ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
------------
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIÁO DỤC
CON CÁI TRONG CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN
HIỆN NAY
(Trường hợp nghiên cứu tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hóa)
HUẾ, 05/2O10
1
DANH MỤC VIẾT TẮT
1. TS: Tiến sĩ
2. GS: Giáo sư
3. ĐH: Đại học
4. CĐ: Cao đẳng
5. THCN: Trung học chuyên nghiệp
6. TW: Trung ương
7. UB: Ủy ban
8. UBND: Ủy ban nhân dân
9. CP: Chính phủ
10. TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
11. Nxb: Nhà xuất bản
2
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Chắc hẳn những ai là người dân đất Việt, những ai mang quốc tịch Việt
Nam đều đã được nghe những câu nói bất hủ như: “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu”, “văn hóa là chìa khóa mở đầu”, hay “học, học nữa, học mãi”…
Vậy chúng ta hiểu như thế nào về giáo dục, về văn hóa hay về sự nghiệp học
tập, trau dồi kiến thức? Không phải cứ nói đến giáo dục, đến văn hóa, đến học
tập là chúng ta nghĩ đến thầy cô giáo, đến trường lớp, đến sách vở… Điều này
đúng nhưng chưa đủ.
Theo các quy luật của tạo hóa nhằm duy trì nòi giống thì hằng ngày,
hằng giờ, hằng giây trên thế giới và Việt Nam đều có những đứa trẻ cất tiếng
khóc chào đời.Để cho những đứa trẻ ấy trở thành người có ích cho gia đình,
xã hội, có ích cho Đất nước không phải là đơn giản, không phải là ngày một
ngày hai là chúng ta có thể làm được. Để thu được kết quả như mong muốn
thì tất cả chúng ta phải chung tay góp sức, thể hiện rõ vai trò và trách nhiệm
của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các em. Trong đó quan
trọng nhất là giai đoạn giáo dục con cái bằng cái nôi đầu tiên, bằng tổ ấm gia
đình thân thương của mình.
Chúng ta cũng đã biết rằng gia đình đảm nhận nhiều chức năng khác
nhau, trong đó có 4 chức năng cơ bản: Chức năng sinh học (hay còn gọi là
chức năng tái sản xuất); Chức năng kinh tế; Chức năng xã hội; Chức năng
giáo dục. Trong bốn chức năng cơ bản này ta thấy chức năng sinh học (chức
năng tái sản xuất) đã biến mất ở một số gia đình, do vậy chức năng giáo dục
con cái trong các gia đình là một chức năng đặc biệt quan trọng, bởi vậy xã
hội luôn quan tâm tới chức năng này vì đây là chức năng liên quan tới tâm lí,
đạo đức, nhân cách của một thế hệ tương lai, của một nguồn nhân lực rất quan
trong với xã hội, với đất nước.
3
Thực tế ta thấy ở nhiều gia đình, các bậc cha mẹ giáo dục con cái chủ
yếu là theo thói quen, theo truyền thống, kinh nghiệm tiếp thu được từ thế hệ
đi trước. Nếu cứ theo cách giáo dục như vậy thì không đủ và sẽ thu được kết
quả không như mong muốn. Bởi vì sao? Vì xã hội không ngừng vận động và
biến đổi theo thời gian. Gia đình là một tế bào tuy nhỏ nhưng vô cùng quan
trọng của xã hội khi ấy cũng phải biến đổi theo cái xu thế ấy của xã hội. Chọn
phương pháp giáo dục nào trong hoàn cảnh nào, với đối tượng như thế nào
cho phù hợp cần có một sự lựa chọn hợp lý, hợp lý với suy nghĩ của cha mẹ
và với tâm thế của con cái. Không nên giáo dục con cái bằng biện pháp nuông
chiều quá mức cũng như không nên giáo dục con cái bằng cách quá nghiêm
khắc, thậm chí có những gia đình chuyên sử dụng các biện pháp bạo lực để
giáo dục con cái, điều này là hoàn toàn không nên vì nó ảnh hưởng đến sự
phát triển toàn diện của trẻ.
Từ thực tiễn phấn đấu cho sự tiến bộ của trẻ em trên toàn thế giới,
UNICEF đã rút ra bài học: “Mục đích của sự phát triển con người trong tương
lai sẽ không đạt được nếu gia đình không có khả năng nuôi dưỡng và tạo ra
những bài học kinh nghiệm tích cực cho trẻ em. Vì vậy chiến lược và chiến
thuật phát triển ngắn và dài hạn trong tương lai phải chú trọng đến viêc cung
cấp một mạng lưới an toàn đề trẻ em nghèo có thể bứt ra khỏi nghèo đói
thông qua việc tiếp cận với sự chăm sóc và bảo vệ, các dịch vụ sức khỏe,
những cơ hội học tập có chất lượng và điều kiện để tham gia vào cuộc sống
của cộng đồng”.
Gần đây nhất, nhằm đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam được phát triển
toàn diện đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong
thời kỳ đẩy mạnh cong nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 28/6/2000,
Bộ chính trị (khóa VIII) đã ra chỉ thị số 55-CTTW về “tăng cường sự lãnh
đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em”. Chỉ thị đã khẳng định sau 15 năm đổi mới, tình hình sức khỏe,
4
học tập, đời sống văn hóa tinh thần của trẻ em đã có nhiều cải thiện. Tuy vậy
số trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bị thất học, bỏ học vẫn còn nhiều, nhất là ở
nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Số trẻ em lang thang kiếm sống, làm
trái pháp luật, nghiện hút ma túy không giảm, tình trạng buôn bán trẻ em, hiếp
dâm trẻ em, lừa gạt, dụ dỗ trẻ em tham gia buôn bán ma túy, mại dâm ngày
một tăng. Tình hình trên đã tác động xấu đến sự phát triển lành mạnh của trẻ
em, đến thuần phong mỹ tục của nhân dân. Trong khi đó nhiều cấp ủy đảng,
chính quyền, nhất là ở cơ sở chưa thấy hết tính cấp bách của tình hình, chưa
nhận thức đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, vì tương lai lâu dài của đất nước, còn lúng túng trong lãnh đạo,
chỉ đạo xây dựng phong trào toàn xã hội, đặc biệt là tạo điều kiện và phát huy
vai trò của các gia đình, cộng đồng để giải quyết tốt những vấn đề của trẻ
em”.
Trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Đảng và Nhà nước
Việt Nam đặc biệt đề cao vị trí và vai trò của gia đình, cộng đồng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói “Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà
trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách”.
“Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Trách
nhiệm của gia đình và việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn được nhà
nước ta thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp quy, cũng như trong các hoạt
động bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều 64 và 65 Hiến pháp năm 1992
ghi rõ: “Gia đình là tế bào của xã hội” và “Trẻ em được gia đình, nhà nước và
xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Luật pháp còn quy định: “Việc bảo vệ
chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội và công dân” (Điều 3, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo
dục trẻ em ban hành 16/8/1991). “Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức
kinh tế và gia đình, công dân có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện phổ
cập giáo dục tiểu học” (Điều 7, Luật phổ cập giáo dục tiểu học ban hành
5
16/8/1991).
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục con cái trong các
gia đình, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sánh, điều luật cụ thể,
xác thực. Do vậy mà phương pháp giáo dục của các gia đình phần nào đã có
những bước được cải thiện từ đó mà thu được những kết quả khả quan. Song
bên cạnh đó thì phương pháp giáo dục con cái ở nhiều gia đình vẫn còn nhiều
bất cập và có phần nào không đúng đắn, từ đó mà để lại những hậu quả không
như mong muốn, nhất là ở các gia đình nông thôn hiện nay. Do nhiều yếu tố
tác động mà cha mẹ chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trong của giáo dục
con cái.
Đợt thực tập này được sự giới thiệu của ban chủ nhiệm khoa, cùng với
sự hợp tác giúp đỡ của quý cơ quan, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này tại
xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, Tỉnh Thanh Hóa, cũng là quê hương tôi sinh ra
và lớn lên. Với mong muốn để quê mình phát triển hơn, đặc biệt là nguồn
nhân lực sau này, thế hệ tương lai có đầy đủ các điều kiện phát triển sao cho
toàn diện cả về thể lực và trí lực để sau này giúp ích cho gia đình, cho xã hội,
cho đất nước. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tìm hiểu rõ hơn,sâu sắc hơn về thực
trạng, các yếu tố tác động, hậu quả… Của vấn đề phương pháp giáo dục con
cái trong các gia đình nông thôn hiện nay. Từ những lí do chính đáng như vậy
đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp “ công tác xã
hội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay”.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mục tiêu chung.
Người nghiên cứu đã nhận thấy được tầm quan trọng của sự nghiệp
trồng người và quá trình phát triển toàn diện của trẻ em. Nên mục tiêu của
người nghiên là muốn thế hệ trẻ, thế hệ mầm non tương lai của đất nước có
điều kiện để phát triển tốt nhất, được đối xử công bằng nhất. Có như vậy các
em mới có cơ hội để góp công sức của mình vào sự phát triển phồn thịnh của
6
đất nước.
2. Mục tiêu cụ thể.
2.1. Tìm hiểu điều kiện kinh tế, đời sống vật chất của các gia đình xã
Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Phân tích thực trạng của việc giáo dục con cái trong các gia đình
nông thôn.
2.3. Phân tích các yếu tố tác động đến phương pháp giáo dục con cái
trong các gia đình.
2.4. Phân tích hệ quả của các biện pháp giáo dục đúng đắn cũng như
các biện pháp sai với chuẩn mực đạo đức.
2.5. Thể hiện vai trò của nhà công tác xã hội trước các biện pháp giáo
dục con cái thiếu khoa học của các bậc cha mẹ trong các gia đình hạt nhân.
III. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến
sự phát triển của cà đời người, đặc biệt là với lứa tuổi 11 đến 15 tuổi (là lứa
tuổi có những biến đổi rất quan trọng về cả tâm lý và sinh lý). Vì vậy trước
khi đi vào vấn đề trọng tâm “Công tác xã hội với giáo dục con cái trong các
gia đình nông thôn hiện nay” ta đi tìm hiểu những thông tin khái quát về các
gia đình là một việc làm rất cần thiết, góp phần hoàn thành tốt hơn đề tài
nghiên cứu. Số liệu điều tra cho thấy tuyệt đại đa số các gia đình trên địa bàn
là kiểu gia đình đủ (có vợ, chồng, con cùng chung sống) chiếm 96%, số gia
đình thiếu (ly thân, ly hôn hoặc góa bụa) chỉ có 4%. Đa số các gia đình đều có
từ 1 – 2 con(chiếm 55%), khoảng trên 40% gia đình có từ 3 con trở lên. Qua
tìm hiểu tôi thấy ở địa phương tâm lý nhất quyết phải sinh con trai để nối dõi
tông đường của những gia đình trong mẫu điều tra còn khá nặng nề, điều này
đã làm chi phối hành vi sinh đẻ của các bậc cha mẹ. Có những gia đình là cán
7
bộ, công nhân viên chức nhà nước nhưng vì tâm lý như: là con trưởng đứng
đầu dòng họ nên phải có con trai để nối dõi, từ đó họ chịu mấtt việc để về
chăn nuôi, sản xuất, cố gắng sinh cậu con trai.
Trong mẫu điều tra của chúng tôi, phần lớn các bậc cha mẹ có độ tuổi từ
35 đến 45 tuổi (55 %); Khoảng 25% có độ tuổi từ 50 trở lên. Số liệu của
chúng tôi cũng cho thấy có khoảng 60% tổng số hộ trong diện điều tra là hộ
thuần nông, các hộ còn lại phần lớn vừa làm nghề nông lại vừa làm thêm các
nghề khác (như buôn bán nhỏ, cán bộ xã…). Các hộ chuyên làm nghề khác
chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Nhìn một cách tổng quát và đánh giá khách quan thì ta thấy các nghiên
cứu về gia đình từ lâu đã là một chủ đề rất quen thuộc, đặc biệt là trong các
nghành khoa học xã hội. Tuy nhiên không vì thế mà nghiên cứu của chúng tôi
giảm bớt giá trị vì gia đình vẫn luôn là một vấn đề mang tính thời sự. Và đối
với người Việt Nam gia đình luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng mỗi người
dân. Mặt khác trong các nghiên cứu xoay quanh chủ đề gia đình ta nhận thấy
có rất nhiều mảng đề tài khác nhau. Mỗi mảng đề tài có những cái hay và
những tác dụng to lớn góp phần vào việc xây dựng các gia đình Việt Nam với
nhiều tiêu trí văn minh văn hóa, vững mạnh trên nhiều khía cạnh mà xã hội
hiện đại yêu cầu. “Phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình nông
thôn” cũng là một mảng đề tài góp ích rất nhiều trong quá trình xây dựng mục
đích chung ấy. Xung quanh vấn đề giáo dục con cái trong gia đình nông thôn
hiện nay ta cũng đã thấy có nhiều nghành thuộc khối các nghành khoa học xã
hội tham gia nghiên cứu như : Xã hội học, Tâm lý học và gần đây là nghành
Công tác xã hội (một nghành còn trẻ ở Viêt Nam).
Tác giả Lê Tiến Hùng trong bài viết “Quyền uy của cha mẹ trong giáo
dục gia đình” cũng quan tâm tới vấn đề giáo dục con cái trong gia đình nhưng
ông đứng trên một cơ sở khác tác giả Đoàn Việt khi nói về vấn đề này. TS Lê
Tiến Hùng không đi vào các số liệu thực nghiệm, cũng không đi sâu phân tích
8
các biện pháp giáo dục con cái mang tính bạo lực mà tập trung lí giải tại sao
cha mẹ có thể giáo dục được con cái. Thông qua nghiên cứu của mình tác giả
đề cập đến mối quan hệ giữa quyền uy của cha mẹ với việc giáo dục con cái.
Tác giả chỉ ra cơ sở tất yếu tự nhiên của quyền uy mà cha mẹ sử dụng trong
giáo dục con cái. Khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục con cái bằng
quyền uy và hậu quả khi cha mẹ không có uy quyền khi giáo dục con cái. Tuy
vậy tác giả cũng chỉ ra rằng khi cha mẹ quá lạm dụng quyền uy trong giáo dục
con cái tất yếu sẽ dẫn đến những phản ứng về mặt tâm lý của con cái. Lời
khuyên mà tác giả dành cho các bậc cha mẹ là phải biết sử dụng quyền uy của
mình một cách đúng lúc và không được lạm dụng uy quyền trong giáo dục
con cái.Việc giáo dục con cái là một chức năng tất yếu của cha mẹ trong gia
đình. Bởi sự giáo dục con cái sẽ định hướng cho trẻ nhận thức đúng đắn về
các giá trị đích thực của cuộc sống, những khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội…
Không những thế việc giáo dục con cái trong gia đình còn giúp cho trẻ có khả
năng miễn dịch với các tệ nạn xã hội và phòng ngừa các hành vi sai lệch. Tuy
nhiên không phải lúc nào giáo dục con cái trong gia đình cũng mang lại
những kết quả đáp ứng những kì vọng như vậy. Có rất nhiều yếu tố tác động
tới kết quả giáo dục, và phương pháp giáo dục của xha mẹ là một nhân tố
quan trọng. Điều này đã được GS. Lê Thi khẳng định trong bài viết : “Vai trò
của người cha và người mẹ trong việc nuôi dạy con cái” đăng trên tạp chí
khoa học về phụ nữ số 1 năm 2003. Tác giả khẳng định tầm quan trọng của
gia đình trong việc: “giúp trẻ em trưởng thành cả về thể chất, trí tuệ,tình
cảm”. Trong việc giáo dục con cái cha mẹ chính là hai nhân vật đóng vai trò
trung tâm, trong đó cha và mẹ cần thống nhất với nhau cả về nội dung và
phương pháp giáo dục, nếu không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến tình trạng
“người quá nuông chiều người quá khắt khe” dẫn đến những hậu quả không
mong muốn trong giáo dục conc cái. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nét
khác biệt trong giáo dục con cái của người cha và người mẹ, qua đó cũng giải
9
thích những khác biệt này là do các yếu tố khác biệt giới quy định. Từ đó GS.
Lê Thi đã đi đến khẳng định: “Cha và mẹ đều có vị trí và vai tò quan trọng,
không được xem nhẹ bên nào trong việc giáo dục giúp con phát triển toàn
diện”.
Nếu như trong gia đình truyền thống cha mẹ giáo dục con trẻ phải
ngoan ngoãn, vâng lời theo nguyên tắc trên bảo dưới phải nghe, theo lối áp
đặt, thì hiện nay điều này phải được xem xét nhìn nhận từ hai phía chủ thể
giáo dục (cha mẹ) và khách thể giáo dục (con cái), đó là những suy nghĩ ban
đầu của tác giả Nguyễn Sĩ Liêm về nội dung và phương pháp giáo dục gia
đình ở nước ta hiện nay. Tác giả đã so sánh yêu cầu của giáo dục con cái ngày
xưa với ngày nay, từ đó chỉ ra những khác biệt và yêu cầu mới của việc giáo
dục con cái trong giai đoạn hiện nay: “Ngày nay thời cuộc đã thay đổi, xã hội
phát triển làm xuất hiện nhiều nghành nghề mới, cha mẹ hướng con cái học
tập không chỉ để có trình độ học vấn… Mà còn giáo dục con rèn luyện ý chí
quyết tâm làm giàu bằng chính kiến thức và năng lực của bản thân; Hơn thế
nữa phải kết hợp một cách biện chứng giữa học chữ, học nghề và học cách
làm người – làm người có nhân cách”. Để có thể đạt được mục tiêu đó thì
phương pháp giáo dục con cái trong gia đình phải thay đổi để phù hợp với sự
phát triển của xã hội.
Giáo dục bằng phương pháp phục tùng mệnh lệnh của ông bà, cha mẹ
đã dần thay đổi theo định hướng khích lệ. Tác giả Nguyễn Sĩ Liêm nêu ra ba
phương pháp giáo dục cần phải có trong giai đoạn hiện nay là: phương pháp
uy quyền, phương pháp nêu gương và phương pháp khích lệ.
Theo tác giả trong đời sống dân chủ hiện nay một phương pháp giáo dục
có hiệu quả cần phải lồng ghép các phương pháp giáo dục trên để không phải
rơi vào tình trạng “nuông chiều quá sẽ làm cho trẻ trở nên ích kỷ, thụ động và
yếu hèn. Nghiêm khắc quá sẽ dẫn đến tính lì lợm, bướng bỉnh ở trẻ”.
Trên đây chỉ là một số nghiên cứu, một số các bài viết điển hình có liên quan
10
đến vấn đề nghiên cứu. Chắc chắn sẽ còn rất nhiếu các nghiên cứu khác có
liên quan đến vấn đề “phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình”.
Nhưng điều kiện không cho phép nên người nghiên cứu chỉ đi qua vài vấn đề
khái quát như vậy. Qua những nghiên cứu điển hình trên ta thấy được phần
nào tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề. Song có một điều
chúng ta nhận thấy rất rõ là mặc dù có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề
nghiên cứu mà nghiên cứu không có sự trùng lặp với các nghiên cứu trước đó.
Bởi qua các nghiên cứu ấy ta thấy các tác giả chủ yếu tập trung vào thực
trạng, nguyên nhân, hậu quả cũng như các nội dung giáo dục con cái trong gia
đình để nhằm làm nổi bật chức năng giáo dục của gia đình.Ở đây người
nghiên cứu muốn tập trung vào phương pháp giáo dục con cái của các bậc cha
mẹ trong các gia đình nông thôn, trong đó chú ý hơn tới những biện pháp giáo
dục thiếu đúng đắn, thiếu khoa học. Đặc biệt hơn là qua đó nhà nghiên cứu
muốn thể hiện vai trò của nhà công tác xã hội trước các biện pháp giáo dục
như vậy. Và một lần nữa nhà nghiên cứu muốn khẳng định lại lí do lựa chọn
đề tài “công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình
nông thôn hiện nay” cho khoá luận tốt nghiệp của mình là hoàn toàn đúng
đắn.
IV. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp luận:
1.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì khi xem xét, đánh
giá mỗi hiện tượng – sự kiện xã hội phải đặt nó trong mối liên hệ phổ biến với
các hiện tượng – sự kiện khác. Ngoài ra phải có quan điểm toàn diện khi đánh
giá về một vấn đề để tránh cách nhìn phiến diện.
Áp dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào đề tài nghiên
cứu của mình thì chắc chắn giáo dục con cái trong các gia đình nông thôn
11
hiện nay phải được đặt trong mối quan hệ khăng khít, bền chặt với các nhân
tố khác như: Đặc điểm cá nhân của cha mẹ, hoàn cảnh, thời điểm xảy ra biện
pháp giáo dục, bối cảnh đời sống văn hoá, giá trị chuẩn mực ở nông thôn, đời
sống kinh tế của các gia đình thuộc diện nghiên cứu… Khi đặt các biện pháp
giáo dục con cái của các bậc cha mẹ trong mối quan hệ biện chứng với các
yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau như vậy thì chúng ta mới đánh giá
chính xác và khách quan về vấn đề, để từ đó đưa ra giải pháp giải quyết một
cách hiệu quả và thuyết phục hơn.
1.2. Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy vật lịch sủ có
quan điểm: Khi nhìn nhận và đánh giá bất kỳ hiện tượng, vấn đề, thực trạng
nào trong xã hội chúng ta luôn phải xác định được hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
nơi vấn đề đang tồn tại và chịu ảnh hưởng. Bởi cùng một sự vật hiện tượng
nhưng trong những bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau thì cách nhìn nhận,
đánh giá về hiện tượng, sự vật đó là khong giống nhau. Và phương pháp giáo
dục con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay không phải là một trường
hợp ngoại lệ. Vận dụng quan điểm này trong đề tài người nghiên cứu muốn
hướng đến việc phân tích và lí giải hành vi giáo dục con cái của cha mẹ trong
điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá cụ thể. Đồng thời cũng đặt vấn đề trong
mối quan hệ so sánh với việc giáo dục con cái ở các thời điểm khác.
2. Phương pháp nghiên cứu:
2.1. Phương pháp chọn mẫu
Trước hết người nghiên cứu tiến hành lập danh sách tất cả 120 hộ gia
đình của thôn 9 (địa bàn nhiên cứu). Căn cứ vào các gia đình có ít nhất một
người con trong độ tuổi từ 11 đến 15. Người nghiên cứu lấy mẫu là 60 mẫu.
Trong đó có 30 đơn vị mẫu nghiên cứu thuộc về cha mẹ và 30 đơn vị mẫu
nghiên cứu thuộc trẻ em tương ứng với 30 gia đình. Trong 30 đơn vị nghiên
12
cứu là cha mẹ thì phần lớn là làm nông nghiệp. Riêng với mẫu nghiên cứu là
trẻ em, vì có những gia đình có những gia đình có nhiều trẻ em thoả mãn yêu
cầu lứa tuổi nên khi bốc thăm người nghiên cứu người nghiên cứu đã chú ý
đến các yếu tố giới tính, lớp học, tuổi tác… Sau khi bốc thăm ta có các đơn vị
mẫu nghiên cứu tương ứng như sau: Phân theo giới tính ta có 17 nam (chiếm
khoảng 56%), 13 nữ (chiếm khoảng 44%). Phân theo lớp học, ở lớp 6 có 4 em
(chiếm khoảng 13%), lớp 7 có 5 em (chiếm khoảng 16%), lớp 8 có 10 em
(chiếm khoảng 33%) và lớp 9 có 11 em (chiếm khoảng 38 %). Theo lứa tuổi
người nghiên cứu chia ra các lứa tuổi từ 11 đến 13 có 16 em (chiếm khoảng
53%), từ 13 đến 15 tuổi có 14 em (chiếm khoảng 47%).
Về cách thức chọn mẫu: Người nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên (cụ thể là chọn mẫu hệ thống khởi đầu bằng ngẫu nhiên). Tức
là lập danh sách đầy đủ 120 hộ dân cư, lấy mẫu 60 đơn vị. Khoảng cách lấy
mẫu là 2. Ta lấy tổng dân cư chia cho số mẫu cần lấy và được hệ số k là 2.
Dựa vào danh sách mẫu đầu tiên lấy ngẫu nhiên là số 2, tiếp theo là 4, 6,
8, 10 ,12 ,14…
2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Để thu thập được thông tin chính xác phục vụ cho nghiên cứu của mình.
Đây là một phương pháp khá quan trọng, cung cấp cho đề tài nhiều thông tin
quý báu. Trong đề người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 6 đối tượng, trong
đó có 3 đối tượng là cha mẹ và 3 đối tượng là trẻ em từ 11 đến 15 tuổi có các
đặc điểm cá nhân khác nhau.
2.3. Phương pháp phân tích tài liệu
Nguồn tài liệu đã được người nghiên cứu sử dụng trong đề tài này gồm
có hai mảng. Một là các tài liệu, bài viết, trích đoạn, các nghiên cứu, ý kiến
có liên quan đến giáo dục nói chung và giáo dục con cái trong các gia đình
nông thôn nói riêng. Thứ hai là nguồn tài liệu thu thập được từ địa phương,
bao gồm các báo cáo tổng kết hằng năm của xã Vĩnh An và của thôn 9 (địa
13
bàn nghiên cứu trực tiếp).
2.4. Phương pháp quan sát
Đây cũng là phương pháp khá quan trọng góp phần để thu thập thêm
những thông tin bổ sung cho quá trình nghiên cứu của đề tài. Thông qua cả
hai hình thức cả quan sát công khai và quan sát bí mật, người nghiên cứu tập
trung vào quan sát hành vi của cha mẹ (thái độ, cử chỉ, hành động, lời nói…)
khi giáo dục con cái mình, trạng thái tâm lí cảm xúc của cha mẹ. Mặt khác
người nghiên cứu cũng tiến hành quan sát những hành vi, cử chỉ của trẻ em
khi cha mẹ sử dụng hình thức giáo dục mềm dẻo, khoa học cũng như khi cha
mẹ sử dụng các biện pháp mang tính chất bạo lực để giáo dục con cái.
V. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình
nông thôn hiện nay.
2. Khách thể nghiên cứu.
- Cha mẹ của các em có độ tuổi thuộc diện nghiên cứu ở xã Vĩnh An,
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
- Trẻ em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi.
Ta biết việc giáo dục con cái trong gia đình là trách nhiệm của tất cả các
thành viên sống trong gia đình. Ngoài bố mẹ ra còn có ông bà, những người
thân khác như anh chị em lớn tuổi, cô, dì…Tuy vậy đây vẫn là chức năng và
nhiệm vụ cơ bản của cha mẹ. Mặt khác trong số các gia đình thuộc diện
nghiên cứu thì các gia đình có trên hai thế hệ chung sống là rất ít. Do vậy để
đi sâu tìm hiểu được vấn đề và để mọi người dễ hiểu, hiểu một cách sâu sắc
bản chất của vấn đề chỉ là cha mẹ và các em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi.
14
3. Phạm vi nghiên cứu.
Thôn 9, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hoá.
Tìm hiểu về tất cả các yếu tố thuộc địa bàn nghiên cứu liên quan và tác động
đến vấn đề nghiên cứu. .
VI. Giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết:
1. Giả thuyết nghiên cứu:
-
Thực trạng của vấn đề giáo dục con cái trong các gia đình
nông thôn hiện nay còn nhiều bất cập.
-
Hành vi giáo dục của cha mẹ chịu tác động của nhiều yếu tố:
Thu nhập của gia đình, nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn, giới tính, bối cảnh văn
hóa nông thôn hiện nay.
-
Hành vi giáo dục của cha me để lại nhiều hậu quả không như
mong muốn.
15
2. Khung lý thuyết:
Tuổi tác
Tuổi tác
Nghề
nghiệp
Học vấn
GiớI tính
Đặc điểm cá
nhân của con
cái.
Đặc điểm cá
nhân của cha
mẹ.
GiớI tính
Lười học
Vô lễ
Hành vi của
con cái
Hành vi giáo dục
con cái của các
bậc cha mẹ.
Hệ quả tích
cực.
Hệ quả tiêu
cực.
VII. Đóng góp của đề tài:
1. Đóng góp lý luận
Đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái
trong các gia đình nông thôn hiện nay” được xây dựng dựa trên phương pháp
nghiên cứu xã hội học .
Thông qua đề tài nghiên cứu giúp người đọc hiểu một cách đầy đủ, cụ
thể hơn về các lý thuyết của bộ môn này nói chung cũng như bộ môn công tác
xã hội nói riêng. Tức là chúng ta nhìn nhận vấn đề giáo dục con cái trong các
gia đình nông thôn sẽ khách quan, khoa học hơn.
Góp phần vào việc làm sáng tỏa vai trò chức năng giáo dục gia đình
trong việc hình thành và phát triển nhân cách gốc của con người.
16
2. Đóng góp thực tiễn
Từ góc độ công tác xã hội và xã hội học thông qua đề tài nghiên cứu này
sẽ giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu về vấn đề này.
Mặt khác đề tài cũng giúp các bậc làm cha làm mẹ tiếp thu, tích luỹ thêm
được nhiều kiến thức về cách thức giáo dục con cái, từ đó có những phương
pháp giáo dục đúng đắn đối với con em mình. Từ đó để thế hệ trẻ có điều kiện
phát triển một cách toàn diện cả về thể lực cũng như trí tuệ.
Mặt khác đề tài cũng có thể dùng để làm tư liệu tham khảo cho các
chương trình giáo dục liên quan đến vấn đề này.
VIII. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, đề tài gồm có 3
chương sau:
Chương I: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các khái niệm liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Phương pháp giáo dục con cái trong các gia đình tại xã
Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Chương III: Công tác xã hội với phương pháp giáo dục con cái trong
các gia đình tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
17
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ CÁC KHÁI
NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
1. Vài nét về điều kiện địa lý và kinh tế ở xã Vĩnh An:
Vĩnh An là một xã được công nhận xã miền núi từ năm 2006, thuộc
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.Trong huyện Vĩnh Lộc, Vĩnh An là xã có
tốc độ phát triển kinh tế ở mức độ thấp so với các xã khác. Tính đến năm
2007 số dân của toàn xã là 3850 người, trong đó cơ cấu dân số tương đối trẻ,
lực lượng lao động dồi dào, phần lớn đều đi làm ăn xa.
1.1. Về cơ cấu hành chính lãnh thổ
Xã được chia làm 8 thôn:
Thôn 1
Thôn 5
Thôn 2
Thôn 7
Thôn 3
Thôn 8
Thôn 4
Thôn 9
Diện tích của xã khoảng 932,8 ha.
1.2. Về vị trí địa lý
Xã Vĩnh An cách thị trấn Vĩnh Lộc – trung tâm văn hoá chính trị của
huyện Vĩnh Lộc khoảng 10 km về phái Tây Bắc. Địa hình của xã được phân
bố dọc theo chiều dài của con sông Mã, đoạn chảy qua tỉnh Thanh Hoá. Phía
Bắc xã giáp xã Vĩnh Minh – một xã tương đối phát triển của huyện, phía
Đông giáp xã Hà Sơn, thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp
xã Định Công thuộc huyện Yên Định. Có thể nói Vĩnh An là xã có một vị trí
khá thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị, mặc dù xã ở hơi xa trung
tâm của huyện.
18
1.3. Về nông nghiệp, chăn nuôi
- Về nông nghiệp:
+ Diện tích cây lúa trong năm 2008 đạt 360 ha/360 ha.
+ Diện tích cây ngô đạt 110 ha/ 114,5 ha.
+ Diện tích cây đậu tương vụ thu + vụ đông đạt 21,34 ha.
+ Diện tích rau màu các loại đạt 117 ha.
+ Năng suất cây lúa bình quân đạt 55 tạ/ ha.
+ Năng suất cây ngô bình quân đạt 54 tạ/ ha.
+ Năng suất cây đậu tương đạt 15 tạ/ ha.
+ Giá trị cây công nghiệp ngắn ngày và rau màu các loại đạt 1,5 tỷ đồng.
- Về chăn nuôi:
Đang tập trung chỉ đạo xây dựng 5 mô hình kinh tế trang trại gồm:
+ 2 mô hình lúa – cá kết hợp, với diện tích trên 5 ha.
+ 2 mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc.
+ 1 mô hình chăn nuôi bò dê và kết hợp sản xuất gạch xây dựng.
Tập trung chỉ đạo tiêm vacxin phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm
năm 2008. Trong năm 2008 không có dịch bệnh xảy ra, tạo điều kiện về mặt
bằng, vốn vay cho các hộ đăng ký chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại.
+ Tổng đàn trâu bò 2000 con.
+ Đàn lợn 3000 con.
+ Đàn dê 1200 con.
+ Đàn gia cầm 50000 con.
+ Sản lượng cá thịt đạt 25 tấn.
1.4. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ
Duy trì nghề khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác than đá,
nung gạch và nung vôi.
19
Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng đất đai và hành lang pháp lý cho các
hộ có nhu cầu kinh doanh dịch vụ.
Tổng thu nhập xã hội năm 2008 đạt 22 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu
người 6 triệu đồng/ người/ năm.
1.5. Về xây dựng cơ bản
Hoàn thiện các hạng mục chùa Ngọc Sơn Linh Ứng của khu du lịch động
Kim Sơn, giá trị công trình gần 460 triệu đồng.
Khởi công xây dựng làm đường giao thông quốc lộ 217 đi trung tâm xã
Vĩnh An, giá trị công trình 4,74 tỷ đồng.
Khởi công xây dựng đường bê tông thôn, giá trị công trình 283 triệu
đồng.
Khởi công xây dựng 1042 m kênh mương nội đồng trị giá 247 triệu
đồng.
Xây dựng khu sân khấu và hệ thống tường rào khu vực sân vận động trị
giá 41 triệu đồng…
2. Về lĩnh vực văn hoá – xã hội:
2.1. Công tác giáo dục
Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Duy trì và giữ vững phổ cập
giáo dục tiểu học, trung học cơ sở đúng độ tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục,
chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt trường chuẩn quốc gia mức độ I.
Năm 2006 – 2007 ở ba cấp học có 878 học sinh: Trong đó
Trường mầm non 195 cháu.
Trường tiểu học 278 học sinh.
Trường trung học cơ sở 310 học sinh.
Trường phổ thông trung học 95 học sinh.
20
Chất lượng học tập năm 2006 – 2007:
Trường mầm non: Giỏi 35%, Khá 46%, Trung bình 19%.
Trường tiểu học: Giỏi 19%, Khá 30%, Trung bình 49%.
Trường trung học cơ sở: Giỏi 7%, Khá 25%, Trung bình 65%, Yếu 3%.
Tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp lớp 9 có 95/112 em, đạt 93%.
Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT 22/32 em, đạt 75%.
Học sinh thi vào các trường ĐH – CĐ và THCN đậu 20 em tăng hơn so
với các năm trước.
2.2. Công tác y tế, dân số - gia đình và trẻ em
Thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng và công tác
phòng chống dịch bệnh, không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn.
Xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đề nghị thẩm định,
kiểm tra công nhận xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Kết quả kiểm tra đạt
94,3/100 điểm (đạt chuẩn).
Duy trì tốt công tác vệ sinh môi trường, kết hợp với trung tâm y tế dự
phòng huyện cấp thuốc CloraminB xử lý nước sinh hoạt vùng ngập lụt và
phun thuốc diệt muỗi trên địa bàn xã đảm bảo an toàn không có dịch bệnh xảy
ra sau bão lụt.
Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm: Chỉ đạo và
phối hợp tuyên truyền công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp, đảm bảo an
toàn không có dịch xảy ra.
Chỉ đạo làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, đặc
biệt là công tác khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, bảo hiểm y tế,
đối tượng hộ nghèo và các cháu học sinh. Năm 2007, đã khám cho 4022 lượt
người, trong đó khám tại trạm là 3199 người, khám tại nhà 55 người, khám tại
trường 788 lượt người. Tổng số bệnh nhân được điều trị là 2017 ca, trong đó
21
điều trị nội trú 38 ca, điều trị ngoại trú 1979 ca, bệnh nhân chuyển tuyến trên
là 720 ca.
Phối hợp tuyên truyền thực hiện tốt chương trình phòng chống
HIV/AIDS trong tình hình mới theo chỉ thị số 54 của Ban Bí Thư TW Đảng.
Thực hiện tốt công tác dân số - gia đình - trẻ em. Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên là 0,75% năm 2007, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên chiếm 8%, tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm 21,5%. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng
nước hợp vệ sinh đạt 75%. Tuyên truyền phát động quyên góp quỹ bảo trợ trẻ
em năm 2007 gần 4 triệu đồng.
2.3. Công tác văn hoá thông tin, thể dục thể thao
Duy trì thực hiện tốt nếp sống văn hoá mới ở khu dân cư, xây dựng nếp
sống văn hoá lành mạnh, không có các tệ nạn xã hội.
Duy trì thực hiện tốt việc cưới, việc tang và các lễ hội theo nếp sống văn
hoá mới.
Khai trương xây dựng hai làng văn hoá mới thôn 7 và thôn 9. Phối hợp
với UBND huyện kiểm tra công nhận làng văn hoá Nham Thôn cấp huyện,
qua kiểm tra không đạt yêu cầu do tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đang còn chiếm
tỷ lệ quá cao.
Tổ chức lễ cắt băng khánh thành chùa Ngọc Sơn Linh Ứng phục vụ nhân
dân và du khách dâng hương vào các ngày lễ tết.
Phối hợp với UB Mặt trận Tổ quốc xã bình xét gia đình văn hoá năm
2007 là 610 hộ/875 hộ, chiếm tỷ lệ 69,7%, có 285 hộ gia đình đạt danh hiệu “
gia đình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”.
Duy trì thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền, đảm bảo 100%
nhân dân trong xã được nghe thông tin, chủ trương chính sách pháp luật của
Đảng và Nhà nước, kế hoạch chỉ đạo điều hành của địa phương, làm tôt công
tác tuyên truyền, cổ động trong các ngày lễ, tết năm 2007.
22
Trên lĩnh vực phong trào thể dục thể thao: Duy trì luyện tập thể dục thể
thao ở các môn như: cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền và các môn điền kinh.
Trong năm 2008 đã tổ chức thi đấu thể dục thể thao trong các ngày lễ, tết. có
hơn 1200 người tham gia luyện tập thể dục thể thao, gia đình thể thao cũng có
trên 15 gia đình.
2.4. Công tác lao động việc làm, chính sách xã hội
UBND xã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các lao động đi làm việc
có thời hạn ở nước ngoài và làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất
trong và ngoài tỉnh.
Tổng số lao động có thời hạn đi làm việc ở nước ngoài là 10 lao động,
trong đó thị trường Đài loan có 03 ngưỜi, Malaixia có 02 người, Quata có 5
người.
Tổng số lao động đi làm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong và
ngoài tỉnh có gần 500 lao động, lao động thời vụ khoảng trên 300 lao động.
Thực hiện tốt chính sách xã hội, chính sách người có công, thường xuyên
làm tố công tác đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách
vào dịp lễ tết, ngày thương binh liệt sỹ 27/07. Trợ cấp khó khăn đột xuất với
tổng tiền trên 50 triệu đồng.
Lập danh sách đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng cho 48 đối tượng chính
sách, với tổng số tiền đã chi trả là 32 triệu đồng, bình quân 650.000đ/người.
Hoàn thiện việc điều tra giải quyết chế độ cho 75 đối tượng tham gia
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ theo quyết định 98/CP của Chính phủ.
Hoàn thiện hồ sơ cấp sổ ưu đãi trong giáo dục cho 45 đối tượng con thương
binh, bệnh binh.
Tổ chức điều tra, rà soát và đề nghị giải quyết chế độ cho 147 đối tượng
theo Nghị quyết số 67/CP của Chính phủ.
23
Tổ chức điều tra khảo sát mức sống hộ chính sách, người có công với
cách mạng.
Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được chú trọng, các hộ nghèo được
tạo điều kiện vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
Năm 2007, giảm 25 hộ = 4%, số hộ nghèo còn lại là 237 chiếm tỷ lệ 28%.
Tổng số hộ đã được cứu đối kịp thời trong và sau cơn bão số 5 là 163 hộ/
544 nhân khẩu…
Thông qua các điều, các lĩnh vực mà chính quyền địa phương và nhân
dân đã triển khai đã đạt được như trên chúng ta thấy rằng:
Trên lĩnh vực vị trí địa lý, cơ cấu hành chính, lãnh thổ địa bàn nằm cách
xã trung tâm gây khó khăn cho việc tham gia các hoạt động văn hoá – xã hội
do huyện tổ chức. Nhưng bù vào đấy xã đã có nhiều hoạt động thiết thực, bổ
ích. Mặt khác lại có điều kiện để giao lưu với các huyện lân cận. Đây cũng là
một lợi thế của xã.
Về các lĩnh vực văn hoá – xã hội: Địa bàn cũng đã thực hiện tốt công tác
xã hội hoá giáo dục. Duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học, trung học
cơ sở đúng độ tuổi. Đặc biệt xã đã chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt
trường chuẩn Quốc gia mức độ I.
Trên lĩnh vực y tế, gia đình, trẻ em: Địa bàn cũng đã triển khai và thực
hiện tốt chương trình y tế Quốc gia, y tế dự phòng và công tác phòng chống
dịch bệnh sảy ra trên địa bàn.
Trên lĩnh vực kinh tế xã cũng có nhiều hoạt động và việc làm thiết thực,
do vậy trong thời gian qua xã đã đạt được những kết quả nhất định. Đây cũng
là một trong những điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao đời sống vật chất
cho các hộ gia đình để họ có điều kiện hơn trong việc chăm sóc và dạy dỗ con
cái mình.
Song ta thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 ở xã vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao làm
24
cản trở phần nào việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được tốt nhất. Đây cũng là
một trong những hạn chế mà xã cần phải khắc phục trong thời gian tới.
II. Các khái niệm liên quan:
1. Gia đình:
Nếu như chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm gia đình thì ta sẽ thấy có rất
nhiều các khái niệm và định nghĩa đã được đưa ra.
Gia đình là một “tế bào” của xã hội, ở những góc nhìn khác nhau người
ta có thể đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau về gia đình. Nhưng dù khác
nhau đến đâu thì những định nghĩa ấy đều thừa nhận rằng, gia đình là một
nhóm xã hội nhỏ nhất (tế bào xã hội) gồm những người liên kết với nhau bởi
những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống. Đó có thể là gia đình hạt nhân (vợ
chồng và con cái) hoặc gia đình, gồm nhiều thế hệ cùng chung sống (tam đại
đồng đường, tứ đại đồng đường, ngũ đại đồng đường…). Do đặc thù của các
mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, kinh tế, giáo dục… Trong nội bộ gia đình
và với bên ngoài mà mỗi gia đình hình thành những yếu tố văn hoá riêng góp
phần xây dựng nên nền văn hoá chung của làng xã và của toàn xã hội. Gia
đình có nhiều chức năng, trong đó chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
con cái thành người có ích cho gia đình và xã hội là một trong những chức
năng chính và quan trọng nhất. Dấu ấn của văn hoá gia đình để lại trong nhân
cách mỗi thành viên của nó là vô cùng sâu sắc và sẽ đi theo con người cho
đến khi nhắm mắt xuôi tay.
Theo từ điển tiếng Việt: “Gia đình là một tập hợp những người có quan
hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một mái nhà”. Đây là một trong
những định nghĩa ngắn gọn nhưng chưa đầy đủ và chặt chẽ về mặt khoa học.
Định nghĩa về gia đình mà cho tới nay được các nhà khoa học, nhà nghiên
cứu đánh giá là đầy đủ, chính xác là: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai
người trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau.
25