Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Nhân tố tác động đến cán cân vãng lai việt nam – góc nhìn từ cách tiếp cận liên thời kỳ và hàm ý chính sách (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.21 KB, 18 trang )

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2013

TÓM TĂT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên công trình:
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CÁN CÂN VÃNG LAI VIỆT NAM - GÓC
NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN LIÊN THỜI KỲ VÀ
HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội

HÀ NỘI, 2013


2

MỤC LỤC


3
I. Giới thiệu đề tài
Tài khoản vãng lai là bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc tế,
nó ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ; thu nhập
và chuyển giao ròng từ nước ngoài; và là một trong những chỉ số quan trọng để
đánh giá hành vi trong tương lai của nền kinh tế. Theo cách tiếp cận liên thời kỳ,
cán cân vãng lai phản ánh mức độ chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong
nước. Thâm hụt cán cân vãng lai đồng nghĩa với việc tiết kiệm trong nước


không đủ mức đầu tư lớn hơn trong nước, đòi hỏi phải thu hút các nguồn vốn từ
bên ngoài như FDI, kiều hối hay là các khoản vay nợ nước ngoài. Với một nền
kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển như
Việt Nam hiện nay thì thâm hụt cán cân vãng lai là điều dễ hiểu. Thậm chí, xét ở
một góc độ nào đấy, điều này còn là cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng được
nguồn vốn từ bên ngoài nhằm phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tình trạng này kéo
dài có thể ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của một quốc gia, tiềm ẩn nhiều
rủi ro và tác động xấu tới nền kinh tế. Tác động này có thể xảy ra như là một cú
sốc đối với cân bằng bên ngoài của nền kinh tế dưới hai hình thức: (i) như một
cuộc khủng hoảng tiền tệ đi kèm với sự mất giá mạnh đồng nội tệ hay suy kiệt
dự trữ ngoại tệ của quốc gia đó; (ii) như một cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài,
dưới dạng mất khả năng trả nợ nước ngoài và/hoặc không có khả năng vay nợ
nước ngoài. Ngoài ra, cân bằng tài khoản vãng lai cũng quyết định tới thay đổi
tài khoản ròng của một nước so với các nước khác thế giới, phản ánh những
quyết định liên thời gian của cả cư dân trong và ngoài nước. Chính bởi vậy mà
biến động tài khoản vãng lai luôn là một trong những chỉ số quan trọng để đánh
giá hành vi nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc tới
các phân tích của các nhà hoạch định chính sách về sự phát triển của nền kinh tế,
và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ trong đó.
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hường
tới cán cân vãng lai và nguồn gốc của mất cân bằng cán cân vãng lai toàn cầu.


4
Còn tại Việt Nam, cho tới thời điểm này vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể
nào thực hiện kiểm định những nhân tố tác động tới cán cân vãng lai của Việt
Nam. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mong muốn kết quả của
nghiên cứu sẽ hữu ích và quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách tài chính
nhằm hướng tới phát triển bền vững nền kinh tế. Bài nghiên cứu này tập trung tập
trung giải quyết các vấn đề lớn sau:

Thứ nhất, phân tích thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam
qua các năm.
Thứ hai, phân tích những nguồn tài trợ chính cho thâm hụt vãng lai ở Việt
Nam, đồng thời tìm hiểu những chính sách có liên quan tới cán cân thương mại,
cán cân vãng lai trong giai đoạn 1996 - nay.
Thứ ba, xem xét tác động của các yếu tố tới cán cân vãng lai của Việt Nam
theo phương pháp tiếp cận liên thời kỳ. Đồng thời giải thích nguyên nhân gây ra
thâm hụt cán cân vãng lai trong giai đoạn nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề này, đầu tiên chúng tôi đi sử dụng phương
pháp thống kê mô tả nhằm phân tích thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai ở Việt
Nam, xét theo cơ cấu, nguồn tài trợ cũng như các chính sách có liên quan dựa
trên số liệu thu thập được. Sau đó, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp ước
lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) để xem xét tác động của các biến giải thích
tới cán cân vãng lai dựa trên cách tiếp cận liên thời kỳ. Nguồn số liệu chính
được chúng tôi chiết xuất từ IFS (IMF) và GSO, ngoài ra số liệu phục vụ cho
phần phân tích thực trạng cũng được chiết xuất từ một số nguồn đáng tin cậy
khác như MOF, WB, SBV... Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin đưa ra kết luận và
một số đề xuất lựa chọn chính sách như là ý kiến đóng góp đối với các nhà
hoạch định chính sách
II. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu


5
Từ trước đến nay đã có rất nhều mô hình, phương pháp tiếp cận tìm cách
giải thích biến động của tài khoản vãng lai. Một số phương pháp có thể kể đến
như cách tiếp cận chi tiêu - absorption approach; cách tiếp cận co giãn thương
mại – trade elasticity approach; và từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước cho
tới này là sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp tiếp cận liên thời kỳ tới tài
khoản vãng lai – intertemporal approach to current account. Mặc dù hai cách
tiếp cận đầu tiên được coi là những cách tiếp cận đầu tiên xem xét giải thích cán

cân vãng lai. Tuy nhiên, hiện nay những cách tiếp cận này ít được sử dụng hơn
so với cách tiếp cận liên thời kỳ bởi những hạn chế nhất định của nó.
Theo cách tiếp cận liên thời kỳ, biến động tài khoản vãng lai là hệ quả của
các quyết định tiêu dùng và đầu tư trong dài hạn đặt dưới những kỳ vọng tương
lai. Theo đó, mô hình này cho thấy những thay đổi của cán cân thương mại có
thể phản ánh những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiết kiệm và đầu tư quốc
gia. Điều này cho phép mô hình có thể mở rộng ra rất nhiều biến số có thể tác
động tiềm ẩn lên tài khoản vãng lai, tập trung vào các yếu tố vĩ mô mà quyết
định tới hành vi tiết kiệm và đầu tư.
Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ cho rằng hệ quả quyết định tiết kiệm và
đầu tư dài hạn được tính toán dựa trên giá trị kỳ vọng của các yếu tố kinh tế vĩ
mô khác nhau. Phương pháp này cố gắng giải thích sự phát triển của tài khoản
vãng lai thông qua việc xem xét kỹ hơn các quyết định tiêu dùng, tiết kiệm và
đầu tư theo thời kỳ. Cách tiếp cận này đã tổng hợp quan điểm thương mại và
dòng chảy tài chính bằng cách xem xét các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng như thế nào
tới giá tương đối trong tương lai và giá tương đối này lại ảnh hưởng như thế nào
tới quyết định tiết kiệm và đầu tư (Obstfeld & Rogoff, 1994).
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã xuất hiện sự mất cân bằng
lớn trong cán cân vãng lai toàn cầu, bắt đầu có nhiều nghiên cứu hơn xem xét
cán cân vãng lai theo cách tiếp cận liên thời kỳ như của Calderon, Chong &
Loayza (2000); Karaay & Vetura (2003); Chinn & Prasad (2003); M. Busière,


6
M. Fratzscher & G. J. Muller (2004) ; Gruber & Kamin (2005); Chinn & Ito
(2007, 2008); Lucun Yang (2011) v.v. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra một
nhóm các biến số có ảnh hưởng tới cán cân vãng lai trong ngắn và dài hạn bao
gồm: quy mô ban đầu của tài sản nước ngoài ròng; độ mở thương mại; tỷ giá
thực hữu hiệu; thu nhập tương đối; tốc độ tăng trưởng; tỷ giá thương mại; phát
triển tài chính;... ngoài ra còn có yếu tố khác như chính sách và thể chế (Chinn

& Ito 2008). Tuy nhiên do mỗi khu vực kinh tế lại có các đặc điểm riêng biệt
nên tác động của các nhân tố này tới cán cân vãng lai là có thể khác nhau.
III. Thực trạng cán cân vãng lai Việt Nam giai đoạn 1996-2012
1. Diễn biến cán cân vãng lai
1.1 Quy mô cán cân vãng lai
Sau khi gia nhập AFTA thâm hụt cán cân vãng lai ở mức 8,2% GDP năm
1996 và có giảm dần sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Khi
cơn bão khủng hoảng qua đi, hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á,
Đông Á đều chuyển từ trạng thái thâm hụt sang thặng dư mạnh cán cân vãng lai
thì Việt Nam dường như chậm hơn một nhịp và phải đến giữa năm 1999 mới
chuyển sang thặng dư. Tuy nhiên khác những quốc gia này, cán cân vãng lai
Việt Nam chỉ duy trì thặng dư được trong một thời gian ngắn. Thặng dư vãng lai
chỉ duy trì được trong 3 năm 1999-2001 với mức thặng dư giảm dần từ 4,1%
xuống 2,1% GDP. Đến cuối năm 2001, đầu năm 2002, cán cân vãng lai lại
chuyển sang trạng thái thâm hụt. Mặc dù thâm hụt trong giai đoạn này là không
lớn (dao động dưới 5% GDP) nhưng với thời gian dài như vậy cũng cho thấy
nhiều điều đáng ngại đối với nền kinh tế. Đồng thời, khi xem xét tỷ lệ tiết kiệm
và đầu tư trong giai đoạn này, ta thấy được rằng sự chênh lệch giữa tiết kiệm và
đầu tư trong nước lớn hơn hẳn so với giai đoạn có thặng dư vãng lai trước đó.
Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, cán cân vãng lai của Việt Nam lập tức đạt thâm
hụt kỷ lục trong 2 năm 2007 và 2008 với mức tương ứng là 9,8% GDP và 11,9%
GDP. Đồng thời, thời kỳ này chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư đã lên tới trên


7
15%. Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra khiến nước ta cũng
chịu nhiều tác động lớn tới kênh xuất nhập khẩu, tuy nhiên thời kỳ này lại là thời
kỳ nước ta nhận được một lượng kiều hối lớn gửi về. Điều này đã giúp cho cán
cân vãn lai có xu hướng giảm dần mức độ thâm hụt chì còn ở mức 6,8% GDP
năm 2009 và 4,0% GDP năm 2010. Sang đến năm 2011, nền kinh tế Việt Nam

rơi vào suy giảm tăng trưởng sau những dấu hiệu phục hồi tạm thời năm 2010,
nhu cầu nhập khẩu giảm, tốc độ tăng nhập khẩu trong 2 năm 2011, 2012 luôn
thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu. Do đó mà kể từ nửa cuối năm 2011 cho tới nay,
cán cân vãng lai nước ta đã chuyển sang trạng thái thặng dư, đồng thời mức
chênh lệch tiết kiệm - đầu tư cũng giảm xuống còn 3,8% năm 2011.
1.2 Cơ cấu cán cân vãng lai
Xem xét cơ cấu cán cân vãng lai cho thấy thâm hụt vãng lai ở Việt Nam
chủ yếu do thâm hụt thương mại gây ra. Biến động cán cân vãng lai luôn đi cùng
với biến động cán cân thương mại trong suốt thời kỳ nghiên cứu. Ngoài ra, phân
tích thực trạng diễn biến cán cân thương mại cho thấy, thâm hụt thương mại chủ
yếu do khối kinh tế trong nước gây ra. Trong khi khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài luôn đạt thặng dư thương mại qua các năm thì đối với khu vực kinh tế
trong nước lại xảy ra điều ngược lại. Chính khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp
một phần không nhỏ trong việc cải thiện cán cân thương mại trong những năm
gần đây.
Về thị trường xuất nhập khẩu, trong khi xuất khẩu của Việt Nam đang có
xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thì nhập khẩu lại ngày càng phụ
thuộc vào một quốc gia đó là Trung Quốc. Điều này dẫn tới trong khi nước ta
đạt được thặng dư đối với các đối tác như EU, Mỹ thì thâm hụt thương mại song
phương với Trung Quốc ngày càng tăng. Năm 2002, thâm hụt với Trung Quốc
chỉ là 0,6 tỷ USD, chiếm 20% thâm hụt, thì đến 2012 con số này lên tới 16,7 tỷ
USD trong khi nước ta đạt thặng dư 284 triệu USD. Như vậy, hiện nay xuất
nhập khẩu của nước ta từ phụ thuộc vào một nhóm nước và khối nước dần


8
chuyển sang phụ thuộc quá nhiều vào một nước đó là Trung Quốc, điều này sẽ
là rất bất lợi bởi thị trường Trung Quốc là một thị trường rất khó xác định và
chứa nhiều điều rủi ro trong bối cảnh hiện nay.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất nhập khẩu, xuất khẩu nước ta có sự dịch chuyển

theo hướng giảm tỷ trọng sản phầm nông, lâm, thủy sản và tăng dần tỷ trọng sản
phẩm hàng công nghiệp. Tuy nhiên, cơ cấu hàng xuất khẩu dần chuyển sang
hàng chế biến thế nhưng máy móc, nguyên nhiên vật liệu để sản xuất những
hàng hoá này chúng ta vẫn phải đi nhập do đó giá trị gia tăng là không nhiều.
Trong khi đó, cơ cấu nhập khẩu hầu như không có nhiều thay đổi qua các năm.
Nhập khẩu Việt Nam vẫn chủ yếu là nhập khẩu tư liệu sản xuất trong đó bao
gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và nguyên nhiên vật liệu. Tỷ lệ này
luôn chiếm trên 90% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu, trong đó thì nguyên nhiên
vật liệu chiếm khoảng 60% giá trị nhập khẩu.
Cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập của Việt Nam luôn ở trong trạng thái
thâm hụt, tuy nhiên, trước những năm 2008 thì mức độ thâm hụt này là không
đáng kể so với thâm hụt thương mại. Chỉ từ sau năm 2008, cả cán cân dịch vụ và
cán cân thu nhập bắt đầu có sự gia tăng mức độ thâm hụt, tốc độ tăng của hạng
mục chi luôn lớn hơn tốc độ tăng hạng mục chi. Đặc biệt đối với cán cân thu
nhập, do khu vực doanh nghiệp có vốn FDI luôn đạt thăng dư thương mại qua
các năm, một phần này chuyển thành lợi nhuận và chuyển về nước có vốn đầu
tư. Do đó trong những năm gần đây, thâm hụt cán cân thu nhập đặc biệt tăng lên
đáng kể.
Trong những năm gần đây, các dòng chuyển giao thu nhập luôn là một
khoản bù đắp đáng kể cho thâm hụt tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Đặc biệt nổi
lên đó là dòng kiều hối chuyển về luôn chiếm tỷ trong lớn và tăng dần qua các
năm. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp thứ 16 trong các quốc gia nhận
nhiều kiều hối nhất năm 2010. Tại Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 2 chỉ sau


9
Phillipine. Lượng ngoại tệ lớn này đã giúp giảm bớt gánh nặng thâm hụt thương
mại do đó cải thiện cán cân vãng lai.
2. Các nguồn tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai
Ngoài kiều hối, Việt Nam cũng được đánh giá là một khu vực hấp dẫn đối

với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy mà đây cũng là một nguồn tài trợ
lớn cho thâm hụt cán cân vãng lai ở Việt Nam. Đặc biệt kể từ khi gia nhập
WTO, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giải ngân đã tăng lên đáng kể so
với giai đoạn trước đó. Trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam thì Nhật
Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore luôn là những nhà đầu tư lớn nhất vào
thị trường Việt Nam.
Một nguồn tài trợ thâm hụt vãng lai nữa đó là vay nợ nước ngoài. Nợ nước
ngoài của Việt Nam trong những năm gần đây đã gia tăng đáng kể, theo thống
kê của Bộ Tài Chính nợ nước ngoài đã tăng từ 32,2% trong năm 2005 lên 41,5%
năm (ở mức 1042 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 50 tỷ USD). Sự gia tăng
của nợ nước ngoài không chỉ làm gia tăng lo ngại tạo ra gánh nặng cho thế hệ
tương lai mà còn không đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Do đó, để nợ nước
ngoài không mất an toàn thì cần phải nâng cao hiệu quả đầu tư trong nước,
khuyến khích tiết kiệm toàn dân.
3. Các chính sách liên quan tới cán cân vãng lai
Trong thời gian qua, Nước ta đã thực hiện nhiều chính sách nhằm khuyến
khích xuất khẩu; cải thiện chất lượng hàng xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh
tranh; chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ; chính sách tỷ giá nhằm thực
hiện mục tiêu cải thiện cán cân thương mại;... Những chính sách này, dù trực
tiếp hay gián tiếp cũng đã có những tác động nhất định tới cán cân vãng lai của
Việt Nam trong thời gian qua. Mặc dù cán cân thương mại cũng như cán cân
vãng lai đã được cải thiện trong khoảng hai năm trở lại đây, nhưng cơ cấu cán
cân vãng lai Việt Nam vẫn còn nhiều mất cân đối trong cán cân thương mại, do


10
đó, việc xem xét kỹ hơn các yếu tố quyết định đến biến động cán cân vãng lai là
điều cần thiết.
IV. Kết quả thực nghiệm
1. Phương pháp, số liệu và biến

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
tới cán cân vãng lai. Theo đó, các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định tiết kiệm và
đầu tư theo thời gian của một nền kinh tế sẽ là yếu tố quyết định tới cán cân
vãng lai của nước đó. Do vậy chúng tôi xem xét tác động của vectơ Xt tới cán
cân vãng lai, trong đó vectơ Xt bao gồm các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định
tiết kiệm và đầu tư như: quy mô ban đầu tài sản ròng quốc gia, độ mở thương
mại, tỷ giá thực hữu hiệu, vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, thu nhập
tương đối,... Phương pháp ước lượng được sử dụng là phương pháp bình phương
nhỏ nhất thông thương (OLS) với hàm hồi quy:

Yt = α+ ß.Xt + εt
Trong đó: Yt là biến phụ thuộc được đại diện lần lượt bởi CA và NX; X t là
vectơ biến giải thích bao gồm: NFA, OPEN, Rel_y, F_DEEP, FDI, Growth,
REER1. Đầu tiên chúng tôi ước lượng mô hình cơ bản với đầy đủ biến giải thích
sau đó ước lượng một số mô hình khác nhằm mục đích so sánh kết quả. Đồng
thời chúng tôi cũng ước lượng với cả cán cân vãng lãi và cán cân thương mại
bởi chúng tôi cho rằng thâm hụt cán cân vãng lai ở Việt Nam chủ yếu do thâm
hụt cán cân thương mại gây nên.
Nguồn dữ liệu chính cho ước lượng mô hình được nhóm nghiên cứu chiết
xuất từ cơ sở dữ liệu của International Financial Statistics (IFS). Ngoài ra, chúng
tôi còn sử dụng thêm số liệu công bố chính thức của GSO cho mô hình của
mình. Trong đó bao gồm số liệu chính của nền kinh tế Việt Nam như GDP, cán

1 Xem thêm phụ lục 1


11
cân vãng lai, xuất khẩu, nhập khẩu, cung tiền M2, NFA, FDI,... Số liệu được thu
thập theo quý từ quý I năm 1996 tới hết quý II năm 2012.
2. Kết quả thực nghiệm

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy cán cân vãng lai, cán cân thương mại
theo các biến giải thích được cho dưới bảng sau. Các mô hình (1), (2), (3) cho
kết quả hồi quy với cán cân vãng lai; các mô hình (4), (5) và (6) cho chúng ta
kết quả hồi quy với cán cân thương mại. Trong đó, mô hình (2), (3), (5) và (6)
lần lượt loại bỏ bớt một trong hai biến thu nhập tương đối (Rel_y) và tăng
trưởng kinh tế (GROWTH) bởi hai biến này, theo chúng tôi cùng có thể đại diện
cho giai đoạn phát triển của một nền kinh tế. Tuy nhiên cơ chế ảnh hưởng của
hai biến này tới cán cân vãng lai là khác nhau nên chúng tôi vẫn đưa cả hai biến
này cùng vào một mô hình trong mô hình (1) và (4) làm mô hình cơ sở để so
sánh. Kết quả được trình bày trong phần Phụ lục 2.
Về quy mô ban đầu tài sản ròng nước ngoài, với mô hình đầy đủ, kết quả
ước lượng cho thấy NFA có tác động tiêu cực tới cán cân vãng lai ở mức ý nghĩa
10%, và với mô hình (2) là ở mức 5%. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng này tương
đối nhỏ, với một sự gia tăng 1% so với GDP của NFA chỉ làm giảm cán cân
vãng lai một mức bằng 0,06% GDP. Kết quả cũng tương tự với cán cân thương
mại tuy nhiên mức độ ý nghĩa là thấp hơn. Có thể thấy tại Việt Nam, ngoại trừ
giai đoạn 2007, 2009, do biến động của sự kiện gia nhập WTO cùng cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu khiến cho cán cân thanh toán từ thặng dư đạt trên 10 tỷ
USD năm 2007 chuyền sang thâm hụt khoảng 8 tỷ USD năm 2009. Còn hầu hết
thời gian còn lại thì cán cân thanh toán luôn ở quanh trạng thái cân bằng hoặc
thặng dư nhỏ. Điều này ngụ ý tại Việt Nam, quy mô tài sản ròng nước ngoài lớn
hơn giúp nền kinh tế có thể chấp nhận thâm hụt thương mại trong một thời gian
dài mà không vỡ nợ. Do đó, tài sản ròng nước ngoài có tương quan âm với cán
cân thương mại cũng như cán cân vãng lai tại Việt Nam.


12
Về tăng trưởng kinh tế, trong cả hai mô hình đầy đủ và mô hình chỉ còn
một biến tăng trưởng đại diện cho sự phát triển của nền kinh tế đều cho cùng
một kết quả là tăng trưởng kinh tế có tác động tiêu cực tới cán cân vãng lai. Kết

quả ước lượng được lần lượt là -1,94 và -2,31 ở mức ý nghĩa thống kê 5% và
1%. Như vậy có thể thấy rằng tác động tiêu cực này là tương đối lớn. Nếu tăng
trưởng kinh tế tăng thêm 1% sẽ làm giảm cán cân vãng lai 1,94% so với GDP.
Việt Nam hiện là một nước đang phát triển luôn nằm trong nhóm những nước có
tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Mặc dù kể từ sau cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu, tốc độ tăng trưởng có giảm nhưng theo tính toán của chúng tôi,
trong giai đoạn từ 1996 tới 2011, tốc độ tăng trưởng trung bình tại Việt Nam vẫn
đạt 7,04%/năm. Điều này cho thấy nước ta vẫn đang trong giai đoạn đầu của sự
phát triển, do đó có xu hướng chấp nhận thâm hụt cán cân vãng lai. Ngoài ra, có
thể nhận thấy tại Việt Nam, khi mà tốc độ tăng trưởng cao hơn các hộ gia đình
có xu hướng gia tăng tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu, mốt sính ngoại đã làm cho
cán cân thương mại xấu đi.
Về thu nhập tương đối, Debelle và Faruqee (1996) cho rằng trong giai đoạn
đầu của quá trình phát triển, một nền kinh tế có thể bị thâm hụt thương mại do
yêu cầu nguồn tài chính từ bên ngoài của nền kinh tế đó. Tuy nhiên, ở giai đoạn
sau của sự phát triển, nền kinh tế thường có thặng dư tài khoản vãng lai để trả nợ
tích lũy bên ngoài trước đó và xuất khẩu vốn cho nền kinh tế kém phát triển hơn.
Do vậy mà họ kỳ vọng một mối tương quan dương giữa thu nhập tương đối với
cán cân vãng lai. Ở đây, Debelle và Faruqee đã chia làm hai giai đoạn phát triển
và cho rằng khi thu nhập tương đối tăng sẽ đưa một nền kinh tế sang giai đoạn
hai của sự phát triển. Tuy nhiên, tại Việt Nam thì mặc dù thu nhập tương đối
tăng nhưng vẫn chưa thể bước qua giai đoạn một của sự phát triển, do đó vẫn
chưa đến giai đoạn mà tăng thu nhập tương đối có thể cải thiện cán cân vãng lai.
Mà thu nhập tăng trong giai đoạn này tại Việt Nam đã gây ra tăng tiêu dùng
hàng ngoại do đó làm xấu đi cán cân thương mại.


13
Kết quả hồi quy cũng cho thấy, khi đưa cả hai biến GROWTH và Rel_y
vào cùng một mô hình ước lượng, ảnh hưởng của thu nhập tương đối dường như

không rõ ràng và không còn ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên tại mô hình (3), hệ số
ước lượng được là -267,06 với mức ý nghĩa 5%. Mặc dù hệ số ở đây rất lớn
nhưng khi so sánh thu nhập thực tế của Việt Nam với thu nhập thực tế của Mỹ
thì con số thu được lại ở mức nhỏ hơn. Cứ 1% tăng lên của GDP thực tế Việt
Nam so với Mỹ sẽ khiến cán cân vãng lai giảm 267,06%. Biến động của biến
thu nhập tương đối thường ở mức dưới 0,005%, do đó mà ảnh hưởng của biến
này tới cán cân vãng lai này chỉ thường ở mức dưới 1,3 - 1,4% so với GDP.
Về độ mở thương mại, có một điểm đáng chú ý tại Việt Nam là dường như
độ mở thương mại không có ảnh hưởng tới cán cân vãng lai. Trong hai mô hình
đầu tiên ta có thể thấy hệ số ước lượng được là không có ý nghĩa thống kê, và
chỉ có ý nghĩa ở mức 10% trong mô hình (3). Tuy nhiên thì ảnh hưởng này rõ
ràng hơn trong trường hợp cán cân thương mại, độ mở thương mại tăng có xu
hướng làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại và làm xấu đi cán cân vãng lai.
Điều này cũng là dễ hiểu bởi độ mở thương mại là chỉ báo của tự do hóa thương
mại. Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, nhập khẩu máy móc, nguyên vật
liệu phục vụ cho sản xuất là chủ yếu nên khi tự do hóa thương mại thì tốc độ
tăng xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu luôn ở mức cao và dẫn tới tăng thâm hụt
thương mại. Tuy nhiên tác động của tự do hóa thương mại tới cán cân thương
mại cũng như cán cân vãng lai là không lớn. Tổng giá trị xuất nhập khẩu tăng
thêm 1% so với GDP sẽ chỉ làm tăng thâm hụt cán cân thương mại 0,13% và
0,12% đối với cán cân vãng lai.
Về tỷ giá thực hữu hiệu, REER là một thước đo giá trị của đồng tiền một
nước với một rổ các đồng tiền của các nước khác mà ở đây chủ yếu là các đối
tác thương mại chính. Khi REER nhận giá trị lớn hơn 1 nghĩa là đồng tiền của
nước đó đang được định giá cao hơn giá trị thực của nó, điều này dẫn tới khả
năng cạnh tranh kém của các hàng hóa xuất khẩu của nước đó và làm cho cán


14
cân thương mại có thể xấu đi. Tuy nhiên, kết quả thu được từ mô hình đối với

Việt Nam lại không cho thấy điều này. Các hệ số thu được ngay cả khi ước
lượng với cán cân thương mại cũng không có ý nghĩa thống kê, thậm chí ở
những mô hình khác nhau còn đưa ra dấu của hệ số trái ngược nhau. Hơn nữa,
như đã xem xét ở phần trước, những chính sách điều chỉnh tỷ giá cứng nhắc ở
Việt Nam cùng với lạm phát cao trong những năm gần đây đã khiến cho tỷ giá
danh nghĩa xa rời tỷ giá thực hữu hiệu. Chính điều này đã dẫn tới việc cán cân
thương mại, cán cân vãng lai không thực sự chịu ảnh hưởng của tỷ giá thực hữu
hiệu.
Về độ sâu tài chính, tương tự như đối với độ mở thương mại, kết quả ước
lượng trong hai mô hình đầu cũng cho thấy biến này không có ảnh hưởng tới cán
cân vãng lai. Tuy nhiên trong mô hình (3) thì lại cho thấy có tác động tích cực ở
mức ý nghĩa 10%. Mặc dù mức ảnh hưởng của biến này tới cán cân vãng lai hay
cán cân thương mại là không rõ ràng, nhưng hệ số ước lượng mang dấu dương
cũng có những hàm ý nhất định. Cứ với mỗi 1% tăng lên của cung tiền M2 so
với GDP sẽ giúp cải thiện cán cân vãng lai 0,02% so với GDP. Có thể tại Việt
Nam, biến số này như là một thước đo cho sự phát triển của hệ thống tài chính,
hệ thống tài chính càng phát triển gây ra tiết kiệm nhiều hơn và từ đó giúp thu
hẹp mức độ chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm trong nước. Từ đó phần nào
giúp cải thiện cán cân thương mại cũng như cán cân vãng lai. Tuy nhiên, tác
động của biến này tới cán cân vãng lai là tương đối nhỏ và cũng không rõ ràng.
Do vậy rất khó để có thể sử dụng độ sâu tài chính như là một công cụ chính sách
giúp cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai.
V. Kết luận và hàm ý chính sách
1. Kết luận
Dựa vào những kết quả từ mô hình hồi quy, chúng tôi đưa ra những kết
luận chính cho bài nghiên cứu như sau:


15
Thứ nhất, thâm hụt cán cân vãng lai trong thời gian qua tại Việt Nam chủ

yếu gây ra bởi thâm hụt cán cân thương mại. Các kết quả ước lượng đều cho
thấy sự tương đồng trong tác động của các biến số lên cán cân thương mại và
cán cân vãng lai, với mức độ chênh lệch không đáng kể.
Thứ hai, nguyên nhân chủ yếu gây ra thâm hụt cán cân thương mại cũng
như cán cân vãng lai là do tác Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình
phát triển. Tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập tương đối tăng lên có tác động tiêu
cực tới cán cân vãng lai, theo đó, cứ mỗi sự tăng lên 1 điểm phần trăm trong
tăng trưởng làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai 1,94 điểm phần trăm so với
GDP. Yếu tố thứ hai gây ra thâm hụt vãng lai là sự gia tăng nguồn vốn FDI và
quy mô ban đầu tài sản ròng quốc gia, với mỗi 1 điểm phần trăm vốn FDI tăng
lên so với GDP làm giảm tài khoản vãng lai 0,59 điểm phần trăm so với GDP.
Thứ ba, độ mở thương mại có tác động tiêu cực tới cán cân cán cân vãng
lai ở mức ý nghĩa thấp, tuy nhiên thì tác động này rõ ràng hơn đối với cán cân
thương mại. Kết quả hồi quy cũng cho thấy độ sâu tài chính có tác động rất nhỏ
tới cán cân vãng lai và cán cân thương mại với mức ý nghĩa thấp. Trong khi đó,
nhóm nghiên cứu lại không tìm thấy mối tương quan nào giữa tỷ giá thực hữu
hiệu với cán cân vãng lai. Điều này hàm ý rằng rất khó có thể sử dụng các chính
sách về tỷ giá nhằm mục đích cải thiện cán cân vãng lai.
2. Hàm ý chính sách
Với những nguyên nhân của tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai tại Việt
Nam được tìm thấy từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, nhóm nghiên cứu xin đề
xuất một vài khuyến nghị chính sách trong việc khắc phục thực trạng thâm hụt
vãng lai kéo dài như sau:
Việc tăng trưởng suy giảm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài suy giảm trong
hai năm trở lại đây đã làm suy giảm nhu cầu nhập khẩu, từ đó giúp cải thiện cán
cân vãng lai. Do đó, chúng tôi cho rằng đây là thời điểm thích hợp để đẩy mạnh


16
thực hiện những chích sách nhằm phát triển những ngành công nghiệp phụ trợ,

nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Bởi hiện nay. Nhóm
chính sách này bao gồm:
• Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển cho các cá nhân, tổ chức đầu tư
vào phát triển công nghiệp hỗ trợ. Khuyến khích về phát triển thị trường; về
cơ sở hạ tầng; về cung cấp thông tin; về KHCN; đào tạo nguồn nhân lực và
về tài chính. Những điều này đã được Thủ tướng kỳ Quyết định về chính
sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ ngày 24/2/2011. Do đó,
cần thực hiện tốt những chính sách đã đề ra, thực hiện có trọng tâm vào một
số ngành quan trọng nhằm đạt được kết quả tốt nhất.

• Tăng cường khả năng tiếp cận với các công nghệ tiên tiến của nước ngoài,
đặc biệt cần quản lý quá trình chuyển giao công nghệ, hướng dòng vốn FDI
vào các ngành có hàm lượng công nghệ trung và cao, từ chối những dự án
có công nghệ lỗi thời, gây ô nhiễm môi trường quá mức. Đồng thời cần có
chiến lược nhập khẩu công nghệ cụ thể, tập trung vào một số ngành công
nghệ cao từ đó rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các quốc gia khác.

• Cần gia tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, đảm bảo nguồn tài chính
cho phát triển công nghệ. Khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
nghiên cứu, phát triển công nghệ những ngành có sức lan tỏa lớn, những
mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao để giảm bớt tình trạng xuất khẩu
trong khi nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu toàn bộ.

Ngoài việc phải phát triển những ngành công nghiệp phụ trợ, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển xuất khẩu thì một vấn đề
nữa đặt ra trong dài hạn đó là phải giảm khoảng cách giữa đầu tư và tiết kiệm
trong nước. Điều này đòi hỏi có sự dịch chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu nền kinh
tế, cần có sự tái cơ cầu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công như Chính phủ đã
nêu lên trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế.



17

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các biến số, nguồn số liệu và cách đo lường
Biến

Đo lường

Nguồn

GDP, GDPr

Tổng sản phẩm quốc dân theo giá thực tế và theo giá so
sánh năm 1994

GSO

CA

IFS

EX

Giá trị hàng hoá xuất khẩu

IFS

IM


Giá trị hàng hoá nhập khẩu

IFS

M2

Cung tiền M2

IFS

NX
NFA

IFS
Trong đó NFA được đo bằng quy mô tài sản nước
ngoài ròng trễ môt kỳ nhằm tránh những vấn đề nội sinh
với cán cân thương mại

IFS

OPEN

IFS

F_DEEP

IFS

Rel_y


IFS

FDI

IFS

GROWTH

Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam

GSO

REER

Tỷ giá thực hữu hiệu

Tính toán của tác
giá

Phụ lục 2: Kết quả hồi quy cán cân vãng lai và cán cân thương mại
(1)
NFA
Rel_y
GROWT
H
OPEN
F_DEEP
FDI
REER


CA
(2)

(3)

(4)

NX
(5)

(6)

-0,06*
-100,55

-0,07**
-

-0,04
-267,06**

-0,05
-39,18

-0,05*
-

-0,03
-201,74


-1,94**

-2,31***

-

-1,90**

-2,04**

-

-0,09
0,02
-0,59*
-21,78

-0,07
0,02
-0,63*
-27,84

-0,12*
0,03*
-0,71**
5,56

-0,13*
0,02
-0,83**

-7,17

-0,13*
0,02
-0,85**
-9,53

-0,17**
0,03*
-0,95**
19,52

66
0,37

66
0,32

Obs.
66
66
66
66
R-square
0,31
0,30
0,25
0,37
Ghi chú: *, **, ***: Có ý nghĩa thống kê mức 10%, 5%, 1%.


Nguồn: Kết quả hồi quy của nhóm nghiên cứu


18

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài Chính (2010), Bản tin Nợ Nước ngoài số 7.
César Calderón, Alberto Chong & Norman Loayza: “Determinants of
Current Account Deficits in developing countries”, Policy research working
paper, 7/2000.
G. Debelle and H. Faruquee:“What Determines the Current Account? A
Cross-Sectional Panel Approach”. IMF Working Paper No. 96/58, 1996.
Maurice Obstfeld & Kenneth Rogoff: “The intertemporal approach to the
current account”, NBER Working Paper, 1994.
Menzie D. Chinn & Eswar S. Prasad: “Medium-term determinants of
current accounts in industrial and developing countries: an empirical
exploration”, Journal of International Economics 59, 2003.
Menzie D. Chinn and Hiro Ito: “Global Current Account Imbalances:
American Fiscal Policy versus East Asian Savings”, Review of International
Economics, 2008.
Lucun Yang: “An Empirical Analysis of Current Account Determinants in
Emerging Asian Economies”, Cardiff Economics Working Papers, 2/2011.
Nouriel Roubini & Paul Wachtel: “Current Account Sustainability in
Transition Economies”, NBER Working Papers, 1998.
Tô Trung Thành: “Thách thức thâm hụt thương mại”, Báo cáo kinh tế vĩ
mô 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu, Ủy ban kinh tế của Quốc
hội, 2012.




×