Tải bản đầy đủ (.docx) (43 trang)

TỔNG QUÁT VỀ TỔ CHỨC LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) ,LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - EU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (304.3 KB, 43 trang )

GVHD: Ngô Văn Phong

Phần 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ TỔ CHỨC LIÊN MINH CHÂU
ÂU (EU) ,LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM EU

I.

Giới thiệu chung về EU:

Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 27
nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan
Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển, Phần Lan, Séc, Hungga-ri, Ba Lan, Slơ-va-kia, Slơ-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Exờ-tơ-nia, Man-ta, Síp,
Bun-ga-ri và Ru-ma-ni.
Trụ sở:

Brussels (Bỉ)

Số ngơn ngữ chính
thức:

23

Ngày châu Âu;

Ngày 9 tháng 5

Diện tích:

4.422.773 km² (nước có diện tích lớn nhất là Pháp với
554.000 km2 và nhỏ nhất là Malta với 300 km2);


Dân số:

Khoảng 500 triệu người, chiếm 7,3% tồn thế giới
(thành viên có dân số lớn nhất là Đức với 82 triệu, ít nhất
là Malta với 0,4 triệu).

GDP (EU 27):

17,57 nghìn tỷ USD

Thu nhập bình quân:

32,900 USD/người/năm

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 1


GVHD: Ngô Văn Phong

II.

Cơ cấu tổ chức:

EU là một thực thể kinh tế, chính trị đặc thù với mức độ liên kết sâu sắc. Về cơ
bản, EU có các định chế chính là: Hội đồng châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng, Nghị
viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu và Toà án châu Âu.
1. Hội đồng châu Âu (European Council):
Hội đồng châu Âu là cơ quan quyền lực cao nhất của EU gồm lãnh đạo 27 nước
thành viên, Chủ tịch Hội đồng châu Âu và Chủ tịch EC. Hội đồng đưa ra định
hướng và ưu tiên chính trị cho cả khối, cùng với Nghị viện châu Âu thông qua các

đạo luật của EU và ngân sách chung của Liên minh. Các quyết định của Hội đồng
châu Âu chủ yếu được thông qua theo hình thức đồng thuận.
Chủ tịch Hội đồng châu Âu (President of the European Council) có nhiệm kỳ 2,5
năm (tối đa 2 nhiệm kỳ).
2. Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi sau Hiệp ước Lisbon của Council of the European
Union hoặc Council of Ministers hoặc The Council):
Hội đồng Bộ trưởng gồm đại diện (thường ở cấp Bộ trưởng) của các quốc gia
thành viên là cơ quan đưa ra định hướng chính sách trong các lĩnh vực cụ thể và
khuyến nghị EC xây dựng các đạo luật chung. Ngoài Hội đồng Ngoại trưởng do
Đại diện cấp cao về Chính sách đối ngoại và An ninh chung của EU làm Chủ tịch,
Chủ tịch Hội đồng các Bộ trưởng khác do nước Chủ tịch luân phiên đảm nhiệm.
3. Nghị viện châu Âu (European Parliament – EP):
Nghị viện châu Âu có chức năng chính là cùng Hội đồng Bộ trưởng ban hành luật
pháp; giám sát các cơ quan của Liên minh châu Âu, đặc biệt là Ủy ban châu Âu.
Nghị viện có quyền thơng qua hoặc bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban châu Âu;
cùng Hội đồng Bộ trưởng có thẩm quyền đối với ngân sách, đối với việc chi tiêu
của Liên minh. Từ năm 1979, các Nghị sĩ của Nghị viện EU được bầu cử trực tiếp,
nhiệm kỳ 5 năm. Lần bầu cử mới đây vào tháng 6/2009. Trong Nghị viện các Nghị
sĩ phân chia theo nhóm chính trị khác nhau mà không theo Quốc tịch.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 2


GVHD: Ngô Văn Phong

4. Ủy ban châu Âu (European Commission - EC)




III.








IV.

Ủy ban châu Âu là cơ quan hành pháp của khối. EC hoạt động độc lập, có
chức năng xây dựng, kiến nghị các đạo luật của EU, thực thi, áp dụng và
giám sát việc triển khai các hiệp ước và điều luật của EU, sử dụng ngân
sách chung để thực hiện các chính sách chung của cả khối theo quy định.
Chủ tịch Ủy ban do Chính phủ các nước thành viên nhất trí đề cử. EC có 26
ủy viên và 01 Chủ tịch từ 27 nước thành viên, các ủy viên được bổ nhiệm
trên cơ sở thỏa thuận giữa các nước thành viên và được Nghị viện phê
chuẩn, nhiệm kỳ 5 năm.
Tình hình EU:
EU là một thực thể chính trị và kinh tế lớn và quan trọng hàng đầu thế giới.
EU có 2/5 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ, 4/7 nước cơng nghiệp
hàng đầu thế giới (nhóm G7) và 4/20 nước trong nhóm G20.
EU hiện là nền kinh tế lớn nhất thế giới, GDP năm 2011 đạt 17,57 nghìn tỷ
USD; Thu nhập bình qn đầu người tồn EU đạt 32,900 USD/năm.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), do khủng hoảng kinh tế, năm 2010
FDI của EU trên toàn cầu chỉ đạt được 107 tỷ euro, so với 281 tỷ euro của
năm 2009.
EU cũng là nhà tài trợ hợp tác phát triển lớn nhất thế giới, Mặc dù phải đối
mặt với nhiều khó khăn kinh tế trong những năm qua, EU vẫn duy trì vai trị
là nhà tài trợ lớn nhất thế giới với 53 tỷ Euro viện trợ phát triển (ODA) dành
cho các nước đang phát triển trong năm 2011, chiếm hơn 60% tổng viện trợ

của thế giới

Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ

Trong hơn 20 năm qua, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển nhanh chóng và
sâu rộng về chính trị, lãnh đạo cấp cao hai bên luôn khẳng định coi trọng tăng
cường hợp tác nhiều mặt cho tương xứng với tiềm năng và vị thế của hai bên.Việt
Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày
28/11/1990, kể từ đó đến nay, quan hệ hai bên đã đi vào khn khổ, phát triển
nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. EU trở thành một trong những đối tác
quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 3


GVHD: Ngơ Văn Phong

mại, đầu tư; đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt
Nam - EU đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển năng
động này đặt ra yêu cầu thiết lập một khuôn khổ hợp tác mới cho quan hệ Việt
Nam - EU thay thế cho Hiệp định khung Việt Nam - EC năm 1995.
Trên tinh thần đó, tháng 6/2005, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê
duyệt Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2015; chủ trương xây dựng “Quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu
dài giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì hồ bình và phát triển” và đã giao Bộ
Ngoại giao đàm phán, ký kết Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Việt
Nam - EU.Sau q trình hai năm với chín vịng đàm phán, Hiệp định PCA được hai
bên ký trong tháng 10/2010 và ký chính thức tháng 6/2012, đã đánh dấu bước phát
triển về chất mới của quan hệ giữa Việt Nam và EU.
Hiệp định PCA không chỉ điều chỉnh quan hệ song phương giữa Việt Nam

và EU trên các lĩnh vực như: Hợp tác phát triển kinh tế - thương mại, giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, nông nghiệp, y tế, du lịch...mà còn bao gồm hợp tác
tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, hợp tác đối phó với các thách thức tồn cầu
như: Biến đổi khí hậu, mơi trường, thiên tai, an ninh năng lượng, chống phổ biến
vũ khí hủy diệt hàng loạt, khủng bố và tội phạm có tổ chức.
Những kết quả hợp tác Việt Nam - EU đạt được, xuất phát từ lợi ích và nhu
cầu của hai bên trong bối cảnh thế giới có những chuyển biến nhanh chóng và sâu
rộng. Quan hệ Việt Nam - EU được thiết lập khi công cuộc đổi mới của Việt Nam
đã mang lại những kết quả ban đầu và EU đang hoạch định chiến lược hợp tác với
Châu Á. Việt Nam tìm thấy ở EU một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn,
nguồn đầu tư trực tiếp tiềm năng, là nhà tài trợ quý báu, giàu thiện chí. EU đánh
giá cao tiềm năng và xác định, Việt Nam là đối tác quan trọng trong chiến lược
Châu Á của mình. EU tích cực thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, một đối tác tích cực
có trách nhiệm và vai trị ngày càng tăng trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế và
khu vực quan trọng như: ASEAN, ASEM, WTO và Liên hợp quốc.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 4


GVHD: Ngô Văn Phong

Phần 2 : QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ EU VỀ THƯƠNG
MẠI XUẤT NHẬP KHẨU.
I.
EU – ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI LỚN NHẤT CỦA VIỆT NAM



















Hà Nội (TTXVN) - Sau gần hai thập kỷ thiết lập quan hệngoại giao, và đặc
biệt là từ khi Hiệp định khung về hợp tác được ký kết năm 1995, thương mại
đã trở thành một trong những lĩnh vực nổi bật nhất trong quan hệ hợp tác
giữa Việt Nam và EU.
Trong những năm qua, hợp tác thương mại và kinh tế giữa Việt Nam và EU
đã có những bước tiến vững chắc. Hiện EU đã trở thành đối tác thương mại
lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17% tổng giao dịch thương mại của Việt Nam
với quốc tế.
Theo số liệu của Vụ châu Âu (Bộ Công Thương), trong 6 tháng đầu năm
nay, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt trên 6,7
tỷ USD, tăng hơn 26% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2005, là thời điểm đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và EU, với kim ngạch hai chiều đạt 8,1 tỷ USD gấp 27 lần năm
1990 và hai lần năm 2000. Năm 2006 con số này đạt hơn 10 tỷ USD, tăng
26% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng cao nhất trong vòng sáu năm
qua
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU năm 2006 đạt trên 7 tỷ USD,
gấp 2,5 lần giá trị năm 2000 và nhập khẩu đạt khoảng 3 tỷ USD gấp 2,4 lần

so với năm 2000.
Việt Nam xuất khẩu sang EU chủ yếu là hàng như giày dép, dệt may, thủy
sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp, cà phê và chè. Giày dép là mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào EU, đạt gần 2 tỷ USD năm
2006, tiếp đến là dệt may đạt trên 1,24 tỷ USD.
Trong số các nước thành viên EU, Đức, Anh, Pháp và Hà Lan luôn là những
thị trường nhập khẩu lớn nhất hàng hố của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng
trung bình từ 20-30%/năm.
Việt Nam nhập khẩu từ thị trường EU chủ yếu là máy móc thiết bị, cơng
nghệ, ngun phụ liệu dệt may, sắt thép, tân dược, hóa chất và các sản phẩm
hóa chất.
Ngồi các thị trường trên, Tây Ban Nha và Hy Lạp là những thị trường mới
đang được đánh giá có nhiều hứa hẹn bởi mức tăng trưởng hàng năm tương
đối cao.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 5


GVHD: Ngơ Văn Phong









Một trong những động lực thúc đẩy sự gia tăng trong hợp tác thương mại
giữa Việt Nam và EU, theo nhận định của ông Đinh Văn Hồi, Phó Vụ trưởng

Vụ châu Âu, là hai bên đã dành cho nhau ưu đãi thuế quan liên tục trong
nhiều năm. Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Đề án tổng thể về quan
hệ Việt Nam - EU (14/6/2005) và Chương trình hành động về Quan hệ Việt
Nam-EU giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015 nhằm thúc đẩy quan
hệ song phương.
Cùng với Hiệp định khung, Việt Nam và EU cũng đã ký một số hiệp định,
thỏa thuận về kinh tế-thương mại, đáng chú ý như Hiệp định Dệt may, Thỏa
thuận về chống gian lận thương mại giày dép, Hiệp định tiếp cận thị trường.
Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 2004.
Những năm gần đây, cộng đồng người Việt tại các nước EU cũng là một cầu
nối tích cực trong quan hệ thương mại giữa hai bên. Hàng năm, cộng đồng
người Việt tại EU đã nhập khẩu một lượng hàng Việt Nam để bán tại các
trung tâm thương mại và các cơ sở kinh doanh của người Việt tại các nước
này.
Tuy nhiên, theo ông Hồi, trong quan hệ thương mại hai bên còn gặp nhiều
khó khăn do trong đàm phán mở cửa thị trường, EU còn gắn kết điều kiện
mở cửa thị trường với các điều kiện lao động, môi trường, các vụ kiện chống
bán phá giá...mà khơng tính đến trình độ phát triển của Việt Nam.
Để thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển thương mại giữa Việt Nam và EU,
ông Hồi cho rằng, thời gian tới, hai bên cần tăng cường đối thoại về các
chính sách thương mại nhất là những chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến
kinh tế Việt Nam như chính sách cạnh tranh, chính sách tiêu chuẩn kỹ thuật.
EU cần thúc đẩy hơn nữa đầu tư vào những ngành cơng nghiệp mà Việt Nam
khuyến khích và EU có thế mạnh như dầu khí, năng lượng mới, đóng tàu,
công nghệ cao, công nghệ phần mềm công nghiệp.

VIỆT NAM - EU: THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
GIỮA VIỆT NAM- EU NĂM 2012
Số liệu thống kê Hải quan Việt Nam cho thấy trong những năm gần đây quan hệ

thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Châu Âu
(EU) ngày càng phát triển.
Tổng trị giá bn bán hàng hố hai chiều trong giai đoạn 2005-2010 đạt tốc
độ tăng bình quân 17%/năm. Cụ thể trong năm 2005, tởng kim ngạch hàng hóa
xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - EU chỉ đạt 8,13 tỷ USD; trong khi đó con sớ này
II.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 6


GVHD: Ngô Văn Phong

của năm 2010 đạt 17,75 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2005. Đến năm
2011, con số này lên đến 24,29 tỷ USD, tăng 36,9% so với năm 2010.
Năm 2012, tổng trị giá trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và các thị trường
EU đạt 29,09 tỷ USD, tăng 19,8%so với năm trước(thấp hơn 17,1 điểm phần trăm
so với con số 36,9% của năm 2011) và chiếm 12,7% tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của cả nước
Biểu đồ 1: Thống kê tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thươngmại
hàng hóa giữa Việt Nam- EU giai đoạn 2005 -2012

Biểu đồ 2 và 3 dưới đây thể hiện rõ hơn trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế
toàn cầu, trong năm 2012 đa số các thị trường thuộc khối EU đểu có tốc độ tăng
xuất nhập khẩu với nước ta thấp hơn tốc độ tăng năm 2011.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 7


GVHD: Ngô Văn Phong


Biểu đồ 2: Tốc độ tăng xuất khẩu
của Việt Nam sang một số thị trường
khối EU năm 2011 và năm 2012

Biểu đồ 3: Tốc độ tăng nhập khẩu của Việt
Nam từ một số thị trường khối EU năm 2011 và
năm 2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan


Hiện nay, EU là khu vực thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là đối
tác lớn thứ tư (sau ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc) cung cấp hàng hoá cho
nước ta.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2012 của Việt Nam sang thị
trường EU đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,7% (tương ứng tăng 3,76 tỷ USD) so với một
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 8


GVHD: Ngơ Văn Phong

năm trước đó và chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ra thị trường
thế giới.
Dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
trong năm 2012 là 3 nhóm hàng: điện thoại các loại & linh kiện tăng 2,73 tỷ USD
(tương ứng tăng 93%), máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 793 triệu
USD (tăng 98,3%), máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng 209 triệu USD (tăng
47,1%). Chỉ tính riêng kim ngạch tăng của 3 nhóm hàng này đã đóng góp 3,73 tỷ
USD, chiếm tới 99,3% trong tổng số tăng thêm của kim ngạch xuất khẩu sang EU

so với năm 2011.
Ở chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này
là 8,79 tỷ USD, tăng 13,5% (tương ứng tăng hơn 1 tỷ USD) và chiếm 7,7% tổng
kim ngạch nhập khẩu của cả nước từ tất cả các thị trường trên thế giới. Trong đó,
nhập khẩu nhóm hàng phương tiện vận tải & phụ tùng tăng 784 triệu USD (đóng
góp tới 75% phần tăng lên của kim ngạch nhập khẩu từ thị trường EU), nhóm hàng
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 377 triệu USD, dược phẩm tăng 170
triệu USD. Tuy nhiên, có một số nhóm hàng nhập khẩu từ thị trường này trong
năm qua bị suy giảm như: máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 368 triệu
USD, ôtô nguyên chiếc các loại giảm 61,7 triệu USD, cao su & sản phẩm từ cao su
giảm 33,8 triệu USD,.... Cụ thể, mức xuất siêu với các nước thành viên EU trong
năm 2005 chỉ là 2,92 tỷ USD, đến năm 2010 con số này đã lên đến hơn 5 tỷ USD,
tăng gấp gần 2 lần so với năm 2010 và năm 2011 mức thặng dư đạt gần 8,8 tỷ
USD, tăng 75% so với năm trước.
Tính đến hết năm 2012, cán cân thương mại của Việt Nam với EU đạt con số
thặng dư lên đến 11,51 tỷ USD, tăng 30,8% so với năm 2011.Trong tổng số 27 thị
trường của khối EU thì có tới 23 thị trường Việt Nam xuất siêu (dẫn đầu là 4 thị
trường Anh, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha với tổng mức xuất siêu đạt 7,49 tỷ USD,
chiếm 65,1% mức thặng dư của Việt Nam với tất cả thành viên EU) và chỉ có 3 thị
trường nhập siêu (nhập siêu từ Ailen đứng đầu với 566 triệu USD) .
Biểu đồ 2: Cán cân thương mại của Việt Nam với các thị trường thuộc khối
EU năm 2012

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 9


GVHD: Ngô Văn Phong

Nguồn: Tổng cục Hải quan


Năm 2012, thương mại giữa Việt Nam và các thành viên EU có 8 đối tác xuất
khẩu và 2 đối tác nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD.
Kim ngạch của thị trường xuất khẩu trên 1 tỷ USD chiếm 87% kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang EU và đối với các thị trường nhập khẩu con số này chỉ là
hơn 45%.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 10


GVHD: Ngô Văn Phong

Bảng 1: Số lượng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu khối EU theo mức kim
ngạch năm 2012
Xuất khẩu
Số lượng
Mức kim ngạch
(thị
trường)
Lớn hơn 2 tỷ
4
Từ 1 tỷ USD- 2 tỷ USD
4
Từ 500 triệu USD- 1 Tỷ USD 1
Từ 100 triệu - 500 triệu
6
Dưới 100 triệu USD
12
Tổng cộng
27


Nhập khẩu
Số lượng
Kim ngạch
Kim ngạch
(thị
(Triệu USD)
(Triệu USD)
trường)
11.769
1
2.377
5.882
1
1.589
674
4
2.865
1.399
7
1.654
579
14
306
20.303
27
8.791

Trong đó, Đức là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với kim
ngạch đạt gần 4,1 tỷ USD, tiếp theo là Anh: 3,03 tỷ USD, Hà Lan: 2,48 tỷ USD,
Pháp: 2,16 tỷ USD,... Ở chiều ngược lại, Đức, Pháp, Italia và Hà Lan là các đối tác

lớn nhất cung cấp hàng hoá cho các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ trọng chiếm
khoảng 65% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thành viên EU.
Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: Trong năm qua, Việt Nam chủ yếu
xuất sang EU các nhóm hàng chính như: điện thoại các loại & linh kiện, giày
dép, dệt may, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, cà phê, hàng thủy
sản, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng,...Đa số các sản phẩm xuất khẩu
sang EU có tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch sản phẩm đó của nước ta
xuất sang tất cả các thị trường trên thế giới.
Bảng 3: Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính
của Việt Nam sang EU năm 2012


Stt Mặt hàng

Kim ngạch
(TriệuUSD)

1
2

5.663
2.650

Điện thoại các loại & linh kiện
Giày dép

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 11

Tốc độ
tăng/giảm

(%)
93,0
1,6

Tỷ
trọng 1
(%)
27,9
13,1

Tỷ
trọng
2 (%)
44,5
36,5


GVHD: Ngơ Văn Phong

3

Dệt may
2.456
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh
4
1.601
kiện
5 Cà phê
1.298
6 Hàng thủy sản

1.133
Máy móc thiết bị dụng cụ & phụ
7
653
tùng
8 Gỗ & sản phẩm từ gỗ
654
9 Túi xách, ví, vali, mũ & ơdù
437
10 Sản phẩm từ chất dẻo
427
11 Hàng hóa khác
3.331
Tổng cộng
20.303

-4,5

12,1

16,3

98,3

7,9

20,4

22,3
-16,7


6,4
5,6

35,3
18,6

47,1

3,2

11,8

7,2
-1,0
3,9
1,1
22,7

3,2
2,2
2,1
16,4
100,0

14,0
28,8
26,8
6,9
17,7


Nguồn: Tổng cục Hải quan
Ghi chú: 1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2012 so với
năm 2011
2. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
3. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang
EU so với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị
trường.


Các nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu: Việt Nam nhập khẩu hàng hoá từ các
nước/thị trường trong khối EU chủ yếu là các nhóm hàng như: máy móc
thiết bị dụng cụ & phụ tùng, phương tiện vận tải & phụ tùng, dược phẩm,
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện. Trị giá nhập khẩu của 4 nhóm
hàng này chiếm tới hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ
EU.

Bảng 3: Kim ngạch, tỷ trọng nhập khẩu một số nhóm hàng chính
của Việt Nam từ EU năm 2012
Stt Mặt hàng

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 12

Kim ngạch Tốc độ
Tỷ
Tỷ
(Triệu USD) tăng/giảm trọng 1 trọng



GVHD: Ngơ Văn Phong

1
2
3

Máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng
Phương tiện vận tải & phụ tùng
Dược phẩm
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh
4
kiện
5
Sản phẩm hóa chất
6
Sữa & sản phẩm từ sữa
7
Thức ăn gia súc & nguyên liệu
8
Phế liệu sắt thép
9
Linh kiện & phụ tùng ơtơ
10 Hóa chất
11 Hàng hóa khác
Tổng cộng

2.051
1.260
876


(%)
-15,2
133,0
24,1

(%)
23,3
14,3
10,0

2 (%)
12,8
74,9
48,9

630

149,4

7,2

4,8

334
275
245
226
207
202
2.485

8.791

2,7
9,2
29,3
21,1
-1,2
-1,7
-6,4
13.5

3,8
3,1
2,8
2,6
2,4
2,3
28,3
100,0

13,7
32,7
10,0
16,0
14,2
7,3
3,4
7,7

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Ghi chú:1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2012 so với
năm 2011
2. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN.
3. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang ASEAN so
với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị trường.

III.

quan hệ thương mại giữa Việt Nam –EU & chính sách ngoại thương

Sau gần 2 thập kỉ thiết lập quan hệ ngoại giao và đặc biệt khi hiệp định khung được
kí kết năm 1995 , thương mại đã trở thành một trong những lĩnh vực nổi bật nhất
trong quan hệ giữa Việt Nam và EU


thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP)
Việt Nam và EU đã dành cho nhau những chế độ đãi ngộ tối huệ quốc
( MFM) và EC cam kết dành cho hàng hóa Việt Nam có chế độ ưu đãi phổ
cập ( GSP),gia hạn và tăng ngạch nhập khẩu hang dệt may của Việt Nam

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 13


GVHD: Ngô Văn Phong

.Tuy nhiên ,2009 EU đã thông qua quy định về việc bỏ quy chế hệ thống
thuế quan phổ cập đối với mặt hang giày dép Việt Nam làm cho lợi thế cạnh
tranh về giá của mặt hàng giày xuất khẩu giảm xuống so với các nước
khác .Hội da giày Việt Nam cho biết khi không được hưởng mức thuế ưu đãi

kim ngạch xuất khẩu giày của Việt Nam vào EU giảm từ 2,19 tỷ USD xuống
mất 109,9 triệu USD.Theo quy định thuế quan ưu đãi chỉ dành cho những
nước đang phát triển không phân biệt đối xử nhằm giúp đỡ các nước đang
phát triển phụ thuộc vào một ngành hàng xuất khẩu







Hàng rào thuế quan
Tất cả các quốc gia thành viên EU đều áp dụng hệ thống thuế hải quan
thông thường khi hàng nhập khẩu từ bên ngoài EU .EU áp thuế chống bán
phá giá đối với giày mũ da hay hạn chế mặt hàng nhập khẩu cá da trơn của
Việt Nam do phát hiện dư lượng kháng sinh cấm,hiện nay có 33 mặt hàng
giày thể thao và giày mũ da của Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá còn
các mặt hàng khác vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan và không bị hạn chế số
lượng khi nhập khẩu vào EU
Hàng rào phi thuế quan
EU áp dụng HACCP- Hazard analysis and control of critical point như là
yêu cầu bắt buộc của EU đối với các ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm ,áp dụng chặt chẽ hệ thống luật pháp về kiểm tra chất lượng và an toàn
vệ sinh thực phẩm ,và các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phải đảm bảo
các điều kiện về an toàn vệ sinh hàng thủy sản ,cụ thể là lượng dư kháng
sinh phải thấp hơn mức cho phép , việc hiện nay EU đang áp dụng đó là hạn
ngạch nhập khẩu
Các tiêu chuẩn về môi trường và tiêu chuẩn kĩ thuật

Phần 3:QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – EU VỀ HỢP TÁC & ĐẦU


I.
Hợp tác:
Kể từ khi Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) thiết lập quan hệ ngoại
giao cấp đại sứ (ngày 28/11/1990) đến nay đã tròn 22 năm. Trải qua một
chặng đường dài gần một phần tư thế kỷ, hai bên Việt Nam - EU đã kề vai sát
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 14


GVHD: Ngô Văn Phong

cánh, vượt qua mọi thử thách, từng bước xây dựng quan hệ hợp tác từ thấp
lên cao
Việt Nam - EU đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác tin cậy, thủy chung,
lâu dài, bền vững. Lãnh đạo hai bên có quyết tâm cao, thường xuyên trao đổi
các đoàn cấp cao, đã ký kết các Hiệp ước hợp tác có hiệu quả, đưa ra nhiều
sáng kiến hợp tác thiết thực. Mối quan hệ hợp tác giữa hai bên được dựa trên
cơ sở pháp lý vững vàng.Tất cả những điều đó đã tạo ra một nền móng vững
chắc cho việc thực hiện Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) sau
này.Cụ thể, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với từng quốc gia thành
viên của EU 27 từ thập kỷ 50, 60 (với các nước Đông Âu), với các nước Tây
Bắc Âu từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Sau khi Việt Nam và EU thiết lập quan
hệ ngoại giao (11/1990) đến năm 1992, hai bên đã ký kết hiệp định dệt may,
tháng 7/1995 ký hiệp định khung về hợp tác, năm 1999 ký thỏa thuận chống
gian lận thương mại giày dép, năm 2004 ký thỏa thuận Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại thế giới (WTO), năm 2005 ký hiệp định tiếp cận thị trường.
Và đặc biệt tháng 6/2012 ký PCA2. Kim ngạch hai chiều nâng từ mức 1,5 tỷ
USD (1995) lên 24,3 tỷ USD (2011) tăng hơn 16 lần, EU là đối tác thương
mại lớn thứ 3, là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Cơ cấu hàng
hóa giữa hai bên luôn bổ sung cho nhau, không làm tổn hại đến sự cạnh tranh

của nhau. Tính đến hết năm 2011, EU đã đầu tư vào Việt Nam 1687 dự án
còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 32,85 tỷ USD, trong đó tập trung chủ
yếu ở những lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ... Cam kết viện trợ phát triển
chính thức (ODA) của EU giành cho Việt Nam năm 2012 là l tỷ USD, đưa
EU luôn là nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam và EU đang nỗ lực nâng quan hệ song phương lên một
tầm cao mới.Minh chứng rõ nhất là những hoạt động tích cực nhằm chuẩn bị
cho việc ký kết Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA) thay thế cho Hiệp định
khung được kí kết từ năm 1995.PCA được coi là khung pháp lý mới, đáp ứng
nhu cầu của cả hai phía nhằm tạo điều kiện để mối quan hệ Việt Nam - EU
phát triển hơn nữa trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.Với Hiệp định mới
này, triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và EU sẽngày càng rộng mở và phát
triển toàn diện hơn.
II.

Đầu tư của EU vào Việt Nam (FDI):
1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút đầu tư tực tiếp của EU:
a/ Những thuận lợi:

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 15


GVHD: Ngô Văn Phong

Với việc cải thiện môi trường đầu tư, thể hiện qua luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam 1996 cũng như các chính sách thu hút đầu tư cởi mở đã tạo ra một
cơ hội mới đối với các nhà đầu tư nước ngồi nói chung và các nhà đầu tư
EU nói riêng. Có thể nói, đây là cơ hội tốt để các nhà đầu tư EU tham gia đầu
tư vào Việt Nam. Bởi vì:
- Việt Nam là một thị trường còn nhiều tiềm năng, với dân số gần 80 triệu

người lại đang trong quá trình phát triển, với việc thực hiện chiến lược cơng
nghiệp hố, hiện đại hoá, nhu cầu tiêu dùng về tư liệu sản xuất, cũng như nhu
cầu sinh hoạt không ngừng tăng lên.
- Tình hình chính trị trong nước ổn định, trật tự an tồn xã hội đảm bảo. Tuy
có những tệ nạn xã hội song Chính phủ có những biện pháp hữu hiệu để xố
bỏ, tạo ra mơi trường trong sạch.
- Luật Đầu tư Nước ngồi vừa được sửa đổi có nhiều điểm thơng thống hơn
đã khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực, khu vực cụ thể.
- Có chính sách ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng.
- Người Việt Nam, với trình độ giáo dục khá tốt, sự tinh tế, khả năng ứng xử
và bàn tay khéo léo hứa hẹn một nguồn lực mạnh, kèm theo đó là thị trường
lao động tương đối rẻ và ổn định. Thêm vào đó, tài nguyên thiên nhiên đa
dạng, nhiều nguồn lực chưa được khai thác hoặc mới chỉ được khai thác bước
đầu.
- Sau chín năm mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi, Việt Nam đã bắt
đầu có được những kinh nghiệm của cơ chế thị trường. Nó ngày càng hoạt
động mạnh mẽ, thị trường đã từng bước được xây dựng đồng bộ và dần dần
củng cố vững chắc.
- Đặc biệt là quan hệ giữa Việt Nam và từng nước EU đã có từ lâu, và gần đay
quan hệ song phương cũng như đa phương giữa Việt Nam và EU được tăng
cường mạnh mẽ.
Chính vì những lý do này mà luồng vốn đầu tư FDI của EU vào Việt Nam
ngày càng tăng lên với nhiều nước EU đầu tư hơn. Với những năm trước đây,
khi bắt đầu mở cửa chỉ có Đan Mạch, Pháp, CHLB Đức, và Thụy Điển thì vào
những năm tiếp theo các nước khác lần lượt đầu tư vào.
b/ Những khó khăn:
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 16


GVHD: Ngơ Văn Phong


Mặc dù đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong thời gian qua, nhưng có rất nhiều
việc địi hỏi phải có thời gian để có thể đạt được kết quả mong muốn.
Mặc dù đã có rất nhiều lần sửa đổi Luật ĐTNN và ban hành nhiều chính sách
khuyến khích nhưng chứng ta vẫn bị các nhà đầu tư
phàn nàn về sự yếu kém của môi trường pháp lý, sự chồng chéo và thiếu đồng
bộ
của các cấp là một căn bệnh kinh niên của nước ta.Thêm vào đó là sự chưa đá
p ứng kịp về hệ thống cơ sở hạ tầng như: đường xá, điện,nước, và hệ thống
ngân hàng, tài chính.
Tiếp đó là có một khoảng cách q lớn về cơng nghệ cũng như phương pháp
quản lí giữa Việt Nam và EU, đã vậy là sự thiếu hụt về cán bộ giỏi hoạc công
nhân kỹ thuật cao, do vậy việc tiếp nhận cơng nghệ cao là rất khó khăn, các
nhà ĐTNN thường phải bỏ tiền ra để đào tạo lại cho các lao động Việt Nam.
Một yếu tố nữa là việc Việt Nam tham gia vào AFTA, tuy sẽ góp phần tăng
đầu tư của các nước trong khu vực, nhưng sẽ làm giảm các hoạt động đầu
tư của các tập đồn lớn trong đó có các tập đồn của EU do Việt Nam phải cắt
giảm thuế quan nhưu vậy họ sẽ bị giảm quyền lực hiện có, và chắc chắn sẽ
làm giảm đầu tư.

III.

. Thực trạng đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
a/ Trước khi gia nhập WTO:
Bảng : FDI từ các nước thành viên của EU vào Việt Nam năm 2005
(triệu USD) (tính tới ngày 31/12/2005 - chỉ tính dự án cịn hiệu lực)
Nước

Số dự


Tổng vốn

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 17

Vốn cấp

Vốn thực


GVHD: Ngơ Văn Phong

Áo
Đức
Đan mạch
Hà lan
Italia
Lucxambua
pháp
Tây ban nha
Anh

án
2
14
9
10
4
2
22
1

7

đăng kí
1,1
21,7
35,6
125,6
10,7
717,9
28,2
2,4
29,8

mới
0,6
14,8
27,7
33,0
10,1
770,5
24
2,4
26

hiện
0,5
6,9
7,9
92,6
0,6

1,4
4,2
3,8

(Nguồn: Cục ĐTNN - Bộ KH&ĐT)

Kể từ khi Việt Nam ban hành Luật ĐT nước ngoài tháng 12/1987 đến hết
tháng 8/2005, các nước EU có 466 dự án cịn hiệu lực, với tổng vốn ĐT đăng
ký gần 6,8 tỷ USD và vốn ĐT thực hiện gần 3,8 tỷ USD. Đã có 16 trong tổng
số 25 quốc gia thành viên EU ĐT vào Việt Nam, trong đó dẫn đầu là Pháp với
150 dự án và tổng vốn ĐT là 2,12 tỷ USD; tiếp theo là Hà Lan với 57 dự án và
tổng vốn ĐT 1,8 tỷ USD; Anh có 66 dự án tổng vốn ĐT 1,2 tỷ USD…Các
nhà ĐT EU có mặt trong hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó tập
trung nhiều nhất vào lĩnh vực cơng nghiệp và xây dựng, với 260 dự án và tổng
vốn ĐT là 4 tỷ USD, đặc biệt đáng chú ý là riêng dầu khí có 7 dự án cịn hiệu
lực, với tổng vốn lên tới 1,35 tỷ USD. Trong lĩnh vực dịch vụ, EU có 158 dự
án với tổng vốn ĐT là 2,3 tỷ USD và trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, 48 dự
án, tổng vốn ĐT là 452,5 triệu USD có nguồn gốc từ EU.
Lĩnh vực

Số vốn

Công nghiệp xây
dung
Dịch vụ

260

Số vốn đầu tư(tỷ
USD)

4

158

2,3

Nông-lâm-ngư nghiệp 48

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 18

452,5


GVHD: Ngơ Văn Phong



Nhận xét chung về đầu tư trước khi gia nhập WTO: Mặc dù các nước EU
đã có số vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam là 6,8 tỷ USD, nhưng con số này,
theo các cơ quan chuyên trách về ĐT của Việt Nam, là còn “rất thấp so với tiềm
năng của các nước EU cũng như nhu cầu vốn ĐT của Việt Nam. “ĐT của châu
Âu tại Việt Nam mang tính chất thăm dị và giữ chỗ, các nhà ĐT châu Âu chưa
thực sự có những kế hoạch dài hạn tại Việt Nam”
Có thể nhận thấy, một đặc điểm nổi bật của các nhà ĐT châu Âu là rất quan
tâm khai thác thị trường nội địa của Việt Nam. Hàng loạt dự án thành công
của khu vực này đều nói lên điều đó. Ngồi những “đại gia” có tiếng tăm
trong ngành dầu khí như BP (Anh), Total (Pháp), Shell (Anh - Hà Lan) hay
ngành bưu chính - viễn thơng như Siemens (Đức), France Telecom (Pháp)…
thì xu hướng này còn được thể hiện rõ nét nhất là các tập đoàn sản xuất hàng
tiêu dùng và thực phẩm như Unilever (Hà Lan), Nestlé (Thuỵ Sỹ), Electrolux

(Thuỵ Điển)…; các tập đoàn kinh doanh siêu thị như Metro (Đức), Bourbon
(Pháp)…
Đối với Việt Nam, châu Âu là một đối tác ĐT chiến lược đứng trên quan điểm
thế mạnh về vốn và công nghệ của khu vực này.Các nhà ĐT EU đã góp phần
tạo ra một số ngành nghề, sản phẩm mới có hàm lượng khoa học và cơng nghệ
cao. Tuy nhiên, để đẩy mạnh thu hút vốn ĐT từ châu Âu cần có những giải
pháp mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt trong điều kiện EU đang mở rộng, nhu cầu
ĐT của các nước thành viên mới là rất lớn và vốn ĐT của EU sẽ ưu tiên cho
các thành viên mới.
Việc EU là đối tác lớn đầu tiên kết thúc đàm phán với Việt Nam về việc gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho thấy những tác động của quá
trình này lên thu hút ĐT của EU vào Việt Nam. “Khi Việt Nam gia nhập
WTO, tính hấp dẫn của Việt Nam cao hơn và các nhà đầu tư có thể đưa ra
những quyết định ĐT lớn hơn.Các nhà ĐT châu Âu có thể sẽ tìm cách mua cổ
phần của các doanh nghiệp Việt Nam tìm cách tiếp cận thị trường”, một
chuyên gia ĐT nhận xét. Trong khi chờ đợi các vòng đàm phán WTO kết thúc,
thực hiện việc mở cửa lĩnh vực dịch vụ theo đúng cam kết và đối với một số
dự án cụ thể, có thể xem xét cho phép ĐT sâu hơn được coi là những giải
pháp có tính thuyết phục.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 19


GVHD: Ngô Văn Phong

b/ Sau khi gia nhập WTO
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, Việt Nam cùng EU đã ký hơn 10
Hiệp định quan trọng liên quan đến hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương
mại, các hoạt động hỗ trợ, viện trợ cho Việt Nam trong cơng cuộc đổi mới.



Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 20


GVHD: Ngô Văn Phong

Bảng: Đầu tư trực tiếp từ các nước EU vào Việt Nam năm 2009
Nước

Số dự án
(dự án)

Vốn đăng ký
(nghìn USD)

Vốn điều lệ
(nghìn USD)

CH Ailen

4

4.377

1.717

CHLB Đức

139


777.611

367.773

CH Séc

16

50.461

26.411

Đan Mạch

81

583.830

220.513

CH Pháp

274

3040.302

1543.273

Hà Lan


124

2933.914

1577.891

Italia

34

162.002

42.472

Na Uy

19

66.536

28.894

Phần Lan

5

33.435

10.950


Nguồn : Tổng cục Thống kê
Từ bảng số liệu trên , ta thấy Pháp là quốc gia đầu tư nhiều vào Việt Nam với
số dự án lên tới 274 và có vốn đăng ký là 3040.302 nghìn USD.Tiếp đó đến
CHLB Đức với 139 dự án và vốn đăng ký : 77.661 nghín USD. Hà Lan với
124 dự án và 2933.914 nghìn USD. Có thể nói, Việt Nam là một thị trường
tiềm năng trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài.
Theo vụ thị trường châu Âu, trong năm 2012, các nước thành viên EU đã có
thêm 140 dự án đầu tư mới vào Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký cấp mới trên
1,03 tỷ USD.
Hiện nay, 22 trong số 27 nước thành viên EU có dự án đầu tư vào Việt Nam.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 21


GVHD: Ngơ Văn Phong

Tính đến tháng 1/2013, EU có 1.810 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký
34,28 tỷ USD, thực hiện 13,8 tỷ USD. Trong đó vốn đăng ký và vốn thực hiện
từ Đảo British Virgin - lãnh thổ hải ngoại của Anh, nơi có cơ chế tài chính
thống và các cơng ty quốc tế thường đăng ký đạt lần lượt 14,3 tỷ USD và 5,3
tỷ USD.
Đến hết năm 2012, Hà Lan với 176 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 5,88 tỷ USD đã
dẫn đầu và vượt Pháp với 375 dự án, tổng vốn đầu tư 1,61 tỷ USD, tiếp theo là
Anh (162 dự án, 2,61 tỷ USD); Síp (13 dự án, 2,74 tỷ USD), Luxembourg (24
dự án, 1,49 triệu USD); Đức (195 dự án, trên 1,05 tỷ USD).
Nhìn chung đầu tư từ Việt Nam sang EU là không nhiều và dừng ở mức khiêm
tốn, chủ yếu tập trung vào một số nước như Hà Lan, Séc, Đức.
Tính đến nay, tính cả các dự án đã hết và đang cịn hiệu lực thì Việt Nam có 10
dự án đầu tư sang CHLB Đức với tổng vốn đăng ký là 24,2 triệu USD, Hà Lan
có 1 dự án (5,6 triệu USD), Ba Lan có 2 dự án (8,1 triệu USD), Vương quốc
Anh có 6 dự án (2,1 triệu USD), Cộng hòa Séc (5,3 triệu USD).

EU hiện nay là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (xuất khẩu của Việt
nam sang EU đã tăng 33,5% trong năm 2011, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
của EU chiếm hơn 12% tổng cam kết FDI cho Việt Nam trong năm 2011). EU
cũng là nhà cung cấp viện trợ phát triển chính cho Việt Nam, với cam kết viện
trợ kỷ lục 1 tỷ USD cho năm 2012.
Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt
Nam với 562 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 7,6 tỉ USD. Các dự án đầu tư của
châu Âu có hàm lượng và tỷ lệ chuyển giao công nghệ cao, phương pháp quản
lý tiên tiến, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt,
liên tục trong những năm qua, EU luôn là một trong những đối tác viện trợ
ODA lớn nhất cho Việt Nam, mức cam kết năm 2007 là 940 triệu USD. Các
khoản viện trợ của EU luôn đáp ứng các lĩnh vực ưu tiên của ta như xóa đói
giảm nghèo, y tế, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế.
Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam với các nước thành viên của Liên minh
châu Âu (EU) đã có từ lâu, mối quan hệ này đặc biệt phát triển nhanh, mạnh kể
từ khi Việt Nam và EU thành lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Liên Minh châu
Âu đã và đang trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả
năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của Việt Nam như giầy dép, dệt may, nông
sản, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ dân dụng, sản phẩm nhựa, đồ điện tử, thuỷ sản...
Đồng thời EU cũng là một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng
các yêu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên liệu cho nhiều
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 22


GVHD: Ngô Văn Phong

ngành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước.
Đối với các ngành dịch vụ, nhìn chung hoạt động dịch vụ của các doanh nghiệp
có FDI từ châu Âu lớn hơn trong tất cả các ngành so với mặt bằng chung doanh

nghiệp Việt Nam và vượt trội ở một số ngành so với FDI vào lĩnh vực dịch vụ
của Việt Nam. Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp FDI châu Âu trong
hầu hết các ngành dịch vụ lớn hơn nhiều lần so với doanh thu trung bình của
các doanh nghiệp FDI khác. Cụ thể các ngành khoa học và công nghệ (1,91
lần), y tế và các hoạt động cứu trợ (1,83 lần), giáo dục đào tạo (1,79 lần), tài
chính tín dụng (gấp 1,77 lần), vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc (gấp 1,77
lần) và thương nghiệp và sửa chữa (gấp 1,45 lần). Tuy nhiên, có một điểm cần
xem xét là doanh thu trung bình của ngành dịch vụ châu Âu đầu tư vào nhiều
nhất là các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn lại thấp
hơn mức bình quân của các doanh nghiệp FDI từ các nước khác (trung bình
bằng 0,8 lần các doanh nghiệp FDI nói chung). Bên cạnh đó, doanh thu vào các
ngành khách sạn và nhà hàng cũng rất thấp, chỉ bằng 0,54 lần các doanh nghiệp
FDI cùng ngành). Điều này cho thấy các ngành khách sạn và nhà hàng cũng
như kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn không phải là những ngành có lợi thế
cạnh tranh lớn của FDI châu Âu tại Việt Nam so với FDI từ các khu vực khác
trong khi thực chất đầu tư vào các ngành dịch vụ này lại chiếm tỷ trọng vốn và
doanh nghiệp
tương đối lớn trong tổng vốn FDI của châu Âu vào Việt Nam.
c/ Những tác động FDI của EU đến một số mặt của kinh tế Việt Nam:
. Tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
Với số vốn đầu tư và số doanh nghiệp tăng dần qua các năm, số lượng việc làm
do nguồn FDI từ khu vực châu Âu tạo ra trong nền kinh tế cũng tăng lên đáng
kể. Tốc độ tăng trưởng tạo việc làm trung bình của FDI từ khu vực châu Âu
khoảng gần 15% một năm. Nếu như năm 2002, khu vực này sử dụng trung bình
khoảng 61042 lao động thì năm 2009, tổng số lao động trong các doanh nghiệp
FDI của châu Âu đã lên tới 160557 lao động. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung
FDI, các doanh nghiệp có vốn FDI từ khu vực châu Âu sử dụng số lượng lao
lao động thấp hơn mức trung bình. Dù quy mơ vốn và số doanh nghiệp của khu
vực này luôn trên 11% trong tổng giá trị của các doanh nghiệp FDI song số
lượng lao động sử dụng chỉ chiếm khoảng 8 – 9% so với tổng số lao động thuộc

khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 23


GVHD: Ngô Văn Phong

2003
2004
2005
2007
2008
2009

Tỷ lệ so với
Tỷ lệ so với các doanh
khu vực FDI nghiệp trong
điều tra
8,83%
1,40%
8,55%
1,50%
8,24%
1,56%
7,10%
1,59%
7,46%
1,65%
8,60%
1,88%


Số việc làm Đóng góp vào việc làm tạo
tạo thêm hàng thêm hàng năm trong khu vực
năm
doanh nghiệp
6231
13648
11405,5
110817,5
18577,5
31161,5

1,18%
2,40%
2,19%
10,05%
2,09%
4,46%

Lưu ý: số liệu về lao động là số trung bình của lao động đầu kỳ và cuối kỳ vào
thời điểm 1/1 và 31/12 hàng năm.
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp các năm 2002 – 2009, Tổng cục Thống kê
c.2. Đóng góp vào ngân sách nhà nước(NSNN):
FDI từ khu vực châu Âu có vai trị khá lớn trong thu ngân sách nhà nước. Nếu
như năm 2002, khi tổng giá trị nộp NSNN của các doanh nghiệp FDI chiếm
khoảng 42% giá trị nộp NSNN của khu vực doanh nghiệp thì riêng doanh
nghiệp FDI từ châu Âu đã nộp tới 30%. Nhìn chung xét theo các doanh nghiệp
trong mặt bằng chung của từng ngành kinh tế, khu vực doanh nghiệp FDI từ
châu Âu ln đóng góp tương đối lớn vào NSNN so với các khu vực còn lại.
Tuy nhiên, nếu loại bỏ những khoản nộp ngân sách nhà ở các doanh nghiệp có
FDI từ châu Âu thuộc ngành khai thác mỏ, tỷ trọng đóng góp của khu vực

doanh nghiệp này chỉ còn rất nhỏ, chỉ còn khoảng 2-4% tổng giá trị thu ngân
sách nhà nước. Như vậy những đóng góp của khu vực châu Âu ở các ngành
dịch vụ, công nghiệp chế biến, và xây dựng vào ngân sách nhà nước hẳn là
lớn.Đồng thời, tỷ lệ đóng góp vào nộp NSNN của khu vực FDI từ châu Âu cũng
giảm dần trong những năm qua. Năm 2009, khi khu vực FDI chỉ cịn đóng góp
35% vào giá trị nộp NSNN của doanh nghiệp thì khu vực doanh nghiệp có
nguồn FDI từ châu Âu cũng chỉ cịn đóng góp 20%.
c.3. Tác động tới chuyển giao cơng nghệ:
Có một lợi thế của FDI từ châu Âu trong chuyển giao công nghệ cho Việt Nam
thông qua lao động. Theo số liệu từ Điều tra doanh nghiệp 2009, số lao động có
trình độ cao đẳng và đại học ở các doanh nghiệp có FDI từ châu Âu trung bình
Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 24


GVHD: Ngô Văn Phong

cao hơn 1,55 lần so với mức trung bình của các doanh nghiệp FDI nói chung.
Điều này có thể đem lại tác động tích cực trong việc chuyển giao cơng nghệ và
quản lý trong q trình di chuyển lao động giữa các doanh nghiệp trong nền
kinh tế do trình độ lao động cao hơn thường đi kèm với khả năng tiếp thu công
nghệ và kĩ năng quản lý tốt hơn.
Bên cạnh đó, tương ứng với lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khu vực
châu Âu tăng qua các năm từ 2001 trở lại đây, giá trị hàng hóa vốn nhập khẩu từ
EU vào Việt Nam cũng tăng lên trong cả giai đoạn. Giá trị nhập khẩu hàng hóa
vốn năm 2000 là 547,092 triệu USD, đến năm 2009, con số này là 2,38 tỷ USD
năm 2009. Nhập khẩu từ các nước bạn hàng cũng khá tương ứng với vị trí đầu
tư FDI của nước đó sang Việt Nam (trong số các nước EU, các nước đầu tư FDI
sang Việt Nam chủ yếu là Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sỹ, đồng thời nhập
khẩu hàng hóa vốn của Việt Nam từ châu Âu cũng chủ yếu ở những quốc gia
này). Như vậy có thể thấy nguồn vốn FDI từ khu vực châu Âu với hàng hóa vốn

giúp một phần chuyển giao máy móc tiên tiến và có thể là công nghệ hiện đại
trong sản xuất từ các nước phát triển này cho Việt Nam.
c.4. Tác động tới xuất nhập khẩu:
Bên cạnh nhập khẩu, các doanh nghiệp FDI châu Âu cũng có những đóng
góp tích cực vào xuất khẩu của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam
sang các nước châu Âu nói chung và các nước EU nói riêng tăng mạnh qua
các năm (Hình 10). Hơn nữa, xét về tổng thể, Việt Nam luôn xuất siêu sang
các nước châu Âu, đặc biệt là khu vực EU. Các nước bạn hàng lớn của Việt
Nam cũng chính là những nước đầu tư trực tiếp nươc ngoài nhiều tài Việt
Nam như Hà Lan, Vương quốc Anh, Pháp; và các mặt hàng cơng nghiệp
chính xuất khẩu sang những nước này cũng chủ yếu từ các ngành có đầu tư
FDI lớn (như xuất khẩu thực phẩm và đồ uống sang Hà Lan). Đồng thời,
điều này cũng được thể hiện thông qua số doanh nghiệp tham gia hoạt động
xuất khẩu tăng từ 160 doanh nghiệp năm 2003 lên tới 224 doanh nghiệp năm
2010. Tuy nhiên xét đồng thời giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của khu vực
châu Âu năm 2010 lại cho thấy FDI từ các nước này nhập siêu vào Việt Nam
thay vì xuất siêu. Điều này gây lo ngại cho nền kinh tế do FDI nhập siêu có
thể khiến cho cán cân thanh toán của Việt Nam xấu đi. Đồng thời, con số
nhập siêu này cũng có thể một phần nào đó bao gồm cả vấn đề chuyển giá
khi doanh nghiệp xuất khẩu thành phẩm sang công ty mẹ với mức giá thấp
trong khi nhập khẩu nguyên liệu và các đầu vào khác với mức giá cao.

Quan hệ Kinh Tế giữa Việt Nam và EU Page 25


×