CHƯƠNG 2. PHONG TRÀO NÔNG DÂN YÊN THẾ
2.1. Hoàn cảnh địa lý
Khởi nghĩa Yên Thế trong quá trình phát triển đã hoạt động trên địa
bàn khá rộng, bao gồm các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, nay thuộc
tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Lạng Sơn... Nhưng nơi phát sinh cũng là địa
bàn hoạt động chính của cuộc khởi nghĩa là phía bắc huyện Yên Thế xưa quên
gọi là Yên Thế Thượng.
Huyện Yên Thế ở phía Tây Bắc thị trấn Bắc Giang, phía bắc huyện
Yên Thế là dãy núi Cai Kinh, vừa hiểm trở một bức tường thành kiên cố. Phía
đông Yên Thế là con sông Thương giống như một đường gianh giới tự nhiên.
Phía Tây Bắc Yên Thế giáp với những khu rừng rậm rạm tỉnh Thái Nguyên,
phía tây là miền đất Quang Đăng, mặt tây và nam Yên Thế giáp với huyện
Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên.
Địa hình Yên Thế chia làm hai phần khá rõ. Từ Cao Thượng xuống
phía nam, xưa quen gọi là Yên Thế Hạ, là miền đất tương đối bằng phẳng từ
Cao Thượng ngược lên phía bắc qua Nhã Nam, chợ Gồ, Mơ Trang xưa là Yên
Thế Thượng - nơi phát sinh của cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Nơi đây có rừng
rậm rạp, cây cối um tùm, tầm mắt bị bỏ hẹp.
Khí hậu Yên Thế chia làm hai vùng rõ rệt, Yên Thế Hạ có khí hậu
trung du điển hình: khô ráo, ấm áp. Nhưng Yên Thế Thượng có khí hậu khắc
nghiệt hơn.
Với địa hình rừng núi Yên Thế, nghĩa quân dễ giấu mình và tổ chức
đánh phục kích. Những loại vũ khí của Pháp như: đại bác, súng máy, lựu đạn
hầu như không phát huy tác dụng. Một số sĩ quan Pháp phải thừa nhận “trái
với bắn nhanh không thể có một hiệu quả nào để chống lại một đối tượng
được ẩn náu kín như vậy vì tầm nhìn và tầm ngắn hạn chế. Đại bác nòng dài
đòi hỏi sự ngắm bắn chính xác, không thể thực hiện được với một kẻ hù mà ta
không sao xác định được chính xác họ ở vị trí nào và mảnh đạn mất hút trong
các bụi rậm ...”.
2.2. Nguyên nhân
Cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp bắt đầu ở Trung Kì, Nam
Kì từ những năm 50 - 60 của thế kỉ XIX, đã lan ra Bắc Kì những năm 70 và
được đẩy mạnh trong những năm 80 cho đến cuối năm 1884 thực dân pháp cơ
bản đã chiếm đóng xong Bắc Kì, nhưng riêng vùng Bắc-Đông Bắc Kì, nằm
chỗ gáp gianh giữa tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên cụ thể là phía bắc tỉnh Bắc
Giang. Trong đó có huyện Yên Thế mà chúng chưa làm chủ được. Nhân dân
ở đây nhất là nhân dân vùng núi Yên Thế với những lực lượng vũ trang đã có
hoặc mới lập, kiên quyết đánh trả tất cả các cuộc hành quân xâm lược của
thực dân pháp, để bảo vệ vùng đất của mình: Yên Thế từ đó trở thành căn cứ
kháng chiến mạnh nhất ở bắc kì trong hàng trục năm tiếp theo và là mối lo
thường trực của thực dân Pháp.
Nhân dân Yên Thế cũng giống như nhân dân cả nước vốn có một
truyền thống dân tộc rất cao. Không chấp nhận nô nệ cho ngọai quốc đã tự
động cầm súng chống lại thực dân pháp để bảo vệ quê hương, làng xóm. Đó
là nguyên nhân sâu xa của cuộc khởi nghĩa, song cuộc khởi nghĩa nhân dân
Yên Thế, nguyên nhân sâu xa ấy gắn liền với một nguyên nhân có tính địa
phương khá rõ. Ở Yên Thế nhiều năm trước đây đã hình thành một cộng đồng
cư dân với những nữ đặc biệt. Đó là cuộc sống tự do so với nông dân có
những vùng có sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền phong kiến, để bảo vệ
cuộc sống đó, cư dân nơi đây dã xây dựng lực lượng vũ trang nhiều lần chống
lại chính quền phong kiến và đã ở trong tình trạng khởi nghĩa thường trực
cuộc hành quân càn quét của thực dân Pháp vào vùng này từ năm 1884 đã uy
hiếp nghiêm trọng cuộc sống cư dân nơi đây. Cuộc khởi nghĩa vũ trang chống
pháp là sự kế thừa cuộc chiến đấu tự vệ cũ của địa phương, hướng mũi nhọn
vào kẻ thù dân tộc của địa phương là thực dân Pháp và bọn phong kiến tay
sai.
2.3. Lực lượng lãnh đạo
a) Các thủ lĩnh nghĩa quân
Từ năm 1884 đến trước những năm 1890, tức là khi Đề Thám nổi lên
như một thủ lĩnh xuất sắc, ở Yên Thế có rất nhiều thủ lĩnh chống Pháp hoạt
động cùng một lúc.
Đáng chú ý nhất trong số các thủ lĩnh là Lương Văn Nắm (Đề Nắm tức
Đề Hả). Ông người làng Hả, trước khi Pháp đến, ông đã được dân ba làng Hả,
Lèo (Hữu Thượng), Mạc (Luộc Hạ) cử cầm đầu một toán vũ trang tự vệ
chống giặc cướp. Sau vì xung đột với tiên chỉ làng Tràng, Lương Văn Nắm
mộ quân khởi nghĩa chiếm làng Hả lập căn cứ để chống lại. Sau có khá nhiều
nông dân bất mãn theo về với ông như Thống Sặt ở làng Sắt, Đề Cúc ở Phúc
Đình, Đề Huỳnh ở làng Mạc. Đề Hậu ở Nhã Nam, Thống Ngò, Thống Trứ ở
Vân Cầu, Thượng Biên ở Sậy Hạ, Cai Hậu ở Dương Lâm, Đề Gạo ở Trũng
Mễ, Đề Sử ở Dĩnh Thép... Khi Pháp mới đến Yên Thế, Đề Hả đã có trong tay
một lực lượng vũ trang khá đông, mạnh và có uy tín nhất trong vùng. Ông tự
xưng là Tả quân thống tướng, cùng nhiều toán nghĩa quân khác như Bá Phức,
Chánh Tả, Đề Tước, Tổng Tài, Đề Thuật, Đề Chung, Đề Chung (tức Đề
Thám)....xây dựng các công sự ở Yên Thế để chống Pháp.
Bá Phức người làng Trũng. Khi Pháp đến, mộ quân đánh Pháp, rồi
cùng Thống Luận theo Hoàng Đình Kinh. Khi Hoàng Đình Kinh bị bắt và bị
giết, Bá Phức trở lại Yên Thế chống Pháp. Sau khi các cuộc càn quét của
Pháp vào vùng Thượng Yên Thế cuối năm 1891, Bá Phức hàng Pháp, được
chúng cho chức Thương tá và dùng làm tay sai để chống Đề Thám.
Tránh Tả và Đề Tước người làng Mi Điền (Chánh Tả là bố Cả Huỳnh;
Đề Tước là bố Cai Tề, Cả Huỳnh và Cai Tề sau là hai nghĩa quân thân tín của
Đề Thám). Hai ông đến lập trại khai hoang ở Mi Điền. Khi Pháp đến, hai ông
mộ quân khởi nghĩa, chiến đấu một thời gian rồi chết.
Thống Luận theo Bá Phức ra hàng Pháp, nhưng khonng được Pháp
trọng dụng.
Vốn là chỗ quen thân với Đề Thám nên tuy đã hàng Pháp, Thống Luận
không có ý làm hại Đề Thám. Theo dư luận của nhân dân địa phương, Thống
Luận còn che chở đùm bọc cho Đề Thám khi lâm vào tình thế khó khăn.
Các thủ lĩnh khác như Đề Thuật, Đề Chung, Đề Lâm, Tổng Tài, hiện
chưa tìm thấy tài liệu về nguồn gốc, xong trước năm 1892 mỗi người đều cầm
đầu một nhóm nghĩa quân và đã cùng Đề Nắm, Đề Dương, Bá Phức xây dựng
công sự ở Thượng Yên Thế, phía trên Cầu Gồ cùng nhau ngăn chặn các cuộc
càn quét của thực dân Pháp vào vùng này. [6]
Đề Thám và các nghĩa quân của ông (Nguồn: violet.com)
Các bôô tướng của Đề Thám (Nguồn: violet.com)
b) Thủ lĩnh Đề Thám
Đề Thám tham gia chống Pháp từ sớm, song từ những năm 90 mới trở
thành một thủ lĩnh nổi bật. Về thân thế của Đề Thám, có nhiều nguồn rất khác
nhau. Song gần đây, dựa vào các tài liệu tham khảo nghiên cứu của các nhà
sử học, của Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, đã có thể có được sự hiểu
biết tương đối rõ về vấn đề này.
Đề Thám người ở làng Dị Chế huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông
sinh khoảng năm 1859, trong một gia đình nhà Nho nghèo. Cha là Trương
Văn Thân .Ông Thân học khá nhưng thi mãi không đậu , nên chán nản , đưa
cả nhà lên Sơn Tây. Ở đây, ông theo Nguyễn Văn Nhàn khởi nghĩa chống
triều đình. Cuộc khởi nghĩa thất bại, vợ chồng ông Thân cùng em trai trốn
thoát, đổi sang họ Đoàn để tránh bị truy lùng. Nhưng sau đó, bọn hào lý địa
phương tố giác, ông Thân bị bắt giải về kinh, bà Thân bị giết, người em trai
lúc ấy đang bế cháu là Đề Thám đi chơi nên chạy thoát sang Yên Thế, đổi tên
mình là Quát, tên cháu là Thiêm, và ngụ cư ở làng Trũng. Khi người chú chết,
Thiêm phải đi chăn trâu cho nhiều gia đình như Khán Tích, Cai Nghị, rồi sau
đó được Bá Phức nhận làm con nuôi, lấy vợ là Thị Tảo. Khi Bá Phức nổi dậy
chống Pháp, Thiêm đi theo và đổi tên thành Đề Dương. Năm 1885, Đề Dương
cùng Bá Phức và Thống Luận theo Cai Kinh, được Cai Kinh yêu mến cho
được mang họ Hoàng và đổi tên thành Thám. Tên Hoàng Hoa Thám có từ khi
ấy.
Sau khi Hoàng Đình Kinh chết, Đề Thám lại cùng Bá Phức trở về Yên
Thế. Lúc này Đề Thám đã trưởng thành nên tách ra hoạt động riêng và trở
thành một thủ lĩnh.
Đề Thám người tầm thước, vai rộng, ngực nở, tóc thẳng, tóc thường cắt
ngắn, có khi cạo trọc, mắt một mí, dáng đi chậm chạp, nói năng từ tốn, nhỏ
nhẹ. Được rèn luyện nhiều trong lao động và chiến đấu. Vì vậy, Đề Thám có
thể một mình đánh lại hàng chục tên địch.
Về tính cách, đạo đức và sinh hoạt của Đề Thám, Barthouet viết:
“Đề Thám không giàu có gì. Ở nhà ông ta vào đầu năm 1909, chỉ có
chừng 100 tấn thóc. Trong nhà không có lấy một chút tiện nghi, nhà lợp tranh,
đồ đạc cũ kỹ. Tất cả tài sản của ông ta là ở các ruộng lúa ven rừng, và những
lễ vật do các làng biếu xén… Về khoản sau này, ông ta có thể đòi hỏi nhiều
hơn, nhưng ông ta không hề lạm dụng. Con người ấy quả không tham lam…
Đó là một điều bí ần, ông ta chỉ có đất, có rừng và cái tự do của chính mình.
Ông rất cảnh giác, không bao giờ cởi mở hết mình với bất kì ai…, không ai có
thể chỉ ra được thật chính xác có cái gì ở tận đáy lòng, trong chiều sâu của
tâm hồn ông ta”.
“Ông ta có những tài năng lớn của một chiến binh. Sẽ là hèn hạ nếu
không công nhận điều đó”. [7]
HOÀNG HOA THÁM (1851- 1913)
(Nguồn: VNTTX)
c) Lực lượng tham gia nghĩa quân.
Vì khởi nghĩa Yên Thế mang tính chất nông dân nên lực lượng chủ yếu
là nông dân nhèo vùng yên thế và các vùng lân cận, đi theo phong trào để đấu
tranh giành lại cuộc sống bình yên.
2.4. Diễn biến cuộc khởi nghĩa
Khởi nghĩa Yên Thế trải qua 4 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (1884-1982):
Giai đoạn này các nghĩa quân còn hoạt động lẻ tẻ, chưa có sự phối hợp
và chỉ huy thống nhất. Lúc bấy giờ xuất hiện hàng trục toán nghĩa quân của
Đề Nắm, Bá Phức Thống Luận, Tổng Tài, Đề Thuật, Đề Chung...
Về phía Thực dân Pháp, ngay từ năm 1884 đã coi vùng Yên Thế là một
trong những trọng điểm bình định ở miền trung du Bắ Kì, song chưa thể tập
trung lực lượng để tiến hành.
Tháng 12 – 1885, Diguet đem 300 quân vào càn quét Yên Thế, nhưng
chúng phải rút lui về vì bị nghĩa quân đánh chặn ở gần Hữu Thượng và mỏ
Na Lương.
Tháng 10 – 1887, chúng lại cho quân thám sát đường từ Yên Thế đi
Lạng Sơn, rồi đến tháng 2 – 1889 lập đồn Bố Hạ và một đồn lính khố xanh ở
Bỉ Nội. Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1889, Đại úy Gorce đem quân càn quét
chiếm Tế Lộc, áp sát Hữu Thượng song phải ngừng cuộc hành quân để đối
phó với Đội Văn lúc ấy phản chiến đem theo 100 tay súng đang kéo về Yên
Thế.
Vào cuối năm 1890, sau khi đã đàn áp xong khởi nghĩa Cai Kinh và
Đội Văn, thực dân Pháp lại mở những cuộc hành quân lớn để càn quét vùng
Thượng Yên Thế.
Tháng 11 – 1890, tướng Godin chỉ huy 800 quân với 5 sơn pháo và 2
pháo thuyền từ nhiều ngả đáng vào Yên Thế. Lúc này bộ phận của nghĩa quân
Đề Thám đóng ở đồi Yên Ngựa giáp làng Cao Thượng đã giành thắng lợi. Từ
đầu đến cuối tháng 12 – 1890, quân Pháp tấn công vào Hố Chuối nhiều lần.
Đầu tháng 12 – 1890, quân đội Pháp bắt đầu mở cuộc tấn công Hố
Chuối, sáng ngày 9 – 12, từng loạt súng vang lên phá tan cái tĩnh mịch của
khu lòng pháo 80 ly do Đại úy Plessier chỉ huy theo đường Lèo ồ ạt tấn công
mặt Bắc công sự chính.
Ngày 11 – 12, quân Pháp lại ồ ạt kéo đến, lần này chúng huy động
286 lính gồm 100 lính thủy quân lục chiến, 50 lê dương và 136 lính khố đỏ
với 1 sơn pháo 80 ly do trung tá Tane chỉ huy. Một lần nữa, chúng không thể
tìm được đường vào.
Mười một ngày sau 22 – 12 địch trở lại. Lần này chúng huy động
lực lượng đông hơn: 589 quân địch gồm cả thủy quân lục chiến, lê dương,
khố đỏ và 3 khẩu sơn pháo. Một lần nữa, chúng lại không thể vượt qua hệ
thống cộng sự của quân ta.
Ngày 2 – 1 – 1891, quân Pháp tổ chức cuộc tấn công lần thứ 4. lần này,
Pháp huy động 1060 lính do Đại tá Frey chỉ huy bao vây Hố Chuối. Trước
sức mạnh của địch, quân của Đề Thám phải rút về Đồng Hom. Tranh thủ thời
cơ, chúng tiến nhanh vào vùng Nhã Nam vừa tổ chức các cuộc càn quét, vừa
xây dựng các đồn bốt để bao vây nghĩa quân.
Để chặn các cuộc càn quét của địch, ta đã xây dựng hệ thống cứ điểm
với 7 hệ thống công sự ở phía Bắc Yên Thế do: Đề Thám, Bá Phức, Đề Tâm,
Đề Tuất, Đề Chung, Tổng Tài chỉ huy. Lúc này Đề Thám là thủ lĩnh có uy tín
nhất.
Tháng 3 – 1892, Pháp huy động 2200 quân do Voatong chỉ huy ồ ạt tấn
công căn cứ nghĩa quân, do sự tương quan lực lượng nên nghĩa quân bị sa sút.
Tháng 4 – 1892 Đề Nắm bị sát hại, sau đó nhiều thủ lĩnh đã ra hàng.
Riêng Đề Thám vẫn ở lại Yên Thế nhưng rút về Bằng Cục để xây dựng lực
lượng tiếp tục chiến đấu.
Đến đây, chấm thời kì hoạt động của các toán vũ trang riêng lẻ ở Yên
Thế.
Bản đồ khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)
(Nguồn: violet.com)
Giai đoạn 2 (1893-1897):
Đây là giai đoạn thực dân Pháp đang ra sức bình định phong trào kháng
chiến của nhân dân Việt Nam để chuẩn bị cho tiến tới chuẩn bị cho công cuộc
khai thác thuộc địa, do vậy những lúc chúng tìm cách thương lượng, nhằm
làm tan rã lực lượng, vì vậy nghĩa quân hai lần đình chiến với Pháp, lần thứ
nhất vào tháng 10/1894, lần thứ hai vào tháng 12/1897.
Để tiếp tục phong trào đấu tranh chống Pháp, sau khi Đề Nắm hi sinh,
Đề Thám khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các vùng xung
quanh, ra sức hoạt động, không ngừng mở rộng địa bàn, năm 1894 nghĩa quân
trở về xây dựng căn cứ Hố Chuối, mở rộng địa bàn hoạt động xuống Bắc
Ninh, Bắc Giang.
Trong nước lúc này phong trào Bãi Sậy, Ba Đình và các đội nghĩa quân
khác dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh Đốc Ngữ, Đề Kiều…đều tan rã, nên
thực dân Pháp càng có điều kiện để đàn áp khởi nghĩa Yên Thế.Về phía nghĩa
quân Yên Thế tuy dánh được một số thắng lợi nhung lực lượng suy yếu rõ rệt,
Đề Thám thấy cần phải hòa hoãn với Pháp để củng cố lực lượng.
Thực dân Pháp dùng bọn tay sai như tổng đốc Bắc Ninh là Lê Hoan
cùng với Bá Phức mua chuộc dụ hàng Đề Thám,nhưng không thay đổi được
tinh thần chống Pháp của ông,mặt khác chúng tiến hành các vụ mưu sát
nhưng không thành.
Tháng 5/1894,viên công sứ Bắc Ninh là Mydelie cùng với tổng đốc Lê
Hoan dẫn một lực lượng lớn quân Pháp và lính khố xanh được pháo binh yểm
trợ tấn công căn cứ Hưu Nhuế. Dựa vào địa hình công sự, nghĩa quân Đề
Thám chờ địch tới gần nổ súng bất ngờ, khiến hàng chục tên lính Pháp bị
chết, viên Công sứ và một số lính khác bị thương. Sau thất bại này,
ngày17/9/1894 nghĩa quân Đề Thám dưới sự chỉ huy của Bang Kinh tổ chức
mai phục đường xe lửa giữa đoạn suối Gềnh và Bắc lệ bắt sống Setnay-la một
trong hai chủ nhiệm tờ báo tương lai Bắc Kỳ, và là chủ đồn điền ở vùng Yên
Thế. Có danh tiếng trong giới tư sản địa chủ Pháp.
Trước sức ép của dư luận báo chí và chính giới tư sản đồn điền Pháp
muốn giảng hòa với nghĩa quân nhằm kết thúc bình định, và làm tan rã nghĩa
quân, 25/10/1894 cuộc thương lượng đi vào hồi kết:
- Quân Pháp phải rút khỏi khu vực Yên Thế.
- Đổi lại, nghĩa quân trao trả hai con tin cho Pháp, trong đó có Setnay bị
nghĩa quân bắt giữ.
- Giao các tổng: Yên Lễ, Hữu Thượng, Mục Sơn, Nhã Nam cho nghĩa quân
kiểm soát
Tranh thủ thời gian hòa hoãn, nghĩa quân ra sức củng cố lực lượng,
nhưng không được bao lâu, thì thực dân Pháp bội ước, tổ chức tấn công nghĩa
quân anh dũng chống trả. Để tránh phải đụng đầu lớn với địch, Đề Thám chủ
trương chia nghĩa quân thành nhiều toán nhỏ, phân tán hoạt động trong vùng
rừng và làng mạc.Nghĩa quân di chuyển hoạt động trông bốn tỉnh: Bắc Ninh,
Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên.
Mục tiêu của thực dân Pháp là tiêu diệt nghĩa quân Đề Thám: Ngày
7/10/1895 thực dân pháp ra lệnh cho Đề Thám đến Bắc Ninh để yết kiến Phủ
Thống sứ Bắc Kỳ, biết rõ âm mưu của thực dân Pháp,nên Đề Thám không
đi,Đề Thám lúc này có 300 quân, Pháp đoán nghĩa quân Đề Thám đóng ở
tamn giác Bố Hạ -Nhã Nam -Mỏ Trạng, nên chung đã huy động 2000 quân
bao vây khu căn cứ, rồi gửi tối hậu thư bắt Đề Thám phải đầu hàng.
Ngày 29/11/1895 thực dân pháp huy động đội quân lớn có cả pháo 80
ly, chiến sự diễn ra ác liệt trên cả vùng rừng Bãi Mét cách Phồn Xương 2km
quân Pháp chiếm được một số đồn, song có nhiều tên phải đền mạng vì xa
xuống hố có cắm mũi chông tẩm thuốc độc.
Sáng ngày 30-11-1895, quân Pháp lại tấn công tiếp, nhưng nghĩa quân
đã rút khỏi căn cứ. Với lối đánh du kích, nghĩa quân gây cho quân pháp nhiều
thiệt hại, tuy nhiên, nghĩa quân cũng gặp nhiều khó khăn, thiếu lương ăn, vũ
khí đạn dược, do phải chiến đấu liên tục lực lượng bị suy yếu.
Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám xin giảng hòa lần thứ hai. Về phía
pháp cũng muốn chấm dứt xung đột để tiến hành khai thác thuộc địa. Tháng
12-1897, hiệp ước hòa hoãn giữa pháp và nghĩa quân Yên Thế được kí kết.
Theo hiệp ước, nghĩa quân phải nộp cho pháp tất cả vũ khí và phải bãi binh.
Đề Thám bề ngoài tỏ ra tuân thủ, nhưng bên trong vẫn ra sức ngầm củng cố
lực lượng chờ cơ hội thuận lợi hơn lại tiếp tục chiến đấu.
Giai đoạn 3 (1898-1908):
Ngược lại với âm mưu thâm độc của thực dân Pháp là làm lực lượng nghĩa
quân tan rã, trong suốt trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân vẫn tồn tại
và giữ vững tinh thần chiến đấu.Tại căn cứ Phồn Xương nghĩa quân vẫn sản
xuất tự túc vừa sắm sửa vũ khí, ra sức tập luyện. Do vậy lực lượng Phồn
xương dù chỉ có 200 người nhưng rất thiện chiến. Đồng thời Đề Thám cũng
mở rộng quan hệ với những nhà yêu nước ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Giang sơn Yên Thế kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống Pháp
và là nơi lui tới của nhiều chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX. Sau lần cử người lên
liên lạc với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám tại đồn Phồn Xương vào mùa thu
năm 1902 không thành vì chưa tạo được niềm tin, tháng 11 năm ấy, Phan Bội
Châu đích thân tới gặp Đề Thám chưa được Đề Thám tiếp vì lí do ốm tại đồn
Phồn Xương nhưng được Cả Rinh, Cả Huỳnh và Cả Trọng đón tiếp trọng thị
và thỏa thuận nếu Trung Kỳ khởi nghĩa trước thì nghĩa quân sẵn sàng hưởng
ứng.
Vì mong muốn có lực lượng chống Pháp đông đảo, cuối cùng năm
1906, Phan Bội Châu từ nhật bản về Quảng Tây (Trung Quốc) vào Lạng Sơn
bôn ba lên Định Hóa (Thái Nguyên) để gặp Lường Tam Kỳ nhưng khi biết
Lường đã theo Pháp, ông liền quay về Phồn Xương và được Hoàng Hoa
Thám đón tiếp nồng nhiệt. Ở lại Yên Thế 10 ngày, Phan Bội Châu và Đề
Thám đã mật ước về vấn đề sau.
Về phía Đề Thám: Tham gia Duy Tân hội, dung nạp những nghĩa sĩ
Trung Kỳ chạy ra Bắc, khi nào Trung Kỳ khởi nghĩa thì nghĩa quân tiếp ứng
Về phía Phan Bội Châu: Khi nào đồn Phồn Xương tác chiến thì Trung
kì nổi lên viện trợ,khi có chiến sự thi Duy Tân hội phải giúp về mặt ngoại
viên và thực lực… Đề Thám còn lập một đồn Tú Nghệ dành cho nghĩa quân
miền Trung ra huấn luyện quân sự.
Giữa năm 1906 Phan Chu Trinh cũng lên Yên Thế gặp Đề Thám những
đề xuất của ông đề cập tới vấn đề cải cách không có sức lôi cuốn với Đề
Thám, nhưng Đề Thám khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Chu Trinh.
Lợi dụng thời gian hòa hoãn với nghĩa quân thực dân Pháp ra sức lập
đồn bốt, mở đường giao thông…nhằm đánh đòn quyết định vào căn cứ Yên
Thế. [9]
Giai đoạn 4 (1909-1913):
Người yêu nước đã gây ra vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (6/1908)
trong đó có sự tham gia của nghĩa quân Đề Thám, thực dân Pháp tập trung lực
lượng tấn công vào căn cứ.
Tháng 1/1909, đại tá Batay chỉ huy một lực lương lớn gồm 15000 quân
cả lính ngụy và lính pháp ồ ạt tấn công vào Yên Thế. Trước sức mạnh của
địch,vừa chống đỡ, vừa chuyển lực lượng xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc
Ninh, rồi rút sang Tam đảo, Thái Nguyên. Bị quân Pháp truy kích nghĩa quân
chống trả quyết liệt và gây cho địch nhiều thiệt hại, điển hình là các trận đánh
ở đồn Hom thuộc Yên Thế (31-1-1909), núi Hàm Lợn ở Tam Đảo thuộc Phúc
Yên (15-3-1909). Quân pháp tăng cường kiểm soát kìm kẹp nhân dân để cô
lập nghĩa quân, khiến cho nghĩa quân ngày càng gặp nhiều khó khăn về hậu
cần, vũ khí trang bị, trong chiến đấu lực lượng bị tổn thất, rồi suy yếu
dần.Đến cuối năm 1909, hầu hết các tướng lĩnh hi sinh hoặc sa vào tay giặc
như Cả Huỳnh, Cả Trọng, Cả Tuyển… một số ra hàng như Cả Rinh, Cai
Sơn… đến đây phong trào được xem là thất bại về căn bản.
Trở lại Yên Thế,ngày 10/2/1913, Đề Thám bị giết hại tại khu rừng cách
chợ Gồ 2km, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
[9]
2.5. Kết quả và bài học kinh nghiệm
Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế đã thất bại sau 30 năm hoạt
động chiến đấu, mặc dù cuộc khởi nghĩa chỉ mang tính tự phát và nổi dậy đấu
tranh cho cuộc sống bình yên của địa phương, nhưng những gì mà Đề Thám
cùng các tướng lĩnh và nhân dân Yên Thế nói riêng và nhân dân Bắc Kỳ làm
được đã để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm về tình đoàn kết, anh dũng
trong lao động và sản xuất, bài học về tổ chức lực lượng, phương thức tác
chiến và xây dưng căn cứ. Cuộc khởi nghĩa đã gây cho Pháp và bè lũ tay sai
nhiều phen kinh hồn bạt vía, và thiệt hại nặng nề.
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế thất bại cũng một lân nữa đặt ra một yêu cầu
cấp thiết, cơ bản là phải có đường lối đấu tranh tiên tiến một lực lượng lãnh
đạo tiến bộ, phù hợp với yêu cầu của lịch sử và xu thế thời đại.
2.6. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sư
• Nguyên nhân thất bại.
Nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Yên Thế cũng là nguyên nhân thất
bại chung của phong trào chống đế quốc của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX và
đầu thế kỷ XX. Cuối thế kỷ XIX, bộ phận sỹ phu phong kiến yêu nước đã
không tìm được con đường đúng đắn để tiến hành công cuộc cứu thắng lợi.
Tư tưởng phong kiến, một tư tưởng đã mất hết sức sống, không còn khả năng
lôi cuốn và tập hợp nhân dân cứu nước. Vì vậy các cuộc kháng chiến chống
Pháp thời gian này thiếu hẳn một sự liên kết cần thiết, phân ra từng mảng, cô
lập với nhau, rất dễ bị kẻ địch đàn áp. Khởi Nghĩa Yên Thế do một thủ lĩnh
nông dân lãnh đạo ít liên hệ với các văn thân, sỹ phu yêu nước, nổ ra trong
một vùng rừng núi còn hoang vu, hẻo lánh, lại càng ít gắn bó với phong trào
chung. Khi lực lượng đàn áp của kẻ địch đang còn phải chia sẻ để đối phó với
phong trào kháng chiến ở nhiều nơi, cuộc khởi nghĩa đã dựa được vào thuận
lợi đó để phát huy sức mạnh của mình. Nhưng từ sau năm 1895, khi các
phong trào kháng chiến ở các nơi đã bị dập tắt, khi kẻ địch tập trung được các
biện pháp trấn áp vào Yên Thế, cuộc khời nghĩa không còn đủ sức để đề
kháng có hiệu quả được nữa mà đã rơi vào tình trạng suy yếu khá rõ từ đầu
năm 1896. bước sang năm 1897, Đề Thám đã phải tìm đến chuyện xin hòa để
tránh khỏi bị tan rã hoàn toàn.
Đầu thế kỷ XX, các sỹ phu yêu nước lớp mới nhờ tiếp thu ảnh hưởng
của tư tưởng và trào lưu cách mạng mới trên thế giới, đã tác động được một
phong trào yêu nước giải phóng dân tộc trong cả nước. Nhưng các sỹ phu yêu
nước này, tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng không có được
một giai cấp xã hội mạnh làm hậu thuẫn, đã không tìm ra được một đường lối
cách mạng đúng đắn. Tư tưởng dân chủ tư sản còn rất hời hợt của các ông đã
không đáp ứng được nguyện vọng của tòa dân – chủ yếu là nông dân – nên
cũng không có sức cổ vũ và lôi cuốn đông đảo nhân dân và của cách mạng.
Tác động của phong trào nói chung và của cá nhân Phan Bội Châu nói riêng
đối với khởi nghĩa Yên Thế vì vậy cũng không đủ sức thuyết phục để có thể
làm chuyển biến sâu sắc nhận thức của Đế Thám và lôi cuốn cuộc khởi nghĩa
vào một con đường cách mạng mới. Tính chất bảo thủ vốn có của Đề Thám,
một thủ lnhx nông dân lại góp phần làm cho cuộc khởi nghĩa không gắn bó
được với phong trào cách mạng ấy. Khởi nghĩa Yên Thế do đó không phát
triển lên được. Trong tình hình như thế lực lượng nghĩa quân không đủ sức để
chống lại sự phản công khá mạnh của kẻ địch.
• Ý nghĩa Lịch Sử
Khởi nghĩa Yên Thế cung cấp cho chúng ta thêm một dẫn chứng đầy
sức thuyết phục về sức mạnh tiềm tàng của nông dân. Tuy chưa được sự giáo
dục và lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến mà mới chỉ được sự dìu dắt của một
thủ lĩnh có tài, nông dân ở một vùng nhỏ hẹp như Yên Thế đã phát huy được
một sứ mạnh kỳ diệu, áp đảo được cả sức mạnh của một quân đội vào hàng
tiên tiến nhất nhì thế giới, làm cho bộ máy chính quyền của thực dân Pháp
phải lúng túng. Sức mạnh ấy đã góp phần củng cố lòng tin và tự hào dân tộc
lúc đương thời và cũng như mãi sau này. Sức mạnh ấy nếu được khai thác
dồng đều và triệt để sẽ có thể đào sông lấp biển, hoàn thành được những sự
nghiệp lớn lao. Những thành tựu to lớn mà dân tộc ta đã đạt được trong sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
nay, có nguyên nhân rất căn bản là do Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biết khai
thác và sử dụng sức mạnh tiềm tang đó của nông dân trong cả nước.
Sức mạnh chiến đấu vô cùng mạnh mẽ của khởi nghĩa Yên Thế cũng
như sự thất bại của nó cũng chỉ ra bài học quý báu là: muốn khai thác và sử
dụng được lực lượng của nông dân, trước hết phải hết sức quân tâm đến lợi
ích của họ – lợi ích độc lập tự do và ruộng đất. Vấn đề này, trong khởi nghĩa
Yên Thế chưa được giải quyết triệt để, mà mới chỉ được đặt ra một cách tự
phát ở dạng tiểu nông tự do trước khi Pháp đến, hoặc ở dạng sở hữu và
hưởng thụ tập thể kết hợp với hình thức tổ chức quân sự như đồn Phồn Xương
từ 1897 đến 1908. Mặt khác phải tiến hành một cách kiên trì liên tục và chu
đáo công tác giáo dục để họ khắc phục được tư tưởng tư hữu, bảo thủ, hẹp
hòi, tính chất tự phát, phân tán, để họ tự nguyện đi vào con đường cách mạng
tiên tiến, mới phát huy được triệt để và lâu dài được tiềm lực cách mạng của
họ.
Khởi nghĩa Yên Thế chưa được giáo dục và giác ngộ theo một tư tưởng
cách mạng tiên tiến, nên chưa được khắc phục được những nhược điểm vốn
có của nông dân, mà ở nghĩa quân Yên Thế là tư tưởng bảo thủ, thụ động
trước trào lưu cách mạng, là sự ràng buộc quá chặt vào một quyền lợi nhỏ hẹp
của một địa phương, một tập thể nhỏ nông dân.
Khởi nghĩa Yên Thế cũng để lại cho lịch sử dân tộc một trang đẹp đẽ, ở
đó khắc họa được khá sâu sắc chủ nghĩa anh hùng dân tộc qua hình tượng của
Đề Thám và nhiều nghĩa quân ưu tú , là một giá trị tinh thần không bao giờ
mai một của dân tộc.
Nhân dân cả nước mãi mãi trân trọng và gìn giữ những giá trị tinh thần
cao đẹp đó.