Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI DÂN TỘC MƯỜNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.83 MB, 18 trang )

Hòa Bình từ lâu đời la địa danh nổi tiếng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Tiêu biểu
cho quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Trên vùng đất lịch sử nay,các dân tộc anh
em đã cùng đoan kết gắn bó,xây dựng va bảo vệ quê hương va tạo nên những bản sắc
riêng của cư dân Hòa Bình.
I-Đôi nét về dân tộc Mường.

Người Mường la dân tộc bản địa cư trú rất lâu tại vùng Hòa Bình.Dân tộc Mường sống
hai hòa với thiên nhiên va bảo lưu khá toan vẹn những nét văn hóa đặc trưng cuả người m
Mường như duy trì nha san va những nét sinh hoạt dân gian. Người mường tự gọi mình la
mol va có tên gọi khác la Mual,Moi.Autá, Aota.Ngôn ngữ của người Mường thuộc ngôn
ngữ Viêt-Mường va cư trú nhiều nhất ở vùng Hòa Bình,còn lại sống rải rác ở Thanh
Hóa,Phú Thọ,Sơn La...Lịch sử hình thanh có cùng nguồn ngốc vơi người Việt,cư trú lâu
đời ở miền nùi va trung du,người Mường cư trú lâu đời tại Hòa Bình.
Văn hóa: Dân tộc Mường sống hai hòa với thiên nhiên va bảo lưu khá toan vẹn
nhưng nét văn hóa dân gian. Kho tang văn nghệ dân gian của người mường khá phong
phú các thể loại như thơ dai.mo, truyện cổ tích.Ngoai ra còn có hát ru em,bọ meng,nổi
bật nhất la tập sử thi Đẻ đất đẻ nước.
Hoạt động:Người Mường sống định canh định cư miền núi,nơi có nhiều đất sản
xuất,gần đường giao thông thuận lợi cho việc lam ăn.Người Mường trồng lúa nước từ lâu
đời,lúa nước la cây lương thực chủ yếu,ngoai ra người Mường còn khai thác thiên nhiên
lâm thổ sản phục vụ thêm cho nhu cầu cuộc sống. Đây la đôi nét giới thiệu về người
Mường,sau đây xin mời các bạn theo chân nhóm chúng tôi nghiên cứu về một thôn la địa
ban cư trú của người Mường tại xóm Dom xã Yên Lạc Huyện Yên Thủy Tỉnh Hòa Bình.
II-Đôi nét về thôn bản
Thôn ma cả nhóm nghiên cứu la một thôn ở một huyện cách khá xa thanh phố Hòa
Bình, la một thôn khá rộng có vị trí khá thuận lợi vì nằm ven thị trấn. Trước đây điều


kiện giao thông đi lại khó khăn, nhưng trong vòng 7 năm trở lại đây, với sự quan tâm của
đảng va nha nước thì những con đường đã được xây dựng thanh những con đường liên
thôn,liên xã đi lại khá thuận lợi, ô tô có thể đi lại nên rất thuận tiện cho việc chuyên trở


hang hóa. Ngoai ra thì thôn còn có vị trí địa lý tương đối thuận lợi,phía bắc giáp với thị
trấn, phía tây thì giáp với 2 xã khác của huyện va phía tây cũng la chợ buôn bán trung
tâm của huyện. Với điều kiện như vậy rrats thuận lợi cho việc đi lại của người dân va
thuận tiện cho việc giao thương buôn bán.
Từ thôn đến trung tâm xã va thị trấn 5km. Thôn nằm ở phía nam của tỉnh Hòa Bình,
lại giáp với Ninh Bình nên từ thôn lên thanh phố Hòa Bình cách khoảng 80km.
Thôn đã được thanh lập từ rất lâu đời, đến những cụ gia nhất trong thôn cũng không
nhớ nổi thôn được thanh lập từ bao giờ nữa, chỉ biết la trước năm 1960 thôn đã có tên la
Chiêm va bây giờ được đổi thanh Dom. Theo như lời của bác trưởng thôn va một số cụ
gia trong lang thì dòng họ Bùi la dòng họ có công thanh lập thôn. Va sau đó thì có thêm
một vai người dân tộc kinh lên đây sing sống va có thêm một vai họ khác.
Vì la một địa phương của người dân tộc mường nên người mường chiếm số lượng
đô ng nhất có 585/715 nhân khẩu ( 138a người dân tộc kinh hộ) tức la 82% dân số trong
thôn , còn lại la dân tộc kinh .
Nằm ở một địa phương có hồ thủy điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á tính cho
đến thời điểm 2012 ,nên nguồn điện được sử dụng trong thôn toan bộ toon la hệ thống
điện lưới bắt đầu sử dụng từ năm 1989 với lúc ban đầu chỉ có một số hộ sử dụng , nhưng
đến khoảng năm 1995 tất cả 100% các hộ gia đình đều sử dụng điện trong sinh hoạt va
sản xuất .
Với điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay đời sống của người dân cũng đang
được nâng lên , chính vì vậy ma các phương tiện sinh hoạt cũng ngay cang trở nên phổ
biến với số lượng xe máy đến thời điểm nghiên cứu la khoảng 160 chiếc , với 7 ô tô .
Về phương tiện nghe nhìn ngay cang sử dụng rộng rãi đáp ứng nhu cầu của người
dân ti vi la khoảng 200 chiếc có một số gia đình có từ 2 đến 3 chiếc ,khoảng 63 tủ lạnh ,
bên cạnh đó la một loại phương tiện liên lạc khá phổ biến la điện thoại với số lượng la
384 chiếc điện thoại di động va 97 điện thoại ban .
Với những điều kiện sẵn có va sự nỗ lực không ngừng của người dân va sự quan
tâm của đảng va nha nước thì xóm Dom nói riêng va nhân dân tỉnh Hòa Bình nói chung
đang cố gắng xây dựng quê hương ,đâtt nước giau đẹp .
III- – ĐỜI SỐNG KINH TẾ

1-Nông nghiệp .
 Trồng trọt
Nguời dân Mường ở vùng đất Hòa Bình cũng giống như nhiều vùng đất khác có
đời sống kinh tế khá phong phú .Họ rất quan tâm đến việc lam kinh tế .Ngoai việc trồng
va khai thác các loại lâm sản thì việc trồng các loại nông sản : lúa ,ngô ,khoai ,sắn ,các
loại cây ăn quả ,cây đặc sản cùng khả năng phát triển đạt được năng suất cao ,cung cấp ra
thị trường những mặt hang nông phẩm đảm bảo chất lượng nâng cao thu nhập cho người
dân .
Do điều kiện tự nhiên nên vùng rất ưu tiên cho việc sản xuất : đất phù sa cổ rất tốt
khí hậu thuận lợi cho nhiều loại cây phát triển , với nguồn nước phong phú nên các loại
cây trồng phát triển rất nhanh khỏe …Sự phát triển kinh tế nông nghiệp của vùng trải qua


các giai đoạn khác nhau có những sự phát triển ,thay đổi nhất định về :loại hình canh
tác ,giống ,năng xuất va trình độ kỹ thuật ….
Giai đoạn 1980-1990
Cùng với sự phát triển chung của cả xã hội ,thì địa phương cũng đã bắt đầu có
những bước có những bước chuyển trên con đường lam kinh tế .Mặc dù vậy vẫn còn rất
chậm ,diện tích đất lam nông nghiệp khá nhiều 56 ha .tất cả đều được đưa vao sản xuất
trong đó :
Đất trồng ngô la : 8 ha
Đất trồng lúa la: 10 ha
Đất trồng sắn la:7 ha
Đất trồng cây ăn quả la: 12 ha
Đất trồng cây mía la : 15 ha .
Còn lại la rồng các loại cây ,rau khác ……..
Họ trồng các giống như : lúa khang dân , tạp dao ,quy ….Về giống ngô họ trồng
ngô : 3Q , ngô tẻ ,ngô nếp …Sắn có sắn ta , sắn lai …..Cây ăn quả có : vải ,chuối ,đặc
biệt la nhãn còn có cả mía …..
Nhìn chung năng xuất đạt không cao : lúa từ 2 -2.5 tấn /ha .Sản lượng sắn la 11

tấn/ ha ,cây ăn quả chủ yếu phục vụ cho gia đình sản lượng bán ra thị trường không nhiều
. Sản lượng cây mía la khoảng 40-5o tấn /ha .
Đời sống cả người dân đủ ăn .
Giai đoạn 1990-2000
La thời kì kinh tế phát triển mạnh .Người dân bắt đầu sử dụng rộng rãi những yếu
tố khoa học kĩ thuật ,đưa máy móc vao sản xuất va cải tạo đất .
Diện tích đất nông nghiệp bị giảm xuống chỉ còn 47 ha .Sở dĩ đất nông nghiệp
giảm la do việc chuyển đổi sang sản xuất các hoạt động kinh tế khác như đao hồ nuôi cá ,
xây dựng các cơ sở sản xuất đồ gỗ, cơ khí ….trong 47 ha diện tích nông nghiệp thì có 5
ha diện tích trồng lúa , bên cạnh những giống lúa cũ có thêm những loại giống mới có
năng suất cao hơn như :BC ,Bắc thơm , ………năng xuất trung bình la 3.5- 4 tấn /ha đảm
bảo được nguồn lương thực cần thiết cho người dân va phục vụ chăn nuôi .


( hình ảnh ruộng lúa mùa )
Do điều kiện tự nhiên ,địa hình đòi núi thấp nên cây lúa chỉ được trồng một vụ từ
tháng 6 đến tháng 9 (âm lịch ) .Thời gian còn lại ìđất lại được sử dụng để trồng các loại
nông sản khác chủ yếu la cây ngô .Tính chung diện tích trồng cây ngô va đất trồng một
vụ thì có khoảng 1 ha , diện tích giảm mạnh .Có nhiều giống ngô mới , tiêu biểu như
giống VN10 được đưa vao sản xuất từ năm 2000 đến nay .Giống nay có thân cao ,lá dai
rộng ,chăm sóc ít ,một cây cho hai bắp ,hạt to đều phù hợp với chất đất ở địa phương
nên được trồng tương đối phổ biến .
Các giống sắn lâu đời vẫn được trồng nhiều ,bên cạnh nhuwngx loại giống mới
như :sắn cao sản trồng từ năm 2004 .La loại sắn tốt , củ to ,rễ trồng ,trồng quanh năm
.Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm nhưng số đất để trồng sắn lại tăng , vao khoảng
14 ha .Năng xuất trung bình la 15 tấn /ha , giá bán ra thị trường la khoảng 40.000.000
triệu /tấn. Thu nhập khá ổn định .
Bên cạnh những giống cây ăn quả : vải ,nhãn ,chuối được trồng lâu năm thì thời kì
nay còn có thêm giống cây mới la : cây chuối Tiêu Hồng .Đây la một loại cây nhập
khẩu ,nó được đưa về địa phương từ năm 2009 .Trồng trên khoảng 1 ha ,cây cho năng

suất cao : 300- 400 buồng /ha ,buồng ít thì khảng 6 nải nhiều thì khoảng 13 nải ,quả to
,vỏ xanh ,khi chín có mau vang đậm , bên trong có mau hồng , giá bán ra thị trường
buồng khoảng 12 nải có giá khoảng 300,000 nghìn đồng / buồng .


(hình ảnh chuối tiêu hồng)
Diện tích cây ăn quả chiếm khoảng ½ tức la 25ha ,ngoai việc trồng tập trung
thanh những trang trại lớn , mỗi trang trại rộng từ 2 – 5 ha phục vụ cho việc buôn bán
Bên cạnh những cây trên thì cây mía cũng đóng góp một phần quan trọng trong
việc tăng giá trị kinh tế của vùng .Đất phù hợp với việc trồng nhiều giống mía như mía
trắng va mía tím .Năng suất từ 75 – 80 tấn /ha.

(hình ảnh vườn mía)
Với việc canh tác những loại cây trồng trên thì thu nhập bình quân của người dân
trong vùng không ngừng được tăng lên : 320kg/người /năm .tính gia tiền thì ước đạt
khoảng 18.500.000/người /năm .Thu nhập tương đối cao so với giai đoạn trước thì đã
tăng .
Thu nhập khá cao ước tính thu nhập từ trồng trọt của các hộ gia đình khác nhau
+ Giau ước tính khoảng 70 triệu đồng
chiếm
+ Trung bình khoảng 40 triệu đồng chiếm
+Nghèo khoảng 15-17 triệu đồng
chiếm
Cư dân đã biết kết hợp giữa nhiều yếu tố trong sản xuất : kinh nghiệm ,máy
móc ,chăm sóc …..để cải thiện năng xuất .Máy móc được đưa vao sản xuất ngay cang
nhiều giúp giải phóng sức sản xuất trong trồng va thu hoạch các loại nông sản , cả địa


phương có 5 chiếc máy cay sử dụng dụng từ năm 2005 , xây dựng đường dẫn điện ra giữa
đồng để lấy nguồn điện chạy máy bơm cung cấp nước tưới .Máy bơm có từ năm 2007 có

2 loại máy chạy bằng điện va dẫn .Khoảng 60 – 70 % số hộ trong thôn có máy bơm .
Các loại phân bón hóa học ,thuốc trừ sâu được người dân thường xuyên , một số
loại phân chính : NPK ,Lân , Văn điển …….kết hợp các loại thuốc trừ sâu bên cạnh
những biện pháp phòng trừ thủ công như : đánh bẫy …..người dân sản xuất theo thời vụ
khi có lịch của hợp tác xã , thì cùng xuống lam đất , gieo mạ , phun thuốc ,thu hoạch .Đối
với các loại cây ăn quả , mía đòi hỏi kỹ thuật cao trong chăm sóc thì được người dân chú
trọng hơn .
 Chăn nuôi .
Chăn nuôi gia súc:các hộ nuôi theo nhiều loại như trâu ,bò,lợn,ngựa,dê.va được
chia ra lam nhiều giai đoạn.
giai đoạn 1980-2000: Đây la thời kì chăn nuôi khá ổn định va được duy trì.Người
dân xóm chủ yếu la lam nông nghiệp để phục vụ cho nông nghiệp các gia súc lớn để lam
sức kéo,lấy phân bón cho nông nghiệp như :trâu,bò…Những đan gia súc chăn nuôi tâp
trung chưa lớn,sự phân bố số lượng con trên đan nhỏ.Mỗi hộ gia đình chăn nuôi từ 1 đến
2 con,va nhiều la 4 đến 5 con đan phục vụ chính cho gia đình la sản xuất nông
nghiệp.Tính tổng số trâu bò năm (2000) la 280 con do người dân không chăn nuôi phục
vụ cho sản xuất thương phẩm.Tính tổng số đan thời kì nay khoảng 50 đan,có đan chỉ có 1
đến 2 con,nhiều thì 4 đến 5 con.
Tính tự cung tự cấp của thôn bản trong những ngay lễ hội,đám cưới,đám ma,nên
số lượng nuôi không nhiều.
Giai đoạn nay sử dụng giống lợn truyền thống như lợn Mường,móng cái,va các
loại lợn dân tộc,sử dụng phương pháp chăn nuôi la thả rông,chưa chú ý sử dụng thức ăn
tăng trọng va phương pháp dịch vụ thú y.
+ Ngựa va dê giai đoạn nay chưa có ở địa phương.
Giai đoạn 2000 - nay: Thời kì nay chăn nuôi có sự biến động nhỏ,số lượng trâu bò
giảm,số đan lợn bắt đầu có.
+Tổng số đan trâu :la 70 đan số lượng đan từ (7-13)con tổng số trâu bò thời kì nay
có sự tăng lên khoảng có 700 con ,thời kì nay ngoai chăn nuôi sức kéo thì người dân chăn
nuôi phục vu cho thương mại .bắt đầu sử dụng thức ăn tăng trọng cho trâu bò .thường
xuyên quan tâm đến chăm sóc ,phòng bệnh cho trâu bò ,sử dụng giống truyền thống

,ngoai ra thì bò có một số giống lai bò BRAXIN,HÀ LAN cho năng xuất thịt cao hơn
+Giống lợn :thời kì nay chăn nuôi phục vụ cho thương mại xuất ra thị trường
.ngoai lợn truyền thống đươc duy trì thì môt số giống lơn lai cho năng xuất thịt cao ,giá
trị thương phâm như:lơn đại bạch ,giống lợn BRAXIN,..bước đau du nhâp từ năm 2003
ggioongs lợn nay được nhiều hộ gia đình nuôi
+Tổng số đan la 100:số lợn từ 5-10 con biệt gia đình bác la() với chính sách xóa
đói dam nghèo ,đã mạnh dạn mở rộng độ chăn nuôi ,thanh lâp trang trại nuôi lợn với tổng
số 300con trên lứa .


(hình ảnh đan lợn con)
- Tổng số lợn la 1600con (năm 2008)
+Ngựa: không được người dân chăn nuôi
+Dê :tổng số la 50 con va được người dân bắt đầu chắn nuôi (năm 2010).Với số
hộ nuôi la 15 .Đây hứa hen la con vật nuôi ngay cang phát triển đẻ tân dụng địa thế của
vùng lá đồi núi thấp .
Ước tính thu nhập :
Chăn nuôi gia câm ga,vịt ,ngan ...
+Tổng số đan gia cầm la :
1980-1990:cũng giôngs chăn nuôi lợn ,trâu bò ,người dân chăn nuôi ga vịt ,ngan
chủ yếu la phục vụ cho nhu cầu gia đình .
Thời kì nay sử dụng các giống ga vịt :ga ri,vịt cỏ ,vịt bầu .
_1990-2000:đây la thời kì chăn nuôi gia cầm được đẩy mạnh
+Tổng số đan lá :
+Các giống được chăn nuôi :giống truyền thống như ga ri ,ga tre ,...,thì ở địa
phương nhập thêm một số giống lai như :gá tam hoang ,ga đan phượng cho năng xuấtt
thịt cao hơn.


(hình ảnh trại ga nha ông Bùi văn Quyên)

2,+Thức ăn tăng trọng có được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm nhưng còn ít .
3,+giống vịt:như giống vịt cỏ ,vịt bầu ,các giống lai như vịt supper ,ngan


(hì
( hình ảnh đan vịt)
Tổng đan :
- Từ năm 2000 tới nay:
Tổng đan :
+giống ngoai một số giống ơ các gia đình trước thì ga công nghiêp ,trọi bắt đầu
chăn nuôi ơ địa phương (từ năm 2005).
+sử dụng thức ăn trong chăn nuôi ,áp dụng khoa học kĩ thuật phục vụ cho chăn
nuôi.
- Chăn nuôi Thủy sản :Tôm . cá (2008)
+Tổng số hộ chăn nuôi :la 15 hộ có 5 hộ nuôi diện tích lớn ,10hộ nuôi diện tích
nhỏ
+Tổng số giống :nuôi các loại con giống như cá ,tôm :
+Tổng diện tích la 10ha mặt nước .(2008)
+Tron chăn nuôi sử dụng các loại thức ăn tăng trọng ,áp dụng khoa học kỹ thuật
(kix thuật lọc nước ,tạo bột oxi )phòng dịch bệnh được chú ý .
2-Lâm nghiệp


(hình ảnh vườn keo)
-Tổng số diện tích của xóm la....................trong đó diên tích lâm nghiêp la 09
ha.Hiên đang trồng các loai cây như tre,bạch đan.keo,cây gỗ xưa.hang năm thu
được khoảng 1 triêu đồng .
-Bảo vệ rừng:hiện tai địa phương không có diên tích rừng bảo vệ,do nạn phá
rừng,chặt phá rừng lam nương rây.nhưng diên tích rừng nay chuyển thánh
đất nông nghiêp.

- diện tích khoanh nuôi :tai địa phưng không có diện tích rừng được phục hồi
- ướ tính thu nhập từ lân nghiệp so với tổng thu nhập :tổng thu nhâp của lâm
nhgiep chiếm khoảng 0,5% so với tổng tu nhâp,chiếm con số rất nhỏ,vì
diện tích lâm nghiệp ít.
3- Ngành nghề
-Nghề thủ công,công nghiệp :mộc chế biến thực phâm .
+Mộc 2hộ gia đình ,quy mô nhỏ ,số vốn đâu tư ban đầu 50 triệu va đang được
tiếp tục mở rộng .
+Chế biến thực phâm(sắt gạo ):2 hộ gia đình ,số người lao động 1-2 người ,số
vốn đau tư la 20 triệu .
-Buôn bán dịch vụ
+ Sử xe máy có 3 /192 hộ , số ngườ lao động la 2 -3 người .Số vốn đầu tư ban đầu
la khoange 5 – 10 triệu đòng .
+ Buôn bán điện thoại : 1 hộ ,số người lao động la 5 người , số vốn ban đầu la
khoảng 100 triệu .
+ Cắt tóc : 3 hộ /192 hộ , số người lao động 3-4 người ,số vốn đầu tư 30 – 40
triệu “ tùy quy mô của từng hộ gia đình “.
- Lam thuê nội địa : công nhân trong các khu công nghiệp ,doanh nghiệp , trang
trại .
- Số người lam thuê :


IV- ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1- Gia đình .
Cũng giống các gia đình xóm khác ,đời sống xã hội của xóm Dom vô cùng phong
phú va đa dạng .Trước hết về gia đình trong xóm ,tổng số gia đình la 192 hộ .Các gia
đình trong xóm sống hòa thuận yêu thương giup đỡ nhau ,tạp nên tình lang nghĩa xóm
sống tót đẹp .
_Cấu trúc gia đình trong xóm có ba loại .Số gia đình hai thế hệ (bố mẹ_con cái )
la 151 gia đình chiếm khoảng 78,6%.Gia đình ba thế hệ (Ông ba _cha mẹ _con cái )có 34

gia đình .Còn lại la gia đình bốn thế hệ ,chiếm tỉ lệ thấp nhất 3,6%.Trong các gia đình
ông ba cha mẹ luôn chăm sóc ,dạy dỗ con cháu những điêù hay lẽ phải ,còn ngược lại con
cháu luôn chăm ngoan hiếu thảo với ông ba cha mẹ .Vì vậy gia đình sống rất hòa thuận
hạnh phúc .
- Ở xóm tồn tại hai dạng hôn nhân .Đó la hôn nhân đồng tộc va hôn nhân hỗn hơp
dân tộc .Theo lời của các trưởng xóm ,ơ đây cứ 10 căp vợ chồng thì có hai ba cặp la hôn
nhân hỗn hợp dân tộc , còn lại la hôn nhân đồng tộc . Tuy la căp hôn nhân hỗn hợp dân
tộc nhưng họ vẫn sống yêu thương nhau,cùng nhau cố gắng xây dựng gia đình hòa
thuận .
Xóm Dom la nơi hội tụ nhiều dòng họ .Có các dòng họ như :Bùi ,Trần ,va các
dòng họ khác .
Quan hệ dân tiicj ở xóm Dom rất tốt .Hợp tác liên kết với người dân tộc khác
trong lam ăn buôn bán phát triển .Sử dụng tiếng kinh la phổ biến ,trong xom có 700
người nói được tiếng kinh ,còn lại la các cụ gia không nói được .Bên cạnh tiếng Kinh,
mọi người còn sử dụng tiếng Mường .Trong xóm mỗi khi nha ai có công việc lớn như
cưới xin ,tang ma ,lam nha mọi người ,bạn bè thân thiết đén giúp đỡ thăm viếng .
2.Y tê
Được sự giúp đỡ ,quan tâm tới thôn xóm hiểu được an toan sức khỏe .
- Nước sạch (nguồn nước ăn uống ,vệ sinh) lấy tư nước mạch nước sạch ,nước
ngầm từ lòng đất ,mỗi hộ gia đình đều có một các giếng ,ăn uống vệ sinh cá nhân
- Nha vệ sinh trong thôn xóm mỗi hộ đều có nha vệ sinh chiếm đạt 100%.Nhưng
số nha vệ sinh đât tiêu chuẩn chiếm 60%,va số nha vệ sinh không đạt chiếm 40%.
-Các lọai bệnh thường mác la bệnh quai bị ,sốt phát ban ,Thủy đậu ,cúm ...
Được sự tuyên truyền bác sĩ xuống tận xóm vao từng hộ gia đình để tuyên
truyền ,đặc biệt bệnh còi xương suy dinh dưỡng của trẻ ,va hậu quả nghiêm trong của
bệnh cho nên các gia đình ,nhất la gia đình có trẻ từ( 1-2) tuổi phải lưi ý chăm sóc trẻ có
đủ chất dinh dưỡng , Đề kháng các bệnh tật , ngoai gia còn tuyên truyền các hộ gia đình
chỉ nên sinh từ( 1-2) con , vừa để đam bảo tới dân số thu nhâp mỗi gia đình đều tốt hơn ,
va chăm sóc con cái đầy đủ ,không để trẻ em bị còi xương suy dinh dương ,Với khẩu hiệu
thôn xóm la “TRẺ EM HÔM NAY ,THẾ GIỚI NGÀY MAI”

V-ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Hòa Bình la tỉnh cưa ngõ vùng Tây Bắc giáp với thủ đô Ha Nội , nơi đây vẫn còn
lưu giữ nhiều lịch sử cua nền văn hóa Hòa Bình được nhiều nha khảo cổ phát hiện.Khi
nhắc đến văn hóa Hòa Bình không thể không nhắc tới văn hóa của người Mường.Trải qua
quá trình hình thanh va phát triển,người Mường Hòa Bình có nhưng nét đặc trưng riêng
về ngôn ngữ,trang phuc , tâp quán…Tạo nên vẻ dẹp phong phú va đặc sắc trong bức
tranh văn hóa Hòa Bình.Mỗi dân tộc đêù có nhưng nét đẹp văn hóa riêng thể hiện trong


sinh hoạt ăn uống,va nghệ thuât.chính điều nay lam cho văn hóa Việt Nam thêm phong
phú.
 Ăn uống

( hình ảnh rượu cần , mâm cỗ lá )


(hình ảnh cơm lam)
Khi bạn đến với bản Mường nhân dịp lễ hội cỗ ,bạn ắt hẳn sẽ thấy những món ăn
truyền thống của dân tộc Mường : cơm lam ,cây chuối nấu xương lợn ,bánh đôi , bánh lá
( lam từ bột gạo nếp ) ,các món đặc sản từ những con vật nuôi từ gia đình : như ga ( ga ri
,) , thịt trâu nấu lá lồm , thịt trâu hun khói ,thịt lợn mường .đó đều la những món ăn
truyền thống được sử dụng trrong những ngay tết , đám cưới . Va chắc chắn ở những
ngay đặc biệt đó bạn sẽ bắt gặp những mâm gỗ lá ,đây la kiểu ăn rất giản dị ,nhưng ở đó
lại toát lên vẻ chân quê của bản Mường .Đồ uống truyền thống la rượu cần .
Ngoai ra các loại thưc ăn đồ uống sản xuất bằng công nghiệp được sử dụng rộng
rãi trong bản như bánh mì , rượu bia , thuốc lá , nước giải khát ...
Trang phục .


(trang phục truyền thống)

Mỗi dân tộc đều có trang phuc truyền thống mang những nét đặc trưng
riêng,mang đâm giấu ấn từng dân tộc,nó thể hiện cho tinh hóa dân tộc của mình,người
Mường có những nét đặc trưng riêng hết sưc nổi bật về tạo hình va phong cách thẩm mĩ
trên trang phục đân tộc,chính điều đó lam cho người phụ nữ Mường nét duyên dáng,niềm
tự hao khi khoác lên mình truyền thống”Mế nói mế mặc trang phục nay quen rổi cũng
như các cháu gái bây giờ mặc đồ tây”trang phục của ngươi Mường hết sức tinh tế vf có
những nét riêng không pha lẫn với dân tôc khác.Nam măc áo phủ kin mông,cổ tròn cúc
sừng vai va có 2 túi dưới,quần lá ống rộng dung khăn thăt giưa bụng,còn goi la khăn
quần.Nư mặc áo pắn cùng với váy.trong các lễ hội ta thường thây nhưng bộ váy khoe sắc.
Giai đoạn 1980-1990
Sử dụng phổ biến các loai trang phục dân tộc như váy Mường của phụ nữ ,trong
các dịp lễ đặc biệt cũng như các ngay thường ,đặc biệt trong những ngay lễ ngaỳ tết ,đám
cưới ,thường được các bá (bác gái ), các mế (các ba) ,dùng những bộ trang phục để tiếp


Trong giai đoạn 1990 _2000 thì các bộ trang phục vẫn được duy trì ,nhung do xã
hội ngay cang phát triển va do nhu cầu đẻ thuận tiện cho công việc thì âu phục đã xuất
hiện .Nhưng chưa được sử dụng một cách phổ biến .
2000 đến nay âu phục được sử dụng ngay cang rộng rãi ,trong những dịp như
như ,lễ tết ,đám ma đám cưới hay thâm chí cả ngay thường :thường bắt gặp những thanh
niên (thậm chí car người gia va trung tuổi ). Do ảnh hưởng từ bên ngoai ma những bộ
trang phục nay ngay cang chở nên vắng bóng .
 Nha cửa.

(hình ảnh nhà sàn truyền thống)
Mỗi dân tộc đều có phong tuc tập quán va cách sinh hoạt riêng,để phù hợp với lối
sống đó thi nha cửa cũng được xây dựng cho phù hơp.Ngôi nha truyên thống của người
mường la nha san,trên nha được bố trí một cách khoa học.gian chính giữa la noi thờ cũng
tổ tiên đồng thời la noi tiêp khách,gian giữa nay thường được danh cho con trai ngủ,gian
buồng la nơi dùng la noi cất đồ va la nơi con gaí ngủ.Đây la kiêu nha đăc trưng theo lối



truyền thống.với xu thế hội nhập va giao lưu thi ngoai những ngôi nha truyền thống thì
các ngôi nha theo kiêủ dân tộc kinh cũng được xây dựng.
- Tổng số ngôi nha lam theo lối cổ truyền :38
- Tổng số người lam nha theo lối người kinh:62
 Dân ca.dân vũ.

(hình ảnh trò chơi dân gian:đánh mảng,bắn nỏ)
Dân vũ la văn hóa sinh hoạt không thể thiếu trong đời tinh thần như đánh cồng
chiêng,cúng mo,thổi khèn,múa quạt va những hoạt động vui chơi giải tri như đánh
mảng,ném con,bắn nỏ,chơi đu,thi hát đối,bọ mẹng những loại dân ca thường dùng trong
cộng đồng vao các ngay lễ hội ,cưới hỏi :hát đối Mường , hát Mường mời trầu ....
- Những điệu múa :múa, sạp ,múa còn ,múa quạt ,múa nhẩy với cồng chiêng .
 Tín ngưỡng,tôn giáo .
Thường vao mùa xuân,xóm bắt đầu tổ chức lễ hội không chỉ để vui chơi ma còn
la dịp để ba con thỉnh cầu ước nguyện với trời đất,thần thánh cầu cho mưa thuân gió
hòa,mùa mang tươi tốt.
Nét đăc trưng của lễ hôi dân gian,của người Mường thể hiện sư kêt nối của bản
Mường va một vùng Mường,la sinh hoạt tâm linh sâu sắc ,các nghi lễ thể iện sự sống hòa
mình cùng thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên .
Ngay nay tín ngưỡng tâm linh rất phổ biến được giữ nguyên nét đặc trưng .Trong
mâm cúng tổ tiên thờ thần thổ địa .


(mâm cúng tổ tiên và thổ địa trong ngày lễ)
Trong đời sống người dân thờ :ông ba tổ tiên ,thờ thần núi ,sông .Hang năm tổ
chức lễ hội ,
- Tôn giáo của người dân theo tín lanh,người dân thường xuyên đi chùa đẻ cầu
may mắn ,lam ăn phát đạt .

6. Sử dụng phương tiện truyền thông,báo chí
- Sách báo các loại chuyện cổ tích, tiểu thuyết ,tát phẩm văn học báo hoa học
trò ,báo an ninh ,lao động ,báo nông thôn ,báo đời sống xã hội ,báo điện tử :
+ Sách báo điện tử ,truyện cổ tích ,tiểu thuyế,báo hoa học trò ,tác phâm văn học
danh cho học sinh va sinh viên đọc .
+ bác trưởng thôn cho biết đa số người dân đều đọc va tiếp cận với sách báo .
- Tivi có 205 chiếc /192 hộ mỗi hộ có tối thiểu một chiếc va một số it hộ 2_3
chiếc
+ Trẻ em (nam nữ )thích xem trương trình hoạt hình ca nhạc ,thiếu nhi :
+ Thanh niên , người trung tuổi, người gia : thích xem các bộ phim tình cảm ,
thích nghe ca nhạc ( thanh niên) , chương trình hai , người trung tuổi thích xem các
chương trình thời sự , tin tức , xem các bộ phim Việt ( cảnh sát hình sự , các bộ phim
nghiên cứu về các dân tộc ) , hay những người gia ,người trung tuổi thích xem chương
trình bạn của nha nông .




×