PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Thành phố (Tp) Cần Thơ là vùng đất nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) về phía Tây Sông Hậu, có diện tích tự nhiên 1.389,59 km2 , trong
đó có 116.992 ha là đất nông nghiệp, chiếm 84%. Từ lâu, Cần Thơ vốn nổi tiếng về
thế mạnh lúa gạo (Cần Thơ gạo trắng nước trong, ai đi đến đó lòng không muốn về),
trái cây và thủy sản. Trong nhiều năm qua, GDP của Cần Thơ có mức tăng trưởng ổn
định từ 14,5 – 16,0%. Mỗi năm Cần Thơ sản xuất ra gần 1,2 triệu tấn lúa, đóng góp
đáng kể vào sản lượng gạo xuất khẩu của ĐBSCL nói chung và của Cần Thơ nói
riêng.
Thời gian qua, sản xuất nông sản hàng hóa của ĐBSCL cũng như của Cần Thơ
đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng sản
xuất manh mún, nhỏ lẻ, giá thành sản xuất cao, lợi nhuận thấp. Hằng năm, Tp Cần
Thơ cùng với ĐBSCL làm ra 17-18 triệu tấn lúa, xuất khẩu trên 4,5 triệu tấn gạo, góp
phần đưa Việt Nam lên vị thế của một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế
giới, nhưng điều vẫn làm cho chúng ta băn khoăn là việc quản lý chuỗi giá trị gạo của
Tp Cần Thơ cũng như của khu vực ĐBSCL còn nhiều hạn chế nên giá thành hạt gạo
làm ra còn kém sức cạnh tranh, đây chính là một trong những thách thức lớn khi các
doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo ra nước ngoài và cũng là “cơ hội” cho gạo của
nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO.
Trên chặng đường cùng với cả nước phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tp Cần Thơ đã và đang sắp xếp lại cơ cấu sản xuất
nhằm phấn đấu đến năm 2010 sẽ trở thành đô thị loại I và đến năm 2020 Tp Cần Thơ
sẽ trở thành thành phố công nghiệp. Tuy nhiên, xét trên điều kiện thực tế của Cần Thơ
thì hành trang để Cần Thơ tiến vào mặt trận công nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn là
những thế mạnh sẵn có về nông nghiệp. Hay nói cách khác, dù cơ cấu kinh tế của Cần
Thơ cần thiết phải có sự điều chỉnh vì những mục tiêu lâu dài, nhưng trong những
năm trước mắt thì lúa gạo vẫn là ngành sản xuất chủ lực của Cần Thơ, vẫn tiếp tục giữ
vị trí then chốt trong cơ cấu kinh tế của địa phương, là một trong những ngành hàng
chiến lược, duy trì mức đóng góp ổn định vào sự tăng trưởng GDP của Tp Cần Thơ
cũng như khu vực ĐBSCL.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “phân tích chuỗi giá trị gạo của Tp Cần Thơ”
không chỉ giúp cho các nhà quản lý có điều kiện nhìn lại vấn đề quản lý chuỗi giá trị
gạo của địa phương trong thời gian vừa qua, mà nó còn là sự quan tâm, thể hiện lòng
biết ơn với những người một nắng hai sương làm ra hạt gạo nuôi sống chúng ta.
1.2. Sự cần thiết phải nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, người trồng lúa của ĐBSCL nói chung và của Tp Cần
Thơ nói riêng luôn đối diện với thực tế không kém phần nghịch lý là: nghề trồng lúa
- -1
từ bao đời nay đã góp phần không nhỏ trong việc mang lại sự no ấm cho mọi người
nhưng cuộc sống của chính bản thân người trồng lúa thì không phải ai cũng đều no ấm
mà phần đông trong số họ vẫn còn luẩn quẩn trong sự đói nghèo. Vì vậy, phân tích
chuỗi giá trị gạo của Tp Cần Thơ để thấy được quá trình vận hành của chuỗi, đánh giá
được vai trò, chức năng của từng tác nhân trong chuỗi, từ đó giúp chúng ta phát hiện
ra những nhân tố kém hiệu quả ở một khâu nào đó trên chuỗi, đã làm ảnh hưởng trực
tiếp lên chính hiệu quả của khâu đó hoặc có thể tác động lên hiệu quả của các khâu
khác và đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm góp phần cải thiện giá trị gia tăng,
từng bước nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm gạo của Tp Cần Thơ.
Mặt khác, những công cụ (kỹ thuật) phân tích chuỗi giá trị còn giúp cho người
nghiên cứu cũng như những nhà quản trị định lượng được các yếu tố về giá trị, chi phí
và lợi ích của từng khâu qua các mối liên kết trong chuỗi, từ đó có những nhận định
về tính phù hợp của chuỗi như giá bán, cơ cấu chí phí, giá trị gia tăng thuần và việc
phân bổ lợi ích của từng khâu nhằm kiểm soát tốt hơn sự vận hành của chuỗi.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu chung
Phân tích chuỗi giá trị gạo của Tp Cần Thơ thông qua việc phân tích giá bán,
chi phí, lợi nhuận (giá trị gia tăng thuần) trong từng khâu cũng như hiệu quả chung
của các khâu trong chuỗi, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất, lợi thế cạnh tranh, giá trị gia tăng và đặc biệt là nâng cao thu nhập của
người nông dân.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
● Phân tích các yếu tố chi phí đầu vào, giá bán và thu nhập của người trồng
lúa, từ đó giúp chúng ta xác định được đâu là lợi ích của nông dân và giá trị gia tăng
của sản phẩm được tạo ra thế nào trong khâu sản xuất.
● Phân tích doanh thu, cơ cấu chi phí và hiệu quả sản xuất của các tác nhân
còn lại trên chuỗi giá trị gạo (thương lái, nhà chế biến & phân phối, nhà bán lẻ) để so
sánh mức độ giá trị gia tăng được tạo ra, lợi ích của các tác nhân trong chuỗi và hiệu
quả hoạt động của toàn chuỗi.
● Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần kiểm soát tốt hơn về các yếu tố chi phí
đầu vào, giá bán, cải thiện thu nhập cho người trồng lúa để việc sản xuất lúa ngày
một hiệu quả hơn, chất lượng cao hơn và có giá thành cạnh tranh.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
(1). Những vấn đề chính trong chuỗi giá trị gạo là gì? Giá trị tăng thêm của
nhà nông và những tác nhân khác trong chuỗi được phân bố như thế nào?
(2). Cơ cấu giá thành sản xuất lúa gạo của Cần Thơ được tính toán ra sao?
Hiệu quả sản xuất (lợi nhuận) của nhà nông, của thương lái, của nhà chế biến và phân
phối, của nhà bán lẻ hiện nay?
- -2
(3). Các giải pháp nào để góp phần tiết giảm các yếu tố chi phí đầu vào, nâng
cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất, lợi thế cạnh tranh, thu nhập của người trồng
lúa cũng như của toàn chuỗi trong tương lai.
1.5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.5.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Phân tích chuỗi giá trị gạo là một đề tài nghiên cứu khá phức tạp, cần phải
phân tích đầy đủ các nhân tố doanh thu, chi phí và lợi ích của (i) chuỗi giá trị nhà
cung cấp đầu vào, (ii) chuỗi giá trị nhà nông, (iii) chuỗi giá trị thuộc kênh thị trường
và (iv) chuỗi giá trị khách hàng. Tuy nhiên, do gặp những hạn chế nhất định về mặt
thời gian và điều kiện nghiên cứu nên đề tài này chỉ cố gắng tập trung phân tích các
yếu tố Doanh thu, chi phí, lợi ích (giá trị gia tăng thuần) của nhà nông trong mối liên
hệ với thương lái, nhà chế biến và phân phối, nhà bán lẻ.
1.5.2 . Thời gian và địa điểm nghiên cứu
● Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu của đề tài khảo sát dựa trên số liệu của các năm 2005,
2006, 2007 và một phần của năm 2008. Tuy nhiên, do tình hình sản xuất và phân
phối từ năm 2007 trở đi có khoảng cách khá xa so với năm 2005 và 2006 do giá các
yếu tố chi phí đầu vào tăng cao, giá lúa gạo trên thị trường cũng có nhiều biến đổi…
nên đề tài tập trung nghiên cứu ở mốc thời gian cuối năm 2007 và 06 tháng đầu năm
2008. Ngoài ra, đề tài cũng có quan tâm đến một số diễn biến thực tế về tình hình sản
xuất và tiêu thụ lúa gạo gần đây, nên cũng tham khảo thêm số liệu gần nhất của năm
2008 để minh hoạ thêm, nhằm giúp cho đề tài sinh động và phù hợp với thực tế hơn.
Thời gian chuẩn bị và hoàn thành đề tài: 06 (sáu) tháng.
Trong đó:
-Thu thập số liệu sơ cấp: 03 tháng (02 tháng chuẩn bị và thiết kế bảng câu hỏi
và tổ chức phỏng vấn; 01 tháng tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu)
-Thu thập số liệu thứ cấp: 01 tháng
-Hoàn thiện đề tài: 02 tháng
● Địa bàn nghiên cứu
Tp Cần Thơ hiện đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phấn
đấu trở thành đô thị loại I và thành phố công nghiệp trong tương lai nên định hướng
phát triển và vấn đề xác định tỉ trọng cơ cấu kinh tế giữa các địa phương trong thành
phố cũng được xét trên những thế mạnh và tiềm năng của từng địa phương. Bên cạnh
một số quận có ưu thế về lĩnh vực công thương, dịch vụ và đang trên đường đô thị
hóa (như các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng) thì cũng còn một số quận,
huyện ngoại thành vẫn tiếp tục duy trì thế mạnh về nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa.
Để kết quả nghiên cứu phù hợp với thực tế và có tính đại diện cao, nên nơi được chọn
để thực hiện đề tài nghiên cứu là địa bàn các quận, huyện Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt
và Vĩnh Thạnh thuộc Tp Cần Thơ.
Lý do của việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu
- -3
● Xét về điều kiện địa lý thì 04 quận, huyện được chọn làm địa bàn nghiên
cứu có ưu thế về diện tích tự nhiên cũng như diện tích trồng lúa (Ô Môn 12.557 ha,
Cờ Đỏ 40.256 ha, Thốt Nốt 17.110 ha và Vĩnh Thạnh 41.032 ha), cao hơn nhiều so
với các quận, huyện khác của Cần Thơ.
● Những địa phương trên có điều kiện về thổ nhưỡng và điều kiện sản xuất,
canh tác khá tương đồng so với những địa phương khác của Tp Cần Thơ; là những
nơi có thành tích sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh trong nhiều năm qua, đóng
góp đáng kể vào sản lượng gạo phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của
Tp Cần Thơ.
1.5.3. Đối tượng nghiên cứu
● Người trồng lúa (nông dân) trên địa bàn Tp Cần Thơ. Trong đó, nông dân
được chọn để tiến hành khảo sát, lấy mẫu là nông dân đang cư ngụ và sản xuất các
quận, huyện Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.
● Các cơ sở thu mua lúa (thương lái); các doanh nghiệp xay xát, chế biến và
phân phối gạo; các nhà bán lẻ trên địa bàn nghiên cứu.
● Một số các chính sách hiện hành của Nhà nước có liên quan đến việc sản
xuất, chế biến và phân phối lúa gạo.
1.6. Kết quả mong đợi
● Thấy được những nhân tố thuận lợi và khó khăn của người nông dân để làm
ra hạt lúa, đánh giá việc kiểm soát cơ cấu chi phí và hiệu quả sản xuất của nhà nông
trong mối quan hệ với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị.
● Xác định được đâu là lợi ích mà nhà nông được thụ hưởng, lý giải những
nguyên nhân cơ bản vì sao nông nghiệp Việt Nam không ngừng phát triển nhưng
cuộc sống của phần lớn bộ phận nông dân vẫn còn nghèo. Từ đó, cho thấy cần thiết
phải có sự dung hòa lợi ích giữa người trồng lúa (sản xuất) với các hoạt động thương
lái, xay xát chế biến và phân phối, bán lẻ gạo để đảm bảo yếu tố bền vững cho việc
phát triển ngành hàng lúa gạo nói chung và của Tp Cần Thơ nói riêng.
● Nêu ra được những giải pháp tích cực, có tính khả thi nhằm góp phần ổn
định các yếu tố chi phí đầu vào, điều chỉnh hợp lý giá mua lúa cho nông dân, cải
thiện thu nhập cho người trồng lúa, đảm bảo sản xuất lúa có hiệu quả, đạt chất lượng
cao và có giá thành cạnh tranh.
1.7. Đối tượng thụ hưởng
● Các nhà cung ứng các yếu tố chi phí đầu vào cho nông dân
● Người trồng lúa của Tp Cần Thơ và khu vực ĐBSCL
● Thương lái thu mua lúa
● Doanh nghiệp chế biến và phân phối sản phẩm gạo (nội địa và xuất khẩu)
● Các nhà tạo lập chính sách các cấp
1.8. Các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.8.1. Nghiên cứu trong nước
- -4
Hiện nay có khá nhiều đề tài và công trình nghiên cứu có liên quan đến ngành
hàng gạo của ĐBSCL, của Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn những nội dung nghiên
cứu của các đề tài là nhằm mục đích hình thành và phát triển những vùng trồng lúa
cao sản; ứng dụng công nghệ lai tạo nhằm cho ra nhiều giống lúa mới giải quyết vấn
đề năng suất và chất lượng gạo của Việt Nam, nâng tính cạnh tranh trong xuất khẩu
(như nghiên cứu về lúa gạo cao sản, gạo thơm ở Long An, gạo năng suất cao ở An
Giang và Trà Vinh…), chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về chuỗi giá trị gạo, đặc biệt
là chuỗi giá trị gạo tại Tp Cần Thơ.
1.8.2. Nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thời gian qua, Việt Nam luôn được bạn bè quốc tế đánh giá cao về thành
tựu phát triển kinh tế nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. Trước sự kiện Việt
Nam vượt qua Mỹ trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan);
đứng thứ 1 về xuất khẩu hồ tiêu; đứng thứ 2 về xuất khẩu cà phê (sau Brazil)… ngày
càng có nhiều đề tài nghiên cứu quốc tế liên quan đến nông sản Việt Nam, trong đó có
đề tài “Kết nối người nghèo với chuỗi giá trị gạo” của nhóm nghiên cứu thuộc công ty
tư vấn nông phẩm quốc tế (ACI) và một số đề tài khác có liên quan đến lúa gạo do tổ
chức nông lương liên hiệp quốc (FAO) tài trợ như: Nghiên cứu về bộ gien trong cây
lúa và triển vọng của tác giả Nguyễn Văn Tuấn; nghiên cứu tìm hiểu cơ cấu tổ chức
của hệ thống di truyền trong cây lúa của hai nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu
di truyền Bắc Kinh (Beijing genomic institute, viết tắt BGI) và Công ty sinh học
Syngenta (San Diego – Mỹ).
- -5
CHƯƠNG II
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở phương pháp luận
2.1.1. Khái niệm về phân tích chuỗi giá trị
Ý tưởng về chuỗi giá trị hoàn toàn mang tính trực giác. Chuỗi giá trị của một
sản phẩm là hàng loạt những hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm (hoặc một
dịch vụ) bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng, thông qua những giai đoạn sản xuất
khác nhau, cho tới khâu phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ
sau khi đã sử dụng (Kaplinsky 1999, trang 121; Kaplinsky và Morris 2001, trang 4).
● Theo nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện
trong một Công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể
gồm có: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản
xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi… Tất cả những hoạt động
này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi
hoạt động trên chuỗi còn có khả năng bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng.
● Theo nghĩa rộng, chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều
người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương
nhân, người cung cấp dịch vụ…) để biến từ một nguyên liệu thô trải qua các quá trình
sản xuất trở thành một thành phẩm đem bán được và tổ chức đưa nó (phân phối) đến
tận tay người tiêu dùng.
Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ quá trình sản xuất nguyên liệu thô, sau đó chuyển
dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác nhau (trong kinh doanh, lắp ráp,
chế biến…). Đặc biệt, cách tiếp cận theo nghĩa rộng, không xem xét các hoạt động do
một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó phải được xem xét cả các mối liên kết
ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất, được kết nối với người tiêu
dùng cuối cùng.
Khái niệm chuỗi giá trị còn bao hàm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối,
các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong
chuỗi. Việc tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi phải có một phương pháp tiếp
cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những
gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành
và phát triển như thế nào…
Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan
trọng, nhất là đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và
môi trường trong phân tích chuỗi giá trị. Việc thiết lập hoặc hình thành các chuỗi giá
trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, đất đai), có thể làm
thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm. Thêm vào đó, sự phát triển
của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền
thống. Những vấn đề này liên quan nhiều đến các chuỗi giá trị nông nghiệp, vì các
chuỗi giá trị nông nghiệp thường phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tài
nguyên.
- -6
Có nhiều định nghĩa về chuỗi giá trị theo từng cách tiếp cận khác nhau, nhưng
nhìn chung chuỗi giá trị có 03 luồng khái niệm và nghiên cứu chính như sau:
● Phương pháp Filière (chuỗi, mạch)
Phương pháp filière gồm có nhiều trường phái tư duy và truyền thống nghiên
cứu khác nhau. Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông
nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Phân tích
chuỗi, chủ yếu là làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất
nông nghiệp (cao su, bông , cà phê, dừa…) được tổ chức trong bối cảnh của các nước
đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ
thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất
khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng.
Do đó, khái niệm chuỗi (filière) được nhận thức chủ yếu bằng kinh nghiệm
thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định
những người tham gia vào các hoạt động. Tính hợp lý của chuỗi (filière) cũng tương
tự như khái niệm rộng về chuỗi giá trị (đã trình bày ở trên). Tuy nhiên, khái niệm
chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được
tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi.
Phương pháp chuỗi có 02 luồng và có một số điểm chung so với phân tích
chuỗi giá trị:
-Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính (được trình bày trong Duruflé,
Fabre và Yung, 1988 và được sử dụng trong một số dự án phát triển do Pháp tài trợ
trong thập niên 80 & 90) chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi
hàng hóa và phân tách các khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế
nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của
nó vào GDP theo “phương pháp ảnh hưởng” (“Methode des effets”)
-Phân tích có tính chất chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi, được
sử dụng nhiều nhất ở trường Đại học Paris – Nanterre, một số viện nghiên cứu như
CIRAD và INRA, các tổ chức phi chính phủ như IRAM (về phát triển nông nghiệp),
nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở
và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các chiến lược cá nhân và tập thể
cũng như các hình thái qui định mà Hugon (1985) đã xác định là có 04 loại liên quan
đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích gồm qui định trong nước, qui định về
thị trường, qui định của nhà nước và qui định kinh doanh nông nghiệp quốc tế.
Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng
hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu
nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm so với
chiến lược đa dạng hóa.
● Khung phân tích của Porter
Luồng nghiên cứu thứ 2 có liên quan đến công trình của Porter (1985) về các
lợi thế cạnh tranh. Michael Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá
xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan
hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác. Trong đó, ý
tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được ông tóm tắt như sau: Một
- -7
Công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương
đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm
chi phí). Hoặc, làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà
khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)…
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái
niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế
và tiềm năng) của mình. Đặc biệt, Porter còn lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh
tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào Công ty như một tổng thể. Một Công ty cần được
phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong
một (hoặc nhiều hơn) ở các hoạt động đó. Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp,
trực tiếp góp phần tăng thêm cho giá trị sản xuất hàng hoá (dịch vụ) và các hoạt động
hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm.
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý
tưởng về chuyển đổi vật chất. Porter giới thiệu ý tưởng, theo đó tính cạnh tranh của
một công ty không chỉ liên quan đến qui trình sản xuất. Tính cạnh tranh của doanh
nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm,
mua vật tư đầu vào, hậu cần (bên trong & bên ngoài), tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ
hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên
cứu…)
Do vậy trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng
trong kinh doanh. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý,
điều hành đưa ra các quyết định mang tính chiến lược.
Nhà cung ứng
đầu vào
Nhà sản xuất
Nhà chế biến
Người tiêu
dùng
Nhà phân phối
Sơ đồ 01: Mô tả chuỗi cung ứng sản phẩm (M. Porter, 1985)
Channel
Value Chains
Supplier
Value Chains
Customer
Value Chains
Organizations
Value Chain
Sơ đồ 02: Mô tả chuỗi giá trị (M. Porter, 1985)
- -8
● Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Gần đây, khái niệm chuỗi giá trị còn được áp dụng để phân tích vấn đề toàn
cầu hóa (Gereffi and Kozeniewicz 1994; Kaplinsky 1999). Theo đó, các nhà nghiên
cứu dùng khung phân tích chuỗi giá trị để tìm hiểu cách thức mà các Công ty, các
quốc gia hội nhập toàn cầu đánh giá về các yếu tố quyết định liên quan đến việc phân
phối và thu nhập toàn cầu. Phân tích chuỗi giá trị còn giúp làm sáng tỏ việc các Công
ty, quốc gia và vùng lãnh thổ được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào.
Tương tự, theo cách tiếp cận liên kết chuỗi giá trị (ValueLinks) của GTZ
(Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit – Đức) chuỗi giá trị là một
loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp
các giá trị đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi,
marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng. Hay chuỗi giá trị là
một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ
yếu của mình để sản xuất, chế biến, và phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó. Các
doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch sản xuất và kinh doanh,
trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất, sơ chế ban đầu đến tay người tiêu
dùng cuối cùng. Theo thứ tự các chức năng và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao
gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi (hay còn gọi là khâu).
Sơ đồ 03: Sơ đồ chuỗi giá trị (ValueLinks-GTZ, 2007)
Kết hợp với cách tiếp cận ValueLinks của GTZ, ngân hàng Phát Triển Châu Á
còn giới thiệu cuốn sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị với tựa đề “Để chuỗi giá
trị hiệu quả hơn cho người nghèo“ hay “ Nâng cao hiệu quả thị trường cho người
nghèo“ (M4P). Đây là cách tiếp cận rất phù hợp để nghiên cứu các sản phẩm nông
nghiệp, nhất là những sản phẩm có liên quan đến người nghèo.
- -9
2.1.2. Tại sao phải xem xét chuỗi giá trị?
Trong vài năm gần đây, việc phân tích chuỗi giá trị của một sản phẩm, một
ngành hàng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có nhiều lý do để xem xét
chuỗi giá trị nhưng có thể tóm lược một vài lý do sau:
● Phân tích chuỗi giá trị được xem như là công cụ đắc lực giúp cho những nhà
quản trị, người giữ vai trò quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp xác định đâu là những
hoạt động chính của một Công ty, một ngành hàng, và xác định xem mỗi hoạt động
đã góp phần vào chiến lược cạnh tranh cũng như sự phát triển của Công ty, của ngành
hàng như thế nào.
● Phương pháp phân tích chuỗi giá trị là một công cụ mô tả nhằm giúp cho
nhà quản trị kiểm soát được sự tương tác giữa những người tham gia khác nhau trong
chuỗi. Là một công cụ có tính mô tả nên nó có lợi thế ở chỗ buộc người phân tích
phải xem xét cả các khía cạnh vi mô và vĩ mô trong các hoạt động sản xuất và trao
đổi, nhằm chỉ ra được năng lực cạnh tranh của một Công ty, một ngành hàng… có
thể bị ảnh hưởng do tính không hiệu quả ở một khâu nào đó trong chuỗi giá trị.
● Giúp cho nhà quản trị đo lường được hiệu quả chung của sản phẩm, của
ngành hàng và xác định được mức đóng góp cụ thể của từng nhân tố nằm trong chuỗi
để có cơ sở đưa ra những quyết định phù hợp.
● Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối
lợi ích của những người tham gia trong chuỗi, từ đó khuyến khích sự hợp tác giữa các
yếu tố trong chuỗi để việc phân phối lợi ích vươn tới sự công bằng, tạo ra nhiều hơn
giá trị tăng thêm và nâng cao lợi thế cạnh tranh.
● Giúp cho các nhà tạo lập chính sách có nguồn thông tin cần thiết để có
những giải pháp phù hợp và không ngừng hoàn thiện chính sách vĩ mô.
2.1.3. Công cụ phân tích chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị (theo cách tiếp cận của GTZ) gồm ba bước chính:
(1) Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Mục tiêu cơ bản của việc lập sơ đồ chuỗi giá trị:
● Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về sự kết nối giữa các tác
nhân và các qui trình vận hành trong một chuỗi giá trị.
● Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và qui trình kết nối trong
chuỗi giá trị.
● Cung cấp cho các bên có liên quan những hiểu biết ngoài phạm vi tham gia
của riêng họ trong chuỗi giá trị.
Về mặt hình thức, lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể
quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị. Sơ đồ này có nhiệm vụ định dạng
các hoạt động kinh doanh (hoặc chức năng), thứ tự các nhà vận hành chuỗi, những
mối liên kết của họ và các nhà hỗ trợ (nếu có) nằm trong chuỗi giá trị.
- -10
Bước đầu tiên trong việc lập sơ đồ chuỗi là xác định thị trường mà sản phẩm sẽ
phục vụ, nó là nơi đến cuối cùng của sản phẩm và là điểm kết thúc của sơ đồ chuỗi giá
trị.
Trọng tâm của sơ đồ chuỗi giá trị là mô tả qui trình sản xuất, chế biến và phân
phối sản phẩm, hoặc mô tả các hoạt động kinh doanh (chức năng) dưới dạng có thể dễ
dàng nhìn thấy thông qua hướng đi của các mũi tên rỗng (sơ đồ 03).
Mặt khác, sơ đồ cũng có thể mô tả chức năng của các nhóm doanh nghiệp, các
nhà vận hành chuỗi. Trong đó, các nhà vận hành chuỗi được đặt chính xác dưới các
chức năng để chỉ rõ mối quan hệ tương thích giữa các giai đoạn của chuỗi và các
nhóm nhà vận hành chuỗi khác nhau. Tuy nhiên, không phải lúc nào nó cũng đúng với
thực tế, bởi đôi khi các nhà vận hành giống nhau nhưng lại chịu trách nhiệm trong cả
hai, thậm chí trong nhiều hơn hai giai đoạn.
Quá trình xây dựng một sơ đồ chuỗi giá trị tổng thể
(a) Đầu tiên là việc xác định sản phẩm cuối cùng nhằm chỉ ra đâu là sản phẩm hay
dòng sản phẩm mà chuỗi giá trị đang hướng tới.
(b) Xác định thị trường cuối cùng/nhóm khách hàng cuối cùng.
(c) Lập danh sách các hoạt động (chức năng) đang được thực hiện để đưa sản
phẩm cuối cùng ra thị trường. Danh sách các hoạt động/chức năng cần tập hợp để xây
dựng nên một chuỗi bao gồm từ 4 đến không nhiều hơn 7 hoặc 8 đường liên kết chuỗi
(từ giai đoạn cung cấp các yếu tố đầu vào đến hoạt động bán hàng cuối cùng).
(d) Sau khi xác lập chuỗi chức năng, chuỗi/kênh chính sẽ được xây dựng bằng
cách chỉ rõ các nhà vận hành tham gia thực hiện những chức năng này. Nó tạo nên
một tiến trình thực hiện được trình bày theo dạng tuyến tính từ giai đoạn này sang giai
đoạn khác (không có mũi tên rẽ trái hay rẽ phải). Các kênh thứ cấp (nếu có) sẽ được
thiết kế sau đó và cũng phải được dựa trên kênh chính này.
(e) Cần lưu ý rằng sơ đồ chuỗi giá trị chỉ bao gồm các nhà vận hành sẽ trở thành
chủ sở hữu của sản phầm. Nếu họ chuyển giao hoặc ký hợp đồng thầu phụ để các
công ty khác đảm nhiệm những chức năng này thì họ lại trở thành “các nhà cung cấp
dịch vụ vận hành”. Trong trường hợp này, họ có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện
trên sơ đồ.
(f) Nếu các nhà vận hành đảm nhiệm nhiều hơn một chức năng thì chuỗi giá trị sẽ
mô tả cả hai hoặc nhiều hơn hai giai đoạn chức năng mà họ đảm nhiệm.
(g) Trong trường hợp các sản phẩm xuất khấu, đường biên giới được phân đinh rõ
ràng giữa các nhà vận hành nội địa và các nhà vận hành ở nước ngoài (GTZ trang 66,
67).
Những câu hỏi thường được áp dụng trong việc lựa chọn những vấn để đưa vào
sơ đồ:
-Có những qui trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị?
-Ai tham gia vào những qui trình này và họ thực tế làm những gì?
-Có những dòng sản phẩm, thông tin tri thức nào trong chuỗi giá trị?
- -11
-Khối lượng của sản phẩm, số lượng người tham gia, số công việc tạo ra như
thế nào?
-Sản phẩm (dịch vụ) có xuất xứ từ đâu và quá trình dịch chuyển trong chuỗi
như thế nào?
-Giá trị có sự thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi?
-Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?
-Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi giá trị?...
(2) Lượng hóa và mô tả chi tiết chuỗi giá trị
Lượng hóa và mô tả chi tiết chuỗi giá trị là xác định các con số kèm theo sơ đồ
chuỗi giá trị. Đó là những con số cụ thể xác định về các chỉ tiêu chi phí, doanh thu, lợi
nhuận, giá trị tăng thêm của từng phân đoạn trong chuỗi. Tùy theo mục đích tiếp cận
mà việc phân tích chuỗi sẽ tập trung vào những vấn đề nào là chính.
Theo lý thuyết, lượng hóa sơ đồ chuỗi giá trị là một tiến trình tương đối đơn giản,
có nghĩa là thu thập số liệu và bổ sung các con số cần thiết vào các nhân tố của sơ đồ
chuỗi. Tuy nhiên, trong thực tế việc lượng hóa sơ đồ chuỗi giá trị không đơn giản chút
nào, nó phụ thuộc rất nhiều vào mức độ sẵn sàng và độ tin cậy của dữ liệu thứ cấp. Do
đó, để kết quả khảo sát sử dụng được dữ liệu cần được kiểm tra chéo từ nhiều nguồn
khác nhau trước khi đưa ra các quyết định.
Khi lượng hóa được các chỉ tiêu cần thiết trong chuỗi giá trị thì việc mô tả chi tiết
chuỗi giá trị sẽ đầy đủ và sinh động hơn. Lúc này, đi kèm với sơ đồ liên kết là những
con số, những giá trị cụ thể nên giúp cho các nhà quản trị nhìn vào sơ đồ chuỗi cũng
có thể hình dung và kiểm soát được quá trình vận hành, phát triển của chuỗi như thế
nào.
(3) Phân tích kinh tế chuỗi giá trị
Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị là phân tích các mối quan hệ giữa các tác
nhân tham gia trong chuỗi dưới góc độ kinh tế nhằm đánh giá năng lực, hiệu suất vận
hành của chuỗi. Nó bao gồm việc xác định sản lượng, chi phí, giá bán, lợi nhuận và
giá trị gia tăng của các nhà vận hành tại các giai đoạn trong chuỗi và đưa ra nhận xét
phù hợp. Các thông tin phân tích kinh tế của chuỗi giá trị là một yếu tố “đầu vào”
quan trọng của tiến trình quyết định các mục tiêu phát triển và chiến lược nâng cấp.
Trong đó, việc kiểm soát các chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng nhất để khẳng định
năng lực cạnh tranh.
Phân tích kinh tế chuỗi giá trị bao gồm:
-Phân tích tình hình chi phí, cấu trúc chi phí tại mỗi giai đoạn khác nhau trong
chuỗi.
-Phân tích giá trị đạt được của từng nhân tố tham gia vận hành trong chuỗi giá
trị.
-Phân tích toàn bộ giá trị tăng thêm được tạo ra trên toàn chuỗi giá trị và tỷ
trọng của giá trị tăng thêm tại các giai đoạn khác nhau trong chuỗi.
- -12
-Phân tích năng lực của các nhà vận hành chuỗi (về qui mô, năng lực sản xuất,
lợi nhuận…).
(4) Tính giá trị tăng thêm
Giá trị tăng thêm được hiểu theo nghĩa rộng là cách đo lường mức độ thịnh
vượng đã được tạo ra trong nền kinh tế. Theo định nghĩa được sử dụng trong hệ thống
kế toán quốc gia thì tổng giá trị gia tăng bằng với tổng giá trị thuần của tất cả các dịch
vụ và sản phẩm được sản xuất ra trong nền kinh tế phục vụ cho tiêu dùng và đầu tư
(tổng sản phẩm quốc nội GDP), sau lạm phát. Để tính được giá trị tăng thêm trong
một chuỗi giá trị cụ thể thì các khoản yếu tố chi phí đầu vào (nguyên vật liệu, các dịch
vụ được cung cấp…) phải được khấu trừ qua giá bán hay doanh thu của từng tác nhân
trong chuỗi.
Trong thực tế, để việc tính toán giá trị tăng thêm có độ chính xác cao, đảm bảo
được ý nghĩa của nó thật không đơn giản chút nào bởi tính minh bạch của số liệu. Đa
phần các tác nhân tham gia vận hành chuỗi thường xem chi phí sản xuất và lợi nhuận
của sản phẩm, của doanh nghiệp là “bí mật công nghệ” rất khó để các nhà nghiên cứu
tiếp cận. Trong khi đó, việc tính toán giá trị tăng thêm phải gắn liền với chi phí sản
xuất và lợi nhuận.
Thí dụ: Xét giá trị gia tăng/01 tấn lúa (qui đổi thành 625 kg gạo) của Công ty A
trên 02 tác nhân liền kề của chuỗi giá trị (thương lái => doanh nghiệp xuất khẩu)
-Giá trị đạt được của thương lái (giá bán cho DN xuất khẩu):
1.000 kg x 5.000/kg = 5.000.000 đ
-Giá trị đạt được của doanh nghiệp A (giá xuất khẩu):
01tấn lúa sau khi xay xát, chế biến cho ra 625 kg gạo. Thông thường hệ số lúa
qui gạo là 1,6 (tức 1,6 kg lúa sẽ cho ra 01 kg gạo trắng).
600 USD/tấn x tỷ giá 16.700 đ/USD x 0,625 = 6.262.500 đ
-Giá trị tăng thêm/01 kg gạo sẽ là: (6.262.500 đ - 5.000.000 đ)/625 kg = 2.020
đ/kg (số tuyệt đối)
-Tỉ lệ giá trị tăng thêm: 125,25% (số tương đối)
Trên thực tế, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải bỏ ra một số khoản chi phí trong
quá trình tiếp nhận lúa của thương lái cho đến khi xuất được gạo cho nhà nhập khẩu
theo giá FOB qua mạn tàu (chi phí bốc vác, vận chuyển, hao hụt, vô bao, thuế, phí…)
gọi là chi phí gia tăng. Giá trị gia tăng sẽ không còn ý nghĩa nếu như kết quả kinh
doanh cuối cùng của doanh nghiệp A bị lỗ. Hay nói khác hơn là chi phí gia tăng > giá
trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra, dẫn đến lợi nhuận (hay giá trị gia tăng thuần)
bằng 0 hoặc một số âm.
Những trường hợp như vậy thường rơi và những lý do sau:
-Doanh nghiệp không minh bạch về số liệu, che giấu lợi nhuận.
-Doanh nghiệp thật sự không kiểm soát tốt chi phí giá trị gia tăng.
-Năng lực vận hành hạn chế, khả năng chế biến hoặc phân phối kém, không đạt
sản lượng cần thiết.
- -13
-Có thể xác định giá bán chưa phù hợp.
-Những vấn đề khác liên quan đến chính sách, kỹ thuật tính toán…
Do không có điều kiện nghiên cứu chiều sâu và không tiếp cận được nguồn dữ
liệu chính thức nên trong phạm vi đề tài này, tác giả phân tích và tính toán giá trị gia
tăng theo phương pháp đơn giản, dựa trên bộ số liệu thu thập được trong quá trình
điều tra, khảo sát.
Giá trị gia tăng = Đơn giá mua – Đơn giá bán = Lãi gộp, lợi nhuận biên
Giá trị gia tăng thuần = Giá trị gia tăng – chi phí gia tăng = Lợi nhuận
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài được lựa chọn và áp dụng theo từng mục
tiêu cụ thể đã đề ra như sau:
● Mục tiêu cụ thể 1
Dùng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp số tương đối, số
tuyệt đối phân tích về các yếu tố chi phí đầu vào, giá bán và lợi nhuận thu được của
người trồng lúa trên chuỗi giá trị.
● Mục tiêu cụ thể 2
Dùng phương pháp số tuyệt đối, số tương đối, phương pháp Cross-tab kết hợp
với thống kê mô tả để phân tích, so sánh cơ cấu chi phí, hiệu quả sản xuất và giá trị
tăng thêm của các tác nhân khác trong chuỗi. Sử dụng mô hình liên kết giữa chuỗi
giá trị và giá trị tăng thêm để khảo sát qui trình sản xuất gạo của Tp Cần Thơ trên
chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị.
● Mục tiêu cụ thể 3
Dùng phương pháp phân tích gaps (các lỗ hỏng) từ kết quả của các phân tích
trên để nhận diện những vấn đề còn hạn chế, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm
góp phần cải thiện, giúp cho sự vận hành của chuỗi giá trị gạo Cần Thơ ngày càng ổn
định, mang lại hiệu quả cao.
Ngoài ra, đề tài cũng vận dụng thêm một số phương pháp phân tích lồng ghép
như:
Phân tích mô hình 05 lực lượng cạnh tranh của M. Poter
- Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành
- Sức mạnh thương lượng của người mua
- Sức mạnh thương lượng của người bán
- Nguy cơ của sản phẩm thay thế
- Nguy cơ đe doạ từ các đối thủ mới nhập cuộc
Phân tích SWOT
- Phân tích điểm mạnh
- Phân tích điểm yếu
- -14
- Phân tích cơ hội
- Nhận diện thách thức và đối thủ cạnh tranh
Phân tích về lợi thế so sánh
- Lợi thế so sánh chủ yếu đề cập đến ưu thế do điều kiện tự nhiên mang lại (tài
nguyên, lao động rẻ…).
- Có được lợi thế so sánh là có được ưu thế ban đầu hơn người nhưng không
chắc sẽ có sự giàu có, nhất là giàu có lâu dài.
- Lợi thế so sánh liên quan đến cơ chế giá cả và sự so sánh giữa chi phí với giá
cả.
- Lợi thế so sánh là “yếu tố tĩnh”, đề cập đến các yếu tố đầu vào, các nhân tố
sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên…). Có được lợi thế so sánh là điều kiện thuận lợi
nhưng không phải là tiên quyết để tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Phân tích về lợi thế cạnh tranh
- Là sự sáng tạo, độc đáo trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng.
- Lợi thế cạnh tranh là “yếu tố động” liên quan đến thể chế, môi trường để
thúc đẩy thương mại và thu hút đầu tư.
- Lợi thế cạnh tranh là yếu tố quyết định sự thành công của các quốc gia trong
bối cảnh cạnh tranh và hội nhập.
2.3. Thu thập dữ liệu
Bộ số liệu được chuẩn bị phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài gồm có như sau:
● Số liệu thứ cấp
Thu thập từ các nguồn sau:
- Báo cáo thống kê (2005-2007) của các Phòng nông nghiệp và phát triển nông
thôn của các quận, huyện Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt Vĩnh Thạnh thuộc Tp Cần Thơ
- Báo cáo 2007 và 06 tháng đầu năm 2008 của Sở Nông nghiệp & phát triển
nông thôn Tp Cần Thơ
- Niên giám của Tp Cần Thơ từ năm 2005 – 2007 lưu trữ tại Cục thống kê Tp
cần Thơ.
- Tài liệu, hội thảo, công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển
ĐBSCL (Đại học Cần Thơ).
- Tài liệu tham khảo của Trung tâm học liệu trường ĐHCT.
- Một số trang Web có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp trên mạng
internet…
● Số liệu sơ cấp
Thu thập thông qua việc tổ chức khảo sát trên địa bàn nghiên cứu của 04 quận,
huyện Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh theo phương thức điều tra chọn mẫu,
phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp các đối tượng nghiên cứu (nông dân; thương lái;
- -15
Doanh nghiệp xay xát chế biến & phân phối gạo, người bán lẻ) thông qua bảng câu
hỏi cấu trúc và bán cấu trúc phù hợp với từng đối tượng.
Cỡ mẫu phỏng vấn dành cho từng đối tượng tiến hành như sau:
- Đối tượng nông dân: Chọn khảo sát 108 mẫu (phân bổ theo diện tích tự
nhiên) tại 04 nơi Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.
- Đối tượng thương lái: Tiến hành khảo sát 08 mẫu tại 04 nơi Ô Môn, Cờ Đỏ,
Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh (bình quân mỗi nơi 02 mẫu).
- Đối tượng bán lẻ nội địa: Chọn khảo sát 08 mẫu (bình quân mỗi nơi 02 mẫu).
- Đối tượng doanh nghiệp xuất khẩu: Tiến hành khảo sát được 04 doanh
nghiệp kinh doanh lương thực (có hoạt động xuất khẩu gạo) đóng trên 02 huyện Cờ
Đỏ và Thốt Nốt (đối tượng này không khảo sát được nhiều vì những lý do khác nhau
rất khó tiếp cận).
- -16
CHƯƠNG III
MÔ TẢ VÙNG NGHIÊN CỨU
VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO
CỦA CẦN THƠ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
3.1. Mô tả vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là địa bàn Tp Cần Thơ, gồm các quận,
huyện Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh. Tuy nhiên, đề tài cũng có nói đến
một vài đặc điểm của các địa phương khác thuộc ĐBSCL nhằm mục đích so sánh,
trích dẫn.
Khái quát về đặc điểm sinh thái, tự nhiên, văn hóa, kinh tế, tập quán sản
xuất lúa của Cần Thơ
3.1.1. Đặc điểm sinh thái
Cần Thơ là vùng đất thuộc châu thổ Sông Mekong, do phù sa Sông Hậu bồi
đắp. Cần Thơ có địa hình tương đối thấp, bằng phẳng, có hệ thống kênh rạch chằng
chịt và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều:
- Lượng mưa trung bình 1.747 mm/năm
- Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt (mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04; mùa mưa từ
tháng 05 đến tháng 11)
- Nhiệt độ trung bình 27oC
- Độ ẩm trung bình 83%
- Nước ngọt quanh năm… nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là nghề trồng lúa nước.
3.1.2. Đặc điểm tự nhiên
● Cần Thơ là một thành phố trẻ, hình thành và phát triển cách đây khoảng 120
năm. Trải qua chặng đường dài phát triển, ngày nay Cần Thơ đã trở thành thành phố
trực thuộc TW (từ năm 2004) và đang gánh vác trên mình trọng trách là thành phố
trung tâm, cửa ngõ quan trọng của vùng hạ lưu sông Mekong. Hiện nay, Tp Cần Thơ
có 08 đơn vị hành chính gồm: 04 quận nội thành (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng
và Ô Môn) và 04 huyện ngoại thành (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh).
Cần Thơ có diện tích tự nhiên 138.959 ha. Trong đó, quận Ninh Kiều 2.922 ha; quận
Bình Thủy 6.878 ha; quận Cái Răng 6.253 ha; quận Ô Môn 12.557 ha; huyện Phong
Điền 11.948 ha; huyện Cờ Đỏ 40.256 ha; huyện Thốt Nốt 17.110 ha và huyện Vĩnh
Thạnh 41.035 ha. Với 84% diện tích nói trên là đất nông nghiệp, nên Cần Thơ cũng
có được những lợi thế nhất định về tài nguyên (đất đai, nguồn nước) là yếu tố không
kém phần quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp của Cần Thơ.
● Các hướng kế cận của Cần Thơ: Cần Thơ nằm cách biển Đông 60 km về
phía Tây Bắc, cách Vịnh Thái Lan 40 km về phía Đông. Phía Bắc Cần Thơ giáp An
Giang; phía Nam giáp 03 tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang và Bạc Liêu; phía Tây giáp
Kiên Giang, Bạc Liêu; phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp. Đặc biệt, 04 địa
điểm được chọn làm nơi khảo sát thực hiện đề tài là Ô Môn, Cờ Đỏ, Thốt Nốt và
- -17
Vĩnh Thạnh là những địa bàn trọng điểm về nông nghiệp của Cần Thơ, có hướng tiếp
cận với vùng Tứ giác Long Xuyên được mệnh danh là cái rốn của vựa lúa Miền Tây,
nên với đặc điểm tự nhiên này, Cần Thơ đã có được những lợi thế nhất định để trở
thành vị trí quan trọng của khu vực ĐBSCL và xứng đáng với tên gọi Tây Đô.
● Về dân số, Cần Thơ có khoảng 1,112 triệu người, mật độ dân số 819
người/km2. Trong đó: nam 550.334 người, nữ 570.807 người, khu vực thành thị:
559.040 người, khu vực nông thôn: 562.101 người. Trong số này có khoảng có
696.000 người trong độ tuổi lao động (đang làm việc trong các ngành kinh tế 484.872
người, nguồn dự trữ 211.176 người…). Đây cũng là nguồn lao động dồi dào, giúp
Cần Thơ có những điều kiện cần thiết trong phát triển kinh tế nói chung và nông
nghiệp nói riêng, đồng thời tạo ra được lợi thế so sánh cho hạt gạo Cần Thơ so với
khu vực ĐBSCL và một số nước như Mỹ, Thái Lan.
3.1.3. Đặc điểm văn hóa
● Cần Thơ là vùng đất cực nam được khai phá sau thời kỳ Trịnh - Nguyễn
phân tranh nên phần lớn chịu sự ảnh hưởng của văn hóa phương Đông. Cần Thơ vốn
là đất cũ của của An Giang thời Lục Tỉnh của nhà Nguyễn. Khi người Pháp chiếm
Miền Tây Nam Kỳ (1867) thì tỉnh An Giang bị cắt thành 6 tỉnh nhỏ: Châu Đốc, Long
Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Tuy nhiên, cũng có nhiều bằng
chứng cho thấy rằng cách đây hàng ngàn năm đã có một nền văn hóa cổ hiện diện
trên vùng đất này, đó là nền văn hóa Óc Eo.
● Cư dân Cần Thơ gồm có 03 dân tộc chính là Kinh, Hoa và Khmer. Về tôn
giáo, phần lớn theo đạo Phật và thờ cúng Tổ tiên. Tuy nhiên, trong thời gian giặc
Pháp xâm chiếm và khai thác tài nguyên trên vùng đất Lục Tỉnh Nam Kỳ, Cần Thơ
cũng chịu ảnh hưởng một ít bởi nền văn hóa phương Tây. Dấu ấn đó ngày nay vẫn
còn được lưu giữ thể hiện qua các công trình kiến trúc và sự phát triển của một số tôn
giáo như Thiên Chúa, Tin Lành.
Với đặc điểm văn hóa trên, chứng tỏ rằng từ rất lâu trong đời sống cộng đồng
của cư dân Cần Thơ đã có sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Mỗi dân tộc đều có
những đặc điểm và bản sắc văn hóa riêng nhưng có một điểm chung là đã gắn bó với
nhau bằng nghề nông từ những ngày đầu khẩn hoang, mở đất và chọn cây lúa nước
làm cây lương thực chính để nuôi sống con người.
3.1.4. Đặc điểm kinh tế
● Là một Tỉnh Miền Tây, nằm trên vựa lúa lớn nhất cả nước nên thế mạnh
của Cần Thơ vẫn là nông nghiệp. Cần Thơ có 116.992 ha là đất nông nghiệp, chiếm
84% diện tích đất tự nhiên. Hàng năm, Cần Thơ làm ra gần 1,2 triệu tấn lúa. Năng
suất bình quân 5,34 tấn/ha.
● Cơ cấu kinh tế chủ yếu của Cần Thơ hiện nay là nông nghiệp, công nghiệp
và dịch vụ. Năm 2005, ngành nông nghiệp Cần Thơ chiếm tỉ trọng 17,4% trong cơ
cấu kinh tế. Đến cuối năm 2007, thành phố Cần Thơ đã giảm tỉ trọng cơ cấu nông
nghiệp xuống còn 15,2% nhưng đảm bảo mức đóng góp giá trị GDP vẫn tăng ổn định
hằng năm. Điều này, đồng nghĩa với việc trong tương lai Cần Thơ có thể từng bước
bị thu hẹp dần diện tích sản xuất nông nghiệp nhưng phải đảm bảo không làm ảnh
hưởng đến các mục tiêu chung như vấn đề an ninh lương thực, mức đóng góp
- -18
GDP… Hay nói cách khác, Tp Cần Thơ phải có lời giải phù hợp về bài toán năng
suất và chất lượng gạo do mình làm ra.
● Sau nhiều năm trưởng thành và phát triển, ngày nay Cần Thơ là một thành
phố đồng bằng đầy năng động, có nhiều tiềm năng về công nghiệp, nông nghiệp và
phát triển các loại hình dịch vụ. Cần Thơ hiện có hai khu công nghiệp lớn là KCN
Trà Nóc (300 ha) và KCN Hưng Phú (975 ha), có sân bay, có cảng biển, có hệ thống
giao thông thủy bộ khá thuận lợi và sắp tới sẽ có cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu…
Đây chính là những điều kiện hạ tầng quan trọng góp phần giúp Cần Thơ thu hút vốn
đầu tư và trở thành một thành phố công nghiệp trong tương lai.
3.1.5. Đặc điểm tập quán
Phong tục tập quán của người dân Cần Thơ nói riêng và khu vực ĐBSCL nói
chung chịu sự ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước. Bên cạnh sự phát triển của
khoa học kỹ thuật vẫn còn tồn tại yếu tố tâm linh trong đời sống cộng đồng. Là nơi có
sự hội tụ giữa các nền tôn giáo phương Bắc và phương Tây nên ngoài các hoạt động
tín ngưỡng diễn ra trong các chùa chiền, nhà thờ… người dân còn duy trì các tập tục
thờ cúng các vị Thần như: Thần Nông, Thần Tài, Thần Táo, Thần Đất cũng như các
vị Thần thờ trong các ngôi Đình ở các làng xã mà tục truyền là được sắc phong của
Vua vì đã có công với dân, với Nước. Tập quán này cũng góp phần tạo nên nét riêng
cho nông nghiệp ĐBSCL, đồng hành cùng người nông dân qua nhiều bước thăng
trầm của lịch sử để chống chọi với lũ lụt, thiên tai làm ra hạt gạo nuôi sống con
người.
3.2. Tình hình sản xuất lúa của Cần Thơ qua các năm (2005 -2007)
3.2.1. Tình hình sản xuất lúa của ĐBSCL qua các năm (2001-2006)
Bảng 01: Diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: 1.000 ha
Số
TT
Năm
Tỉnh/Thành phố
Đồng bằng sông Cửu Long
2001
2002
2003
2004
2005
2006
3,792.0
3,834.8
3,787.3
3,815.7
3,826.3
3,773.4
1
Long An
440.9
433.3
424.1
433.4
429.2
433.2
2
Đồng Tháp
408.3
426.4
436.5
453.0
467.7
453.9
3
An Giang
459.1
477.2
503.9
523.0
529.7
503.4
4
Tiền Giang
276.1
265.0
260.8
259.4
251.9
247.7
5
Vĩnh Long
216.3
209.8
207.0
208.1
203.1
196.5
6
Bến Tre
100.8
99.6
95.5
90.5
83.5
81.9
7
Kiên Giang
550.6
575.9
563.0
570.3
595.8
595.1
8
Cần Thơ
441.1
456.6
453.4
229.9
231.9
222.8
9
Hậu Giang
228.4
228.4
227.1
10
Trà Vinh
240.4
235.8
236.2
235.6
232.5
228.1
11
Sóc Trăng
348.8
354.9
349.6
315.2
321.6
324.5
- -19
12
Bạc Liêu
178.1
169.8
150.4
137.3
141.3
145.3
13
Cà Mau
131.5
130.5
107.0
131.6
109.7
113.9
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL, 2007
Ghi chú: Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Cần Thơ là số chung của Cần Thơ và Hậu Giang
Bảng 02: Diện tích lúa Hè Thu của ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: 1.000 ha
Số
TT
Tỉnh/Thành phố
Đồng bằng sông Cửu Long
2001
2002
1.811,5
1.900,9
Năm
2003
2004
1.910,4
2005
1.957,8
2006
1.974
1.909,7
Long An
155,3
166,2
168,6
181,5
174,8
1
Đồng Tháp
202,3
221,9
233,4
250,5
264,4
2
An Giang
225,9
246,6
275,1
294,0
298,1
3
Tiền
Giang
179,6
174,6
171,7
171,3
166,2
4
Vĩnh Long
137,9
133,0
131,9
134,8
132,2
5
Bến Tre
30,0
28,8
27,3
26,5
24,0
6
Kiên Giang
268,3
293,3
277,0
286,4
299,8
7
Cần Thơ
259,2
275,7
275,8
136,0
138,5
8
Hậu Giang
143,5
143,0
9
Trà Vinh
87,6
84,9
86,6
86,7
83,8
10
Sóc Trăng
159,6
165,9
170,7
154,2
154,0
11
Bạc Liêu
72,9
72,7
58,3
56,6
58,6
12
Cà Mau
32,9
37,3
34,1
35,8
36,2
13
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL, 2007
Ghi chú: Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Cần Thơ là số chung của Cần Thơ và Hậu Giang
183,2
248,4
265,0
163,8
126,8
25,4
293,8
129,8
142,9
82,8
160,9
50,6
36,1
Bảng 03: Diện tích lúa Đông Xuân của ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: 1.000 ha
Số
TT
Năm
Tỉnh/Thành phố
Đồng bằng sông Cửu Long
2001
2002
2003
2004
2005
2006
1,537.6
261.4
206.0
221.7
94.2
75.9
23.8
249.7
181.9
1,513.7
244.6
204.5
218.8
90.4
74.5
24.9
254.3
180.9
1,498.9
233.4
203.1
220.5
89.0
72.7
23.6
266.6
177.6
1,467.1
230.2
202.5
220.3
88.1
71.5
22.5
250.8
93.9
84.9
53.9
136.5
11.3
0.7
1,478.8
235.5
203.3
223.3
85.7
70.9
21.8
250.8
93.4
85.4
53.7
136.0
18.6
0.4
1,500.3
234.5
205.6
231.1
83.9
69.7
20.7
256.7
93.0
84.2
52.8
139.7
28.0
0.4
1
Long An
2
Đồng Tháp
3
An Giang
4
Tiền Giang
5
Vĩnh Long
6
Bến Tre
7
Kiên Giang
8
Cần Thơ
9
Hậu Giang
10
Trà Vinh
54.3
55.0
53.6
11
Sóc Trăng
134.6
140.6
138.6
12
Bạc Liêu
25.7
19.0
19.2
13
Cà Mau
8.4
6.2
0.9
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL, 2007
Ghi chú: Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Cần Thơ là số chung của Cần Thơ và Hậu Giang
- -20
Bảng 04: Năng suất lúa của ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: tạ/ha
Năm
Tỉnh/Thành phố
Số TT
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Cả nước
42.9
45.9
46.4
48.6
36.0
48.9
Miền Bắc
46.4
49.0
49.0
51.4
31.4
52.1
Đồng bằng sông Cửu Long
42.2
46.2
46.3
48.7
54.2
48.2
1
Long An
36.9
40.1
41.8
43.9
45.3
40.8
2
Đồng Tháp
48.1
51.1
50.7
53.4
65.0
53.0
3
An Giang
46.0
54.4
53.3
57.5
78.0
57.3
4
Tiền Giang
46.6
48.5
48.6
50.7
31.8
49.0
5
Vĩnh Long
42.1
45.9
45.2
46.3
20.0
47.7
6
Bến Tre
37.7
39.4
39.9
40.7
32.2
40.6
7
Kiên Giang
39.7
44.8
44.2
48.0
46.4
46.1
8
Cần Thơ
44.3
48.5
47.3
52.0
50.0
51.8
9
Hậu Giang
47.1
43.3
46.8
10
Trà Vinh
37.5
42.7
44.3
43.9
44.4
44.3
11
Sóc Trăng
43.7
46.3
46.1
48.4
33.9
49.3
12
Bạc Liêu
40.8
40.9
41.7
44.7
42.0
46.6
31.8
32.2
33.0
30.7
30.0
35.2
Cà Mau
13
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL, 2007
Bảng 5: Năng suất lúa Đông Xuân ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: tạ/ha
Số
TT
Năm
Tỉnh/Thành phố
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Cả nước
50.6
55.1
55.7
57.3
58.9
58.7
Đồng bằng sông Cửu Long
50.4
57.0
56.6
58.7
61.4
60.0
1
Long An
43.5
48.7
50.2
50.5
53.3
51.0
2
Đồng Tháp
60.0
63.5
63.1
63.8
67.0
65.4
3
An Giang
55.6
65.4
64.1
65.2
69.3
68.1
- -21
4
Tiền Giang
57.2
61.3
58.7
60.0
61.6
59.8
5
Vĩnh Long
53.1
59.6
58.0
59.1
61.7
61.0
6
Bến Tre
46.3
46.7
48.5
50.8
44.2
50.2
7
Kiên Giang
45.0
53.0
52.6
56.8
59.9
59.5
8
Cần Thơ
56.0
63.6
61.1
68.0
69.7
66.9
9
Hậu Giang
61.3
63.9
62.1
10
Trà Vinh
39.9
51.6
53.1
53.2
56.0
51.2
11
Sóc Trăng
44.7
50.5
51.1
52.4
55.3
53.8
12
Bạc Liêu
40.6
44.2
40.9
54.4
50.8
56.1
13
Cà Mau
39.6
24.0
32.4
38.6
35.0
38.1
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL, 2007
Bảng 06: Năng suất lúa Hè Thu ĐBSCL qua các năm
Đơn vị: tạ/ha
Số
TT
Năm
Tỉnh/Thành phố
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Cả nước
37.7
40.1
40.5
44.1
44.3
41.8
Miền Bắc
40.2
41.5
41.6
45.6
42.3
45.0
Đồng bằng sông Cửu Long
37.2
40.2
40.1
43.8
44.5
40.9
1
Long An
28.0
29.9
32.3
37.5
35.6
29.1
2
Đồng Tháp
36.0
39.7
40.0
45.1
46.7
42.8
3
An Giang
37.6
46.2
45.5
52.6
52.2
48.7
4
Tiền Giang
41.3
41.9
43.4
45.9
46.7
43.5
5
Vĩnh Long
36.1
38.3
38.2
39.5
40.7
40.4
6
Bến Tre
37.9
38.2
37.1
39.0
37.6
34.0
7
Kiên Giang
36.4
39.6
37.2
41.9
42.8
36.8
8
Cần Thơ
36.1
38.6
38.3
40.9
42.1
40.9
9
Hậu Giang
38.7
39.4
37.8
10
Trà Vinh
37.3
40.7
41.9
41.7
40.9
41.3
11
Sóc Trăng
44.2
45.3
44.3
46.8
49.5
46.9
12
Bạc Liêu
42.7
44.3
44.5
46.3
47.3
44.2
Cà Mau
13
Nguồn: Viện lúa ĐBSCL 2007
35.4
37.2
35.0
38.5
41.6
36.6
- -22
3.2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Cần Thơ (2005-2007)
Bảng số 07: Tình hình sản xuất lúa của Cần Thơ (2005-2007)
Số TT
Chỉ tiêu
01
Diện tích (ha)
02
Năng suất (tấn/ha)
03
Sản lượng (tấn)
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
229.971
222.795
207.876
5,0
5,18
5,44
1.237.000
1.156.065
1.131.566
3.2.3. Nhận xét, đánh giá
● Về diện tích
Biểu đồ số 01: Diện tích trồng lúa của Tp Cần Thơ (2005-2007)
Trong 02 năm 2006 và 2007 diện tích trồng lúa của Cần Thơ đã giảm 22.095
ha (9.61%) so với năm 2005. Giải thích cho vấn đề này, có một số lý do cần lưu ý như
sau:
-Thời điểm 2005-2006 giá lúa trên thị trường rất thấp (lúa thường 2.600 -2.700
đ/kg; lúa Jasmine 3.100-3.200 đ/kg) trong khi đó nông dân luôn phải đối mặt với
nhiều rủi ro hạn hán, rầy nâu, dịch bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá… nên một số hộ thực
hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích hoa
màu.
-Sau đợt dịch hại năm 2006, ngành nông nghiệp Cần Thơ đã khuyến cáo bà con
nông dân không nên sản xuất vụ 3 vì hiệu quả sản xuất của vụ này không cao, cần có
thời gian cho “đất nghỉ” để phục hồi độ mầu mỡ của đất… nên có nhiều nơi trong Tp
Cần Thơ không sản xuất vụ 3 mà chuyển sang xen canh trồng màu (mè, bắp lai, dưa
hấu…) hoặc nuôi trồng thủy sản (tôm càng xanh, cá lóc, cá tra…).
-Để đạt được mục tiêu Tp Cần Thơ sẽ trở thành thành phố công nghiệp vào
năm 2020, nên Tp Cần Thơ ngoài việc củng cố mở rộng các khu công nghiệp hiện có
(Trà Nóc 1, Trà Nóc 2, Hưng Phú) còn phát triển một số khu công nghiệp, đô thị mới
- -23
như: khu đô thị cảng – công nghiệp Cái Răng, khu công nghiệp Bình Thủy, khu đô thị
- công nghệ Ô Môn, khu đô thị - dịch vụ Thốt Nốt, khu đô thị - sinh thái Phong
Điền… Trên thực tế, những dự án, qui hoạch này có góp phần làm giảm quỹ đất nông
nghiệp của Tp Cần Thơ, nhưng Cần Thơ cũng xác định đó chính là chi phí cơ hội
nhằm giúp Cần Thơ phát triển và vươn lên sau này.
● Về năng suất bình quân
Năm 2006 là năm Tp Cần Thơ bị dịch hại nặng nề trên cả 03 trà lúa Đông
Xuân, Hè Thu và Thu Đông bởi bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá nên năng suất bình quân
giảm so với năm 2005 là 0.19 tấn/ha (3.53%). Nhìn chung, năng suất b/q thực tế có
giảm, nhưng đây là sự cố gắng rất lớn của ngành nông nghiệp Cần Thơ cùng với sự
đóng góp của khoa nông nghiệp (trường Đại học Cần Thơ) và Viện lúa ĐBSCL đã ra
sức cùng với nông dân dập dịch, hạn chế tổn thất do dịch hại ở mức thấp nhất.
Biểu đồ số 02: Năng suất lúa b/q của Tp Cần Thơ (2005-2007)
Bước săm 2007, do rút ra được những bài học quý báu từ năm 2006 nên Tp
Cần Thơ đã có kinh nghiệm trong việc chủ động phòng tránh (gieo sạ đồng loạt, đúng
thời vụ, dùng giống kháng, hạn chế canh tác vụ 3…) nên năng suất có cải thiện đáng
kể, tăng 0.25tấn/ha (4,82%).
● Về sản lượng
- -24
Biểu đồ số 03: Tình hình sản lượng lúa của Tp Cần Thơ (2005-2007)
Năm 2005 là năm Cần Thơ đạt sản lượng cao nhất từ trước đến nay (1,237 triệu
tấn). Tuy nhiên, bước sang năm 2006, do diện tích canh tác giảm 3.1%, năng suất bình
quân cũng giảm 3.53% nên sản lượng chung giảm 80.935 tấn (6.54%). Năm 2007 tình
hình có khá hơn, mặc dù diện tích giảm 6,7% nhưng nhờ áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào đồng ruộng nên năng suất bình quân tăng 4.82% và sản lượng chung
chỉ giảm 24.499 tấn (2.12%).
- -25