Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Tiểu luận môn nghệ thuật học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.84 MB, 29 trang )

Mở đầu
1.Lí do chọn đề bài.
Vì kiến trúc la một loại hình nghệ thuật được rất nhiều người ưa chuộng và
muốn theo đuổi nó và mình cũng la một trong những người đấy.
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Xem các tài liệu ở thư viện và mạng xã hội
3.Mục tiêu nghiên cứu.
Tìm hiểu sâu hơn về kiến trúc thế giới “Đặc trưng của nghệ thuật kiến trúc “.
4.Nhiệm vụ nghiên cứu.
Khai thác cơ sở lý luận từ đó xác định phương hướng ứng dụng vào trong học
tập, sáng tác của sinh viên.
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Những công trình kiến trúc và đặc trưng kiến trúc.
6.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu.
Tiếp cận đề tài tiểu luận theo quan điểm của kiến trúc và nghệ thuật kiến trúc.


Nội dung
Chương I : vấn đề chung về kiến trúc thế giới.
1.1.Một sô khái niệm.
Kiến trúc là khoa học và nghệ thuật xây dựng công trình, trang hoàng nhà cửa
và tổ chức không gian sống. Kiến trúc được xem như là một lĩnh vực hoạt động
sáng tạo chủ yếu của con người từ khi có xã hội loài người, nhằm cải tạo hoặc kiến
tạo mới môi trường sống phục vụ các quá trình sống của con người và xã hội. Mục
đích của kiến trúc là kiến tạo một “thiên nhiên thứ hai" có tổ chức bên cạnh ă'thiên
nhiên thứ nhất" hoang dã và tự nhiên. Và người ta chỉ công nhận là kiến trúc các
“không gian - hình khối” có tác động của bàn tay con người nhằm thoả mãn các
mục đích yêu cầu vật chất và tinh thần, vì nhu cầu thực đụng trên nguyên tắc hợp
lý, khoa học trên tinh thần của cái đẹp, của mỹ cảm sáng tạo nghệ thuật.
Vậy Kiến trúc chính là nghệ thuật sáng tạo “không gian - hình khối”, là tổ chức
cuộc sống thồng qua các quá trình sống diễn ra trong những không gian cụ thể, tại


những thời điểm và hoàn cảnh xã hội lịch sử cụ thể, sau còn phải là khoa học, vì
mục đích chất íượng yêu cầu sử dụng, vì tiến bộ khoa học kỹ thuât phục vụ cuộc
sống.
* Ba yếu tố tạo thành kiến trúc
Cũng là sản phẩm vật chất của một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật,
nhưng tác phẩm kiến trúc không giống những sản phẩm nghệ thuật khác (hội hoạ,
âm nhạc, điêu khắc, văn học...), nó vừa là một thực thể vật chất vì mục đích
thực dụng, vừa là sản phẩm nghệ thuật vì mục đích thoả mãn các nhu cầu tình
cảm, tinh thần của con người và xã hội. Vì thế nó vừa là hiện thực cuộc sống
nhưng đổng thời lại phản ánh cuộc sống theo cách riêng của nó.
Sản phẩm nghệ thuật kiến trúc khác với sản phẩm nghệ thuật khác chính là ở
đặc thù các yếu tố tạo thành nó, cái đã khẳng định bản chất riêng, tức là đặc điểm,
những chức năng và yêu cầu của kiến trúc.
Có ba yếu tố tạo thành kiến trúc:
- Công năng (yêu cầu tiện nghi).
- Sự hoàn thiện kỹ thuật (điều kiện vật liệu, kê) cấu, kỹ thuật xây dựng).
- Hình tượng nghệ thuật (yêu cầu thẩm mỹ).
1.1.1.Khái niệm chung về không gian kiến trúc
Con người sống giữa lòng thiên nhiên trong không gian rộng lớn được gọi là
môi trường sống (môi sinh) nhưng chỉ những không gian được tạo lập có bàn tay
can thiệp của con người, do sự sáng tạo của kiến trúc sư mói gọi là không gian
kiến trúc. Một công trình hay quần thể công trình, không gian kiến trúc có thể là






những không gian kín, nửa kín (nội thất) hay thoáng hở (ngoại thất), gồm có
không gian cận cảnh (ngoại thất sát kề công trình), không gian viễn cảnh (ngoại

thất ngoài tầm ảnh hường của công năng nhưng có đóng góp cho cảnh quan khu
vực). Không gian kiến trúc vì thế phải có yêu cầu chức nảng, có tính mục đích (vi
một công năng cụ thể liên quan đến một hoặc nhiều hoạt động của con người).
1.1.2.Không gian kiến trúc nội ỉhất
Các không gian kiến trúc nội thất kín thường được tạo nên nhò kết cấu bao che
(tường, cửa, sàn, mái) ở cả sáu mặt, tạo nên hình khối kiến trúc, các không gian
nội thất hở (nửa kín) thường có một vài mặt che được giải phóng hay che chắn
không gian không hoàn toàn như các hiên, loggia, sân trời có giàn hoa, các mái
che, quán nghỉ lộng gió. Các không gian hở thưòng là các sân thoáng
nội tâm (sân trong), những khoảng trống giữa các công trình, những không gian
ước lệ, ảo hay ẩn dụ được giới hạn bởi chủ thể kiến trúc, một biểu tượng
(quanh một đài kỷ niệm, một hòn đá thiêng, một cột mốc, một vũng nước, một
mảng tường có ý nghĩa). Trong kiến trúc nội thất, không gian thường đi liền với
hình khối, vì thế kiến trúc được gọi là nghệ thuật tổ chức “Không gian - hình
khối”, tổ chức môi trường sống cho con người. Không gian kiến trúc nội thất
được phân loại thành:
Không gian chính
Không gian phụ
Không gian giao thông
Việc lựa chọn kích thước hợp cho từng loại không gian kiến trúc phải căn
cứ trên kích thước con người và kích thước trang bị phục vụ hoạt động công
năng cùng dây chuyền sử dụng (quá trình sống) diễn ra trong không gian đó.
1.2. Lịch sử hình thành và sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc.
1.2.1. lịch sử hình thành.
Lịch sử kiến trúc nghiên cứu sự phát triển và lịch sử của nền kiến trúc thế giới
thông qua việc nghiên cứu các ảnh hưởng ở các góc độ khác nhau như nghệ thuật,
văn hoá, chính trị kinh tế và kĩ thuật. Nhìn chung, nhiệm vụ của lịch sử kiến trúc là
phải xây dựng được mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu cảm vô hình của công trình
kiến trúc (ngữ nghĩa, chức năng, biểu tượng...) với sự thể hiện hữu hình của các đối
tượng kiến trúc (kích thước, vật liệu, thành phần của kiến trúc...) và đặt vào trong

một nghiên cứu tổng thể của thời điểm lịch sử.
Lịch sử kiến trúc, cũng như bất kì một ngành nghiên cứu lịch sử có nguyên tắc
nghiên cứu về sự giới hạn và sự tiềm ẩn của lịch sử. Điều đó có nghĩa là dưới một
cùng một sự kiện chúng ta có thể có nhiều cách nhìn nhận và suy diễn khác nhau,
phụ thuộc vào hoàn cảnh quan sát. Từ đó cho phép nảy sinh ra một số lượng lớn
các quan điểm nghiên cứu về lịch sử kiến trúc, đặc biệt ở phương Tây


Vào thế kỉ 19, kiến trúc Cổ điển được nhìn nhận từ góc độ hình thức, nhất mạnh
xuống đặc điểm hình thái của hình thức, kĩ thuật và vật liệu. Thời kì này cũng
chứng kiến sự xuất hiện các kiến trúc sư riêng lẻ, sự pha trộn của các luồng tư
tưởng mà sau này sẽ trở thành chủ đề cho các phong trào nghệ thuật. Trên những
bình diện đó, lịch sử kiến trúc là một nhánh phân ngành của lịch sử nghệ thuật, tập
trung vào lịch sử phát triển tiến hóa của các nguyên tắc và phong cách thiết kế
công trình và thiết kế đô thị.
Dưới ảnh hưởng của sự đa nguyên Hậu Hiện đại, các nhà lý thuyết gần đây cố
gắng mở rộng kiến trúc ra những diễn dịch mới đa dạng hơn. Những lý thuyết ngôn
ngữ (linguistic) thịnh hành trong giữa thập niên 1990 cố gắng nhìn nhận các thành
tố kiến trúc nhưng một ngôn ngữ độc lập, đóng góp và sự phát triển của Lý luận
Phê bình (Critical Theory). Các nghiên cứu về Chú giải Ngôn ngữ (Hermeneutics)
đóng góp những khía cạnh khác cho lịch sử kiến trúc và các bản tính trọng điểm
của kiến trúc được xem như những hiện tượng. Tất cả đều tìm cách tiếp cận và xác
định kiến trúc như một dạng của ngôn ngữ. Hai cách nhìn nhận đó khác nhau ở các
khái niệm tham khảo, trong khi Lý thuyết Phê bình chủ yếu mang tính tự tham
chiếu các đặc điểm cá nhân (seft-referential), còn Chú giải ngôn ngữ nặng về
nghiên cứu bối cảnh tình huống (contextual).
Xu thế chung của thời đại có thể xem như một phản ứng với các quan điểm siêu
hình, nặng tính lý thuyết trước đó, cũng những ưu thế của những biểu hiện siêu
hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa, hậu tư bản (late capitalism) và dân chủ tự do
mới (neo-liberal democracy). Sự gia tăng nhận thức dưới ảnh hưởng của chủ

nghĩa thuộc địa cũng thúc đẩy quá trình xem xét lại về kiến trúc ở các quốc gia
thuộc địa hóa và tìm kiếm sự giải phóng khỏi những quan điểm lý thuyết và thực
hành không phù hợp của phương Tây.
Nhìn chung, lịch sử kiến trúc phương Tây được phân loại rõ ràng thành từng giai
đoạn phát triển trong khi ở nền văn hóa ngoài phương Tây lịch sử kiến trúc ít liên
quan đến đến các bối cảnh lịch sử. Dưới ảnh hưởng của quá trình thuộc địa và sự
ưu thế của văn hóa phương Tây, vấn đề lại càng trở nên phức tạp hơn. Các nhà viết
sử Hậu Hiện đại đang cố gắng xác định cốt lõi của vấn đề. Tuy nhiên do tầm vóc
quá lớn, người ta vẫn chưa tìm thấy được một sự đồng thuận của các nhà viết sử,
thậm chí quan điểm của cá nhân đôi khi cũng không thống nhất, biến đổi theo thời
gian. Nhưng có thể nói rằng, lịch sử kiến trúc phản ánh sự phát triển chung của lịch
sử nhân loại.


Bách khoa toàn thư về kiến trúc


Ở Tây Nam Á, thời kì đồ đá trong lịch sử kiến trúc bắt đầu từ khoảng 10000 năm
trước Công nguyên ở vùng Cận Đông (levant), từ thời kì Tiền đồ sứ Đồ đá mới
A và Tiền đồ sứ Đồ đá mới B (Pre-Pottery Neolithic A/Pre-Pottery Neolithic B) và
mở rộng ra hướng đông và hướng tây. Thời kì văn minh Đồ đá mới ở Đông
nam Anatolia, Syria và Iraq vào khoảng 8000 năm trước Công nguyên. Hình thái
xã hội hái lượm bắt đầu từ 7000 năm trước Công nguyên ở Đông Nam châu Âu, và
ở Trung Âu vào khoảng 5500 năm trước Công nguyên. Ởchâu Mỹ và châu Đại
dương, người thổ dân bản địa vẫn còn ở thời kì đồ đá cho đến khi người châu
Âu khám phá ra họ.
Các cư dân thời Đồ đá ở Cận Đông, Anatolia, Syria, phía nam bình nguyên Lưỡng
Hà và Trung Á là những nhà xây dựng vĩ đại. Họ đã biết sử dụng gạch-bùn để xây
nhà ở và các ngôi làng. Ở Çatalhöyük, người ta đã biết trang trí nhà cửa với những
tranh vẽ tạo hình người và thú vật. Ở Trung Âu, các căn nhà dài bằng phên liếp đã

được xây dựng. Các khu mộ tỉ mỉ cũng được cũng xây dựng. Đặc biệt, ngày nay
vẫn còn hàng ngàn ngôi mộ như vậy ở Ireland. Người thời Đồ đá mới ở quần đảo
Anh cũng xây dựng những nấm mồ và phòng mộ cho mình và các trại tường đất
đắp (causewayed camps), các vòng tròn đá (henges flint mines) và các đài đá lớn
hình tròn(cursus monuments).


Mộ đá (dolmen) ở Ireland

Nhà nước Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưu
vực sông Nil vùng đông bắc châu Phi. Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong
những nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại. Những người Ai
Cập cổ đại đã để lại cho hậu thế một di sản kiến trúc đồ sộ, trong số đó như tượng
Nhân sư Spinx và các Kim tự tháp là những công trình kiến trúc đồ sộ nổi tiếng
trên toàn thế giới.
Kiến trúc Ai Cập cổ đại chủ yếu là các đền đài tôn giáo với các cấu trúc khổng lồ
và sự thần bí của không gian, được xác định bởi các bờ tường dày và dốc với ít lỗ
mở. Đây có thể là ảnh hưởng từ phương pháp xây dựng cũ để tạo độ ổn định của
tường bằng bùn. Tương tự như vậy, các vệt khắc chạm trên bề mặt và các chi tiết
trang trí bề mặt tường công trình bằng đá có thể xuất phát từ cách trang trí cho
tường bùn đất. Mặc dù, kết cấu vòm được phát triển trong triều đại thứ tư, tất cả
các công trình khổng lồ đều sử dụng kết cấu lanhtô và cột trụ, với mái bằng xây
dựng từ các tảng đá khổng lồ đỡ bằng tường ngoài và các cột xếp gần sát nhau.


Đền luxor ở Ai Cập

1.2.2. Sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc.
kiến trúc của thời kỳ giữa thế kỷ 14 và đầu 17 đầu ở các vùng khác nhau của châu
Âu, thể hiện một sự hồi sinh và phát triển của một số yếu tố của tư tưởng Hy Lạp

và La Mã cổ đại và văn hóa vật chất có ý thức. Phong cách, kiến trúc Phục hưng
theo kiến trúc Gothic và được kế tục bởi kiến trúc Baroque. Phát triển đầu tiên tại
Florence, với Filippo Brunelleschi là một trong những sáng tạo của mình, phong
cách thời Phục hưng nhanh chóng lan sang các thành phố khác của Ý. Các phong
cách được chuyển đến Pháp, Đức, Anh, Nga và các bộ phận khác của châu Âu vào
những thời điểm khác nhau và với mức độ tác động khác nhau.
Kiến trúc thời Phục Hưng mang đậm nét tôn giáo, đặc biệt là đạo Thiên chúa.
Những hiểu biết về giá trị con người, tôn vinh vai trò và vị trí của con người được
khám phá và phát triển mạnh trong thời gian này. Con người được coi như bản sao
của hình ảnh của thánh thần. Bắt đầu từ thế kỉ 15 xuất hiện những tham vọng về
khả năng phát triển, sự sáng tạo hài hòa và duy lí của con người, để ganh đua với
quyền năng của thánh thần, bắt đầu với sự khám phá về luật phối cảnh thẳng
của Filippo Brunelleschi, Leone Battista Alberti. Sau đó là sự nở rộ của những tài
năng khác như Leonardo da Vinci, Raphael và đặc biệt là Michelangelo.
Phong cách Phục Hưng nhấn mạnh vào tính đối xứng, tỷ lệ, hình học và tính hợp lệ
của các bộ phận như họ được thể hiện trong kiến trúc của thời cổ đại và đặc biệt là
kiến trúc La Mã cổ đại, trong đó có nhiều ví dụ còn lại. Sắp xếp có trật tự của cột,
pilasters và các rầm đỡ, cũng như việc sử dụng các mái vòm hình bán nguyệt, mái


vòm hình bán cầu, hốc và aedicules thay thế các hệ thống phức tạp hơn và tỷ lệ hồ
sơ bất thường của các tòa nhà thời trung cổ.
Giai đoạn chính[sửa | sửa mã nguồn]

Palladio's engraving of Bramante's Tempietto

Plan of Bramante's Tempietto in Montorio
Các nhà sử học thường chia thời kỳ Phục hưng ở Ý thành ba giai đoạn.[7] Trong khi
đó, các nhà sử học nghệ thuật có thể nói về một khoảng thời gian "Phục Hưng
sớm", trong đó bao gồm phát triển trong thế kỷ 14, các bức tranh và tác phẩm điêu

khắc thế kỷ, điều này thường không phải là trường hợp trong lịch sử kiến trúc. Các
điều kiện kinh tế ảm đạm của những năm cuối thế kỷ 14 đã không tạo ra các tòa
nhà được coi là một phần của thời kỳ Phục hưng. Kết quả là, từ "Renaissance" giữa
các nhà sử kiến trúc thường được áp dụng cho giai đoạn 1400 đến 1525, hoặc sau
đó trong trường hợp của các Phục Hưng không phải của người Ý.
Các nhà sử học thường sử dụng các chỉ định sau đây:


Phục Hưng (1400–1500); Được hiểu như Thế kỷ thứ 15[8] and sometimes
Early Renaissance[9]

Phục Hưng đỉnh (1500–1525)

Phi tự nhiên (1520–1600)
Thế kỷ thứ 15[sửa | sửa mã nguồn]
Trong thế kỷ thứ 15 , khái niệm về trật tự kiến trúc đã được khám phá và các quy
tắc đã được xây dựng. Các nghiên cứu về thời cổ đại đã dẫn đặc biệt đối với việc
áp dụng các chi tiết cổ điển và trang trí.
Không gian, như một yếu tố của kiến trúc, đã được sử dụng khác với cách nó đã ở
trong thời kỳ Trung Cổ. Không gian đã được tổ chức bởi logic theo tỷ lệ, hình thức
và đối tượng nhịp điệu cho hình học, chứ không phải được tạo ra bởi trực giác như
trong các tòa nhà thời Trung Cổ. Ví dụ điển hình của việc này là Basilica di San
Lorenzo ở Florence của Filippo Brunelleschi (1377-1446) [10].
Phục Hưng Đỉnh[sửa | sửa mã nguồn]
Trong Phục Hưng Đỉnh , khái niệm có nguồn gốc từ thời cổ đại đã được phát triển
và sử dụng với lãnh địa lớn hơn. Các kiến trúc sư đại diện nhất làBramante (14441514) đã mở rộng phạm vi áp dụng của kiến trúc cổ điển cho các tòa nhà hiện đại.
Mình San Pietro in Montorio (1503) được lấy cảm hứng trực tiếp bởi hình tròn đền
thờ La Mã. Ông đạt được, tuy nhiên, hầu như không lệ thuộc cho các hình thức cổ
điển và nó đã để phong cách của mình thống trị kiến trúc Ý vào thế kỷ 16.[11].



Các Campidoglio
Phi tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]
Trong giai đoạn Phi tự nhiên , kiến trúc sư đã thử nghiệm với việc sử dụng các
hình thức kiến trúc để nhấn mạnh mối quan hệ vững chắc và không gian. Các lý
tưởng phục hưng của sự hài hòa nhường chỗ cho nhịp điệu tự do hơn và sáng tạo
hơn. Các kiến trúc sư nổi tiếng nhất gắn liền với phong cách Mannerist
là Michelangelo (1475-1564), người được coi là người phát minh ra Để khổng lồ,
một trụ lớn trải dài từ dưới lên đỉnh của một mặt tiền.[12] Ông đã sử dụng trong thiết
kế của mình cho Campidoglio ở Rome.


Trước thế kỷ 20, thuật ngữ Phi tự nhiên có ý nghĩa tiêu cực, nhưng bây giờ nó
được sử dụng để mô tả các giai đoạn lịch sử trong điều kiện không phán xét tổng
quát hơn.[13]
Từ Phục Hưng đến phong cách Baroque[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: kiến trúc Baroque
Như phong cách kiến trúc mới lây lan ra từ Ý, hầu hết các nước khác ở châu Âu
đã phát triển một loại phong cách proto-Renaissance, trước khi xây dựng các
tòa nhà Phục Hưng đầy đủ. Mỗi quốc gia lần lượt sau đó ghép truyền thống
kiến trúc riêng của mình với phong cách mới, để các tòa nhà phong cách Phục
HƯng trên khắp châu Âu được đa dạng hóa theo vùng.
Tại Ý, sự phát triển của kiến trúc Phục hưng thành phi tự nhiên, với xu hướng
phân kỳ rộng rãi trong công việc của Michelangelo và Giulio Romano và
Andrea Palladio, dẫn đến phong cách Baroque trong đó ngôn ngữ kiến trúc
tương tự được sử dụng rất khác nhau.
Bên ngoài nước Ý, kiến trúc Baroque đã được phổ biến rộng rãi hơn và phát
triển đầy đủ hơn so với phong cách Phục hưng, với các tòa nhà quan trọng như
nơi xa xôi như Mexico[14] và Philippines [15].
Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]


kế hoạch sử dụng của Raphael cho Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô


Các đặc điểm phân biệt rõ ràng của kiến trúc La Mã cổ điển đã được thông qua
bởi các kiến trúc sư thời kỳ Phục hưng. Tuy nhiên, các hình thức và mục đích
của các tòa nhà đã thay đổi theo thời gian, như có cấu trúc của thành phố. Trong
số các tòa nhà đầu tiên của 'Cổ Điển tái sinh' là nhà thờ mà người La Mã đã
không bao giờ được xây dựng. Không có mô hình cho các loại hình nhà ở thành
phố lớn theo yêu cầu của thương gia giàu có của thế kỷ 15. Ngược lại, không có
yêu cầu cho công trình thể thao lớn và nhà tắm công cộng như người La Mã đã
xây dựng. Các đơn đặt hàng cổ xưa đã được phân tích và xây dựng lại để phục
vụ mục đích mới.[16]
Mặt bằng[sửa | sửa mã nguồn]
Các mặt bằng của tòa nhà thời Phục Hưng có một hình vuông, hình dạng đối
xứng, trong đó tỷ lệ này thường dựa trên một mô-đun. Trong một nhà thờ, các
mô-đun thường là chiều rộng của một lối đi. Sự cần thiết để tích hợp các thiết
kế của các mặt bằng với mặt tiền đã được giới thiệu như là một vấn đề trong
công việc của Filippo Brunelleschi, nhưng ông không bao giờ có thể mang theo
khía cạnh này của công việc của mình thành hiện thực. Toà nhà đầu tiên để
chứng minh điều này là St. Andrea tại Mantua bởi Alberti. Sự phát triển của kế
hoạch trong kiến trúc thế tục đã được diễn ra trong thế kỷ 16 và lên đến đỉnh
điểm với công việc của Palladio.

Sant'Agostino, Rome, Giacomo di Pietrasanta, 1483
Mặt tiền[sửa | sửa mã nguồn]
Mặt tiền là đối xứng xung quanh trục thẳng đứng của chúng. Mặt tiền nhà thờ
thường được vượt qua bằng một hình tam giác và bằng một hệ thống các trụ,
vòm và các đầu trụ. Các cột và cửa sổ cho thấy một sự tiến triển về phía trung
tâm. Một trong những mặt tiền thời Phục Hưng thật sự đầu tiên là Nhà

thờ Pienza (1459-1462), mà đã được thiết kế bởi các kiến trúc sư Florentine
Bernardo Gambarelli (được gọi là Rossellino) với Alberti.


Các tòa nhà trong nước thường được vượt qua bằng một đường viền tròn. Có
một sự lặp lại thường xuyên của các lỗ hở trên mỗi tầng, và cánh cửa trung tâm
được đánh dấu bằng một tính năng như một ban công, hoặc vòm tường thô ráp.
Một nguyên mẫu sao chép sớm và nhiều là mặt tiền cho Palazzo Rucellai (1446
và 1451) tại Florence với ba đăng ký của các trụ.

Classical Orders, engraving from the Encyclopédie vol. 18. 18th century.
Cột và trụ[sửa | sửa mã nguồn]
Các đơn đặt hàng của các cột La Mã được sử dụng: - vùng Tuscan, xứ Doris,
Ionic, Corinthian và Composite. Các đơn đặt hàng hoặc có thể được cấu trúc,
hỗ trợ giải trí hoặc khuôn cửa, hoặc hoàn toàn trang trí, thiết lập chống lại một
bức tường trong các hình thức pilasters. Trong thời kỳ Phục hưng, kiến trúc sư
nhằm mục đích sử dụng các cột, trụ, và đầu cột là một hệ thống tích hợp. Một
trong những tòa nhà đầu tiên sử dụng pilasters như một hệ thống tích hợp là
trong Phòng thánh cũ (1421-1440) của Brunelleschi.
Vòm[sửa | sửa mã nguồn]
Vòm là nửa vòng tròn, hoặc (trong phong cách Mannerist) phân đoạn. Vòm
thường được sử dụng trong vườn, hỗ trợ trên các trụ cột hoặc với trung tâm. Có
thể có một phần của đầu cột giữa trung tâm và mọc của các kiến trúc. Alberti là
một trong những người đầu tiên sử dụng kiến trúc này trên một quy mô hoành
tráng tại St. Andrea tại Mantua.


Các kiểu hầm[sửa | sửa mã nguồn]
Hầm không có khung sườn. Chúng là nửa vòng tròn, hoặc phân đoạn và trên
thiết kế vuông, không giống như các hầm kiểu Gothic đó là thường xuyên hình

chữ nhật. Các hầm kiểu thùng được trả lại cho ngôn ngữ kiến trúc như ở St.
Andrea tại Mantua.
Mái Vòm[sửa | sửa mã nguồn]

mái vòm của St. Peter's Basilica, Rome.
Những mái vòm được sử dụng thường xuyên, cả hai như là một cấu trúc rất lớn
đó là có thể nhìn thấy từ bên ngoài, và cũng như một phương tiện lợp không
gian nhỏ hơn, nơi họ chỉ có thể nhìn thấy bên trong. Sau thành công của các
mái vòm trong thiết kế của Brunelleschi cho Basilica di Santa Maria del
Fiore và sử dụng của nó trong kế hoạch Bramante cho Vương cung thánh
đường Thánh Phêrô (1506) ở Rome, mái vòm đã trở thành một yếu tố không
thể thiếu trong kiến trúc nhà thờ và sau đó ngay cả đối với kiến trúc thế tục,
chẳng hạn như Villa Rotonda.[17]
Trần[sửa | sửa mã nguồn]
Mái nhà được trang bị với trần nhà bằng phẳng hoặc coffered. Chúng không
còn bỏ ngỏ như trong kiến trúc thời Trung Cổ. Chúng thường xuyên được sơn
hoặc trang trí.


Cửa[sửa | sửa mã nguồn]
Cửa ra vào thường có thanh rầm đỡ vuông. Họ có thể được đặt trong một vòm
hoặc vượt qua bằng một hình tam giác tam giác hoặc phân đoạn. Hở mà không
có cửa thường cong và thường xuyên có một yếu tố quyết định lớn hoặc trang
trí.
Các cửa sổ[sửa | sửa mã nguồn]
Cửa sổ có thể được ghép nối và đặt trong một vòm bán nguyệt. Chúng có thể có
thanh dầm cửa vuông và tam giác hoặc phân đoạn các bức tường, thường được
sử dụng luân phiên. Điển hình trong lĩnh vực này là Palazzo Farnese ở Rome,
bắt đầu từ năm 1517.


Courtyard của Palazzo Strozzi, Florence
Trong giai đoạn Mannerist các "Palladian" vòm đã được sử dụng, sử dụng một
mô típ của một cao nửa vòng tròn, đứng đầu mở hai bên với hai lỗ vuông đứng
đầu thấp hơn. Các cửa sổ được sử dụng để mang lại ánh sáng vào xây dựng và
kiến trúc bên trong, để sáng tỏ các nội thất. Kính màu, mặc dù đôi khi hiện tại,
không phải là một tính năng.
Tường[sửa | sửa mã nguồn]
Bức tường bên ngoài thường được xây bằng gạch, trả lại, hoặc phải đối mặt với
đá ở cao thành đá ốp lát xây, đặt trong các khóa thẳng. Các góc của tòa nhà
thường được nhấn mạnh bởi tường nhám quoins. Tầng hầm và tầng trệt thường
tường nhám, như ở Palazzo Medici Riccardi (1444-1460) ở Florence. Bức
tường nội bộ được thông suốt và dán bề mặt với vôi rửa. Đối với không gian
trang trọng hơn, bề mặt bên trong được trang trí với bức bích họa.


Các chi tiết[sửa | sửa mã nguồn]
Các lối đi, hình nổi trên tường và tất cả các chi tiết trang trí được chạm khắc
với độ chính xác tuyệt vời. Nghiên cứu và nắm vững các chi tiết của những
kiến trúc La Mã cổ đại là một trong những khía cạnh quan trọng của lý thuyết
Phục Hưng. Các đơn đặt hàng khác nhau mỗi cái đòi hỏi những bộ chi tiết khác
nhau. Một số kiến trúc sư thì chặt chẽ hơn trong việc sử dụng các chi tiết cổ
điển so với những người khác, nhưng đó cũng là một việc tốt khi dùng những
sáng kiến để giải quyết vấn đề, đặc biệt là ở các góc. Thạch cao nổi bật xung
quanh cửa ra vào và cửa sổ hơn là bị lõm, như trong Gothic Kiến trúc. Những
bức tượng có thể được đặt trong hốc hoặc đặt trên chân cột. Chúng không được
xây dính vào như kiến trúc thời Trung Cổ.[18]


Chương II :Nghệ thuật kiến trúc
1.1.Nghệ thuật kiến trúc.

1.2.Các công trình kiến trúc thời cổ đại.
Những tòa kiến trúc tính đến nay đã hơn 1.000 đến 2.000 tuổi nhưng đến nay
vẫn còn được sử dụng, từ một nhà thờ 2.000 năm tuổi đến một ngôi chùa Phật
giáo hơn 1.000 tuổi làm bằng gỗ… Cùng YAN News khám phá các công trình
kiến trúc cổ đại nhất thế giới nhé.
Nhà thờ Santa Sophia (hay còn gọi là Hagia Sophia) ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ là
một nhà thờ Hồi giáo và bảo tàng kể từ khi nó được xây dựng vào năm 537 SCN.

The Patheon ở Rome được xây dựng như một ngôi đền của Hadrian vào năm 117
SCN. Nơi đây là một trong những nơi bảo tồn tốt nhất của tất cả các kiến trúc của
một tòa nhà La Mã, và hiện là viện bảo tàng và nhà thờ Công giáo La Mã.


Nhà thờ Santa Sabina tại Rome được xây dựng vào năm 422 SCN và vẫn được
giữ nguyên đến tận ngày nay, không có sự thay đổi. Hiện nhà thờ được sử dụng bởi
Giáo hội Công Giáo.

Lăng của Hadrian, còn được biết đến với tên gọi Castel Sant’Angelo, được hoàn
thành vào năm 139 SCN và được biến đổi thành một pháo đài vào khoảng năm 400
SCN. Hiện nay nó vẫn được sử dụng như một pháo đài, kiêm bảo tàng cho du
khách tham quan.


Đấu trường La Mã là nơi từng chứng kiến những trận quyết chiến đầy máu vào
bạo lực của các đấu sĩ huyền thoại. Qua thời gian, nơi này bị hủy hoại đi và hiện
nay, Đấu trường La Mã được sử dụng để tố chức các sự kiện Công giáo và các
buổi hòa nhạc lớn.

Nhà hát của Marcellus từng là nhà hát ngoài trời lớn nhất của Rome. Tòa nhà này
đã phải trải qua nhiều thay đổi trong lịch sử và hiện nay được sử dụng như một căn

hộ.


Cầu Ponte Fabricio, Rome được xây dựng vào năm 62 TCN. Cây cầu này đến nay
gần như không thay đổ và vẫn luôn phục vụ hàng ngàn người dân của đất nước
này.

Cây cầu Caravan ở sông Meles, Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ được xây dựng vào khoảng
năm 850 TCN. Đây chính là cây cầu hoạt động lâu đời nhất trên thế giới, tính đến
nay, Caravan đã hơn 2.860 năm tuổi.


Nhà thờ Nativity, xây dựng vào năm 565 SCN, tại Bethlehem, là một trong những
nhà thờ lâu đời nhất thế giới hiện nay. Nơi đây vẫn còn tổ chức nhiều dịch vụ tại
nhà thờ mỗi ngày.

Đập nước Proserpina, Merida, Tây Ban Nha xuất hiện từ thế kỉ thứ 1 hoặc 2
SCN, và là nguồn cung cấp nước cho người dân tại một thành phố gần đó. Đập
nước cổ đại này vẫn còn được sử dụng bởi những người dân địa phương cho công
việc chăm sóc cây trồng.


Hầu hết các ngôi đền ngàn năm tuổi ở Angkor, Campuchia vẫn còn được sử dụng
phục vụ cho mục đích tôn giáo của người dân địa phương.

Đền Nanchan là một ngôi chùa gần thị trấn Doucun trên Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn
Tây, Trung Quốc. Nơi này được xây dựng vào năm 782 SCN, và hiện nay là tòa
nhà gỗ được bảo quản lâu đời nhất ở Trung Quốc.



Thánh đường Constantine tại Trier, Đức là một cung điện và nhà thờ La Mã,
được xây dựng vào đầu thế kỉ thứ 4. Hiện nay, nơi này được sử dụng như nhà thờ
tại vùng Rhineland
1.2.2. công trình kiến trúc thời trung đại.
Thánh đường Constantine tại Trier, Đức là một cung điện và nhà thờ La Mã,
được xây dựng vào đầu thế kỉ thứ 4. Hiện nay, nơi này được sử dụng như nhà thờ
tại vùng Rhineland.


Nhà thờ Hồi giáo của Uqba, được hoàn thành vào năm 670 SCN, được coi là Nhà
thờ Hồi giáo lớn của Kairouan, Tunisia, là một trong những nhà thờ Hồi giáo lâu
đời nhất trên thế giới.

Tháp Hercules là một ngọn hải đăng thời La Mã cổ đại, nằm gần A Coruna,
Galicia, phía tây bắc Tây Ban Nha. Đây là một kiến trúc cổ đại gần 1.900 năm
tuổi và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay.
1.1.2.lịch sử kiến trúc thời trung đại.


Thời Trung cổ là thời kỳ xuất hiện và hưng thịnh của chế độ phong kiến, với sự
thống trị của các chúa đất châu Âu. Sự phân hóa của đế quốc La Mã thành hai phần
Đông - Tây do có các hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác biệt là nguyên nhân chính
khiến chế độ phong kiến Đông và Tây có những tiến trình khác nhau. Ở phương
tây, sau khi đế quốc Tây La Mã tan rã thì chỉ còn lại một thế lực duy nhất có tầm
ảnh hưởng trên toàn lãnh thổ là Giáo hoàng. Ở phương Đông, nhờ sự ủng hộ của
chính quyền phong kiến và của Thiên chúa giáo, các nền văn hóa cổ truyền vùng Ả
Rập, văn hóa Đông La Mã không hề bị suy sụp trước hoàn cảnh mới, mà còn có
điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn trước. Tại Byzantine thuộc Đông La Mã, những
thành tựu của kỹ thuật xây dựng thời kỳ trước được tiếp tục hoàn thiện như các
mái vòm đường kính lớn, các vòm cuốn gạch, các cấu tạo được thực hiện một cách

mạch lạc, cân bằng, đầy tính logic. Đế quốc Byzantine bao gồm các nước thuộc
phía đông Địa Trung Hải được thành lập do hậu quả của sự tan rã và chia đôi đế
quốc La Mã. Byzantine lấy thủ đô là Constantinopolis (theo tên của Hoàng đế La
MãConstantinus I) - một thành phố ở phía Nam biển Đen. Đế chế kéo dài trong
hơn một thiên niên kỷ, ảnh hưởng đáng kể đến kiến trúc thời Trung cổ và Phục
hưng ở châu Âu và, sau thời kỳ người Thổ Nhĩ Kỳ Osman chiếm Constantinopolis
vào năm 1453, đã dẫn trực tiếp đến kiến trúc của đế chế Osman


×