Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

Xác định vai trò gây bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn của vi khuẩn actinobacillus pleuropneumoniae, pasteurella multocida và thử nghiệm vacxỉn phòng bệnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (630.83 KB, 66 trang )

BỌ LỜI
GIAOCAM
DỤC VA
ĐAO TẠO
ĐOAN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
vữ NGỌC QUÝ
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày ... tháng 9 năm 2008
XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH
VIÊM
PHOI
'T
•2
Tác giá
MÀNG PHỔI Ở LỢN CỦA VI KHUẨN ACTINOBACILLUS
''

PLEUROPNEUMONIAE, PASTEURELLA MULTOCIDA VÀ
Ngọc BỆNH
Quý
THỦ NGHIỆM VACXIN Vũ
PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC sĩ NÔNG NGHIỆP


Chuyên ngành : THÚ Y
Mã sô : 60.62.50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. cù HỮU PHÚ

HÀ NỘI - 2008


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- PGS.TS. Cù Hữu Phú, người hướng dẫn khoa học trực tiếp đã giúp đỡ,
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề
tài và hoàn thành luận văn này.
- TS. Nguyễn Hữu Nam, các thầy cô trong bộ môn Vi sinh vật - Truyền
nhiễm - Bệnh lý cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Thú y; khoa Sau đại
học-Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
- Cán bộ nghiên cứu công tác tại Bộ môn Vi trùng- Viện Thú y
- Sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Công ty Giống Chăn nuôi Thái
Bình, Hải Phòng, Hà Tây và các bạn đồng nghiệp đặc biệt là gia đình đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Hà Nội, Ngày ... tháng 9 năm 2008
Tác giả

Vũ Ngọc Quý

11


MỤC LỤC

Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
Danh mục bảng
Danh mục biểu, hình
Mở Đầu

i
ii
iii
V
vi
vii
1

1. Tổng quan tài liệu

3

1.1. Vi khuẩn Pasteurella multocida và bệnh do vi khuẩn gây ra ở lợn 3
1.2. Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh do vi khuẩn
gây ra ở lợn

13

2. Nội dung - nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

29


2.1. Nội dung nghiên cứu

29

2.2. Nguyên liệu nghiên cứu

29

2.3. Phương pháp nghiên cứu

32

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

38

3.1. Kết quả thu thập mẫu bệnh phẩm đường hô

hấp

38
3.2. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Actinobacilỉus và Pasteurella ở đường hô
hấp của lợn theo địa phương

39

3.3. Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacillus và Pasteurella từ dịch
ngoáy họng và phổi của lợn

42


3.4. Kết quả phân lập vi khuẩn đường hô hấp của lợn theo các lứa tuổi 45
3.5. Kết quả giám định hình thái, nuôi cấy và một số đặc tĩnh sinh hoá
của các vi khuẩn phân lập được

47

3.5.1.
ặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy
iii

Đ
50
47


GID:
pleuropneumoniae:

bronchiseptica:

AMP:

NA:

DTA:

ISA:

parasuis:


pleuropneumoniae:

hyopneumoniae:

AD:

multocida:

RS:

Agargel Immuno Diffuse
Actinobacillus pleuvopneumoniae
Bordetella bronchiseptica
Brain Heart Infusion
Christie - Atkinson
- Munch
- Peterson
DANH MỤC
CHỮtra
VIẾT
TẮTlên
VÀmen
KÝ đường
HIỆU của các vi khuẩn
3.5.3.
KếtCÁC
quả
kiểm
khả năng

Complement Fixation Test
phân
cộns sự
lập được
51
Deoxyribonucleic Acid
3.6. Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn phân lập được
54
Ethylene Diamine Tetra Acetic acid
3.6.1. Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn p. multocỉda phân lập được
Enzyme - linked Immunosorbant assay
54
Haemophilus parasuis
3.6.2.
Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn A. pleuropneumoniae
Haemophilus
pỉeuropneumoniae
phân
Indirect Haemagglutination
test
lập được
55
LypoPolysaccarit
3.7. Kết quả xác định serotype của vi khuẩn đường hô hấp phân lập được 57
Mycoplasma
3.8. Kếthyopneumoniae
quả chế tạo thử nghiệm Autovacxin phòng bệnh viêm phổi Methyl
red phổi cho lợn
màng
61

3.8.1.
Autovacxin vô hoạt có bổ trợ keo phèn phòng bệnh
Nicotinamide
Adenine Chế
Dinucleotide
viêm phổi
Organisation for International Epidemic
- màng phổi cho lợn
61
Phosphat buffer
3.8.2. solution
Kết quả kiểm tra an toàn và hiệu lực vacxin trên chuột thí nghiệm
62
Polymerase Chain Reaction
3.8.3.
Kết quả thử nghiệm autovacxin trên lợn
Pasteurella multocida
64
4.
Kết
luận

đề
nghị
68
Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
Tryptic Soy Agar
vi khuẩn
Voges - Prokauer


V
IV


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng

Trang

2.1 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định type giáp mô A, B, D của vi
khuẩn p. multocida

36

3.1 Kết quả thu thập mẫu bệnh phẩm

39

3.2 Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Actinobacillus và Pasteurella ở đường hô hấp
của lợn theo địa phương

40

3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacillus và Pasteurella từ dịch
ngoáy họng và phổi của lợn

43


3.4 Kết quả phân lập vi khuẩn đường hô hấp của lợn theo các lứa tuổi
3.5

45

Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn
phân lập được

50

3.6. Kết quả kiểm tra khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn
phân lập được

52

3.7 Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn p. multocida phân lập được 55
3.8 Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn A. pleuropneumoniae phân
lập được

56

3.9 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn A.
pleuropneumoniae và p.multocida phân lập được
3.10

Kết quả

58

kiểm tra một số chỉ tiêu các lô vacxin.


62
3.11

Kết quả

thử hiệu lực của vacxin trên chuột bạch

VI


DANH MỤC BIỂU, HÌNH

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Actinobacillus và Pasteurella ở đường
hô hấp của lợn theo địa phương

41

Biểu đồ 3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacillus và Pasteurella từ
dịch ngoáy họng và phổi của lợn

43

Ánh 3.1

Bệnh tích phổi lợn bị viêm phổi - màng phổi

45

Ánh 3.2


Khuẩn lạc của vi khuẩn Pasteurella phân lập được trên môi
trường thạch máu

48

Ảnh 3.3

Hình thái vi khuẩn Pasteurella phân lập được (1500 x)

48

Ánh 3.4

Khuẩn lạc của vi khuẩn Actinobacilỉus phân lập được trên
môi trường thạch máu

49

Ánh 3.5

Hình thái vi khuẩn Actinobacillus phân lập được (1500 x)

49

Ánh 3.6

Phản ứng lên men đường của vi khuẩn Actinobacillus phân

Ảnh 3.7


lập được

53

Phản ứng lên men đường của vi khuẩn Pasteurella phân lập được

53


MỞ ĐẦU

Hiện nay chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng vẫn
chiếm một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta, đặc biệt là
những tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ. Bởi vì đa số dân số nước ta sống ở nông
thôn và nguồn sống dựa cả vào nông nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng lúa và
chăn nuôi lợn. Thịt lợn là nguồn thực phẩm chính trong bữa ăn hàng ngày của
mọi người dân chúng ta, sản phẩm thịt lợn phần lớn là đé đáp ứng nhu cầu
trong nước và một phần dành cho xuất khẩu, lợn cũng là nguồn cung cấp phân
hữu cơ cho thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Trong những năm gần đây, ngành thú y đã có một số thành tựu mới góp
phần phòng chống dịch bệnh, bảo vệ đàn lợn. Tuy nhiên, từng lúc từng nơi
khi mà điều kiện sinh thái không thuận lợi, một số dịch bệnh vẫn xảy ra
gây những thiệt hại đáng kể cho đàn lợn, đặc biệt là lợn con trước và sau cai
sữa vì lợn ở giai đoạn này vừa thay đổi điều kiện sinh lý vừa dần thích nghi
với điều kiện sống mới nên rất dễ mắc bệnh. Có rất nhiều các loại bệnh
khác nhau ở lợn, trong đó phải kể đến các bệnh về đường hô hấp như: Ho
thở truyền nhiễm, viêm phổi, viêm phế quản, viêm teo mũi truyền nhiễm,...
Đây là những bệnh đáng quan tâm nhất trong giai đoạn hiện nay của ngành
chăn nuôi lợn.

Trong chăn nuôi lợn nói chung, các bệnh về đường hô hấp thường
không gây tỷ lệ chết lợn cao như các bệnh dịch tả lợn, tụ huyết
trùng,...nhưng chúng gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cho ngành chăn
nuôi, gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân. Lợn thường mắc bệnh hô hấp,
đặc biệt đối với lợn chăn nuôi tập trung và bệnh lại xuất hiện quanh năm.
Lợn mắc bệnh bị còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn thức ăn nhiều nhưng tăng trọng
kém và chi phí điều trị lớn.
ơ đường hô hấp trên của lợn ở các lứa tuổi thường có một số loại vi

1


khuẩn cư trú thường trực như các vi khuẩn: Actinobacillus pleuropneumoniae,
Pasteurella

multocida,

Haemophillus

parasuis,

Bordetella

bronchiseptica,

Stveptococcus suis... Khi sức đề kháng của cơ thể gia súc giảm xuống do điều
kiện nuôi dưỡng, vệ sinh, chăm sóc kém, các vi khuẩn này sẽ nhân lên nhanh
chóng về số lượng và tăng cường độc lực phát thành bệnh và gây thiệt hại lớn
cho đàn lợn.
Vì vậy để góp phần giải quyết những yêu cầu thực tế của sản xuất, giúp

người chăn nuôi có biện pháp phòng trừ bệnh đường hô hấp có cơ sở khoa
học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định vai trò gây bệnh viêm
phổi - màng phổi ở lợn của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae,
Pasteurella multocida và thử nghiệm vacxỉn phòng bệnh ”
Mục đích của đề tài
Xác định tỷ lệ nhiễm một số loại vi khuẩn cư trú tại đường hô hấp trên
của lợn các lứa tuổi khỏe mạnh và nghi mắc bệnh đường hô hấp.
Xác định độc lực của vi khuẩn đường hô hấp phân lập được để đưa ra
những đánh giá về vai trò gây bệnh hô hấp của một số vi khuẩn này.
Chế tạo và thử nghiệm Autovacxin sử dụng phòng bệnh đường hô hấp
cho lợn.

2


1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vi khuẩn Pasteurella multocida và bệnh do vi khuẩn gây ra ở lợn
1.1.1.

Vi khuẩn Pasteurella multocida

Năm 1836 có thể được coi là cột mốc lịch sử nghiên cứu về bệnh tụ
huyết trùng (Pasteurellosis) của con người. Đây chính là năm mà Maillet là
người đầu tiên mô tả về bệnh tụ huyết trùng ở gà, sau đó Bollinger đã phát
hiện bệnh này ở bò vào năm 1878.
Nhưng đến năm 1880, Louis Pasteur mới là người đầu tiên nuôi cấy và
phân lập được mầm bệnh vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng gà. Sau đó, Gaffky
(1881) phân lập được mầm bệnh trên thỏ và Kitt (1885) phân lập được mầm
bệnh 0 bò. Năm 1886, Loeffer phát hiện bệnh tụ huyết trùng ở lợn. Năm 1887,

Trevisan đã đề nghị đặt tên vi khuẩn này là Pasteurella để ghi nhớ công lao
của Louis Pasteur.
Tất cả các loại Pasteurella gây bệnh bại huyết, xuất huyết cho các loài
gia súc, gia cầm đều thuộc một giống duy nhất có những đặc tính cơ bản
giống nhau về mặt hình thái, nuôi cấy,... nhưng chỉ khác nhau ở tính thích
nghi gây bệnh ở các loài vật chủ (Theo Nguyễn Như Thanh, 2001 [9]).
Theo phân loại của Bergey (1994) [14] thì Pasteurella multocida nằm
trong bộ Eubacteriaỉes thuộc họ Pasteurellaceae, thuộc giống Pasteurella và
thuộc loài p. multocida.
1.1.1.1. Đặc tính hình thái và tính chất nuôi cấy

3


nguyên sinh chất dung dải dồn về hai đầu.
Trong canh khuẩn thường thấy vi khuẩn hình trứng, hình cầu, đứng
riêng lẻ hoặc thành chuỗi ngắn. Trong canh khuẩn già vi khuẩn suy yếu, biến
dạng, thay đổi hình thái.
p. multocida là loại vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện, nhiệt độ
thích hợp cho vi khuẩn phát triển là từ 13 - 38°c, tốt nhất là 37°c, pH thích
hợp từ 7,2 - 7,4. Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi khuẩn phát
triển kém, khi môi trường được bổ sung thêm máu hay huyết thanh thì vi
khuẩn phát triển tốt.
Khuẩn lạc của vi khuẩn p. multocida khône gây dung huyết trên môi
trường thạch máu, vi khuẩn không mọc trên môi trường MacConkey. Vi
khuẩn có khả năng lên men đường Glucose, Saccarose, Succrose, Mannitol,
Xylose, không lên men Lactose, Maltose, Arabinose, Salixin. Phản ứng Indol,
Catalase, Oxydase dương tính. Phản ứng Urease, VP, MR âm tính và không
làm tan chảy gelatin.
1.1.12. Sức đề kháng


p. multocida có sức đề kháng yếu, nó dễ dàng bị tiêu diệt bởi nhiệt độ,
ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường: Vi khuẩn bị diệt sau khi
đun ở 58°C/20 phút, 80°c/10 phút, 100°c trong vài giây, ánh sáng mặt trời
chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong canh trùng sau 1 ngày. Axit phenic 5% diệt
vi khuẩn trong 1 phút, nước vôi 1% trong 3-5 phút. Trong đất ẩm có nhiều
Nitrat và thiếu ánh sáng vi khuẩn có thế sinh sản và sống khá lâu. Trong
chuồng nuôi súc vật, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể sống hàng tháng


khi

hàng

năm

(Nguyễn

Như

Thanh,

ỉ .1.1.3. Giáp mô và yếu tố độc lực của vi khuẩn p. multocida
4

2001

[9]).



vệ vi khuẩn chống lại sự thực bào và các tác động có hại của môi trường, vừa
là nơi dự trữ các chất dinh dưỡng của vi khuẩn. Giáp mô là yếu tố độc lực của
vi khuẩn.
Theo Carter (1952) [18], đa số các trường hợp vi khuẩn p. multocida
phân lập từ động vật mắc bệnh cấp tính sẽ thấy có giáp mô và có độc lực. Khi
nuôi cấy những vi khuẩn này lâu trong môi trường nhân tạo, giáp mô của vi
khuẩn sẽ mất và vi khuẩn không còn độc lực. Nhưng nếu cấy những vi khuẩn
đã mất giáp mô trên môi trường có thêm máu hoặc tiêm truyền qua động vật
thì vi khuẩn có thể tái tạo lại giáp mô và thể hiện độc lực. Ông cũng đã chia p.
multocida thành 5 serotype kháng nguyên giáp mô khác nhau là serotype A,
B, D, E và F.
Bain (1982) [13] cho rằng thành phần của giáp mô có chứa axit
hyaluronic và gắn một lớp polysaccarit. Lớp polysaccarit giáp mô là yếu tố
quyết định bề mặt quan trọng không chỉ đối với p. multocida mà còn đối với
một số vi khuẩn gây bệnh khác.
Theo Manninger (1991) [39], độc lực của p. multocida rất phức tạp và
không ổn định, nó tùy thuộc vào chủng vi khuẩn, loài vật mà nó ký sinh.
Những chủng vi khuẩn p. multocida có giáp mô thì có độc lực, không có giáp
mô thì không có độc lực. Khả năng xâm nhập vào ký chủ và sự phát triển
trong ký chủ của vi khuẩn là nhờ sự có mặt của giáp mô. Vi khuẩn khi mất
khả năng tái tạo giáp mô sẽ không còn độc lực. Tác giả còn thấy rằng nhiều
chủng vi khuẩn p. multocida phân lập được có giáp mô rõ nhưng độc lực lại
thấp vì độc lực của vi khuẩn có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của giáp
mô hơn là sự có mặt của chúng.
Kháng nguyên giáp mô là nhân tố rất quan trọng trong yếu tố gây bệnh
của vi khuẩn p. multocida, đặc biệt là serotype A. Giáp mô giúp vi khuẩn
tránh được sự thực bào trong quá trình đại thực bào o phổi. Một số tác giả đã
thông báo rằng p. multocida bị hấp thu trong quá trình đại thực bào tại phổi

5



lợn xảy ra rất chậm, thậm chí có sự hiện diện của Opsonin, như kết quả nghiên
cứu của Fuentes và Pijoan (1986)[27].
* Độc tố của vi khuẩn:

Một trong những tính chất quan trọng của p. multocida gây nên quá
trình bệnh lý là khả năng sản sinh nội độc tố. Thành phần chính của nội độc tố
là Lipopolysaccarit.
Chế phẩm tinh khiết của nội độc tố có tính chịu nhiệt, nhưng sẽ bị giảm
độc dưới tác dụng của Phenol ở 22°c, hoặc khi xử lý bằng dung dịch
Trichloracetic 4% trong 1 giờ ở 37°c. Lipopolysaccarit có thể gây viêm, sốt và
sinh ra đáp ứng miễn dịch chống vi trùng ở các mức độ khác nhau. Gần đây,
nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận p. multocida còn sản sinh ra một
loại độc tố khác, đó là một loại protein có hằng số lắng 2,99xl0 3 (trong dung
dịch đệm phosphat).
1.1.1.4.

Đặc tính kháng nguyên của vi khuẩn p. multocida

p. multocida có kháng nguyên rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng
nguyên cũng luôn thay đổi. Cho đến nay đã xác định được kháng nguyên của
p. multocida có 2 loại chính là kháng nguyên giáp mô (K) và kháng nguyên
thân (O).
- Kháng nguyên giáp mô (K) có hai thành phần a và p. Chúng được cấu
tạo từ protein và polysaccarit, ngoài ra còn một số ít các Lipopolysaccarit. Kháng
nguyên K của vi khuẩn p. multocida còn có khả năng gắn với thụ thể của tế bào
6



18,1% thuộc type D, đặc biệt type D chỉ thấy ở phổi lợn có áp xe (Iwamatsu
and Sawada, 1988 [31]). Theo Verma (1988) [59] type B thường gặp ở Đông
Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ.
- Kháng nguyên thân (O) là các kháng nguyên thành tế bào vi khuẩn,
chỉ được bộc lộ khi kháng nguyên giáp mô (K) đã tách ra. Kháng nguyên (O)
là một phức hợp hóa học: Protein - Lipit - Polysaccarit. Kháng nguyên thân
(O) của p. multocida được chia thành 16 loại, ký hiệu từ 1 - 16 (Theo phân
loại của Heddleston, 1972 [29]).
1.1.1.5.

Đường xâm nhập và cơ chế gây bệnh

Vi khuẩn p. multocida có thể xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường
hô hấp, tiêu hóa hoặc qua các vết thương trên da.
Theo Biberstein (1990) [15], vi khuẩn Pasteurella có thể truyền lây
bằng mọi đường nhưng quan trọng nhất là bằng đường không khí, ngoài ra
còn bằng đường tiêu hóa, sinh dục, qua các vết cắn của động vật. Sự truyền
lây bệnh bởi ngoại ký sinh trùng và truyền lây qua ruồi cũng có thể xảy ra
trong những ổ dịch nghiêm trọng, đặc biệt là ở bệnh tụ huyết trùng thể bại
huyết của động vật có vú và gia cầm.
Ở điều kiện bình thường vẫn có một tỷ lệ nhất định vi khuẩn cư trú ở
niêm mạc đường hô hấp trên của nhiều lợn khỏe mạnh và không gây bệnh.
Tuy nhiên, khi sức đề kháng của cơ thể lợn bị giảm sút do điều kiện ngoại
cảnh tác động thì những vi khuẩn này sẽ nhanh chóng tăng cường về số lượng,
độc lực, xâm nhập sâu vào bên trong đường hô hấp đến phổi và gây bệnh.
1.1.2. Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn p. multocida gây ra

7



truyền nhiễm do M. hyopneumoniae khởi phát hoặc ở những bệnh ghép.
1.12.1.

Đặc điểm dịch tễ

Vi khuẩn p. multocida được phát hiện thấy trong tất cả các đàn lợn ở
mọi lứa tuổi, có thể tồn tại trong niêm mạc mũi và hầu họng của những lợn
khoẻ mạnh bình thường.
Bệnh viêm phổi do p. multocicla xuất hiện rộng khắp trên thế giới
nhưng bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới
như: An Độ, Pakistan, Iran, Irắc, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Lào,
Campuchia, Triều Tiên và Việt Nam, ở tất cả các điều kiện khí hậu và điều
kiện chăn nuôi.
Vì vi khuẩn p. multocida thường cư trú ở đường hô hấp trên của lợn ở
hầu hết các lứa tuổi, ở cả lợn khỏe mạnh nên rất khó tiêu diệt. Vi khuẩn p.
multocida gây bệnh thường kết họp với những tác nhân khác như vi khuẩn M.
hyopneumoniae, A. pleuropneumoniae, H. parasuis, B. bronchiseptica,... làm
cho quá trình viêm phổi càng nặng thêm.
Nielsen (1988) [45] cho rằng sự lây nhiễm p. multocida có thể xảy ra
qua đường không khí hoặc qua đường tiếp xúc trực tiếp giữa các lợn với nhau.
Nhiều công trình nghiên cứu cho biết nguồn lây nhiễm vi khuẩn từ môi trường
bên ngoài bao gồm chuột và những loài gặm nhấm khác, đôi khi gà và phân gà
cũng được coi là nguồn lây nhiễm.
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [8], quá trình lây nhiễm p. multocida
là qua tiếp xúc với gia súc bị bệnh, nung bệnh, mang trùng hay tiếp xúc với
chất thải của vật bệnh.
1.1.22. Triệu chứng

8



- Thể cấp tính:

Thể này thông thường do hầu hết các chủng p. multocida thuộc
serotype B gây ra. Những con vật mắc bệnh thường có biểu hiện khó thở, hóp
bụng vào để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới
41 - 42°c, tỷ lệ chết cao (5 - 40%). Ớ những con vật chết và hấp hối có thể
thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội độc tố.
- Thể á cấp tính:

Ớ thể này, hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn.
Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là tiêu chuẩn xác định mức độ
nghiêm trọng của bệnh. Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này giống như
viêm màng phổi do A. pleuropneumoniae gây ra, nhưng những đặc điểm phân
biệt chính là bệnh viêm phổi do p. multocida hiếm khi gây ra chết đột ngột,
hơn nữa lợn mắc bệnh viêm phổi do p. multocida gây ra có thể tồn tại một
thời gian dài.
- Thể mãn tính:

Đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh, lợn bệnh thỉnh thoảng xuất
hiện ho, sốt nhẹ hoặc không. Những lợn bị bệnh thường ở giai đoạn lớn (10 16 tuần tuổi).
9


bệnh tích chủ yếu để phân biệt bệnh viêm phổi do Pasteurella với viêm phổi
do Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có màu vàng và dính cùng
với rất nhiều sợi fibrin (Pijoan, 1989 [49]).
Một đặc điểm nữa là ở thuỳ phụ có dịch rỉ viêm của phế quản. Mức độ
nghiêm trọng của viêm phế quản là do sự tăng sản của tế bào nội mô và sự có
mặt rất nhiều các tế bào bạch cầu trung tính trong mủ nhầy (chất tiết nhầy có

mủ) ở phế quản và trong phế nang. Bệnh tích này là không đặc trưng cho sự
nhiễm khuẩn p. multocida mà nó phổ biến cho mọi trường hợp viêm phổi do
nhiễm khuẩn.
Dấu hiệu bệnh này cũng thể hiện mối liên quan giữa bệnh viêm phế
quản

do

Pasteurella

với

bệnh

viêm

cầu

thận,

cũng

do

Pasteurella

(Buttenschon, 1991 [17]). Tác giả này cũng kết luận rằng hai bệnh này có liên
quan với nhau bởi quá trình vi khuẩn phát tán từ những bệnh tích ở phổi.
1.1.2.4.


Chẩn đoán

Việc chẩn đoán đúng bệnh do vi khuẩn p. multocida gây ra là hết sức
cần thiết, do đó cần tiến hành đồng thời nhiều phương pháp như: Dịch tễ học,
chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và đặc biệt là dựa trên kết quả xét
nghiệm vi khuẩn học trong phòng thí nghiệm.
Vi khuẩn p. multocida là vi khuẩn tương đối dễ nuôi cấy, phân lập
trong phòng thí nghiệm. Những mẫu bệnh phẩm tốt nhất để phân lập vi khuẩn
bao gồm: Dịch khí quản và tổ chức phổi được lấy ở vùng ranh giới giữa tổ
chức bị tổn thương và tổ chức bình thường. Những mẫu dịch ngoáy mũi,
ngoáy họng bằng tăm bông cũng được xem là mẫu tốt cho việc phân lập p.
multocida, những mẫu này nên được giữ trong môi trường vận chuyển phù
hợp. Mẫu bệnh phẩm phải được đưa đến phòng thí nghiệm càng nhanh càn 2
10


kết tủa khuếch tán miễn dịch trên gel thạch AGID (Agargel Immuno Diffuse)
để xác định kháng nguyên thân (O) từ vi khuẩn phân lập được với kháng huyết
thanh chuẩn, phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính để định loại kháng
nguyên giáp mô (K), phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp để xác định
kháng nguyên giáp mô, phản ứng ELISA, kỹ thuật PCR (Polymerase Chain
Reaction),...
Việc xác định chủng vi khuẩn p. multocida phân lập được thuộc
serotype nào là hết sức cần thiết để có thể xác định được thể bệnh mà chúng
gây ra, từ đó có biện pháp phòng trị bệnh phù hợp. Gần đây, kỹ thuật PCR đã
được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh do vi khuẩn gây
ra ở vật nuôi, trong đó có p. multocida và đã được OIE chuẩn hóa thành quy
trình chung, có thể áp dụng ở các phòng thí nghiệm đê định type giáp mô của
vi


khuẩn

p.

multocida.

ỉ .1.2.5. Pliòng bệnh
Cần tiến hành đồng thời nhiều biện pháp để phòng các bệnh truyền
nhiễm nói chung và bệnh viêm phổi do p. multocida gây ra nói riêng như: Giữ
vệ sinh chuồng trại, chuồng nuôi thông thoáng, hợp lý, quản lý chăm sóc tốt,
nhất là thức ăn, nước uống cho lợn phải đầy đủ.
Bên cạnh đó cần sử dụng vacxin để phòng bệnh viêm phổi do p.
multocida gây ra cho lợn. Hiện nay, ở nước ta đã có một số loại vacxin vô hoạt
dùng cho việc phòng bệnh viêm phổi do p. multocida. Tại Viện Thú y quốc
gia, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú và cs đã và đang nghiên cứu thử
nghiệm loại vacxin vô hoạt có bổ trợ keo phèn phòng bệnh đường hô hấp cho
lợn do một số loại vi khuẩn đường hô hấp gây ra trong đó có vi khuẩn p.
multocida.
ỉ .1.2.6. Điều trị
Việc nghiên cứu điều trị bệnh do p. multocida bằng thuốc kháng sinh
đã được quan tâm từ lâu. Theo Trần Đình Từ và cs (1992) [11], p. multocida

11


phân lập từ gia cầm ở vùng Thừa Thiên Huế mẫn cảm với Chloramphenicol
(vòng vô khuẩn 31,31mm) sau đến Streptomycin (25,84 mm), Gentamycin
(24,28 mm), Tetramycin (24,14 mm) nhưng đề kháng với

Ampicilin,


Erythromycin.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], p. multocida phân
lập từ gia cầm ở Long An mẫn cảm với các loại kháng sinh: Spectinomycin
100%, Flumequin 100%, Nitroíủratonin 98%, Colistin 90%... và thấy rằng
phần lớn những kháng sinh mới nhập vào thị trường Việt Nam đều có tác dụng
mạnh với p. multocida.
Salmon và cs (1995) [54] đã làm phản ứng kiểm tra các chủng vi khuẩn
phân lập từ một số quốc gia và đã nhận thấy các loại Cephalosporin và
Enrotloxacin có tác động tốt nhất và các loại Erythromycin, Sulfamethazine
và Lincomycin có tác động kém trong phòng thí nghiệm.
Kháng sinh rất đa dạng và sự kết hợp giữa các loại kháng sinh đã được
sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên việc điều trị bằng kháng sinh ngày càng khó
khăn hoặc không thành công, điều này là do tính kháng thuốc rộng rãi của vi
khuẩn p. multocida.
Một số thuốc kháng sinh đã được dùng có hiệu quả cho điều trị p.
multocida:

Lincomycin-spectinomycin,

một

số

Cephalosporin



nhiều


Quinolon: EnroHoxacin và Danofloxacin. Trong đó Ceftiofur đã được một số
tác giả chứng minh là kháng sinh tốt để chống lại vi khuẩn p. multocida.
Tuy nhiên, để điều trị có hiệu quả bệnh đường hô hấp do vi khuẩn p.
multocida gây ra phải dựa trên kết quả kháng sinh đồ vì vi khuẩn rất dễ kháng
thuốc và thường kết hợp gây bệnh với một số loại vi khuẩn đường hô hấp khác
như Mycoplasma, Actinobacillus,...

12


1.2. Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh do vi khuẩn gây
ra ở lợn
1.2.1.
Vi
thuộc

khuẩn

giống

Vi khuẩn Actinobcicillus pleuropneumoniae
Actinobacillus

Actinobacillus,

pleuropneumoniae

trước

đây


còn



thuộc

họ

Pasteurellae,

tên



Haemophilus

parahaemolyticus hay H. pleuropneumoniae, đã được chứng minh là nguyên
nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn.
1.2.1.1. Đặc tính hình thái và tính chất nuôi cấy

Vi khuẩn A. pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, gram (-),
kích thước 0,3 - 0,5x0,6 - 1,4 pm, không di động, không sinh nha bào và có
hình thành giáp mô. Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có lông
hay còn gọi là pili có kích thước 0,5 - 2x60 - 450 nm.
A. pleuropneumoniae là một vi khuẩn khó tính, khó nuôi cấy. Chủ yếu
sinh trưởng trong môi trường được bổ sung 5% huyết thanh ngựa, và trong
điều kiện có 5 - 10% C02. Vi khuẩn không mọc trên môi trường thạch máu
thông thường trừ khi thạch máu được bổ sung NAD và chúng mọc xung quanh
các khuẩn lạc của tụ cầu do Staphylococcus aureus trong quá trình phát triển

trên thạch máu đã phá huỷ hồng cầu có trong máu và sản sinh ra chất NAD.
Do đó cần cấy vài đường tụ cầu kèm trên đĩa thạch máu khi phân lập vi khuẩn
A. pleuropneumonỉae trên môi trường này. Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc 0,5
- 1 mm sau 24h nuôi cấy trên thạch máu có cấy kèm tụ cầu và hình thành
vùng dung huyết (3, nhất là khi sử dụng máu cừu (Kilian và cs, 1978 [37]) và
người ta thấy hiện tượng này liên quan tới sự có mặt ba chất làm tan tế bào:
Apx I; Apx II; Apx III (Frey và cs, 1993 [26]; Jensen và cs, 1986 [36]).
13


nhóm

c

(Rapp và cs, 1985 [53]) nay đã được xếp vào nhóm Actinobacillus

như A. minor, A. porcinus và A. indolicus (Moeller và cs, 1996 [41]).
Trong môi trường nuôi cấy, vi khuẩn đòi hỏi yếu tố V để phát triển, nó
phát triển tốt trên môi trường thạch Chocolate nhưng vi khuẩn không mọc trên
môi trường MacConkey. Vi khuẩn A. pỉeuvopneumoniae có khả năng lên men
các loại đường: Xylose, Ribose, Glucose, Fmctose, Maltose,...và không lên
men: Trehalose, Arabinose, Lactose, Raffinose, Mannitol,... Phản ứng sinh
Indol, Oxidase, Catalase, Urease, CAMP Test dương tính.
1.2.12. Sức đề kháng

A. pleuropneumoniae có sức đề kháng kém. Vi khuẩn chỉ tồn tại trong
môi trường tự nhiên trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên khi được bảo vệ bởi
chất nhầy hoặc các chất hữu cơ khác thì vi khuẩn có thẻ sống sót trong vài
ngày. Trong nước sạch ở nhiệt độ


4°c,

vi khuẩn có thể sống được 30 ngày,

nhiều giờ trong khí dung và có thể tồn tại được trong 4 ngày ở mô phổi và chất
thải ở nhiệt độ phòng. Nó bị diệt nhanh chóng ở điều kiện khô và các chất sát
trùng thông thường (Eastaugh, 2001 [2]).
1.2. ỉ.3. Phân loại

A. pleuropneumoniae là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi màng phổi. Có thể chia thành 2 biotype dựa trên nhu cầu sử dụng NAD của vi
khuẩn (Pohl vàcs, 1983 [51]).
Biotype 1 của vi khuẩn khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo phụ thuộc
14


Trong biotype 2, serotype 2, 4, 7, 9 có chung nhóm quyết định kháng
nguyên như biotype 1. Gần đây biotype 2 có serotype 13, 14 được mô tả có
kháng nguyên khác với biotype 1.
/.2.7.4. Cấu trúc kháng nguyên và các yếu tố độc lực

Hiện nay đã xác định được một số thành phần cấu trúc và các loại
protein của A. pleuropneumonỉae. Một số trong các thành phần này liên quan
tới quá trình sinh bệnh và người ta đã xác định được cấu trúc của nhiều thành
phần, đã giải mã được trật tự gen và những yếu tố này có vai trò quan trọng
trong sinh bệnh, chẩn đoán và phòng bệnh.
* Lớp vỏ vi khuẩn:

Vi khuẩn A. pỉeuropneumoniae được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ
có bản chất là các Polysaccarit. Đây là thành phần quyết định độc lực của vi
khuẩn và gây hiệu ứng cho serotype đặc hiệu (Ward and Inzana, 1997 [60]).

Cấu trúc và thành phần hóa học của lớp vỏ của 12 serotype đã được xác
minh (Perry và cs, 1990 [47]). Lớp vỏ này mang điện tích âm. Ở các
serotype 2, 3, 6, 7, 8, 9 và 11, điện tích âm phụ thuộc vào gốc phosphat, ở
serotype 5A, 5B, điện tích âm phụ thuộc vào yếu tố liên kết diestephosphat,
ở serotype 1, 4, 12 phụ thuộc liên kết phosphat (Perry và cs, 1990 [47];
Dubreuil và cs, 2000 [25]).
Lớp vỏ này không chỉ có ý nghĩa trong quá trình gây bệnh mà còn có ý
nghĩa

chẩn

đoán



dịch

tễ

(Inzana,
15

1991

[32]).

Những

chủng


A.


hiển vi điện tử và cho thấy lớp vỏ dày khoảng 80 - 90 mm đến 210 - 230 mm
tùy từng serotype. Chính điều này đã giải thích cho sự khác nhau về độc lực
giữa các serotype.
Lớp vỏ giúp bảo vệ vi khuẩn khỏi sự đề kháng của động vật nhu’ hoạt
động thực bào và hoạt động bổ thể. Những thể đột biến không có vỏ sẽ bị tiêu
diệt ngay sau khi có mặt kháng thể trong khi những chủng có vỏ thì không
(Ward và Inzana, 1997 [601).
* Độc tố của vi khuẩn:

Đa số các chủng A. pleuropneumoniae đều tạo ra 1 hoặc nhiều hơn 1
độc tố phân hủy hồng cầu. Ở A. pleuropneumonỉae độc tố này gọi là độc tố
Apx được xác định là Apx I, Apx II, Apx III (Frey và cs, 1993 [26]) và Apx
IV (Cho và Chae, 2001 [22]). Người ta tin chắc chắn về vai trò của Apx trong
quá trình gây bệnh của A. pleuvopneumoniae. Mỗi độc tố này khác nhau do
hoạt động phân giải hồng cầu gây độc tế bào (Frey và cs, 1993 [26]).
- Apx I có khả năng gây dung huyết mạnh, gây độc mạnh cho tế bào, có
trọng lượng phân tử 105 - 110 kDa, có ở các chủng thuộc serotype 1, 5, 9, 10
và 11 và được mã hoá bởi nhóm gen Apx bao gồm Apx IC, Apx IIA, Apx IB
và Apx ID cho gen hoạt hoá, cấu trúc và 2 gen bài xuất.
- Apx II gây dung huyết yếu, khả năng gây độc tế bào cũng yếu, có
trọng lượng phân tử 103 - 105 kDa, có ở các chủng trên trò serotype 10.
- Apx III là độc tố không gây dung huyết nhưng có khả năng gây độc tế
bào mạnh, có trọng lượng phân tử 120 kDa, thấy ở các chủng thuộc serotype
2, 3, 4, 6 và 8.
Gần đây, người ta đã phân loại thêm Apx IV, song chỉ được thấy
trong môi trường cơ thể, không tìm thấy trong môi trường thí nghiệm. Tất
16



của bệnh và những tổn thương đặc trưng trên lợn.
* Lipopolysaccarit:

Lipopolysaccarit (LPS) là thành phần chính của lớp màng ngoài vi
khuẩn, và được cho là nguyên nhân gây tổn thương mô. Những tổn thương do
LPS tinh chế không gây xuất huyết, không gây hoại tử khác với tổn thương
đặc trưng của viêm phổi - màng phổi. Song LPS chắc chắn kết hợp với độc tố
Apx làm tăng độc lực và tăng tính mãnh liệt cho độc tố Apx.
LPS có vai trò quan trọng trong sự bám dính của vi khuẩn lên tế bào
biểu mô và lớp màng nhầy khí quản của lợn (Perry và cs, 1990 [47]). Bám
dính là hoạt động ban đầu giúp cho sự xâm nhập của vi khuẩn và có thể là đặc
tính gây bệnh, là nguyên nhân gây ra bệnh.
Những

nghiên

cứu

gần

đây

chỉ

ra

rằng


phần

LPS

của

A.

pleuropneumoniae có vai trò trong sự phát triển tổn thương hay gây chết lợn
khi bị nhiễm vi khuẩn này. Tuy nhiên cơ chế gây bệnh khác có thể tham gia
trong quá trình sinh bệnh khi sự tổn thương vẫn phát triển sau khi lợn bị phơi
nhiễm với vi khuẩn sống, có hiệu giá huyết thanh cao với lipit A và phần
carbohydrat của phân tử LPS.
1.2.2.

Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do vi khuẩn A.

pleuropneumoniae
gây ra
Vi khuẩn A. pleuropneumoniae là một tác nhân gây bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn. Đây là một bệnh truyền nhiễm quan trọng ở đường hô hấp
của lợn và xảy ra ở hầu hết các nước có nền công nghiệp chăn nuôi tiên tiến,
nhất là với hình thức chăn nuôi lợn tập trung. Bệnh đã gây nhiều thiệt hại cho
ngành chăn nuôi vì ngoài việc gây chết lợn, còn làm giảm tăng trọng, giảm
năng suất, làm con vật gầy yếu và tốn kém cho chi phí thuốc men.
17


pleuvopneumoniae. H. pleuropneumoniae

sau được xếp vào họ


Actinobacillus

và đặt tên là A. pleuropneumoniae bởi sự xác định có sự tương đồng ADN
giữa H. pleuropneumoniae và A. ligrieressi (Pohl và cs, 1983 [511).
1.22.1.

Bệnh

Đặc điểm dịch tễ học

viêm

phổi

-

màng

phổi

truyền

nhiễm

của

lọn

do


A.

pỉeuvopneumoniae gây ra đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt
Nam trong những năm gần đây, A. pleuropneumoniae đã được phân lập và
được đánh giá là một vi khuẩn gây nên một bệnh hô hấp khá quan trọng ở tất
cả các trại lợn siêu nạc quy mô lớn.
Bệnh viêm phổi truyền nhiễm của lợn có phân bố rộng rãi. Nó ngày
càng trở nên quan trọng do việc chăn nuôi lợn ngày một phát triển. Bệnh có
mặt và lan truyền ở hầu hết các nước châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada,
Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và úc. Mặc dù chỉ một vài serotype
thịnh hành ở một số nước nhất định như: Serotype 2 ở Thụy Điển, Đức và
Thụy Sĩ; serotype 1 và 5 ở Mỹ và Canada nhưng cũng có thể thấy một số
serotype ở cùng một nước. Một số serotype (serovar) được coi là ít độc (ví dụ
serovar 3 có độc lực rất thấp) và về dịch tễ chúng không quan trọng ở một số
nước nhất định nhưng lại có thể gây nên dịch ở một số nước khác (Desrosiers
và cs, 1984 [24]; Brandreth và Smith, 1985 [16]). Chĩnh vì vậy việc xuất nhập
khẩu động vật có ý nghĩa quan trọng trong việc truyền lây bệnh.
A. pleuropneumoniae là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp trên của lợn.
Trong những trường hợp nhiễm trùng quá cấp và cấp tính, không chỉ thấy vi
khuẩn ở phổi và ở máu, mà còn ở chất tiết đường mũi. Các trường hợp sống
sót sau nhiễm khuẩn cấp tính trở thành lợn lành mang trùng, tác nhân gây
bệnh thường thấy ở những vùng hoại tử ở phổi, amidan và mũi.
18


Tất cả các lứa tuổi đều bị cảm nhiễm. Trong trường hợp cấp tính của
bệnh thì tỷ lệ chết thường cao. Tỷ lệ chết cũng phụ thuộc vào độc lực của vi
khuẩn và sự lưu hành bệnh trong môi trường. Bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong
cao hơn nếu nhiễm kế phát các bệnh khác như bệnh Aujeszky’s hoặc hội

chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS).
Sự lan truyền bệnh giữa các đàn thường xảy ra qua việc đưa động vật
mới vào đàn. Sự vận chuyến và trộn đàn làm tăng số lượng lọn mắc bệnh viêm
phổi - màng phổi.
Các yếu tố khác như mật độ đàn quá đông, điều kiện khí hậu thay đổi
đột ngột nhất là khi có sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm không khí cao và thông khí
kém làm sự phát triển và lan truyền bệnh nhanh có ảnh hưởng lón đến số
lượng lọn mắc bệnh và chết. Do đó không ngạc nhiên khi thấy tỷ lệ các đợt
bùng phát cao nhất ở lợn đang lớn và lợn chuẩn bị được giết thịt, chủ yếu vào
các mùa có thời tiết xấu. Các đàn có số lượng lớn, trộn đàn nhiều thường có
nguy



mắc

bệnh

cao

hơn

các

đàn

nhỏ,

nuôi


riêng

rẽ.

ỉ .2.2.2. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng có nhiều mức phụ thuộc vào tuổi của gia súc,
tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác
nhân gây bệnh. Biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể là quá cấp tính, cấp
tính hoặc mãn tính.
- Thể quá cấp tính: Một hoặc nhiều lợn cai sữa cùng một chuồng hoặc
khác chuồng trở nên ốm nặng, sốt tới 41,5°c, đờ đẫn và không muốn ăn, nôn
mửa và ỉa chảy, con vật bị bệnh nằm trên nền chuồng, không có dấu hiệu thở
rõ ràng, mạch đập tăng lên rất sóm và trụy tim mạch. Da trên mũi, tai, chân và
sau cùng là toàn bộ cơ thể trở nên tím tái ở giai đoạn cuối và chết.
Thời gian ngắn trước khi chết thường có những biểu hiện khó thở dữ
dội, gia súc ở tư thế ngồi để thở, nhiệt độ ở hậu môn giảm nhanh. Ngay trước
khi chết thường có chảy nhiều dịch bọt nhuốm máu ở mồm và lỗ mũi. Tử vong
xảy ra 24 - 36 giờ sau khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng. Một số trường hợp
19


×