Tải bản đầy đủ (.docx) (41 trang)

Phát triển kinh tế tư nhân-Lý luận,thực trạng,giải pháp trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (236.45 KB, 41 trang )

Đề án kinh tế chính trị

MỤC LỤC:

“Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền
kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế
này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế.
Tuy nhiên đã có thời không ít người, đặc biệt là các nhà lý luận theo mô
hình Xô Viết lên án kinh tế tư nhân và chủ trương xóa bỏ nó. Họ coi kinh tế
tư nhân là trở ngại chủ yếu cho việc xây dựng xã hội mới, nhưng thực tế đã
minh chứng ngược lại, trong khi Chủ nghĩa Xã hội kiểu Xô Viết sụp đổ thì
kinh tế tư nhân lại phát triển không ngừng và càng ngày càng thể hiện ưu
thế và sức mạnh to lớn của nó. Hiện tượng lịch sử trên cho thấy kinh tế tư
nhân không chỉ liên quan đến sự thành bại của một quốc gia, mà nó còn có
tác động rất quan trọng tới tiến trình phát triển của toàn nhân loại.”
(“Suy tưởng”_Nguyễn Trần Bật Chủ tịch/ Tổng giám đốc Investconsult
Group)
Nhận thức về thành phần kinh tế tư nhân trong giai đoạn đã được thay
đổi và cần được tiếp tục đổi mới và nhìn nhận khách quan hơn về thành phần
kinh tế năng động này trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu về kinh tế tư
nhân sẽ không chỉ nhằm giải thích hiện tượng lịch sử quan trọng như sự sụp
đổ của Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, mà quan trọng hơn nhận thức được con
đường đi tới tương lai.Với ý nghĩa thiết thực như vậy,em đã chọn đề tài :

1

1


Đề án kinh tế chính trị
“Phát triển kinh tế tư nhân-Lý luận,thực trạng,giải pháp trong giai đoạn


hiện na.”để làm sáng tỏ thêm những nhận định trên.
Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn của cô giáo PGS – TS Đào
Phương Liên.

Phần I: Lý luận về phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong giai
đoạn hiện nay

I-Tính tất yếu khách quan tồn tại kinh tế tư nhân:

Qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là qui luật chung cho mọi phương thức sản
xuất.Ở nước ta,với một nền sản xuất chưa thực sự phát triển cao,lực lượng
sản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau ,tương ứng với mỗi trình độ
của lực luợng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất.
Do đó,cơ cấu của nền kinh tế,xét trên phương diện kinh tế-xã hội,phải
là nền kinh tế nhiều thành phần.Căn cứ vào nguyên lý chung và điều kiện cụ
thể ở Việt Nam,Đảng Cộng sản Việt Nam xác định :nền kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam có 5 thành phần:Kinh tế nhà
nước,kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân,kinh tế tư bản nhà nước,kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài,bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo,thì trong tình hình hiện nay,thành phần kinh tế tư nhân đang ngày càng
khẳng định được vai trò của mình,là một cấu thành quan trọng trong nền
kinh tế,đóng vai trò tích cực trong

quá trình tăng trưởng kinh tế,tất nhiên

2

2



Đề án kinh tế chính trị
cần có sự quản lý chặt chẽ và định hướng phù hợp đối với thành phần kinh
tế nhạy cảm này.

II-Nhận định,đánh giá về kinh tế tư nhân:
Các bộ phận của kinh tế tư nhân bao gồm:kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân.
Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình.
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất nhưng có thuê mướn thêm lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn
chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn có của bản thân và gia đình.
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất, kinh doanh
dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc
lột lao động làm thuê.
Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung Ương khoá
IX có khẳng định: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài
trong phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội
chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là
phát triển kinh tế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nâng cao nội lực đất
nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế có sự tương thích rất cao với
kinh tế thị trường, đặc biệt là khi tính chất mở của thị trường ngày càng tăng,
3

3



Đề án kinh tế chính trị
sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linh
hoạt và tự chủ trong hoạt động kinh doanh ó sự tương thích rất cao với kinh
tế thị trường, đặc biệt là khi tính chất mở của thị trường ngày càng tăng, sự
hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt
và tự chủ trong hoạt động kinh doanh.Những mặt tích cực mà nó đem lại cho
nền kinh tế có thể kể ra dưới đây:
Thứ nhất,hoạt động có hiệu quả,đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà
nước,sử dụng tốt các tiềm năng về vốn,biết tận dụng các nguồn nguyên liệu
vật tư có sẵn trong nước, kể cả các phế liệu trong sản xuất cũng như máy
móc, thiết bị cũ.
Thứ hai, tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động, đảm bảo
đời sống và do đó góp phần đáng kể cho việc ổn định xã hội. Vai trò này
càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong điều kiện nước ta khi mà khả năng thu
hút lao động của kinh tế nhà nước còn rất hạn chế.
Thứ ba, nhanh nhạy với thị trường,sản xuất ra nhiều hàng hoá, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu góp phần ổn định giá cả,
kiềm chế lạm phát, bảo đảm tính ổn định và bền vững trong phát triển kinh
tế - xã hội đất nước.
Thứ tư, giữ vai trò hỗ trợ, bổ xung cho kinh tế nhà nước, tạo thành
mối liên kết hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển, góp phần vào công cuộc
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Thứ năm, góp phần duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống,
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiện quản lý đã được tích luỹ qua

4

4



Đề án kinh tế chính trị
nhiều thế hệ của từng gia đình và dòng họ, phát huy truyền thống gắn liền
với hiện đại.
Thứ sáu, tạo sự cân đối về sự phát triển giữa các vùng, góp phần tích
cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp công nghiệp
hoá nông nghiệp, nông thôn.
Thứ bẩy, tuyển chọn cán bộ quản lý, phát triển kỹ năng lao động.
Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước. Đối với những
nước đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, khu vực kinh tế tư
nhân thực sự là một động lực đối với tăng trưởng kinh tế.
Về mặt xã hội,nó cũng là một phương tiện để phát triển con người
.Thực tế cho thấy kinh tế tư nhân có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của
xã hội, tạo cho mỗi cá nhân có cơ hội có việc làm để khẳng định mình, để
mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, tức là góp phần tạo ra con người với nhiều
phẩm chất tốt đẹp hơn.Chính trong môi trường kinh tế tư nhân luôn mang có
tính cạnh tranh cao này buộc mỗi người phải tự hoàn thiện mình mới có thể
đứng vững,qua đó góp phần phát triển toàn xã hội.
Nhận thức đúng đắn về thành phần kinh tế tư nhân,Đảng ta đã coi đây
là một động lực của nền kinh tế.Và định hướng phát triển cho thành phần
kinh tế tư nhân là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện
nay,mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.Để có thể
phát huy hết vai trò của kinh tế tư nhân,tất nhiên phải có cơ chế chính sách
thông thoáng,phù hợp cùng sự quản lý chặt chẽ,vì đây cũng là thành phần
kinh tế có tính nhạy cảm và sự tự phát cao.

5

5



Đề án kinh tế chính trị

Phần II:

Thực trạng của sự phát triển kinh tế tư nhân
trong giai đoạn hiện nay

1.Quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong những năm gần đây:
Trước đổi mới,kinh tế tư nhân bị coi là “kẻ thù” của chủ nghĩa xã
hội,là đối tượng cải tạo, không được luật pháp bảo vệ và khuyến khích phát
triển.Khi đó, khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta mới chỉ có
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế gia đình. Từ khi thực hiện chính sách đổi
mới, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển. Đặc biệt từ khi Nhà nước
ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước và gần đây là Luật Doanh nghiệp,thì kinh tế tư nhân dần hồi
sinh và phát triển,ngày càng mạnh mẽ,có thể thấy được điều đó qua số liệu
về các mặt sau đây.
1.1Sự phát triển về số lượng các hình thức kinh tế thuộc khu vực kinh tế
tư nhân:
Năm 1991 sau một năm ban hành Luật doanh nghiệp tư nhân mới có
414 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
thì đến năm 1992 là 5198 doanh nghiệp, tương tự các năm 1993, 1994, 1995,
1996, 1997 là : 6.808 doanh nghiệp, 10.811 doanh nghiệp, 15.276 doanh
nghiệp, 18.840 doanh nghiệp. 25.002 doanh nghiệp và năm 1998 tăng lên
đến 26.021( tăng 4%) gấp 62 lần so với doanh nghiệp năm 1991. Tính bình
6

6



Đề án kinh tế chính trị
quân giai đoạn 1991 - 1998 mỗi năm tăng thêm 3252 doanh nghiệp khoảng
32% trong đó năm 1992 tốc độ tăng về số lượng doanh nghiệp đặc biệt cao.
Năm1999 con số này tăng lên 28.700 doanh nghiệp, năm 2000 tăng lên
41.700 doanh nghiệp.Và đến năm 2005 con số này là khoản
128.000(6/2005,website:

/>
baiviet.htm)
Đối với mỗi loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty cổ phần mức tăng về số lượng cũng khác nhau. Cụ thể:
- Loại hình doanh nghiệp tư nhân: Theo báo cáo của Hội nghị toàn
ngành tài chính năm 2003, từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực đến nay đã
có hơn 71.500 doanh nghiệp được thành lập (gấp 1,6 lần so với giai đoạn
1991-1999), đưa tổng số doanh nghiệp tư nhân lên tới gần 110.000 doanh
nghiệp với tổng số vốn đăng ký khoảng 135.000 tỷ đồng. Tỷ trọng đầu tư
của khối doanh nghiệp này tăng so với tổng mức đầu tư toàn xã hội năm
2000 là 29%, năm 2001 là 23%, năm 2002 là 25,3% và ước năm 2003 là
27%, nộp ngân sách Nhà nước năm 2003 ước đạt 8000 tỷ đồng.(Website:
/>
- Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn: năm 1991 có 122 công ty,
năm 1998 tăng lên 7.100 công ty, tăng lên 58 lần trong đó năm 1992 tốc độ
tăng về số lượng so với năm 1991 đặc biệt cao: 1444/122 = 1.183%, nhưng
năm 1997 tốc độ tăng chậm lại, nhất là năm 1998 chỉ còn 3%.
- Loại hình công ty cổ phần: năm 1991 có 22 công ty, đến năm 1998
tăng lên 171 công ty - tăng 7,7 lần , giai đoạn tăng nhanh nhất là vào năm
7

7



Đề án kinh tế chính trị
1992: 526%, nhưng sau đó vào năm 1993 và năm 1995, 1996 châm lại, năm
1997 tăng lên nhưng năm 1998 lại giăm còn 12%.
Nhìn chung loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
đang tăng nhanh về số lượng trong giai đoạn 1992 - 1994, có nguyên nhân
sâu xa là sự khuyến khích của các chính sách vĩ mô - đặc biệt là Luật doanh
nghiệp và Luật công ty; còn sự suy giảm về số lượng doanh nghiệp năm
1997 - 1998 là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có
tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, sự phát triển hậm lại của nền
kinh tế nước ta nói chung và những yếu kém của bản thân các doanh nghiệp,
cùng với hạn chế của những chính sách, giải pháp vĩ mô chưa kịp với tình
hình v.v…

1.2. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo ngành nghề sản xuất
kinh doanh.

Các số liệu thống kê cũng như kết quả điều tra cho thấy: đa số các cơ
sở kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân đều tập chung vào lĩnh vực thương
mại, dịch vụ, kế đó mới đến công nghiệp và sau cùng là sản xuất nông
nghiệp.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 1995, trong tổng số
1.882.792 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ thì có đến 940.944 cơ sở kinh doanh
trong lĩnh vực thương mại, khách sạn, nhà hàng; 707.053 cơ sở hoạt động
trong ngành nông nghiệp, xây dựng và chỉ có 234.751 cơ sở trong các lĩnh
vực còn lại; nghĩa là lĩnh vực thương mại, dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng cao
8

8



Đề án kinh tế chính trị
nhất(49%) sau đó đến công nghiệp(38%) và cuối cùng là các lĩnh vực
khác(13%).
Những năm gần đây, xu thế trên vẫn được duy trì và có chiều hướng
tập chung vào các lĩnh vực dịch vụ và sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là: trong
tổng số 2,2 triệu hộ cá thể, tiểu chủ được khảo sát thời kỳ 1997-1998 thì:
lĩnh vực dịch vụ( bán lẻ, vận tải, dịch vụ cá nhân, khách sạn, nhà hàng, bán
buôn và đại lý) có trên 1,2 triệu cơ sở, chiếm tới 55% tổng số; lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng( chế biến thức ăn, dệt, may, sản phẩm gỗ, xây dựng,
khai thác) với 527.000 cơ sở chiếm 26,3% và cuối cùng là lĩnh vực nông
nghiệp
(ngư nghiệp, chăn nuôi lâm nghiệp và các doanh nghiệp khác) với
khoảng 369 ngàn cơ sở, chiếm 18,8%.
Đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn thì tình hình cũng tương tự trên. Cụ thể là:
Giai đoạn 1991-1996, trong tổng số 17.442 cơ sở: lĩnh vực thương
mại,dịch vụ với khoảng 6.802 cơ sở, chiếm tỷ trọng 39%; công nghiệp chế
biến với khoảng 6.105 cơ sở, chiếm tỷ trọng 35%; còn lại 4.534 cơ sở thuộc
lĩnh vực khác và chiếm khoảng 26%.
Giai đoạn 1997-1998, trong tổng số 26.021 doanh nghiệp đã đăng ký
năm 1998, có tới quá nửa doanh nghiệp thương mại dịch vụ; chỉ có 5.620
doanh nghiệp sản xuất trong đó 55% là chế biến thực phẩm và đồ uống, còn
lại 7648 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác( xây dựng, vận tải v.v…).
Như vậy doanh nghiệp thương mại vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các
doanh nghiệp tư nhân.
9

9



Đề án kinh tế chính trị
Thương nghiệp tư nhân( gồm kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ) và
đang làm chủ nhiều ngành hàng nhất là công nghệ phẩm, lương thực thực
phẩm, chủ công mỹ nghệ, gốm sứ, bán lẻ hàng hoá, dịch vụ cá nhân v.v.. trở
thành đối thủ cạnh tranh và thay thế nhiều lĩnh vực trước đây vốn do thương
nghiệp quốc doanh và hợp tác xã đảm nhận. Nhờ phát triển mạnh mẽ của
thương nghiệp tư nhân đã làm thay đổi cơ cấu tổng mức lưu chuyển hàng
hoá bán lẻ toàn xã hội: năm 199, tư nhân chiếm tỷ trọng 66,9% tổng mức lưu
chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội, thì đến năm 1998 đã tăng lên 78%; ngược lại
quốc doanh tập thể từ 33,1% năm 1990, đến năm 1998 chỉ còn 22%; đồng
thời tác động mạnh mẽ đến việc hình thành hệ thống marketing mơi ở nước
ta trong đó thương nghiệp quốc doanh chỉ còn làm chủ trong những ngành
hàng quan trọng, tư thương làm chủ bán lẻ hàng tiêu dùng xã hội.
Trong lĩnh vực sản xuất, khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng còn thấp,
tiềm lực còn nhỏ, dễ bị tác động, thua thiệt trong cơ chế thị trường. Năm
1998, khối sản xuất khu vực nhà nươc( quốc doanh và tập thể) còn chiếm
54,1% tổng giá trị sản lượng( mặc dù so với năm 1995 đã giảm đi 7%), khối
đầu tư nước ngoài tăng lên 18%( từ 15% năm 1995), khối kinh tế tư nhân
giảm xuống còn 27,8%( 28% năm 1995)- trong đó kinh tế tư nhân
chính thức giảm xuống 9,6%( từ 10,5% năm 1995). Còn nếu xét về tốc độ
tăng trưởng tổng giá trị thì: khu vực quốc doanh giảm từ 11,7% vào năm
1995 giảm xuống 5,5% vào năm 1998; khu vực kinh tế tư nhân giảm từ
16,8% năm 1995 xuống còn 9% vào năm 1998, riêng khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài từ 14,9% năm 1995 tăng lên 28,1% vào năm 1998.

10

10



Đề án kinh tế chính trị
1.3. Sự phát triển của kinh tế tư nhân theo vùng lãnh thổ:
Con số thống kê năm 1995 cho thấy: 55% số doanh nghiệp tư nhân
tập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, trong
khi đó vùng đồng bằng Sông Hồng con số đó là 18,1%, vùng Duyên hải
miền
Trung 10,1%. Trong các tỉnh phía Nam thì riêng thành phố Hồ Chí
Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai đã chiếm 63% các doanh nghiệp
tư nhân vừa và nhỏ.
Năm 1996, trong tổng số 1.439.683 cơ sở kinh doanh thuộc doanh
nghiệp tư nhân( bao gồm 1.412.166 cơ sở của cá nhân và nhóm kinh doanh,
17.535 doanh nghiệp tư nhân và 6883 công ty trách nhiêm hữu hạn) thì :
24% tập trung ở đồng Bằng sông Cửu Long, 21% ở vùng đồng Bằng sông
Hồng, 19% ở vùng Đông Nam Bộ, 13% ở Khu Bốn cũ, 10% ở vùng duyên
hải miền Trung, 9% ở vùng núi và trung du Bắc Bộ và 4% vùng Tây
Nguyên.
Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, mức độ phát triển mạnh và
tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lên tới 40%; đồng bằng
sông Hồng là 33%; và Đông Nam Bộ là 25%. Các công ty cổ phần lại phát
triển ở vùng Đông Nam Bộ lên đến 54%, Đồng bằng sông Hồng 23%.
Sự phát triển và phân bố không đồng đều của kinh tế tư nhân vẫn diễn
ra không đồng đều tên cả nước trong những năm gần đây. Năm 1997, trong
tổng số 25.002 cơ sở kinh tế tư nhân( chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân) thì
18.728 doanh nghiệp tập trung ở miền Nam, chiếm tới 75%, trong khi đó ở
miền Bắc chỉ có 4.178 doanh nghiệp, chiếm 17%, và miền Trung có 2.087
11

11



Đề án kinh tế chính trị
doanh nghiệp, chiếm 8,3%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có số lượng 6.304
doanh nghiệp, chiếm 25%, bằng toàn bộ số doanh nghiệp của miền Bắc và
miền Trung cộng lại. Năm 1998, các con số tương ứng là: ở miền Nam 73%,
lớn gần gấp 3 lần miền Bắc và miền Trung cộng lại( 27%); thành phố Hồ
Chí Minh vẫn là địa bàn có số lượng lớn nhất(25%), Hà Nội và miền Trung
có số lượng tương đương nhau( khoảng 8%). Tính đến thời điểm hiện nay
thì mặc dù các cơ sở kinh tế nhân đã phát triển ở tất cả mọi nơi trên đất nước
nhưng sự chênh lệch giữa các vùng miền vẫn rõ rệt. Các cơ sở kinh tế tư
nhân tập trung nhiều nhất là ở miền Nam đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương…
2. Những đóng góp và những kết quả đạt được của khu vực kinh tế tư
nhân cho nền kinh tế
2.1. Khơi dậy và phát huy tiềm năng của bộ phận lớn dân cư tham
gia vào công việc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo
việc làm.
2.1.1. Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển.
Kinh tế cá, thể tiểu chủ tuy quy môm nhỏ nhưng với số lượng
cơ sở sản xuất kinh doanh lớn nên đã động viên được nhiều nguồn vốn vào
phát triển kinh doanh từ 14.000 tỷ đồng năm 1992 tăng lên 26.500 tỷ đồng
vào năm 1996. chiếm 8,5% tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh toàn xã
hội. Các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã huy động được vốn kinh doanh là
20.665 tỷ đồng ( tính đến hết năm 1996), bình quân mỗi năm trong giai doạn
1991-1996 tăng thêm 3.904 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% số vốn đầu tư phát
triển của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành. Tính đến thời
điểm năm 1996, khu vực kinh tế tư nhân đã huy động được tổng lượng vốn
12

12



Đề án kinh tế chính trị
đến 47.155 tỷ đồng, chiếm tới 15% tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Mặc dù trong những năm vừa qua với chính sách mở cửa nhà nước kêu gọi
thêm nguồn đầu tư FDI ngày một tăng, nhưng khu vực kinh tế tư nhân trong
nước vẫn đóng góp lượng vốn đầu tư rất đáng kể cho nền kinh tế. Năm 1999
vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là 131.171 tỷ đồng và đến
năm 2000 con số này tăng lên 147,633 tỷ đồng.
2.1.2. Tạo việc làm, toàn dụng xã hội.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng
tham gia tích cực và có hiệu quả đối vơi vấn đề giả quyết việc làm. Năm
2000, lao động của doanh nghiệp tư nhân là 21.017.326 người chiếm 56,3%
lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước. Trong đó, lao đông trong
các hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn lao động trong doanh nghiệp.
Trong các ngành phi nông nghiệp, số lượng lao động năm 2000
là 4.634.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996, bình quân mỗi năm
tăng thêm được 194.760 lao động, tăng 4,75%/năm. Trong 4 năm từ năm
1997 đến năm 2000, chỉ tính riêng các ngành phi nông nghiệp trong khu vực
kinh tế tư nhân đã thu hút thêm được 997.019 lao động, gấp 6,6 lần so với
khu vực nhà nước. So với năm trước, số lao động trong các doanh nghiệp
phi nông nghiệp tăng lên như sau: 1997 là 11,7%; 1998 là 10,2%; 1999 là
23,8%; 2000 là 56%. Tỷ trọng lao động của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực
phi nông nghiệp năm 2000 chiếm 22,1% lao động trong các khu vực kinh tế
tư nhân, 39,8% lao động phi nông nghiệp cả nước. Trong đó, lao động ở hộ
kinh doanh cá thể chiếm 81,9%; ở doanh nghiệp chiếm 18,1% lao động phi
nông nghiệp.

13


13


Đề án kinh tế chính trị
Năm 2000, lao động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp có
16.373.428 người, chiếm 62,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc. Số
lao động của các hộ ngoài hợp tác xã chiếm 99,67% tổng số lao động của
khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp. Trong đó số lao động ở khu vực
kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, các trang trại chỉ thu hút được 363.084
lao động, chiếm 22,2%, các doanh nghiệp nông nghiệp chỉ thu hút được
53.097 lao động chiếm 0,33%.
2.1.3. Đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh mục tiêu cơ bản là huy động tiềm năng về vốn và giải quyết
việc làm cho toàn xã hội, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư nhân
còn đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm xã hội. Năm 2000, GDP của khu
vực kinh tế tư nhân đạt 178.715 tỷ đồng, chiếm 42,3% GDP toàn quốc.
Trong đó: hộ kinh doanh đóng góp được 154,562 tỷ đồng, chiếm 82,34%;
donah nghiệp đóng góp được 33,153 tỷ đồng, chiếm 17,66% GDP của kinh
tế tư nhân.
Trong các ngành phi nông nghiệp: năm 2000 đóng góp vào
GDP được 119.337 tỷ đồng, chiếm 63,6% của khu vực tư nhân. Trong đó, hộ
kinh doanh cá thể có tỷ trọng lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp; lĩnh vực
kinh doanh thương mại, dịch vụ có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với sản xuất công
nghiệp. GDP của các ngành phi nông nghiệp tăng trưởng liên tục trong
những năm gần đây, nói chung xấp xỉ tốc độ tăng GDP toàn quốc. Năm
2000, GDP khu vực kinh tế phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân đạt 86.929
tỷ đồng, tăng 28,94% so với năm 1996, bình quân tăng hơn 7%/năm.
Trong các ngành nông nghiệp: theo số liệu thống kê năm 2000, GDP
của kinh tế tư nhân ngành nông nghiệp đạt 68.378 tỷ đồng, chiếm 15,4%
14


14


Đề án kinh tế chính trị
GDP toàn quốc, 63,2% GDP của nông nghiệp, 36,4% GDP của kinh tế tư
nhân. Trong đó, hộ cá thể chiếm 98% GDP kinh tế tư nhân trong nông
nghiệp.
2.2. Thúc đẩy hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế
quản lý theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất kinh
doanh … đều do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhận. Hiện nay, trừ
một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, kinh tế tư nhân không
được kinh doanh, còn lại hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh káhc khu vực kinh tế tư nhân đều tham gia. Trong đó, nhiều lĩnh vực,
nghành nghề, khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất
lương thực, thực phẩm. Nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng
hoá bán lẻ, chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may, … Lĩnh vực sản xuất lương
thực, đặc biệt là xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp,thủy hải sản,
lĩnh vực dệt may, giày dép xuất khẩu; thủ công mỹ nghệ xuất khẩu…đã
mang về hàng tỷ đô la ngoại tệ cho nền kinh tế tư nhân. Thực tế nêu trên
đang đặt ra vấn đề cần xem xét vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nứoc
trong nhữn ngành nghề, lĩnh vực nào là thích hợp khi mà khu vựuc kinh tế tư
nhân đã tham gia và chiếm tỷ trọng lớn trong không ít ngành nghề. Chính sự
phát triển phong phú, đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại
sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh … của khu vực kinh tế tư nhân
đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc khu vực kinh tế nhà
nứoc phảI cảI tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương
thức kinh doanh dịch vụ… để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường.
Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân đẫ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vựu

kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức
15

15


Đề án kinh tế chính trị
ép lớng buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nói
chung. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng
hình thành và xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo
yêu cầu của cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thúc
đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế quản lý theo hướng thị
trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài.
2.3. Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ nhà doanh nghiệp Việt Nam,
làm đầu tàu thúc đẩy nền kinh tế bước vào giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, mở của hợp tác với bên ngoài.
Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trước đây đã xoá bỏ các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và cả những doanh nghiệp tư nhân, chỉ còn
lại các nhà doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã.
Đội ngũ các nhà doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh đựơc đào
tạo trong cơ chế cũ - mặc dù đã đựoc đào tạo, đổi mới, trưởng thành trong cơ
chế thị trường những năm gần đây và đã đạt được những thành công đáng kể
trong sản xuất kinh doanh, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều yếu kém bất cập
trước yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường nhất là trước
yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thời mở cửa nền kinh tế.
Nhờ đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta đã từng
bước hình thành được đội ngũ các nhà doanh nghiệp hoạt động trong hầu hết
các lĩnh vực, các nghành nghề của nền kinh tế quốc dân với số lượng ngày

một lớn: khoảng trên 40.000 chủ doanh nghiệp và trên 120.000 chủ trang trại
(trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp). Nếu so sánh với gần 6.000 giám
16

16


Đề án kinh tế chính trị
đốc doanh nghiệp nhà nước được nhà nước đào tạo trong nhiêuù thập kỷ
trước dây thì số lượng các nhà doanh nghịe tru nhân và các chru trang trại
hình thành trong thời kỳ đổ mới lớn hơn nhiều lần. Đây thật sự la một thành
quả cáo ý nghĩa lớn trong việc xây dựng đội ngũ các doanh nghiệp và phát
huy nguồn lực con người cho đất nước thời mở của của khu vực kinh tế tư
nhân. mặc dù được hình thành một cách tự phát nhưng nhờ được đào tạo
luyện trong cơ chế thị trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân đã tỏ rõ
bản lĩnh, tài năng, thích ứng khá kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế.
Họ đã vươn lên, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, nghành nghề sản xuất
kinh doanh mà luật pháp không cấm - trong đó bao gồm cả những ngành kỹ
thuật cao ( điện tử, phần mềm…) và đã làm chủ nhiều lĩnh vực ( nuôi
trông,đánh bắt tuỷ hảI sản, công nghiệp chế biến…), nhiều ngành hàng
(thương mại, dịch vụ, bán lẻ hàng hóa, ăn uống, gia công giaùy dép, dệt may,
thủ công mỹ nghệ xuất khẩu…). Trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp,
hàng trăm ngàn trang trại cung cấp nông sản hàng hoá cho xuất khẩu, đặc
biệt là xuất khẩu gạo của Việt Nam. Vai trò của các trang trại ngày coàng
được khẳng định như đầu tàu, động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá
và tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp nước ta.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng số lượng các nhà doanh nghiệp tư nhân
và các chủ trang trại, cùng với các giám đốc doanh nghiệp nhà nước là một
thành qủ quan trọng mà công cuộc đổi mới đã tạo nên, nhưng nếu so với yêu
cầu đòi hỏi của nền kinh tế (trên 70 triệu dân và trên 12 triệu hộ gia đình) và

đặc biệt trước yêu cầu mở cửa, hội nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và
thế giới - đòi hỏi phải có một đội ngũ các nhà doanh nghiệp đủ mạnh, ngang
sức, ngang tài, là đối tác với các doanh nghiệp ở nước ta nói trên còn quá

17

17


Đề án kinh tế chính trị
nhỏ bé. Đến nay, ngoài các tổng công ty 90,91 và các doanh nghiệp tư bản tư
nhân, số doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là chủ yếu.
Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân cũng như các chủ
trang trại ở nước ta ở vào độ tuổi trung niên, có trình độ văn hoá và trưởng
thành trong giai đoạn đổi mới. Con đường lập nghiệp của họ cũng khác
nhau: Phần đông là cán bộ, công nhân viên nhà nước vì nhiều lý do đã
chuyển sang lập doanh nghiệp tư bản tư nhân, trang trại: một số là bộ đội về
hưu, phục viên, xuất ngũ; số khác là học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp có
cơ hội bước vào con đường lập nghiệp … Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư
bản tư nhân, chủ trang trại xuất thân từ gia đình lao động và bản thân họ
cũng là người lao động lớn lên trong chế độ mới - trong đó không ít người là
cán bố, đảng viên được đào tào ngành nghề, có trình độ, bằng cấp cao, đã
tham gia cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có hoài bão,
ước mơ… muốn thử sức trong thương trường để làm giàu cho mình, cho xã
hội và là những ngưòi làm ăn chân chính. Đành rằng trong đó cũng còn tồn
tại không ít các chủ soanh nghiệp, các chủ trang trại có nhứng biểu hiện tiêu
cực, chạy theo lợi nhuận, đồng tiền bất chấp luật pháp, đạo lý xã hội, làm ăn
phi pháp, làm hàng giả… gây thiệt hại cho xã hội, rất cần được gaío dục,
uốn nắn bằng pháp luật vàdư luận xã hội… Nhìn chung cần có hệ thốn luật
pháp đồng bộ, chặt chẽ, rõ ràng đối với khu vực kinh tế tư nhân, nhưng đồng

thời cũng cần có chính sách, biện pháp khuyến khích đối với họ, để họ thực
sự đứng trong đội ngũ các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam, thúc đẩy con tàu
kinh tế đất nước vững bước tiến vào thế kỷ XXI, thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

18

18


Đề án kinh tế chính trị
2.4. Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội.
Chính nhờ phát triển kinh tế tư nhân với nhiều loại hình kinh tế khác
nhau, đã góp phần làm cho quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực
lượng sản xuất trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nước ta.
Trước hết là sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu. Nếu trước đây
quan hệ sở hữu ở nước ta chỉ bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thì
giờ đây quan hệ sỏ hữu đã được mỏ rộng hơn: còn có sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp.
Sự chuyển biến trong quan hệ sỏ hữu nói trên kéo thưo sự
chuyển biến trong quan hệ quản lý: hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp tư
bản tư nhân bên cạnh đội ngũ giám đốc các doanh nghiệp nhà nước; hình
thành đội ngũ nhứng người lao động làm dthuê trong các doanh nghiệp tư
bản tư nhân bên cạnh những người làm công ăn lương trong các doanh
nghiệp nhà nước…: xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệ thuê mướn lao động
thông qua hợp đồng kinh tế; thị trường lao động bước đầu được hình thành
và ngày càng mở rộng, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho mọi người thay cho
việc phân bổ lao động vào các doanh nghiệp theo chỉ tiêu (cơ chế kế hoạch
hoá tập trung trước đây)

Quan hệ phân phối giờ đây càng trở lên linh hoạt, đa dạng; ngoài phân
phối chủ yếu dựa trên lao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theo
góp vốn theo tài sản, theo cổ phần và các hình thức khác …
Chính sự chuyển biến của các quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối
nói trên đã làm cho quan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, dễ
19

19


Đề án kinh tế chính trị
được chấp nhận và phù hợp với thực trạng nền kinh tế và tâm lý xã hội nước
ta hiện nay.
Những chuyển biến của quan hệ sản xuất nói trên đã khơi dậy và phát
huy được tiểm năng về vố, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đặc biêt
là nguồn lao động dồi dào và tiềm lực của hàng triệu hộ nông dân, hộ cá thể,
tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Nhờ vậy đã góp phần quan trọng xóa đói giảm nghèo ( từ 16.5% hộ nghèo
đói năm 1995 giảm xuống cong 11% năm 2000) cảI thiện đời sống dân cư
( mức tiêu dùng của dân cư nông thôn tăng 5.4% hàng năm và của dân
cư thành thị tăng 9.6%), góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và là
một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhiều năm liền trong
khu vực và trên thế giới.
2.5. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch
xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng thêm số lượng công nhân và doanh
nghiệp Việt Nam.
Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến
bộ, số lượng hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu ngày càng tăng lên . Một số
sản phẩm đã góp phần làm chặn đứng, đẩy lùi xâm nhập của hàng ngoại
nhập. Bên cạnh việc thực hiện đồng bộ sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, khu

vực kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn sản xuất hàng xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của khu vực phi nông nghiệp trong kinh tế tư
nhân đến nay đã tăng khá nhanh, năm 2001 nhập khẩu đạt 3,336 tỷ USD,
xuất khẩu đạt 2,851 tỷ USD.

20

20


Đề án kinh tế chính trị
Số lượng công nhân, lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp
của khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh. Năm 2000, số lao động làm việc
trong công nghiệp là 2.121.228 người, chiếm 45,68%; lao động trong khu
vực phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân là tăng 18,74% so với năm 1999.
3. Những tồn tại yếu kém chủ yếu.
3.1. Phần lớn các cơ sở kinh tế tư nhân đều có quy mô nhỏ, năng
lực và sức mạnh cạnh tranh hạn chế, dễ bị tổn thương trong cơ chế thị
trường.
Hiện nay có tới 87.2% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ
đồng, trong đó 29.4% có mức vốn dưới 100 triệu đồng; những doanh nghiệp
có mức vốn từ 10 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 1%, trong đó từ 100 tỷ đồng trở
lên có 0.1%. Thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất là hiện tượng phổ
biến đối với toàn bộ các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hiện
nay và được coi là một trong những cản trở lớn nhất đến sự phát triển sản
xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế tư nhân. Hầu hết các doanh nghiệp
khởi sự hoàn toàn bằng vốn tự có ít ởi của mình. Ngân hàng thì luôn ở trong
tình trạng thủ thế “ chờ doanh nghiệp đến vay với đầy đủ các điều kiện về tài
sản thế chấp” chứ không phải là “ tìm các phương án kinh doanh có hiệu quả
để cho vay”. Mặt khác, bản thân doanh nghiệp cũng có những hạn chế nhất

định trong việc tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin. Thành lập doanh
nghiệp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chứ chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị
trường và khả năng tiêu thụ chắc chắn, nên hầu hết các chủ doanh nghiệp
trong khu vực kinh tế tư nhân hoạt động thiếu phương án cũng như kế hoạch
kinh doanh, vì vậy dễ đổ vỡ trước biến động của thị trường.

21

21


Đề án kinh tế chính trị
Hệ thống ngân hàng, kể cả hệ thống tài chính trung gian yếu
kém cùng với những thủ tục thế chấp phức tạp và nạn quan liêu đã khiến cho
hơn 20% các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa không muốn vay ngân hàng.
Không có được điều kiện cho vay thuận lợi như các doanh nghiệp của nhà
nước nên chỉ có 18% các doanh nghiệp tư nhân vừa và lớn vay được vốn dài
hạn, đối với doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa con số này chắc chắn sẽ còn
thấp hơn.
3.2. Máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu và nguồn nhân lực còn
nhiều hạn chế.
Mặc dù nhận thức được nhu cầu cấp bách phải nâng cao khả
năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, song kảh năng dổi mới thiết bị,
công nghệ của các cơ sở sản xuất tư nhân hạn chế vì vậy phần lớn đều đang
sử dụng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu; rất ít doanh nghiệp sử dụng máy móc,
công nghệ mới cũng như thuê máy móc thiết bị; có khoảng 18% số doanh
nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và 5% số doanh nghiệp ở Hà Nội không
thể tăng khả năng sản xuất với những thiết bị hiện có; khoảng 50% số doanh
nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng tới 90% công suất của máy
móc. Tỷ lệ này ở các thành phố khác chỉ có 13% và ở nông thôn là 15 - 2%.

Đa số các cơ sở sản xuất tư nhân cũng như hộ cá thể, tiểu chủ đều sử dụng
máy móc thiết bị lạc hậu 2 - 3 thế hệ. Năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm của phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh bị hạn chế.
Lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của kinh tế tư nhân chủ
yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá
thấp. Số liệu điều tra cho thấy: trong khu vực kinh tế tư nhân chỉ có 5.13%
lao động có trình độ đại học, khoảng 48.4% số chủ doanh nghiệp không có
22

22


Đề án kinh tế chính trị
bằng cấp chuyên môn. Trong số lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở
lên thì doanh nghiệp tư nhân chiếm 1.9%, công ty cổ phần là 1.3%, công ty
trách nhiệm hữu hạn là 8.6%, trong các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ là
0.5%. Cùng với sự lạc hậu về công nghệ, kỹ thuật, sự yếu kém của đội ngũ
lao động cũng là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh của
khu vực kinh tế này.
3.3. Thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định
là tình trọng phổ biến đã tác động bất lợi tới chiến lược kinh doanh của
các doanh nghiệp.
Luật Đất đai chỉ quy định quyền sử dụng đất, không cho phép
tư nhân có quyền sở hữu và hạn chế nghiêm ngặt việc mua bán đất đai. Hệ
quả là quyền sử dụng đất không được chuyển nhượng công khai, giá đất
thiếu ổn định, dẫn đến tình trạng đất đai bị đầu cơ, sử dụng kém hiệu qủa.
Trong điều kiện môi trường như vậy, bất lợi hơn cả chính là các cơ sở kinh
tế tư nhân mới thành lập rất khó có được mặt bằng đất đai ổn định. Thêm
vào đó, sự phân biệt đối xử trong việc giao đất của Nhà nước đối với doanh
nghiệp nhà nứơc và cho thuê đất đối với các cơ sở kinh tế tư nhân cũng gây

bất lợi và thiệt thòi cho khu vực kinh tế tư nhân. Mặt khác, những vẫn đề
chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất đai chưa rõ ràng càng làm cho
vấn đề mặt bằng sản xuất căng thẳng hơn. Ngay cả khi doanh nghiệp đã bỏ
ra rất nhiều chi phí để có mặt bằng sản xuất, nhưng sau đó họ lại rất khó
khăn trong việc dùng đất đai để làm tài sản thế chấp vay ngân hàng. Rất ít
doanh nghiệp có được mặt bằng sản xuất ngay từ khi mới thành lập mà
thường phải đi làm thuê hoặc tận dụng đất ở và điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ tới sản xuất kinh doanh.

23

23


Đề án kinh tế chính trị
3.4. Thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm
Hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân mua
nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra trên thị trường địa phương
và dựa vào mạng lưới quan hệ cá nhân ( chỉ có khoảng 20% số doanh nghiệp
nhỏ và vừa tiêu thụ sản phẩm tại các thành phố lớn và khoảng 33% sản
phẩm của các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân được bán cho khu vực nhà
nước). Hiện nay một số sản phẩm hàng hoá của khu vực kinh tế tư nhân
cũng đã có mặt trên thị trường thế giới, tuy vậy sản phẩm đủ chất lượng xuất
khẩu còn ít và chịu sức ép cạnh tranh gay gắt, còn lại phần lớn sản phẩm của
khu vực kinh tế tư nhân được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Nhưng và năm
gần đây, do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính khu vưc, nền
kinh tế tăng trưởng giảm, thu nhập của dân cư sút kém nên sức mua trong
nước cũng giảm. Thêm vào đó, hàng hoá trong nước còn tồn đọng với khối
lượng lớn, cùng với hàng nhập lậu tràn lan không kiểm soát được( qua biên
giới) đã làm cho việc tiêu thụ hàng hoá của khu vực kinh tế tư nhân rơI vào

tình thé cực kỳ bất lợi, làm cho nhiều cơ sở sản xuất bị đình đốn, phá sản.
Nhà nước đã có nhiều giải pháp kích cầu nhưng vẫn chưa tháo gỡ được khó
khăn trong tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho khu vực kinh tế tư nhân và hiện
nay vấn đề này vẫn là bài toán nan giải.
3.5. Khả năng cạnh tranh và tồn tại, đứng vững trong cơ chế thị
trường của các cơ sở kinh tế tư nhân còn hạn chế, một số tiêu cực nảy
sinh đã làm cho tốc độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đang
chững lại và có biểu hiện suy giảm trong những năm gần đây.
Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp tư nhân giảm từ mức
cao 60% vào thời điểm năm 1994 xuống còn 41% năm 1995, năm 1996 còn
24

24


Đề án kinh tế chính trị
24%, năm 1997 còn 32%, đặc biệt năm 1998 đã giảm đi 250 công ty trách
nhiệm hữu hạn (từ 7.350 công ty trách nhiệm hữu hạn năm 1997 đến năm
1998 còn 7.100 công ty trách nhiệm hữu hạn), số công ty cổ phần tăn lên 19,
riêng doanh nghiệp tư nhân tăng cao nhất là 1.250 doanh nghiệp so với năm
1997. Tốc độ tăng trưởng GDP của cả khối kinh tế tư nhân giảm từ 8.7%
năm 1995 xuống 5.7% vào năm 1997 và 4.2% vào năm 1998. Ngoài ra còn
có hiện tượng rất đáng lưu ý là: một số doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư
nhân lớn chia nhỏ doanh nghiệp, không muốn đăng ký thành lập các doanh
nghiệp lớn. Mà chỉ liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp tập thể để núp bóng trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép, hoạt
động kinh tế ngầm; một số chủ doanh nghiẹp của khu vực kinh tế tư nhân
móc nối, cấu kết với một số cán bộ nhà nước thoái hoá để bòn rút, chiếm
đoạt tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt đối với nền
kinh tế - xã hội… Tình hình trên một mặt do sự tác động bất lợi của cuộc

khủng hoảng tài chính khu vực, nhưng mặt quan trọng hơn lại bặt nguồn tự
sự yếu kém về năng lực của bản thân khu vực kinh tế tư nhân nói riêng và sự
yếu kém của nền kinh té nước ta nói chung - đặc biệt là những hạn chế của
chính sách, giảI pháp quản lý vĩ mô của Nhà nước - là những hiện tượng rất
đáng lưu ý, cần có sự quản lý, kiểm tra ngăn chặn để hoạt động của khu vực
kinh tế tư nhân trong nền kinh tế được lành mạnh.
4. Nguyên nhân.
4.1. Nguyên nhân chủ quan.
4.1.1. Luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý vĩ mô của nhà nước vẫn
chưa tạo lòng tin cho các hộ cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư bản tư

25

25


×