Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
Khái niệm sự cần thiết đối
tượng và nội dung về phân
tích hoạt động kinh doanh
Bởi:
Học Viện Tài Chính
KHÁI NIỆM VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Khái niệm
Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các
kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp
liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát
triển của các hiện tượng nghiên cứu.
Vị trí và chức năng
Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, người ta sử dụng phân tích để nhận thức được các hiện
tượng và kết quả kinh tế, để xác định quan hệ cấu thành, quan hệ nhân quả cũng như
phát hiện nguồn gốc hình thành và tính quy luật phát triển của chúng, trên cơ sở đó mà
cung cấp những căn cứ khoa học cho các quyết định đúng đắn cho tương lai.
Nằm trong hệ thống các môn khoa học quản lý kinh tế, phân tích hoạt động kinh doanh
thực hiện một chức năng cơ bản đó là dự toán và điều chỉnh các hoạt động kinh tế. Bởi vì
trước hết doanh nghiệp được quan niệm như một hệ thống và hệ thống này là đối tượng
của quản lý. Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận cấu thành (phòng, ban, phân xưởng,
tổ đội sản xuất…) và mỗi một bộ phận cấu thành có chức năng, nhiệm vụ riêng để đảm
bảo cho hệ thống hoạt động bình thường trên con đường đã đặt ra thì đòi hỏi từng bộ
phận cấu thành, dù là nhỏ nhất trong hệ thống phải hoạt động bình thường theo đúng
chức năng, nhiệm vụ của chúng. Như vậy chỉ cần ở một bộ phận nào đó của hệ thống
hoạt động không bình thường sẽ làm cho hoạt động của cả hệ thống không bình thường.
Trong trường hợp này, đòi hỏi người quản lý trên cơ sở phát hiện được tình hình cần
phải đề ra các biện pháp loại trừ "điểm nóng" đó, điều chỉnh và khôi phục lại sự hoạt
động của bộ phận đó, đảm bảo cho cả hệ thống trở lại hoạt động bình thường.
1/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH
Sự cần thiết khách quan phải phân tích hoạt động kinh doanh được thể hiện trong quá
trình phát triển lịch sử của nó gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Thật vậy,
sự biểu hiện bước đầu của công tác hạch toán và phân tích hoạt động kinh doanh đó là
việc người Ai Cập, Babilon trong nền văn minh cổ đại xưa đã dùng đất nung và bia đá
để ghi khắc những tài liệu, ghi chép về trao đổi hàng hoá, kê khai trọng lượng hàng hoá
so sánh các thu chi cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, những yêu cầu
buổi đầu của công tác quản lý, phân tích hoạt động kinh doanh được kết hợp công tác kế
toán, thống kê.
Chủ nghĩa tư bản ra đời, sản xuất hàng hoá phát triển nhanh, quy mô lớn phân tích hoạt
động kinh doanh có những yêu cầu lớn hơn nhằm phục vụ đắc lực cho công tác quản lý.
Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, sự tích luỹ tư bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất, các công ty
cổ phần và các công ty xuyên quốc gia ra đời, sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng
về cả quy mô lẫn hiệu quả. Để chiến thắng trong cạnh tranh và quản lý tốt hoạt động sản
xuất của công ty đề ra phương án kinh doanh có hiệu quả các nhà tư bản phải thường
xuyên phân tích hoạt động trên cơ sở nhiều luồng, nhiều loại thông tin. Với yêu cầu này,
công tác hạch toán không đáp ứng được, đòi hỏi phải có một môn khoa học phân tích
kinh tế độc lập với nội dung, phương pháp nghiên cứu phong phú.
Phân tích hoạt động kinh doanh tách rời khỏi hạch toán và thống kê dựa trên cơ sở hai
môn khoa học đó.
Ngày này, với những thành tưu to lớn về sự phát triển kinh tê, văn hóa, trình độ kỹ thuật
càng cao thì việc phân tích hoạt động kinh doanh càng quan trọng trong quá trình quản
lý doanh nghiệp bởi mục đích cuối cùng là tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả cao
nhất về mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất.
Ở nước ta hiện nay, phân tích hoạt động kinh doanh đối với các đơn vị kinh tế là rất
quan trọng. Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để đề ra định hướng và chương
trình định hướng. Trong nền kinh tế thị trường, để chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi
các đơn vị kinh tế phải thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến
phương thức hoạt động, cải tiến phương thức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm nâng
cao năng xuất chất lượng và hiệu quả. Phân tích hoạt động kinh doanh là công tác cần
thiết và quan trọng để đưa ra các quyết định về sự thay đổi đó.
Tóm lại: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết đối với mọi nền
sản xuất hàng hoá. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay sự cần thiết xuất phát từ yêu cầu
khách quan của các quy luật kinh tế, từ việc đảm bảo chức năng quản lý kinh tế của nhà
nước và yêu cầu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
2/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH
Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là diễn biến của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến diễn biến của quá trình đó.
Nội dung của phân tích kinh doanh
Phân tích kinh doanh phải phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nội dung chủ yếu của phân
tích kinh doanh là:
+ Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: sản lượng sản phẩm, doanh thu bán
hàng, lợi nhuận, giá thành…
+ Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với các chỉ tiêu về
điều kiện (yếu tố) của quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, tiền vốn, đất đai…
Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh doanh được xác định các đặc trưng về mặt
lượng của các giai đoạn, trong quá trình kinh doanh (số lượng, kết cấu, quan hệ, tỷ lệ…)
nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định các nguyên nhân ảnh hưởng
đến sự biến động của các quá trình sản xuất kinh doanh, tính chất và trình độ chặt chẽ
của mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh với các điều kiện sản xuất kinh doanh.
Các chỉ tiêu và hệ thống chỉ tiêu thường dùng cho phân tích kinh doanh
Các chỉ tiêu dùng cho phân tích kinh doanh
Có nhiều loại chỉ tiêu kinh doanh khác nhau, tuỳ theo mục đích và nội dung phân tích
cụ thể để có sự lựa chọn những chỉ tiêu phân tích thích hợp.
Theo tính chất của chỉ tiêu có:
+ Chỉ tiêu số lượng: Phản ánh quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh như: doanh thu
bán hàng, lượng vốn…
+ Chỉ tiêu chất lượng: Phản ánh hiệu suất kinh doanh hay hiệu suất sử dụng các yếu tố
sản xuất kinh doanh như: giá thành đơn vị sản phẩm, mức doanh lợi, hiệu suất sử dụng
vốn…
Theo phương pháp tính toán có
3/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
+ Chỉ tiêu tuyệt đối: Thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh
tại thời điểm cụ thể như: doanh số bán hàng, giá trị sản lượng hàng hoá sản xuất…
+ Chỉ tiêu tương đối: Thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế
+ Chỉ tiêu bình quân: Là dạng đặc biệt của chỉ tiêu tuyệt đối, nhằm phản ánh trình độ
phổ biến của hiện tượng nghiên cứu như: giá trị sản lượng bình quân một lao động, thu
nhập bình quân một lao động.
Như vậy để phân tích kết quả kinh doanh cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích
tương đối hoàn chỉnh với những phân hệ chỉ tiêu khác nhau, nhằm biểu hiện được tính
đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích.
Công thức tính dùng để phân tích hiệu quả kinh doanh
Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của mọi hoạt
động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, nó là chỉ tiêu cơ bản nhất để phân tích hiệu
quả hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chính là phần chênh
lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của hoạt động kinh doanh trong kỳ. Công thức
tính của nó như sau:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí.
Tỷ suất lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động kinh doanh song bản thân nó mới
chỉ biểu hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và chi, muốn đưa ra được
đánh giá sâu rộng hơn ta phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là chỉ
tiêu doanh lợi.
Tỷ suất lợi nhuận là đại lượng tương đối dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
doanh, nó được xác định thông qua sự so sánh giữa chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu
đặc thù của mọi hoạt động kinh doanh là doanh thu, vốn và chi phí. Từ đó ta có ba chỉ
tiêu tỷ suất lợi nhuận được tính toán như sau:
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu đạt được
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Chỉ tiêu
4/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí nhưng điều
kiện để có hiệu qủa là tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí = Lợi nhuận đạt được /Tổng chi phí bỏ ra
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận .
Để tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần hạn chế tối đa chi phí để thu lợi
nhuận nhiều nhất.
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn:
Có thể dùng chỉ tiêu tổng vốn, vốn cố định hoặc vốn lưu động để tính chỉ tiêu này.
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn lưu động = Lợi nhuận / Tổng vốn lưu động bình quân
Vốn lưu động bình quân = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ)/ 2
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra có thể thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty nói chung,
chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao.
Hiệu quả sử dụng vốn
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Số vòng quay của VLĐ = Doanh thu /Tổng vốn lưu động bình quân
Thời gian chu chuyển của vốn lưu động trong kỳ
Thời gian chu chuyển của VLĐ = Độ dài thời gian của kỳ KD tính bằng ngày / Số vòng
quay của VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mức sản xuất, kinh doanh của toàn bộ vốn lưu động. Số vòng
quay của vốn lưu động càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao.
Năng suất lao động
Năng suất lao động = Kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ / Số lao động tham gia
hoạt động kinh doanh
• Nếu kết quả kinh doanh là doanh thu:
5/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
NSLĐ (1) = Doanh thu / Tổng lao động
• Nếu kết qủa kinh doanh là lợi nhuận :
NSLĐ (2) = Lợi nhuận / Tổng lao động
Chỉ tiêu năng suất lao động (1) biểu hiện hiệu quả trong việc sử dụng lực lượng lao động
trong doanh nghiệp .
Chỉ tiêu năng suất lao động (2) hay mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết
mỗi lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một
thời kỳ nhất định.
Hiệu suất tiền lương:
Hiệu suất tiền lương = Lợi nhuận đạt được / Tổng quỹ lương
Hiệu suất tiền lương cho biết cứ chi ra một đồng tiền lương đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất tiền lương tăng lên khi năng suất lao động tăng với
nhịp độ cao hơn nhịp độ tiền lương.
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả phân tích
Nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình và mỗi sự biến
động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn, tính chất xu hướng và mức độ xác định của
chỉ tiêu phân tích. Chẳng hạn như:
- Chỉ tiêu doanh thu bán hàng phụ thuộc vào các nhân tố:
+ Lượng hàng hoá bán ra
+ Kết cấu về khối lượng sản phẩm bán ra
+ Giá bán mỗi đơn vị sản phẩm hàng hoá
- Chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm phụ thuộc vào các nhân tố:
Tổng mức giá thành: số lượng sản phẩm sản xuất ra. Bởi vậy khi phân tích kết quả sản
xuất kinh doanh cũng không dừng lại ở việc đánh giá một cách đơn giản qua các chỉ
tiêu, mà còn đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp.
Nhân tố tác động đến kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh có rất nhiều, có thể phân
loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
6/7
Khái niệm sự cần thiết đối tượng và nội dung về phân tích hoạt động kinh doanh
- Theo nội dung kinh tế của nhân tố
+ Những nhân tố thuộc về điều kiênk kinh doanh: số lượng lao động, số lượng vật tư,
tiền vốn… Những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quy mộ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
+ Những nhân tố thuộc về kết quả sản xuất: thường ảnh hưởng dây chuyền, từ khâu cung
ứng đến sản xuất, đến tiêu thụ và từ đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
- Theo tính tất yếu của nhân tố:
+ Nhân tố chủ quan: do sự chi phối của bản thân doanh nghiệp như: giảm chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm…
+ Nhân tố khách quan: như giá cả thị trường, thuế xuất…
- Theo tính chất của nhân tố:
+ Nhân tố số lượng: phản ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh như: số lượng lao
động, số lượng vật tư, doanh thu bán hàng…
+ Nhân tố chất lượng: phản ánh hiệu quả kinh doanh như: lãi xuât, mức doanh lợi, hiệu
quả sử dụng vốn…
- Theo xu hướng tác động của nhân tố:
+ Nhân tố tích cực: có tác dụng làm tăng quy mô của kết quả kinh doanh.
+ Nhân tố tiêu cực: phát sinh và tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh.
7/7