Tải bản đầy đủ (.docx) (35 trang)

BÀI TẬP MÔN LUẬT CẠNH TRANH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (316.2 KB, 35 trang )

1.

Nhận định

a. Hành vi bán hàng dưới giá vốn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Câu nhận định này là Sai.
Căn cứ theo khoản 4 điều 3 Luật Cạnh tranh thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực đạo đức thông thường về kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt
hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Căn cứ theo điều 39 Luật cạnh tranh thì các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. Ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cấp bất chính;
10. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định.
Căn cứ hai điều luật kể trên thì các hành vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp. Khái niệm doanh nghiệp trong luật Cạnh tranh không chỉ bao gồm tất cả
các chủ thể được gọi là doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp mà còn bao gồm tất cả các loại chủ thể kinh doanh khác được phép
tiến hành các hoạt động kinh doanh ở Viêt Nam.
Thứ hai, mục đích của hành vi là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh. Điều đó, có nghĩa là doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế
cạnh tranh nhất định so với đối thủ cạnh tranh thông qua hành vi.
Thứ ba, tính chất của hành vi phải trái với các chuẩn mực đạo đức thông thường của kinh doanh. Có nghĩa là hành vi bán hàng
dưới giá vốn phải vi phạm các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh.
Thứ tư, hậu quả của hành vi có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng.


1


Nếu hành vi bán hàng dưới giá vốn trong trường hợp này thỏa những điều kiện mới có đủ cơ sở kết luận rằng nó là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh.
Ví dụ: nếu “hành vi bán hàng dưới giá vốn” nhằm thanh lý tài sản, hàng hóa để rút khỏi thị trường, hành vi này không nhằm
mục đích cạnh tranh trong kinh doanh so với doanh nghiệp khác thì không bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

b. Cơ quan quản lý Cạnh tranh chỉ tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu.
Nhận định trên là Sai.
Điều 65 Luật Cạnh tranh quy định về Bên bị điều tra vụ việc cạnh tranh như sau:
“Bên bị điều tra vụ việc cạnh tranh (sau đây gọi là bên bị điều tra) là tổ chức, cá nhân bị cơ quan quản lý cạnh tranh quyết định
điều tra trong những trường hợp sau đây:
1. Bị khiếu nại theo quy định tại Điều 58 của Luật này;
2. Bị cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện là đang hoặc đã thực hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong
thời hạn hai năm, kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.”
Căn cứ khoản 2 điều 86 Luật Cạnh tranh thì vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản
lý cạnh tranh trong những trường hợp sau đây:
1. Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý.
2. Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật này.
Từ đó ta có thể kết luận rằng Cơ quan quản lý Cạnh tranh ngoài việc tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu thì
còn có thể tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi phát hiện dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh.

2.

So sánh "lạm dụng hạn chế sản xuất" và "thoả thuận hạn chế sản xuất"?
a. Giống nhau:
- Chủ thể thực hiện đều là doanh nghiệp kinh doanh theo Luật Cạnh Tranh.
- Đều tác động lên thị trường liên quan.
- Đều cắt giảm khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường liên quan so với lượng hàng hóa dịch vụ cung ứng


b.

Cơ sở
pháp lý

trước đó.
- Đều là cách thức mà Doanh nghiệp bóc lột khách hàng, gây bất lợi cho khách hàng.
- Người tiêu dùng không thể chủ động phản ứng lại hành vi của doanh nghiệp
- Mất cân bằng cung cầu thị trường .
- Đều làm lãng phí nguồn lực xã hội.
Khác nhau :

Lạm dụng hạn chế sản xuất

Thỏa thuận hạn chế sản xuất

“Điều 8: Các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh:

“Điều 13: Các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường bị cấm.

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao

Cấm doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp

2



gồm…
3. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát
số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán
hàng hoá dịch vụ.
…”

có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện
các hành vi sau đây:

3. Hạn chế sản xuất, phân phối hàng
hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản
trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ
gây thiệt hại cho khách hàng.
…”

Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh,
doanh nghiệp có vị trí độc quyền.

Ít nhất 2 chủ thể với tư cách pháp
lý độc lập tham gia thỏa thuận. Các
doanh nghiệp phải hoạt động độc lập
với nhau, không phải là những người
liên quan của nhau theo pháp luật doanh
nghiệp, không cùng một tập đoàn kinh
doanh, không là thành viên của tổng
công ty.

Thể hiện qua hành động, phản ứng,
chiến lược… của doanh nghiệp.


Thể hiện dưới hình thức hợp đồng,
cũng có thể thể hiện dưới hình thức các
thiết chế, quy chế nghề nghiệp, nội quy
của hiệp hội hành nghề, nghiệp đoàn
hoặc cũng có thể là các thỏa thuận
ngầm.

Chủ thể giảm khả năng cung ứng
hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên
quan so với lượng hàng hóa dịch vụ
cung ứng trước đó .

Các bên thống nhất cắt, giảm khối
lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa cung
ứng dịch vụ trên thị trường liên quan so
với lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa
cung ứng dịch vụ trước đó.

Chủ thể

Hình
thức thể
hiện

Hành vi
(Điều 28 NĐ 116/2005)

Tính
chất


Mức độ
điều tiết

Hệ quả

(Điều 16 NĐ 116/2005)

Có tính chất đơn phương áp đặt ý
chí của doanh nghiệp nắm quyền lực chi
phối thị trường.

Có sự thỏa thuận thống nhất ý chí
giữa các chủ thể cạnh tranh trong 1 thị
trường liên quan.

Là hành vi bị cấm ( Điều 13, 14

Là hành vi bị cấm trong trường
hợp các bên tham gia thỏa thuận có thị
phần kết hợp trên thị trường liên quan
từ 30% trở lên (Điều 9 LCT)

LCT)

Doanh nghiệp củng cố vị thế của
mình.

Không ảnh hưởng đến vị thế của mỗi
doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.


3. Phân tích các căn cứ xác định thị trường liên quan của LCT?
Với sự phát triển của thị trường như hiện nay, nhất là đối với nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu,
đồng thời là một nhân tố quan trọng làm động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ
thể tham gia thị trường, mặt trái của hiện tường này là sự cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể hay nhóm chủ thể dẫn đến những

3


bất lợi cho nền kinh tế; chẳng hạn những hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy thị trường như thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường… Do đó những hành vi này được kiểm soát, hạn chế bởi luật cạnh tranh.
Luật cạnh tranh quy định những hành vi nào là hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Một trong những yếu tố quan trọng để
xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật của hầu hết các hành vi hạn chế cạnh tranh đó chính là thị trường liên quan, do đó việc xác định thị
trường liên quan có một ý nghĩa hết sức quan trọng để biết rằng doanh nghiệp có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không.
Theo điều 3 Luật Cạnh tranh quy định: “Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên
quan.
Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử
dụng và giá cả.
Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các
điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.”
Theo định nghĩa trên thì thị trường liên quan bao gồm hai thị trường đó là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên
quan. Việc phân tích, xác định các yếu tố cấu thành của tường thị trường giúp ta đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá một doanh nghiệp có
đang hoạt động trong thị trường liên quan hay không, từ đó mới xác định sự có hay không có vi phạm luật cạnh tranh của doanh nghiệp
đó.



Đối vời thị trường sản phẩm liên quan
Theo Điều 4 Nghị đinh 116/2005/NĐ-CP (sau đây viết tắt là NĐ 116) thì “thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của

những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.” Vậy thế nào là tính thay thế cho nhau của

sản phẩm?
Khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm là khả năng một sản phẩm này có thể đáp ứng nhu cầu tương tự một sản phẩm khác
trên thị trường. Theo khoản 5, điều 4 NĐ 116 thì thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hóa, dịch vụ thì căn cứ để xác định khả
năng thay thế của sản phẩm là tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua tiêu chí về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của sản phẩm.
Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có
nhiều đặc tính giống nhau. Ở đây ta có hai vấn đề cần lưu ý:
Thứ nhất, về khả năng thay thế cho nhau về mục đích sử dụng. Việc sử dụng sản phẩm là hành vi của người tiêu dùng, các sản
phẩm cho dù khác nhau nhưng nếu có chung một mục đích sử dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau. Do đó, khi
phân tích dấu hiệu này cần phải nhìn nhận dưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịch vụ.
Thứ hai, về đặc tính của sản phẩm. Điểm a khoản 5 Điều 4 NĐ 116 quy định rằng: “ Hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho
nhau về đặc tính nếu hàng hóa, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật giống nhau…”. Nghị định đã quy định
rõ đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ như: tính chất vật lý, tính chất hóa học, tính năng kỹ thuật,
tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ. Xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố
trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụ đối với người sử dụng… Bởi lẽ, các sản phẩm không tương

4


đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau, ví dụ các loại vitamin không thể thay thế cho nhau vì các thành phần
dinh dưỡng, đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hoá khi sử dụng… của chúng không giống nhau. Có thể nói, việc xác định sự tương đồng
về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quan trọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn
đề này, cơ quan điều tra mới có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thị trường và thực hiện các bước điều tra
tiếp theo.1
Thứ ba, về giá cả sản phẩm. NĐ 116 quy định về sự thay thế về giá cả sản phẩm như sau: “Hàng hoá, dịch vụ được coi là có
thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của lượng ngẫu nhiên trong tổng số 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý
liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà họ
đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong sáu tháng
liên tiếp…” (căn cứ điểm c khoản 5 điều 4 NĐ 116)
Giả sử trên thị trường có các mặt hàng có khả năng thay thế cho nhau về các mặt chất lượng, tính năng, mẫu mã và kểu dáng.
Mặc định rằng, cả ba mặt hàng này có mức giá lần lượt từ cao đến thấp tùy vào nhà sản xuất và thị trường ấn định. Khi người tiêu dùng

lựa chọn sản phẩm, sẽ có rất nhiều yếu tố tác động vào quyết định lựa chọn của họ như : xuất xứ, chất lượng, mẫu mã, giá thành, thói quen
tiêu dùng…Trong đó, giá cả nổi lên như một yếu tố có vai trò quyết định tiên quyết khi cân nhắc chọn mua sản phẩm vì ban đầu, chúng ta
mặc định là các sản phẩm có khả năng thay thế cho về mặt tính năng, chất lượng…Vì mọi thứ hầu như giống nhau nên khách hàng sẽ có
xu hướng chọn món đồ có mức giá chấp nhận được so với khả năng thu nhập và kế hoạch chi tiêu của họ. Một khi trên thị trường có sự
biến động về giá cả, các mặt hàng cũng theo đó mà có sự điều chỉnh về giá cả cho phù hợp với thị trường và kế hoạc sản xuất của doanh
nghiệp. Từ đó, sự lựa chọn của khác hàng cũng sẽ thay đổi theo mức giá và theo quy định thì mức độ thay đổi sẽ được đo lường dựa trên
tỉ lệ giữa những người chuyển qua sự dụng sản phẩm khác khi có sự biến động về giá và một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng
sinh sống tại khu vực địa lý liên quan. Nếu có sự chênh lệch lớn xảy ra, tức là trên 50% thì có thể kết luận về mức độ cạnh tranh của sản
phẩm đó.



Đối với thị trường địa lý liên quan.
Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho

nhau của những sản phẩm được sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau. Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán
hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tăng giá đáng
kể trong một thời gian đủ dài, khi đó hai địa điểm được xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói
cách khác là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại.2
Theo khoản 1 Điều 3 của Luật cạnh tranh quy định về “thị trường địa lý liên quan” như sau: “Thị trường địa lý liên quan là
một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự
khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”.

1 Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam (sách tham khảo) – TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Th.s Nguyễn Ngọc Sơn.
2 Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam (sách tham khảo) – TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Th.s Nguyễn Ngọc Sơn.

5


Chính tại “thị trường địa lý liên quan”, các điều kiện cạnh tranh về mặt thực tế có cơ hội được phát huy sự ảnh hưởng thông qua

một loạt các hệ thống dịch vụ cung ứng và lực lượng người tiêu dùng đông đảo tại khu vực địa lý đó. Đồng thời, rào cản gia nhập, thời
gian vận chuyển và chi phí vận chuyển phát sinh khi đưa hàng hóa ra khu vực địa lý để tiêu thụ cũng là một trong những điều làm ảnh
hưởng tới giá bán lẻ của hàng hóa.
Theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP, mức chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trong khu vực được suy
đoán là người tiêu dùng chấp nhận nếu nó không làm giá bán lẻ sản phẩm tăng quá 10%. Do đó, nếu chi phí vận chuyển hoặc thời gian
vận chuyển có thể làm giá bán lẻ tăng quá 10% thì việc thay đổi nhu cầu tiêu dùng sẽ không thể xảy ra…
Vậy nên, ta có thể kết luận rằng: Cùng với thị trường sản phẩm liên quan, thị trường địa lý liên quan cũng góp phần vào việc tạo
nên những yếu tố cạnh tranh cho sản phẩm của các doanh nghiệp, góp phần hình thành nên thị trường liên quan, nơi mà các doanh phiệp
có thị phần khác nhau có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trong phạm vi sản phẩm mà họ đang sản xuất và kinh doanh.

a)
_

_


_
_

b)
_



_

_

Nhận định đúng sai? Giải thích?
Thị phần là căn cứ duy nhất để xác định quyền lực thị trường.

Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc
tác động đến giá cả và thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua.” Vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền đem
lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường. Có nhiều học thuyết kinh tế, lý thuyết cạnh
tranh đã đưa ra các khái niệm về thế nào là quyền lực thị trường. Hợp thức hoá vào thực tiễn của các lý thuyết này đó chính là quy định
được xây dựng trong pháp luật của các nước. Vì vậy, so sánh các quy định về định nghĩa quyền lực thị trường sẽ có những quan niệm
khác nhau, song tính thống nhất trong pháp luật các nước đều thống nhất rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền là đem lại
cho doanh nghiệp những lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp khác và khả năng chi phối mối quan hệ với khách hàng.
Những yếu tố làm cho doanh nghiệp có được những lợi thế đó rất đa dạng, mỗi một nước quy định trong pháp luật của mình những cơ sở
khác nhau để xem xét vị trí thống lĩnh này. Thông thường là có hai phương pháp áp dụng đó là:
Phương pháp định lượng: sử dụng công cụ thị phần, bằng cách ấn định một con số cụ thể được luật hoá trong các văn bản pháp luật. Giá
trị con số này tuỳ thuộc vào cách nhận định của mỗi quốc gia phù hợp từng thời kỳ.
Phương pháp định tính: khi đưa ra các yếu tố, các khái niệm xung quanh việc khả năng doanh nghiệp có khả năng hạn chế cạnh tranh một
cách đáng kể. Đó là các yếu tố về năng lực doanh nghiệp mang tính đặc thù
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành thì căn cứ vào Khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh Tranh 2004 và Điều 22 Nghị định 116/2005
thì ta thấy rằng pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành áp dụng đồng thời cả hai phương pháp trên.
Câu nhận định đề bài cho rằng “thị phần” là cơ sở duy nhất là một nhận định không chính xác. Theo những phân tích ở trên và căn cứ quy
định pháp luật của nước ta, có thể thấy ngoài thị phần còn áp dụng các tiêu chí khác để xác định quyền lực thị trường.
Nhận định này là SAI. Cơ sở pháp lý: K1 Đ11 LCT 2004 và Đ22 NĐ 116/2005.
Thoả thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạn chế cạnh tranh.
Về khái niệm của hạn chế cạnh tranh được quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh Tranh 2004, có thể rút ra đặc điểm của hạn chế cạnh
tranh như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này thường có vị trí
nhất định trên thị trường hoặc sự kết hợp của các các doanh nghiệp này có khả năng hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, hoạt động trên cùng một thị trường liên quan.
Thứ ba, mục đích của các hành vi hạn chế cạnh tranh là nhằm cản trở và làm sai lệch cạnh tranh trên thị trường.
Theo lý luận kinh tế về tập đoà
n về mặt ngôn ngữ có nhiều cách gọi khác nhau: Consortium: đối tác, hiệp hội, được sử dụng để chỉ sự
tập hợp 2 hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham gia vào một hoạt động chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt mục đích chung . Cartel:
một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hoá,
hoặc các biện pháp hạn chế khác.

Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005:

6


“Điều 146. Nhóm công ty
1. Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và
các dịch vụ kinh doanh khác.
2. Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây:
a) Công ty mẹ - công ty con;
b) Tập đoàn kinh tế;
c) Các hình thức khác.”
Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì tập đoàn kinh tế là một hình thức của nhóm công ty. Cũng theo quy định này,
nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài về các lợi ích nhất định. Hay nói cách khác là chưa có sự phân
biệt các loại tập đoán kinh tế ở các dạng khác nhau, vì thế các doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế theo cách hiểu của pháp luật Việt
Nam có thể là đối thủ cạnh tranh, hoặc cũng có thể là doanh nghiệp trong cùng một kênh hỗ trợ.
Bởi chính lí do trên, ta thấy rằng các thoả thuận của các doanh nghiệp này có thể tồn tại ở hai dạng thoả thuận:



_

Thoả thuận ngang: thoả thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh.
Thoả thuận dọc: thoả thuận giữa các chủ thể trong cùng một chu trình sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hoá.

Với dữ kiện đề bài cho là thoả thuận của doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạn chế cạnh tranh, thì câu nhận định này là không
có cơ sở. Nếu hai doanh nghiệp trong cùng tập đoàn là đối thủ cạnh tranh thì có thể cấu thành hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Nếu
trường hợp, hai doanh nghiệp không là đối thủ cạnh tranh và đồng thời 1 trong 2 doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền thì sẽ cấu
thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Khi các thoả thuận của các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn thoả mãn các dấu hiệu cấu thành
của lạm dụng thì đó là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.

 Nhận định này là SAI.
c) Bộ trưởng Bộ Công Thương có quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hai loại : một là của cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc hai là của Hội Đồng Cạnh
Tranh.
Căn cứ Khoản 2 Điều 107 Luật Cạnh Tranh 2004, Điều 113 Luật Cạnh Tranh 2004 thì Bộ trưởng Bộ Công Thương có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại với quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh, còn đối với Hội Đồng Cạnh Tranh thì không có thẩm
quyền.



Câu nhận định cho rằng “có quyền”, “các quyết định” như vậy đây là câu nhận định mang tính nguyên tắc chung, áp dụng
cho mọi khiếu nại. Nhưng như đã phân tích ở trên, các cơ sở pháp lý trong quy định của pháp luật thì quyền giải quyết khiếu nại của
Bộ Công Thương là quyền có giới hạn, chỉ áp dụng cho khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Nhận đinh này là SAI. Cơ sở pháp lý:K2 Đ107, D9113 LCT 2004

1.

Cho 4 ví dụ, mỗi ví dụ có 4 sản phẩm có cùng thị trường sản phẩm liên quan.





_

Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh Tranh 2004 và Điều 4 Nghị Định 116/2004 thì thị trường sản phẩm liên quan được quy
định và xác định theo các tiêu chí về khả năng thay thế của sản phẩm như sau:
Đặc tính: Các yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm về các yếu tố lý hoá như: vật lý, hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ với
người sử dụng, khả năng hấp thụ.
Mục đích sử dụng: Sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó vào việc gì, ứng dụng của nó trong thực tế với chủ thế sử dụng.

Giá cả : Việc phân tích các yếu tố thay thế về tính chất của sản phẩm không phải là chuyện đơn giản. Một số sản phẩm có thể về mặt chủ
quan có thể thay thế cho nhau nhưng khi áp dụng theo nhiều tiêu chí, hoặc các cơ sở để phân tích khác thì chúng lại không thể thay cho
nhau một cách luật định chính xác nhất.

Sau đây là các ví dụ về sản phẩm trên thị trường liên quan:
Ví dụ 1: Thị trường nước giải khát có gas hương cola gồm 4 sản phẩm:

7







Cocacola

_





Ví dụ 2: Thị trường xe tay ga phân khúc giá tầm trung ( từ 28.5 đến 40 triệu đồng)

Pepsi
BigCola
Bidrico
4 sản phẩm này đều là nước giải khát có gas hương cola, có tác dụng giải khát khá giống nhau, về hương vị về cơ bản không
có sự khác biệt nhau qua nhiều khi sử dụng. Về các tính chất hoá học, vật lý cũng khá tương đồng. Mức giá các sản phẩm giao động từ

6000đ đến 9000đ.
Honda Airblade. Mức giá bán lẻ là: khoảng 37.2 triệu
Yamaha Nouvo SX STD. Mức giá bán lẻ là: khoảng 34.5 triệu
Suzuki Hayate SS - FI. Mức giá bán lẻ là: khoảng 21.9 triệu
SYM Joyride. Mức giá bán lẻ là: khoảng 28.5 triệu
Cả 4 sản phẩm này đều là xe tay ga ở phân khúc thị trường giá tầm trung. Mức giá dao động từ. Hệ thống động cơ là từ
108cc tới 134cc nhưng không có sự khác biệt quá nhiều về vì tất cả xe tay ga dưới 175cc đều được quy định là xe dành cho nữ, mục
đích sử dụng là giống nhau. Kiểu dáng của cả 4 xe này theo phong cách thể thao.

_





Ví dụ 3: Thị trường sữa đặc có đường có 4 sản phẩm:
Sữa Ông Thọ của VinaMilk
Sữa Trường Sinh
Sữa Sao Việt
Sữa Hoàn Hảo
Cả 4 sản phẩm sữa này đều là sữa đặc, có mục đích sử dụng giống nhau, tính chất vật lý, hoá học về cơ bản là giống nhau.Về
mức giá dao động từ 13.800đ tới 17.000đ

_





Ví dụ 4: Thị trường nước tương

Chinsu
Maggi
Vifon
Mekong
Cả 4 sản phẩm nước tương về tính chất, mục đích sử dụng là giống nhau, các yếu tố vật lý, hoá học cơ bản là giống nhau.

2.

Trên đó là 4 ví dụ về các sản phẩm liên quan, việc xác định các sản phẩm này đã xét tới các yếu tố thay thế về cung, cầu
khi giá thay đổi. Những sản phẩm
Anh/chị hãy xác định và phân biệt các hành vi lạm dùng quyền lực thị trường gây thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ để duy trì và
củng cố vị trí của doanh nghiệp thực hiện hành vi.
Theo quy định tại điều 13 Luật Canh Tranh 2004 có 6 hành vi như sau:







Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.



Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.






Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hai cho khách hàng.
Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.
Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa
vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng hợp đồng.
Từ 6 hành vi đó được khoa học luật cạnh tranh phân thành các nhóm hành vi đặc thù dựa vào đối tượng tác động:
Nhóm hành vi lạm dụng nhằm bóc lột khách hàng (hay hành vi lạm dụng mang tính bóc lột- Exploitative abuses).
Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (hay hành vi lạm dụng mang tính độc quyền- Exclusive abuses).
Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng.
Yêu cầu đề bài là các hành vi tác động tới đối thủ cạnh tranh nên chúng ta có thể phân biệt thành 2 nhóm:

8


Tiêu chí

Nhóm hành vi lạm dụng nhằm
loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Đối tượng tác động

Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai
cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác
hại cho khách hàng

Đối thủ cạnh tranh

Vừa đối thủ cạnh tranh, vừa khách
hàng


Các hành vi cụ thể •

Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới

giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối
thủ cạnh tranh.

Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác
ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá,
dịch vụ.



Ngăn cản việc tham gia thị trường

của những đối thủ cạnh tranh mới

Áp dụng điều kiện thương mại khác
nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo
bất bình đẳng trong cạnh tranh.



Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các
nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến
đối tượng hợp đồng

Chúng ta sẽ đi phân tích, xác định các đặc điểm của từng hành vi trong từng nhóm để thấy được các đặc điểm khác biệt của
từng hành vi:









Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh(còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt, hành vi
định giá huỷ diệt)
Căn cứ Điều 23 Nghị Định 116/2004 ta thấy rằng hành vi doanh nghiệp có quyền lực thị trường sẽ bán hàng, cung ứng hàng
hoá dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhắm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Hành vi này gọi là định giá huỷ diệt (huỷ diệt đối thủ) hay định giá
cướp đoạt (cướp đoạt thị phần) hay bán phá giá độc quyền. Việc định giá thấp này không phải dựa trên những hiệu quá sản xuất tốt, hoặc
chấp nhận thu lợi nhuận thấp, hành vi này định giá dựa vào “khả năng chịu lỗ” gây ra phản cạnh tranh.
Để xác định hành vi này chúng ta phải thực hiện những bước như sau:
Thứ nhất, xác định giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ giá bán thực tế của doanh nghiệp trong các giao
dịch với khách hàng.
Thứ hai, xác định giá thành sản xuất toàn bộ. Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành tự các chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất, lưu thông...của sản phẩm và được doanh nghiệp sử dụng làm căn cứ xác định giá bán hàng hoá, dịch vụ của mình.
So sánh giá bán thực tế và giá thành toàn bộ của sản phẩm để xác định hành vi.
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành việc ấn định mức giá gây lỗ mặc nhiên bị coi là vi phạm không cần quan
tâm tới các yếu tố khách quan khác.



Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.







Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tao ra những rào cản về giá hoặc về nguồn
tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu...trên thị trường liên quan. Để xác định cần thực hiện những bước sau:
Thứ nhất, cần xác định rõ đối thủ cạnh tranh mới.
Thứ hai, xác định các rào cản của sự gia nhập. Theo kinh tế học có hai loại rào cản:
Rào cản cơ cấu:những nhân tố ngăn chặn sự nhập cuộc của doanh nghiệp tiềm năng.
Rào cản chiến lược: hành vi trong chiến lược của các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường nhằm ngăn cản sự gia nhập của các
doanh nghiệp tiềm năng.







Theo điều 31 Nghị Định 116/2004 các hành vi cụ thể như sau:
Các chiến lược tẩy chay khách hàng bằng cách yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới.
Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược thiết lập rào cản chiều dọc bằng cách đe doạ và cưỡng ép nhà phân phối, các của hàng bán lẻ
không chấp nhận phân phối những mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới.
Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược ngăn cản qua giá bằng cách bán hàng hoá với mức giá đủ đế đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập
thị trường nhưng không thuộc trường hợp của hành vi định giá dưới giá thành toàn bộ.
Thứ ba, mặc dù một trong những căn cứ để xác định vi phạm là đã ngăn cản sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, nhưng
thực tế cơ quan có thẩm quyền chỉ cần xác định được đã thực hiên hay chưa không cần quan tâm đã hoàn thành hay chưa.
Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng

9





Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch vụ.




Căn cứ Khoản 1 Điều 30 Nghị Định 116/2004, cấu thành pháp lý của hành vi này gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp đã buộc khách hàng khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ phải chấp các điều kiện có nội dung hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, các điều kiện được đưa ra phải là điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ.



Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng hợp đồng




Căn cứ khoản 2 điều 30 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi này gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất, hành vi này đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm. Việc mua bán kèm là điều kiện tiên quyết để khách hàng mua hàng.
Thứ hai, đối tượng chính và đối tượng phụ trong hợp đồng mua bán không liên quan trực tiếp với nhau.





Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh
Căn cứ Điều 29 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi này gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng khác nhau trong
những giao dịch như nhau.
Thứ hai, hành vi gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các khách hàng. Nhưng một cách gián tiếp tác động tới lợi ích của doanh

nghiệp cạnh tranh.

Bán hàng, cung
ứng dịch vụ
dưới giá thành

Ngăn cản việc
tham gia thị
trường của
những đối thủ
cạnh tranh

Áp đặt các điều
kiện thương
mại khác nhau
cho những giao
dịch như nhau

Áp đặt cho giao
dịch khác điều
kiện ký kết hợp
đồng mua bán
hàng hóa, dịch
vụ

Lạm dụng
ràng buộc
kèm theo

Các hành vi gây thiệt hại cho các doanh nghiệp đối thủ để duy trì, củng cố vị trí của doanh nghiệp.

Không đem lại lợi ích vật chất trực tiếp nhưng tạo cơ hội cho doanh nghiệp củng cố địa vị khi đối thủ rút lui.
Đối tượng chịu thiệt hại là đối thủ cạnh
tranh

Đối tượng chịu thiệt hại là cả đối thủ và khách hàng, cơ hội lựa
chọn bị hạn chế.

Căn cứ điều 23
nđ 116/2005.

Căn cứ điều 31
nđ 116/2005

Căn cứ điều 29
nđ 116/2005.

Căn cứ điều 30
nđ 116/2005.

Những đặc điểm
nhận diện:

Tạo ra rào cản:

Điều kiện đầu
tiên phải thỏa
mãn là các khách
hàng bị phân biệt
đối xử phải là
đối thủ cạnh

tranh của nhau.

Buộc khách hàng
chấp nhận những
điều kiện ký kết
hợp đồng, lợi
dụng vị thế
thống lĩnh độc
quyền để ép
buộc các chủ thể
khác hạn chế khả
năng lựa chọn và
đáp ứng nhu cầu
của mình.

1, đặt giá thấp
hơn giá thành,
chấp nhận thua
lỗ trong một
khoảng thời gian.
2, việc đặt giá
thấp không vì lý
do chính đáng.
3, mục đích để
loại bỏ đối thủ,
chiếm lĩnh thị
trường sau đó
thu hồi lỗ thông
quá việc tăng
giá.

Hành vi độc lập,
không cần liên

1, yêu cầu khách
hàng không giao
dịch với đối thủ.
2, tạo ra sự uy
hiếp đối với bên
phân phối tạo ra
rào cản tiêu thụ.
Cả 2 hành vi này
đều dễ dàng xác
định. Tuy nhiên
đặc điểm còn lại
khó xác định
hơn, mang tính
cảm tính, đó là:
3, đạt giá thấp
vừa đủ để đối
thủ không thể
gia nhập thị
trường.

Đây là sự thỏa
thuận giữa người
mua và người
bán, tạo bất lợi
cho những người
mua khác.
Những chủ thể

không là các bên
trong thỏa thuận
vừa mất đi lợi
ích trên cương vị
một khách hàng;
vừa bị hạn chế
ưu thế khi cạnh
tranh với bên

Căn cứ
khoản 2 điều
30 nđ
116/2005.
Hành vi này
chỉ mang bản
chất của sự
lợi dụng vị trí
thống lĩnh
hay vị trí
chiếm lĩnh
trong một thị
trường để
bóc lột khách
hàng đồng
thời hạn chế
cạnh tranh
trên thị
trường liên
quan của
hàng hoá,

dịch vụ ràng
buộc kèm
thêm.

10


hệ với đối tượng
nào khác.

Thế nào là đủ,
xác định mục
đích của doanh
nghiệp khi định
giá thấp không
dễ dàng.

mua trong thỏa
thuận, gián tiếp
tạo rào cản chi
phí, ảnh hưởng
tới cạnh tranh
sau này.

Đối với
doanh nghiệp
chiếm vị trí
thống lĩnh
hành vi tác
động trực

tiếp tới khách
hàng về nhu
cầu, lựa chọn
sản phẩm. Và
gián tiếp với
đối thủ cạnh
tranh.

Hành vi tác động
tới chủ thể khác,
mà cụ thể là các
nhà phân phối.

Bài tập Môn Cạnh tranh


1.

NHẬN ĐỊNH
Các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn không phải là đối thủ cạnh tranh.
Sai.
Theo Điều 149 Luật Doanh Nghiệp năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty : “nhóm công
ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh
khác”. Tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập. Vì vậy mà các doanh nghiệp khi kinh doanh cùng
một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ có cùng tính chất, cùng công dụng và có thể thay thế cho nhau trong những điều kiện cạnh
tranh như nhau nhằm ganh đua, kình địch tranh giành thị trường, mở rộng thị phần thì được coi là đối thủ cạnh tranh.

2.

Các cơ quan hành chính có thể tác động đến Luật cạnh trạnh.

Đúng.
Theo khoản 10 Điều 39 Luật cạnh tranh thì Chính phủ có quyền quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu
chí đã được xác định bởi định nghĩa quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh.

11


Hay tại khoản 1 Điều 25 Luật cạnh tranh thì Bộ trưởng Bộ Công thương xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy
định tại Điều 10 và khoản 1 Điều 19 đối với trường hợp miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
Đồng nghĩa với những quy định này thì các cơ quan hành chính trong một số trường hợp cụ thể có thể tác động tới luật cạnh
tranh.
II.TỰ LUẬN

1.

So sánh “ Loại bỏ doanh nghiệp khác” và “ Ngăn cản doanh nghiệp khác” ?
 Cơ sở pháp lý: Được quy định taị Điều 19, 20 Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
 Giống nhau:

-

Loại bỏ doanh nghiệp khác và ngăn cản doanh nghiệp khác đều là doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thống nhất hành động tẩy chay,
từ chối giao dịch với các doanh nghiệp mới, các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh.
Cách thức thực hiện:
+ Gián tiếp thông qua sử dụng công cụ giá.
+ Trực tiếp thông qua việc kêu gọi khách hàng không giao dịch, mạng lưới phân phối không chấp nhận phân phối hàng hóa, dịch
vụ của các doanh nghiệp không phải là các bên thỏa thuận.

-


Hệ quả:
+ Các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận bị phân biệt đối xử trong hoạt động phân phối, tiếp cận khách hàng và khó cạnh
tranh về giá cả.
+ Tham vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường sẽ bị cản trở một cách đáng kể.
+ Ảnh hưởng đến tính cạnh tranh quyết liệt trên thị trường.
 Khác nhau:

-

Hậu quả pháp lí:
Mục đích của thỏa thuận loại bỏ là nguy hại hơn mục đích của thỏa thuận ngăn cản. Thỏa thuận ngăn cản là cản trở sự gia nhập
hoặc mở rộng kinh doanh của đối thủ còn thỏa thuận loại bỏ lại nhằm đến việc “trừ khử” các doanh nghiệp đang hoạt động nhưng
không tham gia thỏa thuận ra khỏi thị trường.

-

Sự tồn tại của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận:
+ Đối với ngăn cản, kìm hãm: Đã gia nhập thị trường, có thị phần.
+ Đối với loại bỏ: Đang chuẩn bị gia nhập thị trường.

2.

Phân tích khả năng gây hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa dịch
vụ.
Theo khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên
thị trường. Còn thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là một trong những thỏa thuận
nhằm hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp. Thỏa thuận này nguy hiểm cho cạnh tranh trên thị trường ở chỗ có thể tạo ra vị thế độc
quyền cho doanh nghiệp đó trên thị trường được phân chia hoặc ít nhất là giảm bớt số lượng, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đã
được phân chia trên thị trường đó. Thông qua việc thỏa thuận phân chia cho từng doanh nghiệp những khu vực thị trường, những
nhóm khách hàng hoặc nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Bao gồm:

* Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ:
Theo khoản 1 điều 15 nghị định 116/2005/NĐ-CP thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ là việc thống nhất về số lượng hàng
hóa, dịch vụ; địa điểm mua bán hàng hóa dịch vụ; nhóm khách hàng đối với mỗi bên tham gia thỏa thuận. Thỏa thuận này xác định
phạm vi thị trường của mỗi bên và thông qua đó xác lập vị thế độc quyền trên thị trường được phân chia. Hậu quả là triệt tiêu cạnh
tranh trên thị trường đó.
* Thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ:
Theo khoản 2 điều 15 nghị định 116/2005/NĐ-CP thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc
thống nhất mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định. Đây là thỏa

12


thuận phân chia thị trường nguyên liệu. Theo đó mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số
nguồn cung cấp nhất định.
Cạnh tranh trong kinh doanh là các hành động thể hiện nổ lực của các chủ thể kinh doanh cùng một hoặc một nhóm hàng hóa,
dịch vụ cụ thể nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn
trên thị trường. Như vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ để giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm;
đa dạng hóa chất lượng, dịch vụ chăm sóc khách hàng. Về mặt bản chất, cạnh tranh đảm bảo cho người mua, người sử dụng dịch vụ
được quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau. Sự lựa chọn đó không những giúp cho người mua thỏa
mãn tốt hơn nhu cầu của mình mà còn tạo động lực cho mỗi nhà cung cấp nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Nếu diễn ra một
cách công bằng, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là phương tiện để các chủ thể kinh doanh có khả năng thích
nghi với thị trường, có tiềm lực về tài chính, công nghệ và quản lý lớn mạnh hơn, phát huy hiệu quả hoạt động của mình trong nền
kinh tế.
Ngược lại, quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp diễn ra một cách không công bằng, thông qua việc các doanh nghiệp thỏa
thuận với nhau để loại bỏ đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác xâm nhập thị trường thì sẽ gây
ra tình trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, độc quyền hay độc quyền nhóm. Các doanh nghiệp thoả thuận với nhau để phân
chia địa bàn hoạt động, thị trường tiêu thụ hàng hoá làm cho sự lưu thông hàng hoá trên thị trường bị gián đoạn, bị chia cắt, dẫn tới
việc độc quyền chi phối một số mặt hàng trong thời gian nhất định làm cho giá cả một số mặt hàng tăng cao. Mà hậu quả cuối cùng
thuộc về doanh nghiệp bị loại bỏ và người tiêu dùng đồng thời làm rối loạn thị trường kinh tế.
Cụ thể, trong trường hợp các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau thị trường tiêu thụ bao gồm phân chia khu vực địa lý để khai

thác nguồn hàng, số lượng khách hàng hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay bất kỳ hình thức tương tự nào khác thì lúc này giữa các
doanh nghiệp sẽ có sự thỏa thuận về giá cả, địa bàn kinh doanh gây sức ép đối với các doanh nghiệp khác không có thỏa thuận. Mà ta
đã biết, trong kinh doanh thì thị trường tiêu thụ là mục tiêu mà các doanh nghiệp luôn hướng tới, luôn mong muốn dành được để tìm
kiếm lợi nhuận.
Hay trong trường hợp thỏa thuận nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nguồn cung cấp là tiền đề giúp các doanh nghiệp có thể
tiến hành sản xuất kinh doanh. Phải có nguồn cung cấp thì mới có sản phẩm, dịch vụ để kinh doanh, vì vậy nó đóng một vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhưng khi có sự thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp của các doanh nghiệp
thì mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này được coi là hành vi có mức độ nguy hiểm và độc hại cao nhất và khó nhận dạng nhất bởi nó
thường được diễn ra ngầm qua các thỏa thuận của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đó, có khả năng làm biến dạng thị trường,
thay đổi cơ cấu “cung”, lũng đoạn “cầu” phá vỡ giá trị điều tiết theo quy luật cung - cầu của thị trường, gây nguy hại không chỉ cho
các đối tượng cạnh tranh, người tiêu dùng mà toàn thị trường cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá luôn muốn định đoạt giá cả hàng hoá cao hơn nhiều lần so với giá thành mà không bị giảm
doanh thu. Tuy nhiên, thị trường cạnh tranh không cho phép họ làm như vậy. Từ đó, tâm lý chung của các doanh nghiệp là muốn tìm
cách xoá bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh, thiết lập vị thế độc quyền. Khi có vị thế độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh thị trường, doanh
nghiệp không cần quan tâm đến việc cải tiến máy móc kỹ thuật, không cần tìm cách nâng cao năng suất lao động mà vẫn không bị
giảm doanh thu. Thiết nghĩ, những hậu quả mà nó để lại cho thị trường cũng như đối với doanh nghiệp liên quan, người tiêu dung là
nghiêm trọng vì vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải xác định đúng đắn và chính xác các hành vi này để có biện pháp
xử lý phù hợp. Để có thể giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh đó, cơ quan quản lý cạnh tranh không chỉ dựa vào các căn cứ xác
định các hành vi hạn chế cạnh tranh. Mà cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể, khả năng thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh trên thực tế
của các doanh nghiệp để đề phòng , ngăn chặn cũng như xử lý theo pháp luật cạnh tranh bởi tính tinh vi và nghiêm trọng của thỏa
thuận thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ nhằm đảm bảo lợi ích của các bên bị ảnh hưởng do
thỏa thuận này gây ra.
Đề bài:
Câu 1: Các nhận định sau đúng hay sai? Tại sao?

a

Hành vi bán hàng đa cấp bất chính là hành vi của DN tổ chức bán hàng đa cấp trái với quy định của pháp luật về quản lý
nhà nước đối với bán hàng đa cấp?


b

Trong tố tụng cạnh tranh, Cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ cần sử dụng các chứng cứ do các bên cung cấp để điều tra về
vụ việc cạnh tranh?

c

Hội Đồng Cạnh Tranh có quyền huỷ quyết định xử lý của thủ trưởng cục quản lý cạnh tranh?

Câu 2: So sánh "lạm dụng giới hạn thị trường" và "thoả thuận giới hạn thị trường"?
Câu 3: Cho 2 ví dụ về hành vi lạm dụng quyền lực thị trường?

13


Câu 1:

a.
b.
c.

Sai. Vì thuật ngữ bán hàng đa cấp bất chính được quy định tại Điều 48 LCT được điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, chứ không
được điều chỉnh bởi pháp luật về quản lý Nhà nước về bán hàng đa cấp. Pháp luật cạnh tranh và pháp luật về quản lý bán hàng đa
cấp là khác nhau. Vì vậy, hành vi bán hàng đa cấp bất chính không phải là hành vi vi phạm pháp luật về quản lí bán hàng đa cấp
Sai. Vì theo quy định tại K3, Đ74, NĐ 116/2005/NĐ-CP quy định trong trường hợp vụ việc cạnh tranh do bị cơ quan quản lý
cạnh tranh phát hiện thì cơ quan quản lý cạnh tranh có nghĩa vụ chứng minh. Ví dụ: Theo quy định tại K1, Đ80 và K4, Đ76 NĐ
116/2005/NĐ-CP thì cơ quan quản lý cạnh tranh phải ra quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám định này là chứng cứ.
Sai. Vì hội đồng cạnh tranh và Cục quản lý cạnh tranh mặc dù đều là những cơ quan có trách nhiệm giải quyết các vụ việc cạnh
tranh nhưng trách nhiệm, quyền hạn cũng như thẩm quyền, phạm vi quyền lực của hai cơ quan này là khác nhau. Hội đồng cạnh

tranh thuộc cơ quan xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại NĐ 05/2006/NĐ-CP. Còn
Cục quản lý cạnh tranh thuộc cơ quan quản lý cạnh tranh theo quy định của NĐ 06/2006/ NĐ-CP. Hơn nữa, theo K2, Đ 107,
LCT trường hợp không nhất trí quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh thì các bên có
quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công Thương và theo Đ 113 LCT thì Bộ trưởng Bộ Công Thương có quyền hủy quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh và yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh giải quyết lại.

Câu 2: So sánh “lạm dụng giới hạn thị trường” và “ thỏa thuận giới hạn thị trường”.
Giống nhau:




Đều là hành vi hạn chế cạnh tranh




Làm sai lệch, làm giảm và cản trở cạnh tranh trên thị trường

Chủ thể thực hiện các hành vi trên chỉ có thể là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên
quan

Đều làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan.
Khác nhau:

Chủ thể
Số lượng
chủ thể tham
gia


Hành vi

Lạm dụng giới hạn thị trường

Thỏa thuận giới hạn thị trường

Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp
hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên
quan.

Diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ
cạnh tranh của nhau và giữa các chủ thể này
có sự thống nhất cùng hành động (thỏa
thuận ngang).

Là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm
doanh nghiệp (tối đa là 4).

Không bị giới hạn, ít nhất là hai doanh
nghiệp trở lên.

Là những hành vi được luật Cạnh tranh liệt
kê. Vì vậy, một hành vi bị xem là lạm dụng
khi đủ tất cả các dấu hiệu mà Luật đã quy
định.

Có sự thống nhất cùng hành động giữa các
doanh nghiệp có thể công khai hoặc không
công khai về các yếu tố cơ bản của quan hệ

thị trường mà giữa họ đang cạnh tranh..

Là hành vi bị cấm tuyệt đối.

Một số hành vi bị cấm và một số hành vi
cấm có điều kiện.

Không được miễn trừ.

Có thể được miễn trừ.

Được chứng minh bằng những thiệt hại cụ
thể mà các doanh nghiệp khác hoặc người
tiêu dùng phải gánh chịu.

Không cần xác định chính xác đối tượng
cũng như mức độ thiệt hại cụ thể.

Câu 3: Cho 2 ví dụ về hành vi lạm dụng quyền lực thị trường.
Ví dụ 1: Về việc doanh nghiệp lạm dụng vị trí độc quyền để tác động đến giá bán sản phẩm.

14


Vụ việc xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước là Công
ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JPA. Theo Hợp đồng
mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Vinapco và PA, hai bên thỏa thuận mức phí cung ứng
nhiên liệu là 593.000 đồng/tấn tại thời điểm ký kết; khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho
PA bằng văn bản qua đường fax; mọi sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người
có thẩm quyền; khi có tranh chấp, các bên phải giải quyết thông qua thương lượng, trường hợp thương lượng không thành sẽ đưa ra

giải quyết tại Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; lý do duy nhất để Vinapco có thể ngừng thực hiện Hợp đồng đã
giao kết là khi PA chậm thanh toán quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bảng kê của Vinapco.
Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK
mời đại diện của PA đến họp để xác định lại mức phí cung ứng mới. Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn trao
đổi qua lại giữa Vinapco và PA. Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồng thuận về mức phí mới. Trong quá trình thương
lượng, Vinapco đã có Công văn số 512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên
liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho
phù hợp. Trong các cuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thị
trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công
ty hàng không Việt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các bộ liên quan xem xét, quyết
định.
Do không đạt được thỏa thuận về mức phí mới, ngày 28/3/2008, Vinapco có Công văn số 560/XDHK-KDXNK gửi PA qua
đường fax yêu cầu PA chấp thuận bằng văn bản mức phí cung ứng mới là 750.000 đồng/tấn trước ngày 31/3/2008. Trường hợp
Vinapco không nhận được trả lời bằng văn bản theo thời hạn trên, Vinapco sẽ dừng cung ứng nhiên liệu cho mọi chuyến bay của
PA cho đến khi PA chấp thuận.
Ngày 31/3/2008, Vinapco có Công văn số 570/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo ngừng tra nạp nhiên liệu cho mọi chuyến bay của
PA từ 0h00 ngày 01/4/2008. Ngày 01/4/2008, Cục Hàng không Việt Nam đã có Công văn số 985/CHK-TC yêu cầu VNA chỉ đạo
Vinapco không được đơn phương ngừng cung cấp xăng dầu nếu không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngay sau
đó, Vinapco có Công văn số 573/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo cung cấp nhiên liệu cho PA trong hai ngày 01 và 02/4/2008. Và
ngày 02/4/2008, Vinapco có Công văn số 597/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo tiếp tục nạp nhiên liệu cho tất cả chuyến bay của
PA từ 0h00 ngày 3/4/2008.
Ví dụ 2: Về việc Công ty MegaStar lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường ép các doanh nghiệp đối tác nâng giá vé xem phim. Vì
không đạt thỏa thuận này, MegaStar đã không cung cấp nguồn phim nhập cho đối tác khiến các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng kể.
Có thể nói, từ khi MegaStar tham gia vào thị trường phát hành và chiếu bóng ở VN, thị trường chiếu bóng trong nước trở nên sôi
động. Với năng lực về tài chính và quan hệ, công ty này đã làm được những điều mà các doanh nghiệp khác chưa thể làm được: ký độc
quyền nhập khẩu phim với 4/5 hãng phim lớn của Mỹ; phát hành phim cùng thời điểm với thế giới, thậm chí bộ phim “bom tấn” Avatar
còn phát hành trước cả Mỹ (do lệch múi giờ).
Chính vì thế, số lượng phim Mỹ mà MegaStar nhập và phát hành tại VN những năm qua chiếm 60%, trong khi các công ty khác
như Thiên Ngân chỉ đạt 25%; BHD: 5%; còn Công ty Fafilm VN thì từ mấy năm nay không nhập được phim nào.
Theo các đơn vị khiếu nại, trước nay doanh thu chiếu bóng được phân chia theo tỉ lệ 50-50. Nghĩa là rạp hưởng 50% doanh thu chiếu

bóng và 50% còn lại thuộc về đơn vị cung cấp phim. Cơ sở của sự phân chia này là căn cứ vào thông lệ quốc tế cũng như thông lệ của
VN.
Thế rồi mọi việc đảo lộn khi MegaStar thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé và thực hiện chính sách giá thuê phim tối thiểu trên mỗi
người xem (từ tháng 6.2009).
Theo đó, các rạp chiếu phải thực hiện các yêu cầu bắt buộc, như: số suất chiếu tối thiểu của mỗi phim phát hành là 70 suất trong thời gian
tối thiểu 14 ngày và các rạp phải trả tối thiểu 25.000 đồng/ vé nếu muốn nhận bản phim mới chiếu cùng với các rạp chiếu của MegaStar.
Với chính sách này của MegaStar, các doanh nghiệp phát hành và chiếu bóng phim trong nước lâm vào cảnh khốn đốn. Bởi với cơ sở hạ
tầng hiện có, cộng với điều kiện kinh tế chung của người dân VN các rạp chỉ có thể bán vé với giá từ 25.000 đồng- 40.000 đồng. Nếu phải
trả cho MegaStar 25.000 đồng/ vé thì hoặc là lỗ nặng, hoặc chỉ đủ sức cho rạp hoạt động cầm chừng...
Không chấp nhận chính sách mới của MegaStar đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ không nhận được bản phim mới để chiếu.
Nguồn phim thiếu hụt, lượng khách giảm sút, doanh thu chiếu bóng của các doanh nghiệp sụt giảm đáng kể.
Đại diện một đơn vị khiếu nại cho biết: các cụm rạp Cinebox, Tân Sơn Nhất, Galaxy, Công ty TNHH một thành viên điện ảnh Hà Nội,
Công ty cổ phần Sài Gòn Điện ảnh đều sụt giảm doanh thu từ 25-50% so với các năm trước. Riêng Quý I năm 2010, hoặc hoạt động cầm
chừng, hoặc đang thua lỗ nặng...

15


Cũng theo đại diện này, MegaStar hiện có 7 cụm rạp chiếu trong cả nước với 53 phòng chiếu, 7.555 ghế, chiếm thị phần không nhỏ so với
hệ thống rạp của các đơn vị còn lại; cộng thêm lợi thế là doanh nghiệp có vốn nước ngoài đang ký hợp đồng độc quyền với 4/5 hãng phim
lớn của Mỹ... nên có thể gọi MegaStar là “ông lớn” trong lĩnh vực nhập khẩu, phát hành và chiếu phim ở VN hiện nay.
Sau chính sách mới của MegaStar các doanh nghiệp đã nhiều lần gặp gỡ, thương thảo với đơn vị này nhưng bất thành và giọt nước tràn ly
là lá đơn tập thể khiếu nại về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường của MegaStar.
Không khiếu nại nhưng cũng “kêu cứu”
Cũng như 6 doanh nghiệp khác, Trung tâm Chiếu phim Quốc gia phải chọn lựa giữa một bên là tăng giá vé để có bản phim mới ; hoặc giữ
nguyên giá vé và chấp nhận nguồn phim ngày càng cạn kiệt. Trong văn bản gửi Bộ VHTTDL, đơn vị này cho biết: Từ năm 2010, Trung
tâm Chiếu phim Quốc gia đã và đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn phim từ các nhà cung cấp.
Nhà cung cấp lớn nhất là Công ty TNHH truyền thông MegaStar chiếm 60% phim nhập đã từ chối cung cấp phim cho Trung tâm bằng
cách đặt ra những yêu cầu mà Trung tâm không thể đáp ứng.
Với phương châm hợp tác để phát triển, ban lãnh đạo Trung tâm Chiếu phim Quốc gia đã có 3 buổi trao đổi, làm việc với lãnh đạo phía

Công ty MegaStar nhằm mong muốn tìm một phương án hợp lý cho công tác phát hành phim tại Trung tâm.
Ngày 7.12.2009, MegaStar đã đưa ra điều kiện về việc phát hành phim tại Trung tâm. Theo đó, Trung tâm chỉ nhận được bản phim đã qua
sử dụng và phát hành sau các rạp của MegaStar từ 1-2 tuần (đối với các phim phát hành đồng thời với Mỹ) và phát hành đồng thời với các
rạp của MegaStar (đối với những phim đã phát hành sau hơn 6 tuần tại Mỹ).
Để có nguồn phim phục vụ nhu cầu xem phim của công chúng, Trung tâm đã đồng ý với điều kiện này của MegaStar nhưng đã hơn 4
tháng qua MegaStar không hồi âm, cho dù phía Trung tâm đã 2 lần gửi Công văn nhắc nhở về vấn đề đã thỏa thuận (?).
Theo sự phân tích của phía Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, những chính sách của Công ty MegaStar đang tạo ra sự độc quyền trên thị
trường phát hành phim, làm ảnh hưởng tới chủ trương xã hội hóa ngành điện ảnh của Nhà nước, làm chậm lại quá trình xây dựng một thị
trường phim mới manh nha.
Trước những vấn đề mà Trung tâm Chiếu phim Quốc gia “kêu cứu”, Bộ VHTTDL đã giao vụ việc cho Thanh tra và Cục Bản quyền xem
xét, đề xuất hướng tháo gỡ.
Trong khi đó, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) đã vào cuộc để làm rõ những nội dung trong đơn khiếu nại của các doanh nghiệp
là: Công ty cổ phần Truyền thông- Điện ảnh Sài Gòn; Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng Đồng Nai; Công ty cổ phần Sài Gòn Điện
ảnh; Công ty cổ phần Điện ảnh 212 và Công ty TNHH một thành viên Điện ảnh Hà Nội.

1.

Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
a) Hành vi của doanh nghiệp dùng vũ lực để ép buộc khách hàng phải giao dịch với mình là hành vi ép buộc trong kinh

b)

doanh theo Đ.42 LCT năm 2004.
Mọi vụ việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn trước khi đưa ra trước hội đồng cạnh tranh để giải quyết.

Trả lời:
a) Nhận định này là sai vì hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Đ.42 LCT năm 2004 là hành vi “ép buộc khách hàng, đối tác của
doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó”.
Như vậy đối tượng bị doanh nghiệp vi phạm tác động đến là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục đích
của hành vi này nhằm để gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh cụ thể là khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh không giao dịch hoặc

ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

16


Trong khi đối tượng bị tác động trong câu nhận định chỉ nói là khách hàng mà không xác định rõ khách hàng của ai, đó cũng có thể là
khách hàng tự do mà không phải là khách hàng của đối thủ cạnh tranh, mục đích của doanh nghiệp là nhằm buộc khách hàng giao
dịch với mình, hành vi này chỉ gây thiệt hại cho khách hàng chứ không ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của đối thủ.
b) Đúng vì theo LCT 2004 điều tra được chia làm hai giai đoạn: điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Kết quả của giai đoạn điều tra
chính thức là cơ sở để Cục quản lí cạnh tranh ra quyết định đưa vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo khoản 2 Điều 53
LCT năm 2004 hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết những vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, vì thế mọi vụ
việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn đó là thủ tục cũng như cơ sở lựa chọn Hội đồng cạnh tranh giải quyết vụ việc.

2.

Phân tích khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để áp đặt doanh nghiệp khác kí kết,
mua bán hàng hóa, dịch vụ?

Trả lời:
Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế (khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh).
Vị trí thống lĩnh thị trường: Theo Điều 11 Luật Cạnh tranh 2003, vị trí thống lĩnh trên thị trường được xác định dựa trên thị phần
hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp. Theo đó, Doanh nghiệp được coi là có vị
trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách
đáng kể. Một nhóm doanh nghiệp cũng có thể được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh
tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:






Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan
Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan
Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan

Việc xác định doanh thu, doanh số, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được quy định chi tiết trong Điều 10, 11, 12
và 13 của Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
Khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định trên cơ sở xem xét các
yếu tố:









Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp
Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của của doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của công ty mẹ
Năng lực công nghệ
Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Quy mô của mạng lưới phân phối
(Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP)

Về hành vi lạm dụng thị trường để áp dụng doanh nghiệp khác kí kết, mua bán hàng hóa, dịch vụ có nhiều vụ việc đã xảy ra, diễn
biến khá phức tạp trên thị trường nước ta. Để phân tích rõ hơn về vấn đề này, xét một ví dụ điển hình là vụ việc Megastar lợi dụng vị

trí thống lĩnh để nâng giá thuê phim được cho là vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

17


Hiện nay, các doanh nghiệp nhập phim chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: Công ty TNHH Truyền thông Megastar (Megastar), Công ty Cổ
phần phim Thiên Ngân (Galaxy), Công ty TNHH Bình Hạnh Đan (BHD) và Công ty TNHH Lotte Cinema Việt Nam (Lotte). Các doanh
nghiệp này sau khi nhập phim sẽ phân phối lại cho các rạp chiếu phim trên phạm vi cả nước.
Mỗi hãng phim nước ngoài chỉ ký hợp đồng với một hãng phát hành tại một quốc gia. Megastar là một doanh nghiệp liên doanh giữa công
ty văn hóa Phương Nam (sở hữu 10% vốn điều lệ) và công ty Envoy Media Limited của British Virgin Island (BVI) (sở hữu 90% vốn
điều lệ) có công nghệ và vốn đầu tư, rạp lớn, giá vé cao nên có vị trí thuận lợi khi nói chuyện với các hãng phim lớn trên thế giới. Tuy
nhiên, trên thực tế, 4 trong số 5 hãng phim lớn tại Hollywood đã ký hợp đồng với Megastar.
Do có lợi thế nắm trong tay số lượng phim nhập áp đảo, Megastar quay trở lại nâng giá thuê phim cho các rạp với lý do doanh thu cao thì
chi phí thuê phim cũng phải tăng lên. Từ tháng 6/2009, Megastar bắt đầu thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé và thực hiện việc áp
đặt chính sách Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem là 25 nghìn đồng (sau thuế). Thời điểm đó, giá vé ở rạp Dân Chủ (Hà Nội) là
20 nghìn đồng, rạp Cinebox (TP HCM) là 25 nghìn đồng… Chính sách Giá thuê phim tối thiểu của Megastar đã đẩy các doanh nghiệp
chiếu phim vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: nếu không chấp nhận chính sách này thì không có phim để chiếu, nếu muốn giữ nguyên giá
bán vé thì bị lỗ nặng, còn nếu tăng giá thì ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền khán giả.
Rõ ràng là Megastar đã vi phạm hai điều cấm của Điều 13Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường: áp đặt giá mua,
giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng và áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp
khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ. Bất kì một doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng nhằm mục đích cuối cùng là lợi
nhuận cao, chiếm lĩnh vị trí độc tôn trên thị trường, lấn át các đối thủ kinh doanh khác. Do đó, Luật cạnh tranh 2003 đã cấm các hành vi
lợi dụng này để tránh việc ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác cũng như tác động tiêu cực đến lợi ích
của khách hàng.
Tiếp tục với vụ việc Megastar,hậu quả của hành vi nói trên là các rạp chiếu phim hiện nay, đáng kể nhất là cụm rạp Cinebox, Tân Sơn
Nhất, Galaxy và nhiều doanh nghiệp điện ảnh nhà nước như Tháng Tám, Công ty Cổ phần Truyền thông Điện ảnh Sài Gòn… đều bị sụt
giảm 25 - 50% doanh thu, hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ từ quý 2 năm 2009 đến nay. Đối với các doanh nghiệp nhỏ thì đây có thể là
hành vi “cá lớn nuốt cá bé”, dẫn đến việc loại bỏ các doanh nghiệp này khỏi thị trường, vì khiến cho họ không còn sức cạnh tranh, thua lỗ
không thể tiếp tục kinh doanh. Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp đối thủ, doanh nghiệp vừa cũng không kém.Sức ép lên những rạp
lớn như Trung tâm chiếu phim Quốc gia, Galaxy không quá căng, nhưng cũng gây không ít trở ngại.Đại diện Galaxy chia sẻ, họ phải tăng

giá vé phim nhập của Megastar nếu không muốn hòa hoặc lỗ vốn.Riêng cụm rạp Nguyễn Trãi của hãng có thời gian thua lỗ.Hãng xác
định, việc mở thêm cụm rạp hoặc đầu tư thêm trong tình hình hiện nay gặp nhiều khó khăn.Thực tế cho thấy, Galaxy chiếu phim hạn chế
hơn nhiều so với thời gian trước cũng như chất lượng phim không còn hấp dẫn, các phim bom tấn cũng giảm dần vì chủ yếu tập trung ở
các cụm rạp Megastar. Phải chăng đây là do việc giá thuê phim lại của Megastar quá cao khiến cho Galaxy không thể lấy những đồng
doanh thu khiêm tốn để bù lại và tiếp tục thuê phim hay, có lượng người xem yêu thích cao? Nếu như các doanh nghiệp lớn và vừa cũng
khó khăn trong khả năng vượt qua sức ép này thì các doanh nghiệp nhỏ khó lòng có thể tránh khỏi nguy cơ đóng cửa trong tương lai
không xa.
Có thể thấy rằng, nếu như tình trạng này kéo dài, sự yêu thích của khách hàng đối với các rạp phim khác sẽ sụt giảm đáng kể. Đến một lúc
nào đó, họ sẽ đổ xô đến Megastar để xem phim mình yêu thích vì chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, tâm lí của khán giả
cũng thích xem những bộ phim nổi tiếng thế giới để thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình. Hệ quả cũng không khó để đoán trước, một khi
đã giành vị trí độc tôn, Megastar sẽ nâng giá phim lên ngất trời, người chịu thiệt hại nhiều nhất sẽ là người tiêu dung do muốn xem bộ
phim mà mình yêu thích, họ sẽ chỉ xem được ở Megastar với giá tiền cũng chỉ Megastar mới có (đương nhiên là cao gấp nhiều lần so với

18


các rạp khác).Trong nhóm hành vi lạm dụng nhằm ngăn cản, loại bỏ đối thủ, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có thể sẽ không
tích tụ được tư bản nhưng có cơ hội củng cố và duy trì hơn vị trí thống lĩnh thị trường vốn có. Việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh sẽ giảm bớt
sức ép cho doanh nghiệp, đồng thời cũng khiến khách hàng mất đi khả năng lựa chọn khi giao dịch trên thị trường liên quan.Chính vì vậy,
đối tượng mà nhóm hành vi hướng tới chính là những đối thủ hiện hữu và đối thủ tiềm năng của mình.
Không dừng lại ở đó, Megastar còn đưa ra nhiều điều kiện áp đặt lên các doanh nghiệp khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ông Diên, trưởng
phòng dịch vụ Trung tâm chiếu phim Quốc gia cho biết, Trung tâm đang có nhiều vấn đề không thể giải quyết với Megastar và lúc này,
Trung tâm không còn được chiếu phim của Megastar nữa: “Từ khi Megastar thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé, những doanh
nghiệp như chúng tôi gặp rất nhiều vấn đề đau đầu. Bên cạnh đó, họ còn ép chúng tôi tăng suất chiếu mỗi tuần với một phim của Megastar
từ 40 suất lên 70 suất.Như vậy là không còn chỗ để chiếu phim của những đối tác khác.Chúng tôi đã nhiều lần thảo luận nhưng họ không
chấp nhận, buộc chúng tôi phải ngưng hợp tác.Điều này ảnh hưởng đến lượng khán giả đến rạp. Rất may chúng tôi là rạp lớn nên không bị
"trói tay, trói chân"” - ông Diên cho biết.
Đại diện pháp lý cho sáu doanh nghiệp trong vụ kiện Megastar đánh giá: “Trên thị trường điện ảnh, Megastar trở thành gã khổng lồ
trấn giữ cả đầu vào lẫn đầu ra, buộc các doanh nghiệp còn lại muốn tham gia thì phải chấp nhận vô điều kiện những chính sách của
Megastar, góp phần làm Megastar càng hùng mạnh hơn nữa. Những hãng phát hành khác buộc chấp nhận yêu cầu để Megastar ngồi

mát ăn bát vàng hoặc không chiếu phim của họ, khi ấy khán giả ùn ùn kéo đến Megastar để coi bom tấn. Kiểu nào Megastar cũng thu
lãi lớn, từ đó, họ quay lại báo công với các hãng sản xuất”. Megastar còn tận dụng thế mạnh của phân phối độc quyền, không chỉ ép
các rạp về mức giá thuê phim mà cả về các điều kiện phát hành, đảm bảo cho phim của Megastar được chiếu ở phòng chiếu lớn nhất,
giờ chiếu tốt nhất, tần suất cao nhất có thể, các phim “bom tấn” phải thuê kèm phim khác… Ví như, để có Transformers, Công ty Cổ
phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim hoạt hình Ice Age.
Thông qua ví dụ về vụ việc Megastar ta thấy rõ hơn phần nào về khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng quyền lực thị
trường để áp đặt doanh nghiệp khác kí kết, mua bán hàng hóa, dịch vụ.

3.

Phân tích bản chất của thủ tục thông báo về tập trung kinh tế?

Tập trung kinh tế là hành vi làm giảm các số lượng doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông qua các hành vi sáp nhập
hoặc thông qua tăng cường nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất. Khoa học pháp lý không có định nghĩa
cụ thể nào về tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế theo điều 16 Luật Cạnh tranh.
Tập

trung

kinh

tế



các

đặc

điểm:


chủ

thể



các

doanh

nghiệp

hoạt

động

trên

thị

trường;

hành

vi tập trung kinh tế được thực hiện dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật và hậu quả của hành vi trên là việc
hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan trên thị trường.
Tập trung kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu của tư bản trong kinh tế thị trường do nhu cầu về cạnh tranh vị thế, nhu cầu về
vốn và sức mạnh tài chính... Mục tiêu của tập trung kinh tế là tạo ra những doanh nghiệp lớn trên cơ sở tập trung sức mạnh của nhiều
doanh nghiệp sẵn có trên thương trường nhằm làm hạn chế cạnh tranh song đồng thời chính hành vi này lại tạo ra những doanh

nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh hơn, giảm chi phí đầu tư và sản xuất, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh,
từ đó giữ vị vị trí thống lĩnh trên thị trường, nói cách khác là doanh nghiệp độc quyền. Nhằm chống độc quyền hóa (chống hạn chế
cạnh tranh) và kiểm soát tập trung kinh tế, pháp luật cạnh tranh quy định về vấn đề này tại mục 3 chương 2 Luật cạnh tranh.



Đối tượng thông báo tập trung kinh tế:

19


Không phải tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện nhiệm vụ thông báo tập trung kinh tế. Theo quy định tại khoản 1, điều 20 Luật
cạnh tranh 2004 quy định: “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại
diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế.
Trường hợp thị phần của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh
nghiệp sau khi thực hiên tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông
báo”.
Theo quy định trên, chỉ những doanh nghiệp có thị phần kết hợp từ 30% tới 50% mới phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh
trước khi tiến hành kinh tế. Các doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 1% đến 3% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực
hiện hành vi vi phạm đối với hành vi tập trung kinh tế mà không thực hiện nghĩa vụ thông báo cho Cục Quản lý Cạnh tranh trước khi
tiến hành tập trung kinh tế.



Bản chất của thủ tục thông báo tập trung kinh tế:

Sở dĩ các doanh nghiệp, ở đây là các doanh nghiệp có thị phần kết hợp từ 30% đến 50%, phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung
kinh tế nhằm xác định được cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phân tích, đánh giá vụ việc. Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
phải làm hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo điều 21 Luật cạnh tranh 2004 để nộp cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm
về tính trung thực của hồ sơ. Hồ sơ thông báo việc tập trung kinh tế cung cấp những thông tin cần thiết về tài chính, về sản phẩm, về

thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan trong hai năm liên tiếp gần nhất.
Việc thông báo tập trung kinh tế cho Cục quản lí cạnh tranh nhằm hạn chế những sai phạm mang đến từ tập trung kinh tế. Có thể các
doanh nghiệp không cần phải tập trung kinh tế( doanh nghiệp có thị phần kết hợp thấp hơn 30%) trong khi họ lại thực hiện thủ tục
thông báo tập trung kinh tế, gây phức tạp cho công tác quản lý của Cục quản lý cạnh tranh. Thông qua việc thông báo tập trung kinh
tế, Cục quản lý nắm bắt được số lượng doanh nghiệp hiện tại, có thể là giảm số lượng doanh nghiệp như sáp nhập doanh nghiệp, hợp
nhất doanh nghiệp… Cũng có trường hợp làm tăng số lượng doanh nghiệp như tách doanh nghiệp, cũng có thể là chuyển đổi hình
thức của doanh nghiệp như mua lại doanh nghiệp, liên doanh doanh nghiệp… Việc sáp nhập, hợp nhất, tách, mua lại hay liên doanh
dẫn tới sự thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, vì vậy, thông báo tập trung kinh tế là điều
cần thiết phải được thực hiện bởi các doanh nghiệp .
Bên cạnh đó, nếu xuất hiện tình trạng thống lĩnh thị trường hoặc độc chiếm thị trường, Cục quản lý cạnh tranh sẽ thực hiện nhiệm vụ
kiểm soát không để các doanh nghiệp sáp nhập hoặc hợp nhất theo hướng tiêu cực cho nền kinh tế nói chung, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác nói riêng. Bởi lẽ, việc xảy ra tình trạng thống lĩnh thị trường hay nói cách khác là để các
doanh nghiệp cùng hành động, cùng thực hiện hành vi lạm dụng như nhau, dẫn tới chi phối thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh của
các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hơn là các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Điều này tác động trực tiếp tới khách hàng
của các doanh nghiệp để bóp méo cạnh tranh trên thị trường, gây thiệt hại tới các đối thủ cạnh tranh khác và người tiêu dùng.
Ngoài ra, độc chiếm thị trường cũng tác động mạnh mẽ và sâu sắc nếu Cục quản lý cạnh tranh không kiểm soát được việc tập trung
kinh tế của các doanh nghiệp. Độc chiếm thị trường loại bỏ tất cả các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp giữ cho mình một vị thế độc
tôn, toàn quyền quyết định cho sản phẩm của mình mà không có bất kì sản phẩm nào có thể thay thế được. Xảy ra độc chiếm thị
trường dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp độc quyền đầu cơ, tích trữ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đợi một thời điểm thích hợp tung
ra thị trường với mức giá do chính doanh nghiệp mình đưa ra. Điều đó tạo ra sự thiếu công bằng đối với các doanh nghiệp khác trong
nước, ảnh hưởng đến người tiêu dùng và làm đảo lộn nghiêm trọng tình hình kinh tế trong nước.
Tóm lại, bản chất của thủ tục thông báo về tập trung kinh tế là nhằm giúp cho cơ quan quản lý cạnh tranh có thêm cơ sở để đánh giá
về kết quả của những trường hợp tập trung kinh tế có nguy cơ dẫn đến độc quyền.Nhằm phục vụ tốt hơn cho mục đích kiểm soát cạnh

20


tranh, hay cụ thể hơn là kiểm soát tập trung kinh tế.Giúp hạn chế tối đa khả năng hình thành doanh nghiệp độc quyền, gây ảnh hưởng
xấu đến cạnh tranh lành mạnh


1.
a.

-

Nhận định đúng, sai và giải thích
Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.
Nhận định này sai.
Theo khoản 1, điều 20 LCT, “Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị
trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định
của pháp luật thì không phải thông báo.”
Nghĩa là trường hợp tập trung kinh tế mà thỏa một trong hai điều kiện:
Thị phần kết hợp thấp hơn 30% trên thị trường liên quan;
Doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật. (1)
Thì không phải thông báo cho cơ quan quản lí cạnh tranh.
(1): Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ–CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên). Cụ thể, doanh nghiệp có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản;
công nghiệp và xây dựng; không quá 50 tỷ đồng đối với doanh nghiệp thuộc khu vực thương mại và dịch vụ hoặc có số lao động không
quá 300 người đối với doanh nghiệp thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; không quá 100 người đối với
doanh nghiệp thuộc khu vực thương mại và dịch vụ thì có thể được xem là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Như vậy, không phải mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải báo cho cơ quan quản lí cạnh tranh.

b.

Một doanh nghiệp chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan
Nhận định này sai.

-


Theo khoản 1, điều 11 LCT, “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị
trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.”
Một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thì chỉ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện:
Có thị phần 30%; hoặc
Có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Điều 22 Nghị định số 116/2005/NĐ–CP xác định cơ sở để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của
doanh nghiệp trên thị trường liên quan dựa vào một hoặc một số căn cứ chủ yếu sau đây:

-

Năng lực tài chính của doanh nghiệp.

-

Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp.

-

Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của của doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp.

-

Năng lực tài chính của công ty mẹ.

-

Năng lực công nghệ.


-

Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

-

Quy mô của mạng lưới phân phối.

21


Như vậy, không chỉ những trường hợp có thị phần 30% trở lên trên thị trường liên quan mới xét là doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh.

2.

Phân tích bản chất của thủ tục miễn trừ?

-

Theo quy định của luật tranh, có 2 trường hợp được hưởng thủ tục miễn trừ:
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Tập trung kinh tế.
Về bản chất, ta có thể thấy rằng, thủ tục miễn trừ là việc cơ quan có thẩm quyền cho phép các doanh nghiệp thuộc diện bị cấm
tập trung kinh tế hay có các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm được thực hiện tập trung kinh tế hay có các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh (theo quy đinh tại điều 8 LCT) trên cơ sở đáp ứng một số tiêu chí hiệu quả kinh tế – xã hội nhất định.
Điều đó có nghĩa là các hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế được miễn trừ không mặc nhiên được thực hiện khi thỏa mãn
các điều kiện do luật định về mặt nội dung mà phải có được quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Thủ tục miễn trừ mang bản chất của thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh;


a.
-

- Quyết định cho hưởng miễn trừ không có giá trị vĩnh viễn.
Thủ tục miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Theo điều 10 LCT, một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện vẫn có thể được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng được
một trong các điều kiện sau đây, nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:
Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ
Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm
Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá
Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Các trường hơp được miễn trừ được quy định nhìn chung là phù hợp với các nguyên tắc lập luận hợp lý theo thông lệ quốc tế
nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao hiệu quả kinh tế. Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được cho phép thực
hiện khi thấy lợi ích đối với nền kinh tế và người tiêu dùng lớn hơn tác động hạn chế cạnh tranh, nói cách khác là có tác động tích cực
nhiều hơn là tiêu cực đối với người tiêu dùng.
Trong mọi trường hợp, các doanh nghiệp xin được hưởng miễn trừ phải chứng minh được thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể
làm hạ giá thành sản phẩm và có lợi cho người tiêu dùng.

b.
-

Thủ tục miễn trừ đối với tập trung kinh tế
Một trường hợp tập trung kinh tế có thể được miễn trừ nếu có những tác động tích cực đến cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
Thông thường, các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm có thể được miễn trừ nếu đáp ứng được một trong các điều kiện sau đây:
Tập trung kinh tế mang lại hiệu quả phát triển.
Tập trung kinh tế nhằm mở rộng hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ;
Tập trung kinh tế làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa trên thị trường quốc tế;
Tập trung kinh tế giúp cơ cấu lại doanh nghiệp trong thời kì khủng hoảng kinh tế, phá sản.

Theo điều 19 Luật cạnh tranh năm 2004, tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm được miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản.
Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế-xã hội, khoa học, kĩ thuật.
Về bản chất, thủ tục miễn trừ trong một số trường hợp bị cấm có tác động nhất định về mặt kinh tế:
Tạo ra mô hình kinh doanh hiệu quả nhưng vẫn được giám sát theo khuôn khổ của pháp luật, tạo ra lợi ích kinh tế lớn bù đắp những thiệt
hại xấu.
Nếu xét về nhiều mặt tập trung kinh tế không chỉ có mặt tiêu cực mà nó còn mang lại nhiều mặt tích cực cho sự phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số vì vậy khi đất nước gia nhập WTO thông qua việc kí kết các hiệp định
song phương và đa phương đã xuất hiện nhiều công ty đa quốc gia có quá trình hình thành lâu dài và tiềm lực kinh tế mạnh . Với những
thế mạnh sẵn có những công ty này dễ dàng tạo lập được vị trí thống lĩnh và độc quyền trên thị trường nó làm cho những doanh nghiệp
nội địa dần dần bị xóa bỏ nếu không đủ sức cạnh tranh. Vì vậy tập trung kinh tế của các doanh nghiệp nội địa bằng các hình thức sáp
nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh nhằm tránh cho một số doanh nghiệp thóat khỏi tình trạng phá sản tuy nhiên được quản lý với một số
điều kiện được đặt ra: chỉ là doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính chứ không hẳn là nhừng họat động, vẫn có hệ thống phân phối
và còn uy tín với sản phẩm, có thị phần trên thị trường mà các công nghệ kĩ thuật, nguồn vốn được tập trung vào một doanh nghiệp. Việc

22


-

3.

này làm các công ty này dần lớn mạnh có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngòai trong nước và có thể tham gia ở cả thị
trường ngòai nước.
Giảm thiểu các nguy cơ gây rủi ro cho nền kinh tế, điều tiết kinh tế.
Khi một doanh nghiệp bị phá sản đồng nghĩa với người lao động thất nghiệp ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia và gây ra các hệ lụy tiêu cực khác. Nếu nền kinh tế tốt, các doanh nghiệp làm việc có hiệu quả lực lượng lao động này sẽ tạo ra
nhiều sản phẩm cho xã hội, thúc đây phát triển. Hơn nữa sau khi tập trung kinh tế các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản
xuất, áp dụng các kĩ thuật hiện đại giúp cho người lao động nâng cao tay nghề đáp ứng với điều kiện hiện nay.
Như vậy, qua các phân tích trên, ta có thể thấy rằng, bản chất của thủ tục miễn trừ trong luật cạnh tranh là tạo nên lợi ích của doanh

nghiệp, người tiêu dùng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Với những chính sách và quy định của pháp luật, những doanh
nghiệp sẽ có định hướng phát triển kinh doanh theo hướng tốt nhất để có lợi cho mình và có lợi cho người tiêu dùng, tạo nên một nền kinh
tế thị trường tự do cạnh tranh.
Hội đồng cạnh tranh có phải là cơ quan hành chính Nhà nước không? Tại sao?
Luật cạnh tranh 2004 không qui định Hội đồng cạnh tranh là cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam. Tuy nhiên, có thể hiểu Hội
đồng cạnh tranh và Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan cạnh tranh của Việt Nam.
Ta có định nghĩa cơ quan hành chính nhà nước: “Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, phụ
thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp
hành, điều hành và tham gia chính yếu vào hoạt động quản lý nhà nước. Như vậy, ta sẽ dựa vào định nghĩa trên để phân tích vấn đề.
Về bản chất, Hội đồng cạnh tranh là “cơ quan hành chính bán tư pháp”. Nếu Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương thì Hội
đồng cạnh tranh được cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất - Chính phủ thành lập ( Khoản 1 điều 53 Luật cạnh tranh 2004), nhưng hoạt
động không giống các cơ quan hành chính Nhà nước vì gần như là một cơ quan thực hiện chức năng tài phán. Dường như, Hội đồng cạnh
tranh được thành lập như là một cơ quan quản lý hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh mà vẫn tuân thủ triệt để các nguyên tắc tư pháp khi
xử lý vụ việc cạnh tranh.

-

Về vị trí pháp lý, Điều 2 Nghị định 05/2006/NĐ-CP quy định, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước
độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Như vậy:
Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước chứ không phải là Hội đồng tư vấn. Hội đồng cạnh tranh là cơ quan xử lý kết
quả điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh về các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Quyết định của Hội đồng cạnh tranh có giá trị bắt buộc thi
hành và được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước.
Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp có chức năng xử lý vụ việc về cạnh tranh. Luật Cạnh tranh và Nghị định
05/2006/NĐ-CP không khẳng định rõ ràng về bản chất lưỡng tính của Hội đồng cạnh tranh, song nếu dựa vào quy trình tố tụng cạnh tranh
mà cơ quan này thực hiện trong việc xử lý vụ việc cạnh tranh, có thể thấy rõ tính chất tài phán của nó.
Một là, thủ tục tố tụng mang tính tranh tụng.
Hai là, việc tiến hành xử lý vụ việc được thực hiện theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, rõ ràng và mang tính tài phán.
Ba là, khi quyết định xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc về cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh làm việc theo chế
độ tập thể;
Bốn là, quyết định của Hội đồng cạnh tranh không thể bị khiếu nại trong hệ thống cơ quan hành chính mà phải khởi kiện ra tòa

án...

-

Về đặc điểm, Hội đồng cạnh tranh tuy hoạt động khác các cơ quan hành chính Nhà nước nhưng vẫn mang những tính chất đặc
trưng của một cơ quan hành chính Nhà nước như :
Thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành, nghĩa là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp lệnh và để thực hiện
pháp luật.
Hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định.
Hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của một trung tâm thống là nhất Chính phủ
- cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Hội đồng cạnh tranh là một thiết chế hội đồng, làm việc theo chế độ tập thể và chịu sự chỉ đạo
của Chính phủ.
Thẩm quyền cơ quan hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành. Đối tượng thuộc thẩm quyền của
Hội đồng cạnh tranh chi là các hành vi hạn chế cạnh tranh ở giai đoạn xử lý vụ việc chứ không bao gồm các hoạt động thụ lý, điều tra đối
với các hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc thẩm quyền Cục quản lý cạnh tranh.
Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm
tra của các cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó. Cụ thể, chịu
sự lãnh đạo của Chính phủ và sự quản lý của Thủ tướng.

23


Với những lí do trên Hội đồng cạnh tranh là cơ quan hành chính Nhà nước, nằm trong bộ máy hành chính và chịu sự quản lý
của Thủ tướng nhưng hoạt động như là một cơ quan tài phán./.

Câu 1: Nhận định
1. Hội đồng xử lý cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia.
Nhận định trên sai. Vì hội đồng xử lý cạnh tranh cần ít nhất có 5 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia và trong đó có một
thành viên là Chủ tọa phiên điều trần theo Điều 54, Khoản 3 Luật cạnh tranh
2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được miễn trừ.

Sai. Vì có 2 trường hợp được miễn trừ là trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (Điều 10 LCT) và trường
hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm (Điều 19 LCT). Bản chất của xét miễn trừ là vì tuy xét về hình thức thì một số hành vi tập
trung kinh tế và một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết luận là hành vi vi phạm luật cạnh tranh nhưng
không gây ra nhiều tác động tiêu cực mà ngược lại có lợi cho người tiêu dùng, có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần cho sự phát
triển kinh tế.
Còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng (Điều 3 Khoản 4 LCT).
Việc miễn trừ đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm và tập trung kinh tế bị cấm được pháp luật nước ta dựa trên sự cân nhắc
đến hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế để cho xem xét cho phép thực hiện những hành vi này mà về bản chất có hạn chế cạnh tranh nhưng
có thể được sử dụng như một trong các biện pháp góp phần đạt được hiệu quả của nền kinh tế. Còn đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi ích Nhà nước, các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, xâm hại đến trật tự quản lí cạnh tranh
mà không có bất kì tác động tích cực nào nên không có bất kì điều luật hoặc văn bản nào qui định được miễn trừ.
Đồng thời theo Điều 26 LCT thì đối tượng nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ là các bên dự định tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh hoặc tập trung kinh tế, không có qui định đến các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Vì vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được miễn trừ. Nhận định trên là sai.
Câu 2: Tại sao luật cạnh tranh không áp dụng miễn trừ đối với hành vi lạm dụng quyền lực thị trường
Trả lời:
Cơ chế miễn trừ được đặt ra khi phân tích bản chất kinh tế, có nhiều trường hợp, hành vi thỏa thuận hoặc tập trung kinh tế của các
doanh nghiệp đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết luận là vi phạm luật cạnh tranh, song lại có nhiều tác dụng tích cực cho sự phát triển của
kinh tế - xã hội. Vì vậy 2 hành vi hạn chế cạnh tranh xuất hiện cơ chế miễn trừ khi đạt được những điều kiện nhất định.
Điều 13, 14 Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê các nhóm hành vi được coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và được hướng dẫn
chi tiết tại Nghị định số 116/2005/NĐ - CP từ Điều 23 đến Điều 31. Mặc dù pháp luật cạnh tranh không phân loại hành vi, nhưng căn cứ

24


vào tính chất và mục đích của chủ thể thực hiện có thể phân chia hành vi lạm dụng thành hai nhóm: Lạm dụng mang tính áp đặt và trục
lợi; và lạm dụng nhằm ngăn cản, loại bỏ đối thủ. Tuy vậy, dù ở nhóm nào, (luật Việt Nam cho rằng) hành vi lạm dụng quyền lực thị
trường của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và độc quyền thị trường đều rất nguy hiểm, để lại hậu quả lớn cho xã hội, nền kinh tế và môi

trường kinh doanh:
- Vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đi ngược lại trật tự cạnh tranh không lành mạnh, kìm hãm độc lực phát triển của nền
kinh tế. Khi đã có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh của mình bằng cách tiêu diệt
các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuất hiện trên thị trường của các đối thủ này. Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh trên thương
trường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để doanh nghiệp phát triển.
- Nó tạo ra nguy cơ khủng hoảng và suy thoái của nền kinh tế. Các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền
sử dụng vị thế này vào việc tự định giá cả hàng hoá độc quyền, kìm hãm số lượng hàng hoá để tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch
mà không chú trọng tới việc đổi mới công nghệ, tăng năng suất nữa. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các công ty thống
lĩnh, công ty độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến bị suy giảm và suy thoái của cả một ngành sản xuất nào đó. Sự khan hiếm của hàng
hoá và giá cả leo thang do tình trạng thống lĩnh thị trường, tình trạng độc quyền gây ra sẽ là nguyên nhân đưa đến sự lạm phát và gây mất
ổn định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp.
- Thống lĩnh thị trường, độc quyền tạo cho các công ty thống lĩnh, công ty độc quyền những khoản thu nhập bất chính từ lợi nhuận
siêu ngạch, góp phần làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội. Lợi nhuận của các công ty thống lĩnh, công ty độc
quyền có được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng của giá cả áp đặt so với giá trị tự nhiên của hàng hoá, tức là đã
bòn rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi của một số ít các công ty thống lĩnh, công ty độc quyền, đẩy những người
nghèo đi đến chỗ ngày càng nghèo thêm, còn các công ty thống lĩnh, công ty độc quyền phất lên nhanh chóng.
- Thống lĩnh thị trường và độc quyền còn dẫn đến tình trạng cửa quyền hay đặc quyền cho một nhóm người có lợi ích. Thống lĩnh thị
trường, độc quyền sẽ tất yếu nảy sinh ra cơ chế xin – cho, ban phát và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất.
- Ngoài ra, thống lĩnh thị trường và độc quyền còn đồng hành với tiêu cực và tham nhũng.
Bởi lẽ đó, pháp luật cạnh tranh Việt Nam cấm tuyệt đối các hành vi này mà không có chính sách miễn trừ. Góp phần làm trong sạch
nền kinh tế, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, công bằng trên thương trường. Đảm bảo lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác cùng
tham gia vào thị trường và hơn thế nữa là lợi ích của nhà nước và người tiêu dùng.
Câu 3: Hãy so sánh địa vị pháp lý của Hội đồng cạnh tranh và Cục quản lý cạnh tranh.
Trả lời:
1/ Điểm giống nhau:

-

Đều là cơ quan do Chính phủ thành lập, đều là cơ quan cấp Cục thuộc Bộ Công Thương và có thẩm quyền trong các lĩnh vực quản lý Nhà
nước về cạnh tranh: Hội đồng cạnh tranh do Chính phủ thành lập theo Nghị định 05/2006/NĐ – CP ngày 9 tháng 1 năm 2006, Cục quản lý


-

cạnh tranh do Chính phủ thành lập theo Nghị định 06/2006/NĐ – CP ngày 9 tháng 1 năm 2006.
Cả hai cơ quan đều có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, được mở tài sản tại Kho bạc Nhà nước, được sử dụng con dầu riêng
để giao dịch theo quy định của pháp luật và kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp.
2/ Điểm khác nhau:

25


×