của các cây bút dân tộc
thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Vì thế có thể thấy mảng văn
xuôi dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi (tiểu thuyết ) ở khu vực Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ nói riêng vẫn đang đòi hỏi sự quan tâm đúng mực và
sâu rộng hơn nữa.
1.2. Vài nét về chủ nghĩa hậu hiện đại, ảnh hƣởng của nó đến văn học
Việt Nam và tƣ tƣởng nghệ thuật của Inrasara
Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại không phải là thuật ngữ mới mẻ. Nó
đã xuất hiện cách đây hơn một thế kỉ. Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, với
tư cách là một khuynh hướng thì đã tồn tại được bốn mươi năm. Vì thế mà nó
trở thành: “một không khí, một nếp nghĩ, một cách nhìn, một cách kinh
nghiệm và diễn dịch thực tại không chỉ trong phạm vi văn học nghệ thuật mà
còn chi phối mọi sinh hoạt của nhân loại” [44]. Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện
đại chúng ta đang dùng ở đây là thuật ngữ bao hàm ý nghĩa để chỉ “các trào
lưu trong văn học và nghệ thuật ngoài chủ nghĩa hiện thực truyền thống và
ngoài chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nửa cuối thế kỉ XX” [3]. Nó có
gốc rễ từ chủ nghĩa Đa Đa (đầu thế kỉ XX). Chủ nghĩa này coi văn học là một
tiến trình và nhấn mạnh vào ý nghĩa của hành động sáng tạo chứ không đặt
nặng vấn đề tác phẩm.
Bắt dầu từ chủ nghĩa Đa Đa, văn xuôi của Franz Kafka và kịch phí lí từ
những năm 1950, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới thực sự bùng
nổ ở văn xuôi vào những năm 1960. Đây là khuynh hướng tiếp nối chủ nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên