Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
Lời Mở đầu
1. Ý nghĩa bài đề tài
Ngày nay, hội nhập quốc tế cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế diễn ra
càng rộng rãi với tất cả quốc gia và khu vực .Trong bức tranh toàn cầu, nổi lên một số quốc gia,
khu vực (Mỹ, Trung Quốc, Nhất Bản và Liên minh Châu Âu ) ngày càng có sức ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Mỗi quốc gia, khu vực trên đều có những đặc điểm, thế
mạnh riêng cùng với vai trò của mình.Trong đó, EU là một thực thể đa phương gồm 27 quốc gia,
với diện tích là 4.324.782 km2 với dân số hơn 501.259.840 người, là khối kinh tế hùng mạnh và là
trung tâm xuất khẩu vốn lớn nhất thế giới.
Là một quốc gia nhỏ, nhưng lại có vị trí quan trọng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương,
Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí của mình trên đấu trường quốc tế. Chụi tác động không
nhỏ bởi bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng nghiêm trọng và chưa có dấu hiệu hồi phục trong
những năm sắp tới, nhưng xuất khẩu của Việt Nam lại đạt được những kết quả vô cùng khả quan,
đặc biệt là năm 2011, đạt 92,9 tỉ- mức kỉ lục từ trước đến nay.
Trong thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, bên cạnh Mỹ, thì EU là một trong
những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam từ giai đoạn 2007 đến nay. Tuy đạt được nhiều thành
công và có nhiều thuận lợi trong giao thương, nhưng ngành xuất khẩu của Việt Nam cũng còn
không ít hạn chế và khó khăn khi thâm nhập thị trường rộng lớn này.Do đó, việc nghiên cứu tìm
hiểu và phát triển thị trường này là vô cùng quan trọng. Đây cũng chính là lí do mà nhóm chúng
em chọn đề tài :Thị trường EU và những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang EU
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Eu là thị trường rộng lớn, đa dạng , có nhiều triển vọng phát triển cho ngành xuất khẩu
của Việt Nam nhưng đồng thời cũng có nhiều yêu cầu khắc khe. Chinh phục thị trường này đòi
hỏi nhiều nỗ lực và sự đầu tư, nhất là khi Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc, một
cường quốc về xuất khẩu. Với mục tiêu đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường EU, đánh giá và
phân tích tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, bài tiểu luận sẽ đưa ra một số
giải pháp dành cho ngành xuất khẩu nói chung và giải pháp dành cho xuất khẩu một số mặt hàng
chủ lực nói riêng nhằm phát huy những thành công và khắc phục những hạn chế của ngành xuất
khẩu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng: tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Phạm vi nghiên cứu: Các nước thuộc thị trường EU
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu có sẵn từ tổng cục thống kế Việt
Nam và một số Website có uy tín khác.
5. Kết cấu đề tài: Bao gồm bốn phần chính, đó là :
Trang 1 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
Chương I: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 đến 6 tháng đầu năm 2012
Chương II: Phân tích thị trường EU
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Chương IV: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu từ Việt Nam sang EU.
Trang 2 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA VIỆT NAM
1.1. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và thế giới giai đoạn 2007-6
tháng 2012
Bảng 1.1.: Tình hình kim ngạch và tốc độ xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007-2011
Năm
Tăng, giảm tuyệt đối
Đơn vị tính : Triệu USD
Tăng giảm tương
đối
-
2007
Tổng kim ngạch Xuất
nhập khẩu
106674.285
2008
136600.616
29926.331
28.05
2009
124084.802
-12515.814
-9.16
2010
153184.927
29100.125
23.45
2011
197390.186
44205.259
28.86
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhận xét chung:
Qua số liệu ở bảng 1.1, nhìn chung tình hình xuất nhập khẩu của từ khi Việt Nam gia nhập
WTO (năm 2007), trừ năm 2009 là năm kinh tế rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, kim
ngạch xuất khẩu giảm sút, còn lại đều gia tăng trong con số tuyệt đối và con số tương đối. Bình
quân tốc độ tăng trưởng là 17,78% /năm với mức tăng kim ngạch tuyệt đối bình quân tương ứng:
22,68 tỉ USD/năm.
Cụ thể, tình hình xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam
Bảng 1.2: Tình hình thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và thế giới
Đơn vị tính: triệu USD
2009
2010
2011
58281.774
54634.48
69820.15
92880.54
61295.55
78318.842
69450.33
83364.78
104509.7
6
tháng/2012
51,2
67.91
52263.25
-15916.8
-20037.067
-14815.9
-13544.6
-11629.1
-995.34
Nội dung
2007
Xuất khẩu
45378.74
Nhập khẩu
Cán cân
thương mại
2008
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nhận xét tình hình xuất nhập khẩu qua các năm:
Năm 2007: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 45,38 tỷ USD.Một số mặt
hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử
máy tính, cà phê, gạo và cao su với kim ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch xuất
Trang 3 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
khẩu của cả nước. Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 61,30 tỉ USD, ước tính tăng
35.5% so với năm 2006. Do mức độ tăng của nhập khẩu lớn hơn mức độ tăng của Xuất khẩu, do
đó nhập siêu cũng gia tăng so với cùng kì năm trước. Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu tăng
chủ yếu do nhập thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu tăng cao, một phần do giá nhập tăng:
xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, giấy sợi, dệt, bông…
Năm 2008: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2008 đạt 136,60 tỉ USD,
tăng 28,1% so với năm 2007. Trong đó, xuất khẩu đạt 58,28 tỉ USD, tăng 28,4%, nhập khẩu đạt
78,31 tỷ USD, tăng 27,7%, thấp hơn tốc độ tăng xuất nhập.Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
vẫn là dầu thô, than đá, hàng dệt may, giày dép, hải sản…Việt Nam vẫn chủ yếu nhập máy móc,
thiết bị, xăng dầu, phân bón, chất dẻo…. trong đó nhóm mặt hàng xăng dầu các loại và máy móc
thiết bị dụng cụ phụ tùng nhập khẩu trên 10 tỷ USD
Năm 2009: Do chịu tác động mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, làm cho nhu
cầu về nhập khẩu của Việt Nam và giá cả quốc tế giảm sút mạnh. Đồng thời các nước cũng gia
tăng các biện pháp bảo hộ, đặt ra nhiều hàng rào phi thuế quan làm ảnh hưởng tiêu cực lên hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 54,63 tỉ USD,
giảm 6,3% so với năm 2008, kim ngạch nhập khẩu khoảng 69,45 tỉ, giảm 11,32% so với năm
trước. Tuy nhiên, nếu snếu loại trừ yếu tố đột biến về thị trường và giá hàng hoá trên thế giới năm
2008, xuất khẩu năm 2009 vẫn có tốc độ tăng khá so với dãy số thời gian của các năm trước:
tăng 74,1% so với năm 2005, tăng 41,8% so với năm 2006, tăng 16,3% so với năm 2007.
Năm 2010: Tổng kim ngạch của Việt Nam ước tính đạt 153,18 tỉ USD, trong đó xuất
khẩu đạt 69,82 tỉ USD, tăng 27,28% so với năm 2009, nhập khẩu đạt 83,36 tỉ USD tăng 20,03%
so với năm trước. Tình hình nhập siêu của năm 2010 cũng giảm hơn so với năm 2009 (giảm
8,58%), bằng 8,84% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Năm 2011: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 176,69 tỉ USD đạt mức kỉ lục từ
trước đến nay. Do tốc độ tăng của xuất khẩu (tăng 33,02% )lớn hơn tốc độ tăng của nhập
khẩu(tăng 25,36%) nên tình trạng nhập siêu giảm 14,4% so với năm 2010, mức thấp nhất kể từ
năm 2010. Nguyên nhân của sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu này là do sự tác động của nhiều
yếu tố như: gia tăng về giá hàng hóa trên thị trường quốc tế, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng
tăng mạnh, sự phát triển của thị trường nhập khẩu bất chấp thị trường tài chính ảm đạm…Về
nhập khẩu, mặt hàng chủ yếu nhập khẩu của Việt Nam vẫn là máy móc, nguyên liệu phục vụ sản
xuất trong nước. Giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao là một trong những nguyên
Trang 4 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
nhân chủ yếu làm tăng kim ngạch hàng hóa NK năm nay. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng
hóa NK năm 2011 chỉ tăng 3,8% so với năm 2010.
6 tháng đầu năm 2012: Tính đến hết tháng 6/2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hoá của cả nước đạt 103,53 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: xuất
khẩu đạt 51,27 tỷ USD, tăng 22,7% và nhập khẩu là 52,26 tỷ USD, tăng 6,3%. Kết quả này đã
đưa cán cân thương mại của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm thâm hụt 100 triệu USD, bằng
0,3% tổng kim ngạch xuất khẩu
1.2. Giới thiệu chung về thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam
1.2.1. Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của Việt Nam qua các năm vẫn là: EU,
Hoa Kì, Nhật Bản, Úc, Trung Quốc , Nga và các nước thành viên trong ASEAN.Trong đó Hoa
Kì, EU và Nhật Bản luôn là đối tác xuất khẩu chủ lực của Việt Nam kể từ năm 2007 đến nay.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu qua các thị trường tăng mạnh qua các năm. Cụ thể,
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất
khẩu . Kết thúc năm 2011, kết quả xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khá khả quan, đạt khoảng
16,93 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng đạt 20%. Với kết quả này, bước sang năm 2012 Hoa Kỳ
vẫn là một trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt , với kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu
sẽ đạt khoảng 20 tỷ USD.Một số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỉ USD như hàng dệt
may (6,883 tỉ USD), giày dép (1,907 tỉ USD), gỗ và các sản phẩm gỗ (1,435 tỉ USD), hải sản
(1,159 tỉ USD)( năm 2011). Các mặt hàng xuất khẩu qua thị trường này cũng khá đa dạng, tuy
nhiên gạo là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại chiếm tỉ lệ không lớn trong xuất khẩu
tại thị trường Mỹ ( 0,32% năm 2011).
Eu là thị trường xuất khẩu chủ lực thứ hai của Việt Nam. Kết thúc năm 2011, kim ngạch
xuất khẩu đạt 16,54 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng nhanh , đạt 21,4% năm 2010, và 45% năm 2011.
Mặt hàng chủ lực mà Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU vẫn là dệt may, gỗ và các sản phẩm
về gỗ...(sẽ trình bày rõ ở phần sau)
Nhật bản là thị trường Châu Á mà Việt Nam xuất siêu khá lớn trong các năm gần đây. Tuy
kim ngạch xuất khẩu giảm vào năm 2009, tuy nhiên tình hình đã khôi phục vào năm 2010 và tăng
Trang 5 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
mạnh vào năm 2011, đạt 53,79 tỉ USD. Mặt hàng chủ lực mà Việt Nam xuất khẩu sang Nhật là đá
quý, kim loại quí (1, 503 tỉ USD), dầu thô (1,579 tỉ USD), hàng dệt may(1,69 tỉ USD), hải sản
(1,015 tỉ USD), máy móc thiết bị (1,01 tỉ),..(năm 2011).
1.2.2. Thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam:
Nhận xét:
Nhìn chung, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Hàn
Quốc và các nước ASEAN . Trong đó, Trung Quốc là quốc gia chiếm tỉ trọng lớn nhất trong kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam (24%). Trong đó, các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ
USD là điện thoại các loại linh kiện (đây cũng là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến
những năm gần đây); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ từng, sắt thép các loại, vải các loại...
Hàn Quốc là quốc gia thứ hai chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu kim ngạch nhập khẩu của Việt
Nam (chiếm 14% năm 2011). Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu từ Hàn quốc tăng nhanh qua các
năm (ngoại trừ năm 2009, giảm 1,79% so với năm 2008), bình quân 35,8% qua các năm. Một số
mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc là ô tô nguyên chiếc, điện thoại các loại và linh kiện,
cao su, chất dẻo nguyên liệu...
Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều từ các nước thành viên ASEAN (chiếm 20% năm 2011),
trong đó Singapore là quốc gia mà Việt Nam có tỉ lệ nhập khẩu lớn nhất. Bốn mặt hàng có giá trị
trên 1 tỷ USD nhập khẩu là:Xăng dầu các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và link kiện, máy
móc, thiết bị, chất dẻo nguyên liệu.
Tóm lại, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu máy móc và thiết bị sản xuất ,các loại điện thoại... Từ biểu đồ thể
hiện tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy Việt Nam vẫn chưa tận dụng được nguồn cung hàng hóa từ
thị trường EU và Mỹ. Đây là hai thị trường cung cấp máy móc có chất lượng và công nghệ tốt. Ngược lại,
việc nhập khẩu từ thị trường châu Á lại chiếm tỉ trọng khá lớn và đang có xu hướng tăng trong những
năm gần đây, nhất là thị trường Trung Quốc và ASEAN. Tuy nhiên, có một số mặt hàng trong nước có khả
năng sản xuất tốt tại nội địa như hàng nông sản, thủy sản, vải... lại chiếm tỉ trọng nhập khẩu khá lớn. Bên
cạnh đó, vấn đề về chất lượng sản phẩm nhập khẩu cũng như kiểm soát hàng hóa qua con đường tiểu
ngạch cũng đang là bài toán khó với cán bộ quản lý nhà nước
Trang 6 /102
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
Bảng 1.3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007-6 tháng đầu năm 2012 (đơn vị tính: triệu USD)
Nội dung
2007
Kim
ngạch
10089128
9095953
6069758
3356676
2202005
3556918
458451.8
5611353
2008
Tỉ
trọng
22.23
20.04
13.38
7.40
4.85
7.84
1.01
12.37
Kim
ngạch
11868509
10853004
8537938
4535670
2659728
4225188
671955.2
7535087
2009
Tỉ
trọng
20.36
18.62
14.65
7.78
4.56
7.25
1.15
12.93
Kim
ngạch
11355757
9378294
6291810
4909025
2076253
2276716
414892.1
6515614
2010
Tỉ
trọng
20.78
17.17
11.52
8.99
3.80
4.17
0.76
11.93
Kim
ngạch
14238132
11385478
7727660
7308800
2121314
2704004
829700.9
8229635
2011
Tỉ
trọng
20.39
16.31
11.07
10.47
3.04
3.87
1.19
11.79
Kim
ngạch
16927763
16545277
10781145
11125034
2285653
2519098
1287324
11297626
Hoa Kì
EU
Nhật Bản
Trung quốc
Singapore
Úc
Nga
Các nước ASEAN (trừ
Singapore)
Các quốc gia khác
4938493
10.88
7394696
12.69 11416115
20.90 15275423
21.88 20111620
Tổng kim ngạch xuất khẩu
45378735 100.00 58281775 100.00 54634476 100.00 69820145 100.00 92880541
Bảng 1.4: Cơ cấu tỉ lệ nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2007-6 tháng năm 2012 (đơn vị tính: Triệu USD)
Tỉ
trọng
18.23
17.81
11.61
11.98
2.46
2.71
1.39
12.16
21.65
100.00
6 tháng đầu n
2012
Kim ngạch
t
9279831
9232366
6505169
6114990
1114302
1340963
681570
6747437
10251281
51267910
Trang 7 /102
1
Chương I: Tổng quan tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
Nội dung
2007
Kim ngạch
Hoa Kì
EU
Nhật Bản
Trung quốc
Singapore
Úc
Nga
Các nước ASEAN (trừ
Singapore)
Hàn quốc
Các quốc gia khác
Tổng kim ngạch xuất khẩu
2008
2009
2010
2011
6 tháng đầu năm
2012
Kim ngạch
Tỉ
trọng
2343334
4.48
3904940
7.47
5378805
10.29
13000647
24.88
3406843
6.52
952652.2
1.82
453637.2
0.87
6875351
13.16
1699675
5139097
5139097
12502003
7608599
1059376
552168
8280621
Tỉ
trọng
2.77
8.38
8.38
20.40
12.41
1.73
0.90
13.51
Kim
ngạch
2635288
5445162
8240662
15652126
9392533
1360514
969571
10178333
Tỉ
trọng
3.36
6.95
10.52
19.99
11.99
1.74
1.24
13.00
Kim
ngạch
3009392
6417515
7468092
16440952
4248356
1050035
1050035
9564714
Tỉ
trọng
4.33
9.24
10.75
23.67
6.12
1.51
1.51
13.77
Kim
ngạch
3766911
6361714
9016085
20018827
4101144
1443641
999097.1
12306376
Tỉ
trọng
4.52
7.63
10.82
24.01
4.92
1.73
1.20
14.76
Kim
ngạch
4529215
7747067
10400330
24593719
6390575
2123283
694014
14519594
Tỉ
trọng
4.33
7.41
9.95
23.53
6.11
2.03
0.66
13.89
5333981
19314910
61295550
8.70
31.51
100.00
7066318
24444654
78318842
9.02
31.21
100.00
6976362
13224876
69450327
10.05
19.04
100.00
9761342
15589644
83364783
11.71
18.70
100.00
13175 926
20335923
10450964
6
12.61
19.46
100.00
7212917
8734128
52263254
Trang 8 /102
13.80
16.71
100.00
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
2. Chương II: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG EU
2.1. Tổng quan về thị trường EU
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của EU
EU hiện là khối liên kết kinh tế có tính tổ chức trong sự thống nhất cao nhất trong các liên
kết của thế giới. Ngày 1 tháng 1 năm 2011, tổng dân số của 27 quốc gia thành viên thuộc Liên
minh châu Âu đạt khoảng 501.259.840 người chiếm đến 7,3% dân số thế giới. Diện tích là
4.324.782 km2, chiếm 3% diện tích đất liền. Mật độ dân số lên đến 115,9 người/km. Liên minh
châu Âu trở thành một trong những khu vực đông dân cư nhất trên thế giới. Đây là khối kinh tế
hùng mạnh nhất thế giới và là trung tâm xuất khẩu vốn lớn nhất thế giới.
Ngày 18/4/1951, 6 nước Tây Âu gồm: Pháp, Tây Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luc-xăm bua
thành lập “Cộng đồng than – thép châu Âu”(ECSC) tại Paris..
Ngày 25/3/1957 “Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu” (EAEC) và “Cộng đồng
kinh tế châu Âu” (ECC) được thành lập dựa trên Các Hiệp ước Rome.
Ngày 7/2/1992, “Cộng đồng châu Âu” (EC) được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht thay
thế Cộng đồng Kinh tế châu Âu
Ngày 1 tháng 11 năm 1993 Liên minh châu Âu (EU) được thành lập bởi Hiệp ước
Marstricht vào dựa trên Cộng đồng châu Âu.
Từ năm 2007 đến nay EU có 27 thành viên.
Danh sách 27 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp theo năm gia nhập
1951
Bỉ, Đức, Ý, Luxembourg, Pháp, Hà Lan
1973
Đan Mạch, Ireland, Anh
1981
Hy Lạp
1986
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
1995
Áo, Phần Lan, Thụy Điển
Ngày 1/5/2004
Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Cộng
hòa Síp
Ngày 1/1/2007
Romania, Bungary
EU gồm 3 trụ cột chính là:
Trang 9 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Hiệp ước Maastricht, mục đích là:
Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đơn vị tiền tệ
•
chung và một ngân hàng trung ương độc lập,
Thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an
•
ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật
pháp.
Hiệp ước Amsterdam còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, ký ngày 2 tháng 10 năm 1997 tại
Amsterdam, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 1999, đã có một số sửa đổi và bổ sung
trong các vấn đề như:
1.
Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử;
2.
Tư pháp và đối nội;
3.
Chính sách xã hội và việc làm;
4.
Chính sách đối ngoại và an ninh chung.
Hiệp định này thỏa thuận những cải tổ sâu sắc thể chế của EU, tăng cường hơn nữa liên
kết giữa các thành viên.
Hiệp ước Nice được lãnh đạo các quốc gia thành viên châu Âu kí vào ngày 26 tháng 2 năm 2001
và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2 năm 2003. Hiệp ước Nice là sự bổ sung cho Hiệp ước
Maastricht và Hiệp ước Rome. Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón nhận
các thành viên mới theo chính sách mở rộng về phía Đông châu Âu, vốn ban đầu là nhiệm vụ của
Hiệp ước Amsterdam nhưng không được hoàn thành.
5/1998 Liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu (EMU) ra đời gồm 11 nước thành viên đặt
cơ sở cho sự lưu thông chính thức cho đồng Euro từ ngày 1/1/2002 khắp 12 nước thuộc
EMU(1/2000 Hy Lạp gia nhập tổ chức này).
Ngày 1 tháng 12 năm 2009, Hiệp ước Lisbon chính thức có hiệu lực và đã cải tổ nhiều
khía cạnh của EU. Đặc biệt, Hiệp ước Lisbon đã thay đổi cấu trúc pháp lý của Liên minh châu Âu
bằng cách sáp nhập cấu trúc 3 trụ cột thành một chính thể pháp lý duy nhất.
2.1.2. Mục tiêu, chính sách và quy định của EU
Trang 10 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Mục tiêu
Ngay từ lúc mới thành lập, EU đã đặt ra mục tiêu trọng tâm là thiết lập một thị trường
kinh tế duy nhất ở châu Âu bao gồm lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên. Hiện tại, hệ
thống tiền tệ chung đang được sử dụng ở 16 nước thuộc Liên minh châu Âu, thường biết đến với
tên gọi khu vực đồng euro ("eurozone")
Chính sách
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, EU áp dụng những chính sách như sau:
Tăng cường tự do hóa thương mại giữa các thành viên bằng cách xóa bỏ những rào cản
thương mại như thuế quan, hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu.
Xây dựng biểu thuế quan chung chi các nước thành viên
Áp dụng các biện pháp thuận lợi hóa sự di chuyển lao động và vốn giữa các thành viên
Xây dựng chính sách phát triển chung về nông nghiệp , giao thông vận tải.
Với những chính sách trên, EU đã đạt được những thành tựu nhất định:
1968, EU đã xây dựng xong đồng inh thuế quan giữa các nước hội viên.
Thành lập một thị trường nông nghiệp chung
Từ 1/1/1993 thực hiện lưu thông con người, hàng hóa, dịch vụ, tư bản tự do giữa các
nước.
1/1/2002, đồng Euro chính thức được lưu hành.
2.1.3. Quan hệ Việt Nam-EU
Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày
28/11/1990 và ngày 17/7/1995 đã đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao Việt Nam EU với việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy
quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai bên.
Phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Việt Nam được thành lập và chính thức hoạt động từ năm
1996. Từ đó tới nay, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là
thương mại. EU hiện trở thành một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam. Trong
vòng 11 năm (2000 – 2011), kim ngạch thương mại Việt Nam – EU đã tăng 5,9 lần, từ mức 4,1 tỷ
USD năm 2000 lên 24,29 tỷ USD năm 2011; trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng 5,9
lần lên 16,5 tỷ USD và nhập khẩu của Việt Nam từ EU tăng 5,9 lần lên 7,74 tỷ USD. 3 tháng đầu
năm 2012, xuất khẩu Việt Nam vào EU đạt 4,34 tỷ USD, tăng 25%; nhập khẩu từ EU đạt 1,8 tỷ
USD, tăng 18%.
Trang 11 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
EU có tổng vốn đầu tư nước ngoài FDI ra ngoài khối chiếm 47% FDI của toàn cầu. Theo
đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 2009, EU tiếp tục là đối tác đầu tư vào Việt Nam
lớn thứ hai sau Nhật Bản, chiếm khoảng 7 tỉ USD trong tổng số vốn FDI có tại Việt Nam. Riêng
năm 2008, EU đã đầu tư thêm 3 tỉ USD vào Việt Nam, tăng 76,9% so với năm 2007. Trong năm
2009, tổng số viện trợ EU cam kết dành cho Việt Nam là 716,21 triệu Euro (tương đương với
17,82% tổng số viện trợ nước ngoài), trong đó khoảng một nửa là viện trợ không hoàn lại (308
triệu Euro).
Những dự án tài trợ nổi bật nhất của EU dành cho Việt Nam phải kể đến Dự án Hỗ trợ
thương mại đa biên MUTRAP. Ngoài ra, EU còn tài trợ cho Việt Nam nhiều dự án quan trọng
trong lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch, hỗ trợ
cải cách hành chính, xóa đói, giảm nghèo, văn hóa, giáo dục đào tạo…
Ngày 27/6/2012, nhận lời mời của Phó chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC), Đại diện cấp cao
phụ trách an ninh và chính sách đối ngoại Liên minh châu Âu (EU) Catherine Ashton, Bộ trưởng
Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã thăm chính thức EU và ký chính thức Hiệp định khung
Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - EU.
PCA được ký chính thức là một bước phát triển quan trọng, đưa quan hệ hai bên chuyển sang một
giai đoạn mới với phạm vi và mức độ hợp tác rộng và sâu sắc hơn trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, phù
hợp với ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của hai bên cũng như xu thế hợp tác và phát triển
chung trên thế giới. PCA tạo điều kiện thuận lợi, cho phép khai thác tốt hơn lợi thế so sánh và tính bổ sung
cao về cơ cấu kinh tế của hai bên; tạo tiền đề quan trọng để hai bên bước vào đàm phán FTA, hợp tác
hướng tới sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam.
Trang 12 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
2.1.4. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và EU giai đoạn 2007-6 tháng
2012:
Bảng 2.1: Kim ngạch và tốc độ tăng giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam qua thị trường
Eu giai đoạn 2007 đến 6 tháng đầu năm 2012
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
Kim ngạch
XNK
2007
14,235.05
EU
Tăng, giảm
tuyệt đối
+/-
2008
16,298.17
2,063.12
14.49
136,600.616
29926.331
28.05
2009
15,795.81
-502.36
-3.08
124,084.802
-12515.814
-9.16
2010
17,747.19
1,951.38
12.35
153,184.927
29100.125
23.45
2011
6
tháng/2012
24,292.34
13,137.31
6,545.15
1,485.30
36.88
12.75
197,390.186
103,531.16
44205.259
14,923.41
28.86
16.84
Tăng giảm
tương đối
%
-
Kim ngạch
XNK
Thế giới
Tăng, giảm
tuyệt đối
Tăng giảm
tương đối
106,674.285
-
-
Nguồn: Tổng cục thống kê
(Tốc độ tăng giảm tuyệt đối và tương đối của 6 tháng/2012 so với 6 tháng/2011)
Nhận xét:
Qua bảng số liệu, ta thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam qua thị trường EU đều gia
tăng trong con số tuyệt đối và con số tương đối.Tuy năm 2009 là năm kinh tế thế giới lâm vào khủng
hoảng kinh tế trầm trọng, kim ngạch XNK giảm sút so với 2008 nhưng kim ngạch xuất khẩu năm 2009
cũng tăng 10,96% so với năm 2007. Bình quân tốc độ tăng trưởng là 15,16%/năm,ứng với mức tăng tuyệt
đối là 2,51 tỷ USD/năm.
Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỉ lục trong suốt 10 năm (2001-2011), 24,20 tỷ USD. Tuy
nhiên, tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam qua thị trường EU vẫn thấp hơn
mức tăng trưởng bình quân của Việt Nam qua thị trường thế giới. (tăng 17,8%/năm). Cụ thể, diễn biến tình
hình xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và EU-27
Trang 13 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Bảng 2.2: Diễn biến tình hình thương mại giữa Việt Nam và EU
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
Xuất khẩu sang EU
% tăng
Kim ngạch
giảm
2007
9,095.95
-
2008
10,853.00
119.32
2009
9,378.29
86.41
2010
11,385.48
121.40
2011
16,545.28
145.32
6
tháng/2012
9,232.37
124.53
Nhập khẩu từ EU
% tăng
Kim ngạch
giảm
5,139
.10
5,445
105.96
.16
6,417
117.86
.51
6,361
99.13
.71
7,747
121.78
.07
3,904.94
111.62
Cán cân thương mại
%Tăng
Kim ngạch
giảm
3,95
6.86
5,40
136.67
7.84
2,96
54.75
0.78
5,02
169.68
3.76
8,79
175.13
8.21
5,32
136.06
7.43
Nguồn: Tổng cục thống kê
(Tốc độ tăng giảm tuyệt đối và tương đối của 6 tháng/2012 so với 6 tháng/2011)
Nhận xét:
Dựa vào bảng số liệu, ta thấy nhìn chung tốc độ gia tăng xuất khẩu của Việt Nam trên thị
trường EU cao hơn mức độ gia tăng nhập khẩu vào Việt Nam nên gia tăng mức độ xuất siêu của
thị trường này.Nhìn chung, mức độ xuất siêu của Việt Nam vào thị trường EU cũng có xu hướng
tăng.
Để có cái nhìn chi tiết hơn về việc xuất khẩu của Việt Nam sang từng thị trường trong
khối EU cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu , ta sẽ nghiên cứu số liệu của bảng dưới đây.
Bảng 2.3: Tổng kim ngạch thương mại và tốc độ tăng trưởng Việt Nam sang thị trường EU
Đợn vị tính: Triệu USD
Quốc gia
EU
Năm 2008
Tốc độ
tăng,
Tổng KN
giảm
16
,298
14
Năm 2009
Tốc độ
Tổng
tăng,
KN
giảm
15
,796
(3)
Năm 2010
Tốc độ
Tổng KN
tăng,
giảm
17
,747
12
Năm 2011
Tốc độ
Tổng KN
tăng,
giảm
24
,292
37
Trong đó
:
Ai-len
98
2
156
59
157
1
(204)
(230)
Trang 14 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Anh
Áo
Ba Lan
Bỉ
Bồ Đào
Nha
Bun-gari
Đan
Mạch
Đức
Ê-xtô-nia
Hà Lan
Hungga-ri
Hy Lạp
I-ta-li-a
Lát-vi-a
Lít-va
Lúcxăm-bua
Man-ta
Phần
Lan
Pháp
Ru-mani
Séc
Síp
Tây Ban
Nha
Thụy
Điển
Xlô-vaki-a
1
,967
18
1
,725
(12)
2
,193
27
1
,752
(20)
201
15
257
28
267
4
296
11
383
1
,369
16
(26)
321
(7)
(20)
347
1
,169
23
18
283
1
,098
6
853
(27)
100
61
104
3
108
4
136
26
91
98
70
(23)
86
23
(15)
(118)
318
3
,553
3
353
3
,473
11
311
4
,115
(12)
122
1
,168
(61)
3
(6)
26
6
1
,479
(45)
(15)
11
2
,216
12
1
(2)
18
(72)
11
2
,081
23
11
1
,764
113
24
173
52
145
(16)
(66)
(145)
131
1
,671
48
(36)
120
40
(8)
86
1
,803
3
11
84
1
,531
18
536
(70)
21
25
13
(41)
16
27
34
112
33
72
43
28
39
(8)
5
(86)
-
-
21
-
26
25
17
(34)
(33)
70
5,526
3
(95)
3
4
3
(20)
240
1
,800
40
(5)
(37)
(119)
(7)
191
2
,064
(17)
(12)
229
1
,673
23
454
(78)
90
119
95
5
110
16
45
(59)
156
25
154
(2)
205
33
147
(28)
36
1
,162
136
(30)
20
8
1
,293
(66)
(4)
25
1
,341
(1)
29
25
1
,118
455
11
632
39
550
(13)
169
(69)
114
55
97
(15)
127
32
143
13
(4)
Trang 15 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Xlô-venni-a
31
38
27
(11)
35
30
11
(67)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhận xét:
Nhìn chung, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của giữa Việt Nam và các quốc gia tăng đều
qua các năm (ngoại trừ năm 2009).Từ số liệu thống kê bảng, ta có thể thấy Vương quốc Anh,
Đức, Hà Lan, I-Ta-li-a, Pháp là năm quốc gia có tỉ lệ trao đổi thương mại với Việt Nam lớn nhất
trong khối 27 nước EU. Trong đó, Đức là nước có tỉ lệ trao đổi kim ngạch lớn nhất, đạt 5,565 tỉ
USD (năm 2011), tốc độ phát triển bình quân 15,95%/năm. Đặc biệt năm 2011, tốc độ tăng
trưởng đạt lớn nhất 35% tương ứng với mức tăng kim XNK 1,45 tỉ USD.
Cụ thể tình hình xuất nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và EU-27
Trang 16 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Bảng 2.4: Tình hình thương mại của Việt Nam và EU-27
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm 2009
Quốc
gia
EU
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Năm 2010
Cán
cân
thanh
toán
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Năm 2011
Cán
cân
thanh
toán
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Cán
cân
thanh
toán
9378
6418
2961
11385
6362
5024
16545
7747
8798
40
116
-77
46
110
-64
64
267
-204
Anh
1329
396
934
1682
511
1171
2398
646
1752
Áo
103
153
-50
144
123
21
462
165
296
Ba Lan
185
97
88
241
106
136
446
124
321
Bỉ
832
266
565
849
320
529
1200
347
853
93
10
83
95
13
81
153
17
136
41
29
12
37
49
-12
27
42
-15
166
187
-22
195
116
79
271
150
122
1885
1587
298
2373
1742
630
3367
2199
1168
Ê-xtôni-a
9
3
6
7
4
3
11
6
6
Hà Lan
1335
430
905
1688
528
1160
2148
669
1479
Hungga-ri
62
110
-48
38
106
-68
51
117
-66
Hy Lạp
78
6
72
80
6
74
132
12
120
I-ta-li-a
805
726
78
980
822
158
1534
999
536
Lát-vi-a
10
2
8
10
6
4
41
6
34
Lít-va
38
5
33
24
15
9
23
17
5
Lúcxămbua
17
4
14
23
4
19
27
10
17
Man-ta
3
0
3
3
0
3
4
1
3
Phần
Lan
80
149
-70
68
122
-54
87
124
-37
Pháp
809
864
-56
1095
969
126
1659
1205
454
Ru-mani
77
18
59
78
32
46
74
29
45
Trong
đó :
Ai-len
Bồ Đào
Nha
Bun-gari
Đan
Mạch
Đức
Trang 17 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Séc
118
36
82
135
70
65
183
37
147
Síp
12
13
-1
14
11
3
19
11
8
940
178
762
1111
231
880
1555
262
1293
205
428
-223
233
317
-84
427
258
169
90
7
83
111
16
96
157
13
143
18
9
8
25
11
14
25
13
11
Tây
Ban
Nha
Thụy
Điển
Xlô-vaki-a
Xlôven-nia
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhận xét:
Qua bảng biểu, ta thấy hầu hết với các quốc gia có trao đổi thương mại trong khối EU,
Việt Nam đều có cán cân thương mại dương,trừ các quốc gia như Hung-ga-ry, Bun-ga-ry,AiLE,Phần Lan- nhập siêu trong cả ba năm. Tuy nhiên tỉ lệ nhập siêu từ các nước này không lớn.
2.2. Phân tích thị trường EU
2.2.1. Cung cầu thị trường
Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) vẫn cao, nhưng
năm 2012 sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Trong năm 2011, kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ
lực của các doanh nghiệp Việt Nam sang châu Âu như: Dệt may, giày dép, cà phê, thủy sản, hạt
tiêu, hạt điều, đồ gỗ... tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao, khoảng hơn 25% so với năm 2010.
Hiện nay, với tình trạng khủng hoảng kinh tế vẫn chưa có xu hướng hồi phục thì người
dân ở các nước châu Âu có xu hướng sử dụng các mặt hàng có giá cả hợp lý. Bên cạnh đó, hàng
hóa Việt Nam có giá phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng ở mức thu nhập trung bình khá trở lên,
chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu chuẩn kĩ thuật. Việc gặp nhau
giữa cung và cầu tạo nên một thị trường rộng mở và có đầy tiềm năng cho Việt Nam và EU.
Trang 18 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Bảng 2.5: Kim ngạch và tốc độ tăng, giảm của một số mặt hàng chủ lực xuất khẩu từ Việt
Nam sang thị trường EU
Đơn vị tính:USD
Mặt hàng chủ lực(Mã số)
Quý I/2012 Quý I/2011 Tốc độ tăng, giảm
Giày dép (64011010 – 64SSS999)
560779643 570053884
-1,63%
Dệt may (61011010 – 62SSS999)
115213092 109158771
+5,5%
Cà phê các loại (09011100 – 09019090)
330740752 227960420
+45%
Gỗ & đồ gia dụng nội thất ( Mã 44 và Mã 94 )
265572198 281412170
-5,63%
Thuỷ hải sản (03011010 – 03SSS999)
157978950 184855933
-14,54%
Hàng CN nhẹ(đồ gia dụng) và TCMN (mã 45-60,65-70 và 63) 137129361 139024390
-1,36%
Valy & túi xách (Mã 42)
SP điện tử, linh kiện(85011010 – 85SSS999)
92716344 84749463
+9,4%
1299620721 391277742
+332,15%
Nguồn: Eurostat-Cập nhật ngày 16/6/2012
2.2.2. Luật thương mại cơ bản
Luật chống bán phá giá
Ra đời năm 1968 và đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội
dung mới của việc thực hiện Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 (Hiệp
định Chống bán phá giá 1994) vào luật của EU hiện nay. Luật chống bán phá giá áp dụng đối với
tất cả các nước không phải là thành viên EU. Đối với các nước bị coi là chưa có nền kinh tế thị
trường hoặc đang trong quá trình chuyển đổi, EU có thể áp dụng những điều khoản đặc biệt được
quy định trong các hiệp định ký giữa EU với các nước thứ 3.
Luật nghề rừng (FLEGT)
Khai thác gỗ bất hợp pháp tàn phá tài nguyên, ảnh hưởng xấu tới môi trường và xã hội và
làm thất thu ngân sách khoảng 10 tỷ USD một năm. Năm 2002, tại Hội nghị cấp cao toàn cầu về
phát triển bền vững (WSSD) tại Johannesberg, Hội đồng châu Âu (EC) đã đưa ra cam kết mạnh
mẽ trong đấu tranh với khai thác gỗ bất hợp pháp, kinh doanh gỗ khai thác bất hợp pháp và sản
phẩm chế biến từ gỗ khai thác bất hợp pháp. EU đưa ra dự thảo đầu tiên về chương trình hành
động FLEGT (Thi hành Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại) vào tháng 5/2003. Tháng
12/2005, EC thông qua Quy định 2173/2005 về hệ thống cấp phép của FLEGT và yêu cầu bắt
Trang 19 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
buộc cho thương thảo với đối tác. Để thực hiện các quy định tháng 10/2008, EC đã ban hành Quy
định số 1024/2008 về việc thực hiện hệ thống cấp phép nhập khẩu gỗ vào thị trường EU.
Tháng 1/2012, đạo luật FLEGT của EU bắt đầu có hiệu lực. FLEGT đề đòi hỏi nhà xuất
khẩu phải trình bày chuỗi hành trình của sản phẩm lâm sản, tất cả các khâu từ khai thác cho đến
thành phẩm, một cách minh bạch, rõ ràng để nhà chức trách EU có thể truy xét nguồn gốc nguyên
liệu.
FLEGTcó ảnh hưởng lớn đến việc xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vì EU là
thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn của Việt Nam trong khi đó ngành gỗ và sản phẩm gỗ của Việt
Nam có đến 80% nguyên liệu gỗ nhập khẩu từ nước ngoài và vấn đề kiểm soát nguồn gốc nguyên
liệu gỗ là vấn đề hết sức phức tạp.
Quy định IUU
IUU là tên viết tắt của các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và
không được quản lý (illegal, unreported and unregulated fishing). Quy định về IUU được EU ban
hành nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ mọi hoạt động đánh bắt cá dưới các hình thức này.
Năm 2002, Uỷ ban châu Âu (EC) thông qua Kế hoạch hành động IUU, trên cơ sở triển khai một
Kế hoạch hành động quốc tế của Tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc (FAO) năm 2001 nhằm
phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ các hoạt động đánh bắt cá IUU.
Từ năm 2007, EC bắt đầu thực hiện quá trình tham vấn về Quy định IUU. Văn bản đề
xuất đầu tiên của Quy định IUU được thông qua vào tháng 10/2007. Ngày 24/6/2008, văn bản
này đã đạt được sự đồng thuận chính trị trong EU, sau đó được Hội đồng châu Âu chính thức
thông qua ngày 29/9/2008 (Quyết định số 1005/2008 kèm theo). Quy định IUU bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1/1/2010.
Theo quy định IUU, các lô hàng thủy sản khi xuất khẩu vào thị trường EU phải có thông
tin về tàu khai thác, tên chủ tàu, phương tiện đánh bắt, vùng biển khai thác, loại sản phẩm và
trọng lượng, giấy báo chuyển hàng trên biển...
Quy định về hóa chất (REACH)
Để cải thiện việc bảo vệ môi trường và sức khỏe con người, Ủy ban châu Âu đã soạn thảo
và ban hành Quy chuẩn (EC) số 1907/2006 về đăng ký, đánh giá, cấp phép hóa chất (REACH) –
một hệ thống quản lý hóa chất mới thay thế cho 40 luật về hóa chất ở EU. REACH là cụm từ viết
tắt cho Registration (Đăng ký), Evaluation (Đánh giá), Authorization (Cấp phép) cho hóa chất.
Trang 20 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Quy định này đặt trách nhiệm lớn lên ngành công nghiệp EU, lên tất cả các nhà sản xuất, nhập
khẩu và xuất khẩu các mặt hàng có sử dụng hóa chất, cần nhận biết và hạn chế những rủi ro từ
hóa chất.
REACH được ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ 1/6/2007 để thay thế cho 40 luật về hóa
chất ở EU. Đây là luật nghiêm ngặt nhất về hóa chất trên thế giới cho đến nay.
Theo quy định này, danh mục bắt buộc khai báo bao gồm tất cả các sản phẩm thuộc ngành
công nghiệp liên quan đến tiêu dùng như hóa chất, nhuộm, in, vải sợi, may mặc, giày dép, đồ
chơi, đồ điện tử, vật dụng trong nhà, đồ gỗ, mỹ phẩm, chất thơm trong nến, sơn... Đây là những
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam.
Mục đích của Quy định REACH là đảm bảo an toàn sức khỏe cho con người và môi
trường ở mức cao bằng cách áp dụng các phương pháp đánh giá độ nguy hại của các chất mà
không ảnh hưởng đến lưu thông hóa chất trong thị trường EU trong tình hình gia tăng cạnh tranh
và đổi mới liên tục.
2.2.3. Rào cản thương mại
Xuất khẩu hàng hóa vào Liên minh châu Âu (EU) trong những năm tới sẽ gặp nhiều khó
khăn do những rào cản phi thuế quan như an toàn thực phẩm, các vấn đề xã hội.... mà thị trường
này đặt ra.
Hiện Việt Nam đang được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU, với mức thuế
giảm trung bình 3,5 điểm phần trăm, tỷ trọng mặt hàng đang được hưởng GSP vào khoảng 25%
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, thách thức mà doanh nghiệp Việt Nam gặp
phải khi xuất khẩu vào thị trường này là những rào cản phi thuế quan như an toàn thực phẩm, sức
khỏe người tiêu dùng, môi trường...đang được dựng lên ngày càng nhiều.
Ngoài việc yêu cầu những mặt hàng gỗ phải thực hiện luật nghề rừng (FLEGT), hải sản
phải theo quy định IUU thì phía EU cũng đưa ra những yêu cầu về kỹ thuật, vệ sinh và chất
lượng sản phẩm rất cao nên không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.
EU có chế độ quản lý nhập khẩu chủ yếu dựa trên các nguyên tắc của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá
nhiều biện pháp phi quan thuế (rào cản kỹ thuật). Do vậy, hàng xuất khẩu của ta muốn vào được
thị trường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU. Rào cản kỹ thuật chính là qui chế
nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5
Trang 21 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
tiêu chuẩn của sản phẩm: chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi
trường và tiêu chuẩn về lao động.
2.2.3.1.
Đối với tiêu chuẩn chất lượng:
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các nước đang phát triển. Thực tế cho
thấy ở các nước đang phát triển Châu Á và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy
chứng nhận ISO 9000 thâm nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hoá của các
doanh nghiệp không có giấy chứng nhận này.
2.2.3.2.
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm:
Các công ty chế biến thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Về phương
diện này, việc áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) là rất quan
trọng và gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thủy hải sản của các nước
đang phát triển muốn xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU.
2.2.3.3.
Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng:
Ký mã hiệu trở nên quan trọng trong việc lưu thông hàng hoá trên thị trường EU. Các sản
phẩm có liên quan tới sức khoẻ của người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo qui định của EU. Ví
dụ: CE bắt buộc có ký mã hiệu đối với đồ chơi, thiết bị điện áp thấp, thiết bị y tế, nguyên vật liệu
xây dựng,v.v.
2.2.3.4.
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường:
Thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định
(nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận. Ví dụ, tiêu chuẩn GAP
(Good agricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng được phổ
biến, chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trường tốt. Ngoài ra, các công ty phải tuân thủ hệ
thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các bộ luật mang tính xã hội về đạo đức.
Tiêu chuẩn The Social Accountability 8000 sẽ càng trở nên quan trọng trong những năm tới.
2.2.3.5.
Đối với tiêu chuẩn về lao động:
Uỷ ban Châu Âu (EC) đình chỉ hoạt động của các xí nghiệp sản xuất nội địa ngay khi phát
hiện ra những xí nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà
quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như lao động tù nhân,
Trang 22 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
lao động trẻ em.... đã được xác định trong các Hiệp ước Geneva ngày 25/9/1926 và 7/9/1956 và
các Hiệp ước Lao động Quốc tế số 29 và 105.
Nhận xét chung:
Tình hình kinh tế suy thoái không chỉ khiến cho xuất khẩu vào thị trường EU gặp khó
khăn do khu vực này thắt chặt chi tiêu, EU còn là một trong những thị trường có nhiều quy định
kỹ thuật khá khắt khe. Hiện tại, EU vẫn đang duy trì chính sách bảo hộ sản xuất nội khối (cho 27
nước trong khu vực). Do đó, việc tăng xuất khẩu quá nhanh vào khu vực này có thể đưa đến các
nước trong EU sẽ tiến hành một số biện pháp tự vệ, chống bán phá giá...Theo Bộ Công Thương,
các doanh nghiệp khi xuất khẩu vào thị trường EU cần chú ý các yêu cầu về thuế và phi thuế như
quy định về hóa chất (REACH) hay quy định TRACY về truy nguyên hàng hóa (nguồn gốc hàng
hóa, số lô sản xuất…). Một số quy định phi thuế mới như quy định chống đánh bắt cá bất hợp
pháp, không báo cáo và không quản lý (IUU). Trong năm 2011, nhiều doanh nghiệp đã bị EU
cảnh báo về các vi phạm này. Đồng thời, các nước trong khối EU cũng đang đẩy mạnh thực hiện
Luật Nghề rừng (FLEGT), yêu cầu doanh nghiệp phải có chứng chỉ rừng, sử dụng gỗ có nguồn
gốc.
Để tiến tới việc cấp giấy phép FLEGT, các DN phải thiết lập được hệ thống những căn
cứ pháp lý và nội dung văn bản tham chiếu làm cơ sở chứng minh được nguồn gốc gỗ và sản
phẩm gỗ được khai thác, chế biến, xuất khẩu theo quy định của Việt Nam. Gỗ và sản phẩm gỗ
hợp pháp phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khép kín trong tất cả các khâu từ rừng đến nơi tiêu
thụ, xuất khẩu; đầy đủ các căn cứ xác minh đối với tất cả các loại gỗ và sản phẩm gỗ của Việt
Nam khi tham gia thị trường XK. Phần lớn các DN hoạt động trong ngành gỗ hiện nay đều là
doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khả năng đáp ứng và thích nghi với FLEGT là điều khó khả thi. Số
phận của gần 300.000 lao động trong ngành gỗ khi đó cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mặc dù
EU đã đưa ra cam kết về việc hỗ trợ các DN và quốc gia áp dụng FLEGT nhưng với những doanh
nghiệp nhỏ, họ khó có thể vươn tới các quy định về gỗ hợp pháp như dự kiến.Tin vui cho các
doanh nghiệp là những doanh nghiệp đã có chứng chỉ FSC và COC sẽ rất thuận lợi khi cấp giấy
phép FLEGT. Đồng thời thủ tục để được cấp giấy phép FLEGT hết sức gọn nhẹ, không phải mất
thời gian giải trình về nguồn gốc hợp pháp sản phẩm gỗ của mình, không bị bên mua truy xét.
Bên cạnh đó, giấy phép FLEGT sẽ mang lại cho sản phẩm của các DN giá trị lớn hơn.
Trang 23 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
2.2.4. Tình hình cạnh tranh của một số mặt hàng chủ lực
Năm sản phẩm dẫn đầu xuất khẩu vào EU của Việt Nam gồm: giầy dép: 4,5 tỷ, dệt may:
2,3 tỷ, cà phê: 1,4 tỷ, thủy hải sản: 1,1 tỷ và đồ nội thất: 1 tỷ), chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu
vào EU năm 2008. Cũng trong năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu diễn ra (65%
năm 2009), vì thế xuất khẩu sang EU dễ phải hứng chịu những cú sốc đối với một số ngành công
nghiệp như đã thấy khi xuất khẩu từ VN sang thị trường này giảm 15% năm 2009 (giầy dép:
-20%, cà phê: -26%, đồ nội thất: -20%, dệt may giảm 10%).
Mức thuế quan trung bình EU áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Việt Năm trong năm
2009 khoảng 4,1% (giảm từ 4,5% năm 2005). Tuy nhiên, mức thuế quan bình quân gia quyền (có
tính đến mức độ thương mại) lên tới 7%, có nghĩa là EU đang áp mức thuế tương đối cao hơn đối
với các sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam (ví dụ dệt may: 11,7%, thủy sản: 10,8% và
giầy dép: 12,4%) và mức thuế cao nhất (hơn 57%). Điều này cũng có nghĩa là việc cắt giảm thuế
đối với hầu hết các sản phẩm trong khuôn khổ FTA sẽ mang lại những ích lợi quan trọng cho Việt
Nam khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh tại thị trường EU. Tuy nhiên, trong tất cả các danh
mục kể trên ngoại trừ máy bay, có rất nhiều dòng thuế cao (từ 10% đối với dược phẩm đến 90%
đối với ngành ô tô).
Trong những năm gần đây, chính sách của EU đối với Việt Nam dù đã có nhiều chuyển
biến tích cực nhưng vẫn kém ưu đãi hơn chính sách dành cho các nước ACP (Africa, Caribbean,
Pacific), các nước chậm phát triển, những quốc gia nhận GSP (ưu đãi thuế quan) với mức thuế
0% ở hầu hết các mặt hàng.Thậm chí, so với các nước khu vực ASEAN, EU vẫn dành nhiều ưu
đãi cho 5 nước phát triển nhất là Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines (những
nước được EU công nhận là có nền kinh tế thị trường).
Vì vậy, thị trường EU sẽ khó còn là “miền đất hứa” đối với DN Việt Nam. Năm 2011, Hội Dệt
May Việt Nam, Hội Da giày Việt Nam, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam,
Phòng Thương mại châu Âu (Eurocham) tại Việt Nam cũng đã tiến hành nhiều cuộc họp bàn đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hóa vào EU.
2.2.4.1.
Dệt may
Thách thức lớn nhất khi doanh nghiệp dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU
chính là sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc. Trung Quốc với
những điểm mạnh và lợi thế như: khả năng chủ động được nguồn nguyên liệu, nhân công lao
Trang 24 /102
Chương III: Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
động dồi dào có trình độ cao và quan trọng là khả năng đáp ứng nhiều chủng loại hàng hóa… là
đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt nam hiện nay.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng gặp phải khó khăn khi các nhà nhập
khẩu EU có xu hướng chuyển dần những đơn hàng từ Việt Nam (nhằm tránh mức thuế nhập khẩu
10%) sang các nước bạn hàng khác như Campuchia, Lào và Bangladesh do các nước này được
hưởng tiêu chuẩn Tối huệ quốc (MFN) với mức thuế suất nhập khẩu 0% của EU.
2.2.4.2.
Giày dép
Xuất phát từ nội tại sản xuất nhiều năm qua, ngành da giày Việt Nam còn nhiều tồn tại
chưa được khắc phục. Dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng các doanh nghiệp ngành da giầy Việt
Nam chủ yếu sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được nguồn
nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ. Khoảng 60% nguyên vật liệu, hóa chất vẫn phải
nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc,
đã xây dựng được ngành công nghiệp hỗ trợ như ngành sản xuất nguyên phụ liệu và các trung
tâm phát triển mẫu mốt nằm cạnh các khu công nghiệp sản xuất giầy dép, rất thuận lợi cho việc
đáp ứng nhu cầu triển khai mẫu mã mới của khách hàng. Với những thuận lợi đó, Trung Quốc
hiện đang chiếm lĩnh thị phần thống trị tại các thị trường lớn như 83,5% tại Mỹ, hơn 64% tại EU.
Đây thực sự là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp ngành giầy Việt Nam.
Bên cạnh đó, cạnh tranh về giá luôn diễn ra gay gắt giữa các nước sản xuất và xuất khẩu
giầy trên thế giới mà điển hình là tại các nước Châu Á, nơi có tiềm năng lớn nhất về công nghiệp
sản xuất giầy. Trung Quốc xuất khẩu những sản phẩm có giá trị thấp được hưởng nhiều ưu đãi từ
các nước thành viên sau khi gia nhập WTO. Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO,
ngành da giày Việt Nam vẫn chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ mạnh như Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan… do họ có ưu thế hơn về vốn, công nghệ, đặc biệt là chủ động về
nguồn nguyên liệu.
2.2.4.3.
Đồ gỗ
Ngành đồ gỗ Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 trong khối các nước Đông Nam Á( sau
Malaysia, Indonesia và Thái Lan) trong cuộc đua chiếm thị phần xuất khẩu đồ gỗ. Sản phẩm đồ
gỗ của Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 nước trong đó EU là một trong những thị trường tiêu thụ
sản phẩm lớn nhất tổng sản phẩm gỗ xuất khẩu của cả nước.
Trang 25 /102