MS NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VẤNì^
ìSs ỊQQ JS$
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐÀU......................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................1
2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu.......................................................1
3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................2
4. Kết cấu đề tài........................................................................................2
CHÚ THÍCH........................................................................................................3
CHƯƠNG 1 -VẬN TẢI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ......................4
1.1. Giói thiệu chung về vận tải:............................................................4
1.1.1. Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kỉnh tế..............4
1.1.2. Các yếu tố cấu thành trong sản xuất vận tải.........................5
1.1.2.1. Công cụ vận tải...................................................................5
1.1.2.2. Đối tượng chuyên chở........................................................5
1.1.2.3................................................................................................ Kh
oảng cách và thòi gian trong vận tải..............................................6
1.2. Vận tải quốc tế trong thương mại quốc tế.....................................7
1.2.1. Vài nét sơ lược về vận tải quốc tế...........................................7
1.2.2. Phân chia trách nhiệm về vận tải trong họp đồng mua bán
ngoại thương........................................................................................................9
1.2.2.1. Quyền về vận tải.................................................................9
1.2.2.2. Phân chia trách nhiệm về vận tải...................................10
1.3. Chuyên chở hàng hoá thưong mại quốc tế bằng phương thức
vận tải biển.........................................................................................................11
1.3.1....................................................................................................... Vài
nét sơ lược về phương thức vận tải biển............................................11
1.3.2....................................................................................................... Cơ
sở vật chất kỹ thuật của phương thức vận tải biển..........................14
1.3.2.1. Tuyến đường vận tải........................................................14
1.3.2.2. Tàu buôn...........................................................................15
1.3.3. Nghiệp vụ thuê tàu..................................................................15
1.3.3.1................................................................................................ Thị
trường thuê tàu và giá cước thuê tàu.............................................16
2.1.1. Sự ra đòi và phát triển của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam và trên thế giói...................23
2.1.2. Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.........................................................25
2.1.2.1. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.........................................................25
2.1.2.2. Vai trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển....................................................................................26
2.2. Nội dung Ctf bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển....................................................................................27
2.2.1. Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá
trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển.................27
2.2.1.1. Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận
chuyển bằng đường biển....................................................................................27
2.2.1.2. Trách nhiệm của các bên liên quan................................28
2.2.2. Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.........................................................30
2.2.2.1. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển....................................................................................30
2.2.2.2. Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển.............................................................................31
2.3. Điều kiện bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển.............................................................................32
2.3.1. Điều kiện bảo hiểm c (ICC- C)................................................33
2.3.2. Điều kiện bảo hiểm B (ICC- B)...............................................34
2.3.3. Điều kiện bảo hiểm A (ICC- A)................................................36
2.4. Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển.................................................................................................38
2.4.1. Các loại họp đồng.....................................................................38
2.4.2. Nội dung của họp đồng bảo hiểm............................................40
2.5. Khiếu nại đòi bồi thường trong bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu vận huyền bằng đường biển..................................................40
2.5.1. Nghĩa vụ của ngưòi được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.......40
2.5.2. Thủ tục khiếu nại đòi bồi thường...........................................41
2.6. Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá
2.6.1. Giám định tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.................................................43
2.6.2. Bồi thường tổn thất..................................................................43
2.6.3. Miễn giảm bồi thường..............................................................44
CHƯƠNG 3 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN..................45
3.1. Vài nét về vận tải đường biển và thị trường bảo hiểm hàng hoá
xuất nhâp khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam...........................45
3.2. Thực trạng hoạt động của vận tải biển và bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam ..........................49
3.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
vận tải biển và bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển ở Việt Nam.............................................................................52
KẾT LUẬN..........................................................................................................56
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hiện đại, tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa đang là một
xu hướng tất yếu và nổi bật của nền kinh tế thế giới. Cùng với xu hướng này,
kinh tế Việt Nam cũng đang trên tiến trình hội nhập và phát triển, nhu cầu mua
bán hàng hóa qua lại giữa các nước với nhau đòi hỏi phải có phương tiện vận tải
để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, từ đó đã đặt ra vấn đề Việt Nam chúng
ta phải hoàn thiện hệ thống vận tải để có thể đáp ứng được nhu cầu đó của các
thương nhân và cạnh tranh với các nước khác. Trong đó, ngành vận tải đường
biển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn được đặc biệt chú trọng phát
triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Những biến đổi của kinh tế quốc tế và trong
nước đã đặt ngành thương mại hàng hải Việt Nam đứng trước những vận hội lớn
và những thách thức thực sự cam go.
Bên cạnh nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển giữa các nước đang trong tình ừạng tăng nhanh và phổ biến do
ưu điểm của loại hình này, thi bên cạnh đó cũng không thể tránh khỏi những rủi
ro ừong quá trình vận chuyển vi vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải chọn cho
mình một biện pháp nhằm bù đắp kịp thời về mặt tài chính trong việc khắc phục
hậu quả do các rủi ro đó gây ra đó là bảo hiểm hàng hóa. Từ đó, việc phát triển
và hoàn thiện các vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi
doanh nghiệp bảo hiếm nói riêng và toàn ngành bảo hiếm Việt Nam nói chung,
nhất là trong điều kiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh gay gắt
như hiện nay.
Từ những cơ hội và thách thức trên, đế có những thành công mới đòi hỏi
chúng ta phải tích cực chủ động hội nhập và tìm hiểu sâu hơn những vấn đề về
vận tải mà đặc biệt là vận tải đường biển và những loại hình bảo hiểm phù họp
nhằm khắc phục những rủi ro. Từ đó, tạo cơ sở để thúc đẩy hoạt động xuất nhập
khẩu phát triển lên một tầm cao mới, tự chủ về hoạt động vận tải hàng hóa quốc
tế bằng đường biển và vươn ra xuất khẩu sản phẩm vận tải hàng hóa quốc tế bằng
đường biển trên thị trường quốc tế.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
6
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
của loại hình vận chuyển này cũng như tính phức tạp trong việc lựa chọn loại
hình bảo hiếm phù hợp với phương thức vận chuyển này. Mặt khác do thời hạn
và kiến thức còn hạn chế, vì vậy, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề
chung về phương thức vận tải và bảo hiểm vận tải bằng đường biển trong thương
mại quốc tế. Đồng thời trên cơ sở phân tích những vấn đề trên, đối chiếu với thực
tiễn của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó tìm ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải biển và bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam một cách tốt nhất.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là nền tảng cơ bản để xây dựng đề tài với nội
dung và hình thức một cách logic và khoa học, để giải quyết các vấn đề mà đề tài
đặt ra.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “vận tải và bảo hiểm vận tải trong
thương mại quốc tế” - chủ yếu là nghiên cứu đối với phương thức vận tải bằng
đường biển, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp sưu tầm tài liệu, phân tích
tài liệu, tổng họp các vấn đề dựa trên những tài liệu thu thập được như: sách, báo,
tạp chí, trang web, ... của các chuyên gia trong lĩnh vực hàng hải và liên hệ với
hoạt động thực tiễn tại Việt Nam hiện nay.
4. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm có 3 chương:
Chương 1: Vận tải trong thương mại quốc tế
Chương 2: Bảo hiểm vận tải trong thương mại quốc tế
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Trong phạm vi nghiên cứu những vấn đề về vận tải và bảo hiểm vận tải
bằng đường biển trong thương mại quốc tế, tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề
mà tác giả cho là quan trọng và đưa ra những kiến nghị mang tính chất cá nhân;
bên cạnh đó, do thời gian nghiên cứu đề tài và kiến thức sinh viên còn hạn chế
cho nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý
kiến của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
7
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
CHÚ THÍCH
EXW:
Ex Works - giao tại xưởng.
FCA:
Free Carrier - giao cho người chuyên chở.
FAS:
Free Along side Ship - giao dọc mạn tàu.
FOB:
Free On Board - giao lên tàu.
CFR:
Cost Freight - tiền hàng và cước phí.
CIF:
Cost Insurance Freight - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí.
CPT:
Carriage Paid To - cước phí trả tới.
CIP:
Carriage Insurance Paid To - cước phí và bảo hiểm trả tới.
DAF:
Delivered At Frontire - giao tại biên giới.
DES:
Delivered Ex Ship -giao tại tàu.
DEQ:
Delivered Ex Quay - giao tại cầu cảng.
DDU:
Delivered Duty Unpaid - giao hàng trả trước.
DDP:
Delivered Duty Paid - giao hàng thuế chưa trả.
BOT:
Built-Operation-Transfer - Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
DWT:
Deadvveight Tonnage - tải trọng tổng cộng, là tải trọng của tất
cả những thứ ở trên tàu (hàng, dự trữ, nhiên liệu,....) cộng với trọng lượng của
chính con tàu đó (đo bằng tấn). Ví dụ: 20.000DWT: tàu có tổng tải trọng 20.000
tấn.
TEU:
Twenty-foot equivalent unit - TEU thường được dùng để mô
tả
sức chứa của tàu Container hoặc cảng xếp dỡ. (1 TEU = 01 Container 20 feet)
GDP:
Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm nội địa: là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm
vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
VND:
Đon vị đồng Việt Nam.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
8
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
CHƯƠNG 1
VẬN TẢI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TÉ
1.1.
Giói thiệu chung về vận tải:
1.1.1. Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kỉnh tế
Trong xã hội chúng ta sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sản phẩm
lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu và chỉ có ngành sản xuất
vận tải mới thỏa mãn được nhu cầu này do đó nếu đứng về mặt kinh tế người ta
hiểu vận tải là một hoạt động có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của
hàng hỏa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện
vận tải. Căn cứ vào phạm vi sử dụng, vận tải được chia làm hai loại: vận tải công
cộng và và vận tải nội bộ. Trong đó vận tải công cộng là một ngành sản xuất vật
chất độc lập, chuyên kinh doanh về vận tải, tạo ra sản phẩm riêng biệt. Ở nước ta
hệ thống vận tải công cộng bao gồm hai lực lượng vận tải là lực lượng vận tải
trung ương và lực lượng vận tải địa phương. Lực lượng vận tải trung ương gồm
có các chuyên ngành như vận tải sắt, sông, ôtô, biển và vận tải hàng không thuộc
Bộ Giao Thông Vận Tải, được tổ chức thành các hình thức Liên hiệp các xí
nghiệp trực thuộc Bộ. Trong các chuyên ngành vận tải này chỉ có vận tải sắt là
quản lý đường xá, còn các chuyên ngành khác thì không, cho nên giá thành vận
tải sắt thường cao bởi vì có tính đến chi phí đường xá. Ngoài ra từ năm 1985 ở
nước ta còn có các hình thức vận tải sông pha biến, làm nhiệm vụ vận tải sông
biển trên các tuyến Bắc Nam....Đối với lực lượng vận tải địa phương thì do các
Sở Giao Thông công chánh quản lý bao gồm các Xí nghiệp vận tải đường sông
và ôtô. Vận tải nội bộ chỉ phục vụ cho một ngành sản xuất nào đó, ví dụ vận tải
than ừong xí nghiệp khai thác than, vận tải sợi trong nhà máy dệt, và sản phẩm
của vận tải nội bộ là một bộ phận của vận tải toàn ngành.
Nhờ có vận tải mà con người chúng ta đã chinh phục được khoảng cách
không gian, tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa và thỏa
mãn nhu cầu đi lại của con người. Do đó, vận tải đóng vai trò quan trọng và có
tác dụng hết sức to lớn trong nền kinh tế. Vận tải không những là một bộ phận
không thể thiếu được của nền kinh tế mà còn thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội,
nếu ta xét toàn bộ nền kinh tế như một hệ thống thì hệ thống này chứa đựng hàng
loạt các hệ thống con như: nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng...các hệ
thống con này quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tổng thể thống nhất lảm ra
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
9
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
nền kinh tế”. Thật vậy, các ngành sản xuất trong nền kinh tế sẽ không hoạt động
được bình thường nếu như thiếu vận tải. Khi nói đến vận tải, nhất thiết chúng ta
phải đề cập tới hai vấn đề: khối lượng vận chuyển (tấn hàng hóa, số lượng hành
khách) và số sản phẩm vận tải (lượng luân chuyển hàng hóa hoặc hành khách).
Trong hai chỉ tiêu này thì khối lượng vận chuyến có ý nghĩa quan trọng hom vì nó
thể hiện sự đáp ứng của vận tải đối với nhu càu vận chuyển của ngành sản xuất
trong nền kinh tế và sự thỏa mãn nhu cầu đi lại của con người. Trong đời sống
kinh tế xã hội hiện đại, vai trò vận tải không ngừng nâng cao, đó là khuynh
hướng phát triển chung của vận tải.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành trong sản xuất vận tải
Sức lao động của con người thông qua công cụ vận tải để tác động lên đối
tượng chuyên chở, tạo ra sản phẩm vận tải. Đe thực hiện quá trình sản xuất này
đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố về tổ chức, kỹ thuật, kinh tế....Đó là các yếu tố
cấu thành của quá trình sản xuất vận tải, bao gồm công cụ vận tải, đối tượng
chuyên chở, khoảng cách vận tải, chi phí vận tải. Sau đây ta sẽ xem xét từng yếu
tố.
1.1.2.1. Công cụ vận tải
Công cụ vận tải là công cụ lao động chủ yếu trong sản xuất vận tải, nó là
cơ sở để đánh giá năng lực của một đơn vị vận tải. Công cụ vận tải của mỗi
phương thức vận tải có kết cấu, đặc trưng và hình thức chuyển động khác nhau,
nhưng về cơ bản công cụ vận tải bao gồm hai khối: sức kéo và sức chở. Trong
đỏ, sức kéo theo nguồn động lực người ta phân thành 4 loại: động lực tự nhiên
(giỏ, súc vật kéo, xe ngựa kéo, xe bò kéo); động cơ hơi nước; động cơ đốt trong
(động cơ xăng); động cơ điện (dùng trong vận tải đường bộ đòi hỏi mạng điện
ngầm hoặc treo để cung cấp năng lượng, loại động cơ này dùng cho vận tải thành
phố). Còn sức chở là nơi để chứa hàng (hoặc chỗ ngồi của hành khách). Các
phương tiện chở khách và chở hàng có thiết kế, chế tạo đặc biệt, trang bị rất khác
nhau, công cụ chở khách có yêu cầu cao về mặt an toàn và tiện nghi cho hành
khách trong chuyến đi, còn công cụ chở hàng có yêu cầu bảo đảm an toàn cho
hàng hoá, tránh mất mát, biến chất, hư hỏng...
1.1.2.2. Đối tượng chuyên chở
Đối tượng chuyên chở của vận tải là hàng hóa và hành khách: từ giác độ
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
10
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
tính chất của hàng hóa thì người ta chia làm hai loại là hàng khô và hàng lỏng.
Trong đó, hàng khô (Dry Cargo) bao gồm tất cả hàng hóa ở thể rắn, được chuyên
chở dưới dạng bao bì hoặc không có bao bì. Đối với hàng lỏng (Liquid Cargo)
bao gồm tất cả các loại hàng hóa ở thể lỏng được chuyên chở dưới dạng không
có bao bì và bằng những công cụ vận tải chuyên dùng (Lưu ý: hàng hóa ở thế
lỏng đóng trong chai, thùng...đối với vận tải được xem là hàng khô). Neu căn cứ
vào bao bi hàng hoá thì người ta chia làm hai loại là hàng rời và hàng đóng gói.
Nếu căn cứ vào đặc điểm chuyên chở và xếp dỡ thì cũng được chia làm hai loại
là hàng có khối lượng lớn (Bulk Cargo) là những hàng có khối lượng lớn được
chuyên chở dưới dạng không bao bì và hàng bách hóa (General Cargo) là những
thành phẩm, bán thành phẩm có giá trị cao thường được chuyên chở dưới dạng
có bao bì (hàng có khối lượng lớn mà đóng vào bao: xi măng đóng bao, ngũ cốc
đóng bao trong vận tải vẫn xếp là hàng bách hóa). Neu căn cứ vào kích thước của
hàng hóa thì cũng có hai loại: là hàng ừọng lượng (hoặc hàng nặng: Deadweight
Cargo) và hàng cồng kềnh (hoặc hàng nhẹ: Measurement Cargo). Nếu căn cứ vào
khả năng thích ứng đối với vận tải thì chia làm 3 loại: khả năng thích ứng tự
nhiên đối với vận tải: căn cứ vào tính chất vật lý, hoá, sinh của hàng hoá. Các
loại hàng hóa mau hỏng, nguy hiếm, dễ vỡ, dễ cháy...có khă năng thích ứng tự
nhiên đối với vận tải kém hơn so với các loại hàng hoá khác. Khả năng thích ứng
kỹ thuật đối với vận tải: rút ra từ hình dáng, kích thước của hàng hoá. Các kiện
hàng quá lớn, quá dài, các loại hàng cồng kềnh có khả năng thích ứng kỹ thuật
đối với vận tải kém hom các loại hàng hoá khác và cuối cùng là khả năng thích
ứng kinh tế đối với vận tải: rút ra từ giá trị của hàng hoá, hàng hoá có giá trị cao
thì khả năng thích ứng càng nhỏ vì yêu cầu bảo vệ, chăm sóc đặc biệt hơn trong
quá trình chuyên chở.
1.1.2.3. Khoảng cách và thòi gian trong vận tải
Quá trình chuyên chở được bắt đầu tại điểm gởi hàng và kết thúc tại địa
điểm nhận hàng, giữa hai khoảng đó hình thành một khoảng cách nhất định. Đó
là khoảng cách không gian, khoảng cách chuyên chở, khoảng cách thời gian và
khoảng cách kinh tế. Trong đó, khoảng cách không gian là khoảng cách ngắn
nhất (đường thẳng không gian) của hai điểm vận tải, khoảng cách chuyên chở là
chiều dài của tuyến đường được hình thành giữa hai điểm vận tải (đo bằng km
hoặc mile), khoảng cách thời gian là thời gian cần thiết để chuyên chở hàng hoá
giữa hai điểm vận tải và cuối cùng là khoảng cách kinh tế chính là chi phí càn
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
11
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
Bên cạnh những yếu tố về khoảng cách thì yếu tố thời gian trong vận tải
có thể nghiên cứu dưới hai dạng khái niệm khác nhau, đối với người chuyên chở
đó là thời gian quay vòng của công cụ vận tải, đối với chủ hàng đó là thời gian
giao hàng.
Thời gian quay vòng của một công cụ vận tải bao gồm: thời gian chuyên
chở hàng hoá bên đường, thời gian công cụ vận tải dừng tại các điểm vận tải để
xếp dỡ hoặc để thực hiện các nghiệp vụ khác, thời gian công cụ vận tải chạy
không hàng. Đối với thời gian chuyên chở hàng hoá bên đường thì phụ thuộc vào
tốc độ (Vk) của công cụ vận tải, chiều dài tuyến đường (L). Đối với thời gian
công cụ vận tải dừng tại các điểm vận tải để xếp dỡ hoặc để thực hiện các nghiệp
vụ khác thì phụ thuộc năng suất của phương tiện xếp dỡ, chất lượng phục vụ tại
các điểm vận tải và trình độ tổ chức của người chuyên chở. Và cuối cùng là thời
gian công cụ vận tải chạy không hàng thì phụ thuộc trình độ tổ chức của người
lảm công tác vận tải. Việc rút ngắn thời gian quay vòng của công cụ vận tải thực
chất là giảm bớt mọi thời gian hao phí phi sản xuất và tăng tốc độ của công cụ
vận tải. Tức là đồng thời rút ngắn các yếu tố thời gian chuyên chở hàng hóa trên
đường, sử dụng phương tiện xếp dỡ có năng suất cao, kết họp hàng hai chiều....
Thời gian giao hàng (forwarding Time, Tf): thời gian giao hàng được tính
từ khi bắt đầu xếp hàng lần đầu tiên lên công cụ vận tải cho đến khi kết thúc việc
dỡ hàng và giao cho người nhận, thời gian giao hàng bao gồm: Thời gian xếp
hàng lên công cụ vận tải, thời gian chuyên chở hàng hoá, thời gian dỡ hàng khỏi
công cụ vận tải, thời gian công cụ vận tải dừng lại các điểm vận tải không kể đến
thời gian xếp dỡ, thời gian hàng hóa chờ đợi công cụ vận tải ở điểm gởi hàng đầu
tiên. Việc rút ngắn thời gian giao hàng có lợi cho chủ hàng, góp phần giảm hao
hụt, đưa hàng vào tiêu thụ kịp thời, thu tiền nhanh, quay vòng vốn nhanh, giảm
lãi suất ngân hàng, tạo điều kiện giành thị trường tiêu thụ ...Việc rút ngắn thời
gian giao hàng phụ thuộc vào đặc điểm của phương thức vận tải được sử dụng và
trình độ tổ chức giao hàng của chủ hàng.
1.2.
Vận tải quốc tế trong thương mại quốc tế
1.2.1. Vài nét Stf lược về vận tải quốc tế
Vận tải không những là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân mà nó còn đóng góp vai trò to lớn trong thương mại quốc tế, nó là
phương tiện nối liền quan hệ thương mại giữa các nước với nhau. Việc chuyên
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
12
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
1 Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,
trang 37, 39, 40. Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
nhau, điều này cho ta biết rằng việc vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế đã
vượt ra khỏi phạm vi một nước, vị trí của hàng hóa được thay đổi từ nước người
bán sang nước người mua. Vận tải quốc tế không những thúc đẩy phát triển sản
xuất và lưu thông hàng hoá mà còn có tác dụng làm bảo vệ hay làm xấu đi cán
cân thanh toán quốc tế. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hàng
hoá lưu chuyển giữa các nước là khả năng vận tải giữa các nước đó. Sự phụ
thuộc này được mô tả như sau: “khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước
tỷ lệ nghịch với khoảng cách vận tải”, khoảng cách vận tải ở đây chúng ta phải
hiểu là khoảng cách kinh tế, tức là lượng lao động nhất định phải bỏ ra để thực
hiện quá trình chuyên chở giữa hai điểm vận tải và đối với người gởi hàng đó
chính là cước phí. Cước phí chuyên chở càng rẻ thì dung lượng hàng hóa hên thị
trường càng lớn, bởi vì cước phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn trong giá cả hàng
hóa. Khi khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, năng suất lao động tăng, giá thành
sản phẩm hạ, cước phí vận tải giảm xuống, đó là yếu tố quan trọng góp phần tăng
nhanh khối lượng hàng hóa lưu chuyển trong thương mại quốc tế. Trước đây khi
khoa học còn yếu kém, công cụ vận tải thô sơ, trọng tải nhỏ, cước phí vận tải cao
đã hạn chế việc buôn bán nhiều mặt hàng, đặc biệt là mặt hàng nguyên, nhiên vật
liệu, bởi vì cước phí chiếm tỷ trọng cao bong giá cả của những loại hàng này.
Cho nên thương mại quốc tế chỉ tập trung ở những mặt hàng thành phẩm và bán
thành phẩm. Cho đến khi các công cụ vận tải hiện đại ra đời, trọng tải lớn, có cấu
tạo thuận tiện cho việc chuyên chở và cho phép hạ giá thành vận tải đã tạo điều
kiện mở rộng chủng loại mặt hàng. Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa thể hiện rỏ nét
nhất là việc mở rộng buôn bán mặt hàng lỏng. Vào những năm 1937 tỷ trọng của
nhóm hàng lỏng chỉ chiếm 24% tổng khối lượng hàng hóa thương mại quốc tế,
nhưng đến thời gian sau này tỷ trọng nhỏm hàng này phát triển nhanh và thường
chiếm tương đương 50% tổng khối lượng hàng hóa thương mại. Mặc khác khi
mà vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao thì thị trường tiêu thụ thường ở
gần nơi sản xuất. Cho đến khi vận tải phát triển đã tạo điều kiện mở rộng thị
trường buôn bán. Tức là những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩm
của mình ngay cả trên những thị trường xa xôi và các nước nhập khẩu có điều
kiện lựa chọn thị trường cung cấp hơn. Điều này được thể hiện qua cự ly vận
chuyển ừung bình tăng nhanh qua các năm. Ngày nay cự ly vận chuyển trung
bình của các loại hàng hóa xuất nhập khẩu thường lớn hơn ổOOOkm1.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
13
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
Đối với tác dụng làm bảo vệ hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế thì
việc phát triển của vận tải đặc biệt là lực lượng tàu buôn dân tộc có tác dụng tăng
nguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu sản phẩm vận tải hay tiết kiệm chi
ngoại tệ thông qua việc chống nhập khẩu sản phẩm vận tải, tức là mua theo điều
kiện FOB (Free on Board) - giao lên tàu, bán CIF (Cost & Insurance & Freight)
-
tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí và sử dụng công cụ vận tải trong nước.
Ngược lại, nếu công cụ vận tải không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở
hàng
hóa trong thương mại quốc tế thì bắt buộc một quốc gia phải chi ra một
lượng
ngoại tệ lớn để nhập khẩu sản phẩm vận tải tức là thuê tàu nước ngoài để
chuyên
chở hàng hóa hay mua hàng hóa theo điều kiện CIF (Cost & Insurance &
Freight) - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí và bán theo FOB (Free on
Board)
-
giao lên tàu.
Tóm lại, qua những tác dụng trên đây, chúng ta thấy rằng vận tải là một
yếu tố không thể tách rời thương mại quốc tế, nó là một công cụ quan trọng của
thương mại quốc tế đồng thời khi chúng ta nói đến thương mại là phải nói đến
vận tải; thương mại có nghĩa là hàng hoá được thay đổi người sở hữu, còn vận tải
là làm cho hàng hoá thay đổi vị trí.
1.2.2. Phân chia trách nhiệm về vận tải trong hợp đồng mua bán
ngoại thưong
1.2.2.1. Quyền về vận tải
Trong họp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương bao gồm nhiều điều
khoản, ừong đỏ cỏ các điều khoản về vận tải. Các điều khoản này trực tiếp hay
gián tiếp quy định trách nhiệm của người bán và người mua trong việc thanh toán
cước phí đối với người chuyên chở và trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa
trên quãng đường chuyên chở. Vì vậy trong thương mại quốc tế người ta đã đưa
ra khái niệm vận tải quốc tế là: bên nào có trách nhiệm trực tiếp thanh toán cước
phí vận tải, có trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa được gọi là bên có
“quyền về vận tải”. Tức là khi bên mua giành được “quyền về vận tải” thì người
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
14
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
2 http:/Avww. saga.vn/Luatkinhdoanh/Luatquocte/6423.saga
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
I.2.2.2. Phân chia trách nhiệm về vận tải
Viêc phân chia trách nhiệm về vận tải giữa người bán và người mua phụ
thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng được lựa chọn trong họp đồng mua bán hàng
hóa ngoại thương. Trong thương mại người ta áp dụng rất nhiều điều kiện cơ sở
giao hàng, tuỳ thuộc vào những điều kiện cơ sở giao hàng này mà trách nhiệm
hai bên được phân chia rõ ràng. Đứng về góc độ vận tải, các điều kiện cơ sở giao
hàng quy định trong thuật ngữ thương mại quốc tế “Incoterms 2000” được chia
thành các nhóm sau:2
* Nhóm E: EXW (Ex Works)- giao tại xưởng; nghĩa là người bán giao
hàng cho người mua tại nơi sản xuất của mình.
* Nhóm F: FCA (Free Carrier) - giao cho người chuyên chở, FAS (Free
Along side Ship) - giao dọc mạn tàu, FOB (Free On Board) - giao lên tàu. Theo
nhóm F này thì người bán giao hàng cho người vận tải do người mua chỉ định.
* Nhóm C: CFR (Cost Freight) - tiền hàng và cước phí, CIF (Cost
Insurance Freight) - tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí, CPT (Carriage Paid
To) - cước phí trả tới, CIP (Carriage Insurance Paid To) - cước phí và bảo hiểm
trả tới. Theo nhóm c thì người bán phải ký họp đồng vận tải nhưng không chịu
rủi ro tổn thất về hàng hóa hoặc những chi phí khác xảy ra sau khi hàng đã bốc
lên tàu.
* Nhóm D: DAF (Delivered At Frontire) - giao tại biên giới, DES
(Delivered Ex Ship) - giao tại tàu, DEQ (Delivered Ex Quay) - giao tại cầu cảng,
DDP (Delivered Duty Paid) - giao hàng thuế chưa trả, DDU (Delivered Duty
Unpaid) - giao hàng trả trước. Theo nhỏm này người bán phải chịu tất cả phí tổn,
rủi ro cho đến khi hàng đến cảng đích.
Việc phân chia trách nhiệm về vận tải hay nói cách khác việc phân chia
“quyền về vận tải” giữa người bán với người mua tuỳ thuộc vào điều kiện cơ sở
giao hàng và các điều kiện quy định về vận tải trong họp đồng mua bán hàng hoá
ngoại thương. Thông thường người nhập khẩu giành được quyền này khi mua
hàng gàn nơi sản xuất nhất. Ngược lại, người xuất khẩu giành được quyền này
khi bán hàng ở gần nơi tiêu thụ nhất. Các điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm
c, “quyền về vận tải” được chia đều giữa người bán và người mua nên được sử
dụng rộng rãi nhất, tức là theo các điều kiện cơ sở giao hàng ở nhóm này, người
bán phải ký họp đồng vận tải và thanh toán cước phí, còn người mua phải chịu
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
15
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
Còn trong các điều kiện thuộc nhóm E và F thì người bán giao hàng cho
người mua tại nơi mình sản xuất hoặc giao cho người vận tải do người mua chỉ
định, còn người mua phải thanh toán cước phí và tổ chức chuyên chở hàng hóa từ
nước người bán về nước mình, do đó “quyền về vận tải” thuộc về người mua và
các điều kiện cơ sở giao hàng thuộc điều kiện nhóm D thì người bán phải chịu
trách nhiệm chuyên chở hàng hóa và giao cho người mua tại cảng đích thuộc
lãnh thổ của nước người mua. Do đó, “Quyền vận tải” thuộc người bán.
1.3.
Chuyên chở hàng hoá thưong mại quốc tế bằng phương thức
vận
tải
biển
1.3.1. Vài nét Stf lược về phương thức vận tải biển
Vận tải biển là một trong những phương thức vận tải ra đời từ rất sớm, khi
mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển tới trình độ cao, khi mà con người chưa có
khả năng chế tạo ra những chiếc tàu biển hiện đại có trọng tải lớn và tốc độ
nhanh như những tàu biển đang được sử dụng để chuyên chở hàng hóa trong
thương mại quốc tế hiện nay, thì những ưu thế của đại dương cũng đã được con
người tận dụng để thực hiện việc chuyên chở hàng hóa và hành khách giữa các
quốc gia trên thế giới với nhau bằng các công cụ vận tải thô sơ như tàu, thuyền
buồm, tàu biển nhỏ chạy bằng động cơ hơi nước sử dụng khí đốt là than, củi...Chỉ
từ khi phương thức sản xuất chủ nghĩa ra đời, quan hệ buôn bán quốc tế giữa các
quốc gia trên thế giới tăng lên, dung lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước
tăng lên và tất yếu nhu cầu chuyên chở hàng hóa và hành khách tăng lên thì
phương thức vận tải biển mới phát triển nhanh chóng, về đặc điểm kỹ thuật thì
phương thức vận tải biển có những ưu điểm nổi bật như sau:
* Thứ nhất, trong phương thức vận tải biển các tuyến đường hàng hải
được hình thành một cách hoàn toàn tự nhiên. Cho nên, trừ việc đầu tư xây dựng
các hải cảng và một số kênh đào quốc tế, đối với phương thức vận tải này người
ta không phải tốn nhiều chi phí để xây dựng và bảo quản các tuyến đường. Đây
là một ưu thế đáng kể của phương thức vận tải biển so với nhiều phương thức
vận tải khác, ví dụ đối với vận tải sắt, muốn thực hiện việc chuyên chở hàng hóa
giữa hai điểm vận tải A và B nào đó, người ta bắt buộc phải xây dựng một tuyến
đường sắt (đòi hỏi rất nhiều thời gian và vốn) nối liền hai điểm vận tải này, và
chỉ có thể thực hiện được việc chuyên chở theo một chiều (tuyến đơn), muốn
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
16
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
3Triệu Hồng cẩm — Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn — năm 2006,
trang 70.
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
4
%BA %ADn-t%El%BA%A3i-hang-hoab%El %BA
* Thứ hai, năng lực chuyên chở của phương thức vận tải lớn hơn nhiều so
%Blng-d
%C6%B0%El với các phương thức vận tải khác nhờ vào 2 yếu tố: yếu tố thứ nhất là trọng tải
%BB%9Dng-bi
của tàu biển rất lớn, trọng tải trung bình của tàu biển hiện nay là từ 15.000 đến
%El %BB
%83n/
20.000 DWT đối với tàu kinh doanh theo hình thức tàu chợ, đối với tàu chở hàng
khô và tàu chở dầu, trọng tải trung bình còn lớn hơn rất nhiều (30.000 - 40.000
DWT đối với tàu chở dầu khô, 50.000 - 70.000 DWT đối với tàu chở dầu). Yếu
tố thứ hai là việc tổ chức chuyên chở không bị hạn chế vì trên cùng một tuyến
đường hàng hải người ta có thể tổ chức chuyên chở nhiều tuyến trong cùng một
lúc cho cả lượt đi lẫn lượt về, chính nhờ ưu thế này mà trong sản xuất vận tải
biển, năng suất lao động cao đã góp phần làm cho giá thành vận tải thấp.
* Thứ ba, ưu thế nổi bật nhất là giá cước vận tải thấp, giá cước vận tải
biển thấp hơn rất nhiều so với các phương thức vận tải khác (bằng 1/6 so với giá
cước vận tải hàng không, 1/3 so với vận tải giá cước sắt, 1/2 so với giá cước vận
tải ôtô). Đây cũng chính là đặc điểm khiến cho phương thức vận tải biển được
chú trọng nhất trong thương mại giữa các quốc gia và trở thành phương thức vận
tải chủ đạo trong hệ thống vận tải quốc tế.3
Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm nổi bật trên, phương thức vận tải
biển cũng còn một số hạn chế hay nhược điểm nhất định.
* Thứ nhất, là tốc độ của tàu biển chậm, chậm hơn rất nhiều so với xe lửa
và đương nhiên không thể sánh được so với máy bay. Vì vậy, trong nhiều trường
họp vận tải không thể đáp ứng khi hàng hóa nhu cầu vận chuyển nhanh.
* Thứ hai, là vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thời
tiết. Điều này cỏ thể rất dễ nhận biết vì môi trường hoạt động của tàu biển là lênh
đênh ngoài khơi, xa đất liền cho nên mỗi biến động dù rất nhỏ của thiên nhiên
cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hành trình đi biển4. Chính vì vậy, trong quá
trinh chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, các rủi ro và tai nạn thường rất hay
xảy ra. Người ta đã thống kê được rằng trên thế giới cứ 90 phút thì xảy ra một tai
nạn đường biển, trong đó tai nạn đâm va (Collision) chiếm tới 50%, và khi tai
nạn xảy ra thì thiệt hại rất lớn (vì bản thân tài biển và hàng hoá chuyên chở trên
tàu là những tài sản có giá trị rất lớn). Tuy nhiên, sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, sự ra đời của những chiếc tàu biển hiện đại có khả năng chinh phục thiên
nhiên..., cũng phần nào hạn chế được các tai nạn đường biển, nhưng không thể là
tuyệt đối. Bởi vậy, trong thương mại quốc tế, nhằm đảm bảm an toàn kinh doanh,
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
17
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
5Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,
trang 72.
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
đi đôi với nghiệp vụ thuê tàu biển để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, còn
có một nghiệp vụ đặc biệt và cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là mua bảo
hiểm.
Trên thế giới diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất, một cách
hoàn toàn tự nhiên, tạo nên một hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế nối liền
phàn lớn các quốc gia trên thế giới. Đặc điểm này cùng với những ưu thế vừa kể
trên của phương thức vận tải biển đã đưa phương thức này lên vị trí số một trong
hệ thống vận tải quốc tế. Vận tải biển đảm nhận trên 80% tổng khối lượng hàng
hóa lưu chuyển giữa các nước có mối quan hệ giữa vận tải quốc tế và thương mại
quốc tế, sự bùng nổ và mở cửa kinh tế của các nước đang phát triển trên thế giới,
xu thế toàn càu hóa đã dẫn đến nhu càu chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
trong thương mại quốc tế tăng với tốc độ đáng kể. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào vị trí
địa lý, chính sách và đặc điểm kinh tế của mỗi nước khác nhau mà vai trò của
phương thức vận tải biển có khác nhau. Chẳng hạn những quốc gia đã phát triển
và quàn đảo như Anh và Nhật, hầu như gần 100% khối lượng hàng hóa trong
thương mại quốc tế của những quốc gia này là được đảm nhận bằng phương thức
vận tải biển. Hay là ở những nước công nghiệp mới về chính sách cũng như vị trí
địa lý thuân lợi như Singapore thì phần lớn khối lượng hàng hoá ngoại thương
của nước này cũng được chuyên chở bằng phương thức vận tải biển, hơn thế nữa,
những ngành công nghiệp dịch vụ vận tải biển (môi giới hàng hóa, bảo hiểm...)
cũng rất phát triển ở quốc gia bé nhỏ và sạch đẹp này, đóng góp tích cực đối với
sự thặng dư trong cán cân thương mại của Singapore. Những nước có bờ biển
như Việt Nam (trên 3.200 km từ biển chạy dọc từ Bắc xuống Nam) cũng có rất
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển phương thức vận tải này. Trong những
năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới và tăng cường quan hệ họp tác kinh tế quốc
tế với rất nhiều quốc gia trên thế giới, khối lượng hàng hóa trong thương mại
quốc tế của Việt Nam tăng lên rất nhanh và cũng đã khẳng định vị trí của phương
thức vận tải biển trong hệ thống vận tải quốc tế của Việt Nam. Và ngay cả những
quốc gia có vị trí địa lý không mấy thuận lợi cho việc phát triển phương thức vận
tải biển như Lào, Campuchia......thì vận tải biển vẫn giữ vị trí chủ đạo trong việc
chuyên chở hàng hóa thương mại quốc tế của những quốc gia này (Lào và
Campuchia vẫn phải thuê cảng biển của Việt Nam để thực hiện việc chuyên chở
hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển).5
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
18
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
6Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,
trang 74.
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
Với những đặc điểm kể trên, vận tải biển rất thích hợp với việc chuyên
chở hàng hoá có khối lượng lớn, cự ly vận chuyển trưng bình và dài. Vận tải biển
thích hợp với chuyên chở hàng hóa ngoại thưomg nhờ ưu thế tuyệt đối đó là cước
phí vận tải thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác. Như chúng ta đã
biết, tỷ ừọng của cước phí vận tải trong giá cả hàng hóa ảnh hưởng mạnh đến
thương mại quốc tế và vận tải biển đã góp phàn làm tăng nhanh chóng khối
lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế.
1.3.2. Ctf sở vật chất kỹ thuật của phương thức vận tải biển
Đối với vận tải biển hay bất kỳ một phương thức vận tải nào khác, cơ sở
vật chất kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm của những ngành
sản xuất vận tải này. Đe quá trinh sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường, cơ
sở vật chất kỹ thuật bao gồm rất nhiều yếu tố, ở đây chúng ta sẽ bàn luận về 2
yếu tố thiết yếu nhất đối với tất cả các phương thức vận tải, đó là: tuyến đường
vận tải, tàu buôn.
1.3.2.1, Tuyến đường vận tải
Trong phương thức vận tải biển, tuyến đường vận tải được gọi là tuyến
đường hàng hải và được định nghĩa là tuyến đường được hình thành giữa hai hay
nhiều cảng, trên đó tàu biển qua lại để chuyên chở hàng hóa và hành khách. Như
vậy trong hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế, có rất nhiều loại tuyến đường
hàng hải, ở đây chúng ta tiến hành phân loại tuyến đường hàng hải theo hai cách.
Cách thứ nhất là căn cứ vào phạm vi hoạt động: người ta chia tuyến đường hàng
hải thành 2 loại; loại thứ nhất được gọi là tuyến đường hàng hải nội địa bao gồm
những tuyến đường dành cho các tàu hoạt động trong phạm vi một quốc gia và
loại thứ hai là tuyến đường hàng hải quốc tế bao gồm những tuyến đường hàng
hải dành cho các tàu hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của nhiều quốc gia. Cách
thứ hai là phân loại căn cứ vào công dụng, tuyến đường hàng hải được chia thành
3 loại; loại thứ nhất là tuyến đường hàng hải định kỳ dành cho các tàu kinh doanh
theo hình thức tàu chợ, loại thứ hai là tuyến đường hàng hải không định kỳ dành
cho các tàu kinh doanh theo hình thức tàu chạy rông, loại thứ ba là tuyến đường
hàng hải đặc biệt dành cho các tàu kinh doanh vì những mục đích đặc biệt trong
hàng hải.6
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
19
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
7Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,
trang 75.
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
được xây dựng từ năm 1859 đến năm 1869, kênh đào này đã rút ngắn được tuyến
đường thông thưomg giữa Châu Âu và Châu Á hom 400 miles, và kênh đào
Panama, được xây dựng từ năm 1879 đến năm 1914, con kênh này nối liền Đại
Tây Dưomg đến Thái Bình Dưcrng ngang qua Trung Mỹ. Ngoài ra còn có kênh
đào tên Kiel, được xây dựng từ năm 1815 đến năm 1907, việc xây dựng con kênh
này ban đàu chỉ nhằm mục đích quân sự, dành cho các tàu nhỏ hơn 10.000 tấn,
có hai đập ở hai đầu. Theo luật hàng hải quốc tế, những nước có tuyến đường
hàng hải quốc tế đi qua phải có nhiệm vụ bảo quản hệ thống đèn hiệu và bảo
dưỡng kênh đào.7
1.3.2.2. Tàu buôn
Trên thực tế, ta gặp rất nhiều loại tàu buôn tuy nhiên mỗi loại tàu buôn
đều có chức năng riêng. Ở đây, tàu buôn được hiểu là tàu chở hàng hóa hoặc
hành khách vì mục đích thương mại trong hàng hải. Do tính phức tạp đó mà
người ta đã phân loại tàu buôn theo nhiều phương pháp khác nhau. Chẳng hạn
khi căn cứ vào cấu trúc của tàu người ta phân chia tàu thành 2 loại là tàu 1 boong
và tàu nhiều boong, nếu căn cứ theo công dụng người ta phân chia tàu ra làm 3
loại là tàu chở hàng (Cargo Ship), tàu chở khách (Passenger Ship) và tàu vừa chở
hàng vừa chở khách (Mixed Ship), nếu căn cứ theo phương pháp kinh doanh thì
có 2 loại tàu là tàu chợ và tàu chạy rông, căn cứ theo động cơ gồm tàu máy hơi
nước và tàu máy tua bin hơi, tàu nguyên tử, căn cứ theo cờ tàu gồm có tàu treo cờ
bình thường, tức là tàu mang quốc tịch nước nào thì mang cờ nước đó và tàu treo
cờ phương tiện tức là treo cờ của nước ngoài nhằm mục đích cạnh tranh và tránh
những quy định nghiêm ngặt của một số nước. Ngoài ra còn một số tàu đặc biệt
như tàu chở hàng đông lạnh, tàu chở ôtô, tàu chở hàng đông lạnh và ôtô.
1.3.3. Nghiệp vụ thuê tàu
Các tổ chức kinh doanh ngoại thương là người có hàng nhưng không có
công cụ vận tải để chuyên chở cho nên khi giành được “Quyền thuê tàu” họ phải
đi thuê các tổ chức vận tải biển để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, vì vậy
nảy sinh nghiệp vụ thuê tàu. Từ đó ta hiểu nghiệp vụ thuê tàu là mối quan hệ
giữa các tổ chức kinh doanh ngoại thương với các tổ chức vận tải biển trong việc
thuê và cho thuê tàu gọi là nghiệp vụ thuê tàu.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
20
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
8 Triệu Hồng cảm - Vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế - NXB Văn hóa Sài Gòn - năm 2006,
trang 89.
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
đường biển yêu cầu thuê một phần hay cả chiếc tàu để chở hàng hóa từ một hay
nhiều cảng này đến một hay nhiều cảng khác (người môi giới được nhận hoa
hồng từ đại lý, thường do chủ tàu ừả). Trong nghiệp vụ thuê tàu có thuê tàu trong
nước, thuê tàu nước ngoài và cho nước ngoài thuê tàu. Đối với thuê tàu nước
ngoài để chở hàng hóa xuất nhập khẩu là nghiệp vụ nhập khẩu sản phẩm vận tải
đường biển. Còn đối với nghiệp vụ cho nước ngoài thuê tàu là nghiệp vụ xuất
khẩu sản phẩm vận tải đường biển.
1.3.3.1. Thị trường thuê tàu và giá cước thuê tàu
Giá trị và giá trị sản phẩm vận tải biển cũng được thực hiện thông qua
quan hệ thị trường gọi là thị trường thuê tàu. Ta có thể hiểu thị trường thuê tàu là
nơi tiến hành mua bán sản phẩm vận tải đường biển, nơi tiến hành đối chiếu so
sánh quan hệ cung cầu về sản phẩm vận tải đường biển. Do đó đã hình thành giá
cả sản phẩm vận tải đường biển tức là giá cước thuê tàu. Thị trường thuê tàu gồm
3 yếu tố chính đó là yếu tố cung về sản phẩm vận tải đường biển, yếu tố cầu về
sản phẩm vận tải đường biển và giá cả sản phẩm vận tải đường biển, tức là giá
cước thuê tàu. Khi đó yếu tố cung về sản phẩm vận tải đường biển chính là khả
năng chuyên chở hàng hóa của lực lượng tàu buôn. Còn yếu tố cầu về sản phẩm
vận tải đường biển chính là nhu cầu chuyên chở hàng hóa bằng đường biển trong
thương mại quốc tế. Còn đối với giá cả sản phẩm vận tải đường biển, tức là giá
cước thuê tàu được hình thảnh trên cơ sở quan hệ cung cầu và mối quan hệ về
quyền lợi của chủ tàu và người thuê tàu8.
Cũng giống như định nghĩa giá cả hàng hóa, giá cả của sản phẩm vận tải
đường biển (hay giá cước thuê tàu) là số tiền phải trả khi thuê một dịch vụ tàu.
Giá cước thuê tàu chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố chính đó là, thứ nhất là loại hàng
hỏa chuyên chở bao gồm: mặt hàng, đặc điểm lý hóa của hàng hóa, giá trị của
hàng hóa, loại bao bì, khối lượng của lô hàng... Thứ hai chính là điều kiện
chuyên chở và xếp dỡ bao gồm: khoảng cách chuyên chở, khả năng chuyên chở
hai chiều, số lượng cảng xếp dỡ, mức xếp dỡ ở cảng và cuối cùng là phương thức
kinh doanh tàu gồm có tàu chợ hay tàu chạy rông.
1.3.3.2. Đặc điểm của tình hình thị trường thuê tàu
Trên thực tế có hai hình thức kinh doanh tàu là kinh doanh tàu chạy rông
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
21
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
9 http:/Avww.vietship.vn/showthread.php?t=602
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
phục vụ bất kỳ thị trường nào có nhu cầu chuyên chở. Kinh doanh tàu chợ hay
còn gọi là tàu chạy định kỳ là tàu chạy thường xuyên trên một luồng nhất định,
ghé qua những cảng nhất định và theo một lịch trình nhất định.
Từ hai hình thức kinh doanh tàu nói trên sẽ có ba phương thức thuê tàu đó
là thuê tàu chợ, thuê tàu chuyến và thuê tàu định hạn. Sau đây, ta sẽ lần lượt
nghiên cứu từng phương thức.
* Thứ nhất là phương thức thuê tàu chợ
Thuê tàu chợ còn gọi là lưu cước tàu chợ, là người chủ hàng thông qua
môi giới thuê tàu yêu cầu người đứng đầu hoặc người chuyên chở giành cho thuê
một phần chiếc tàu để chuyên chở một lô hàng từ cảng này đến cảng khác. Từ
đây ta có thể thấy đặc điểm của phương thức thuê tàu chợ không quá phức tạp
bởi vì ừong phương thức này số lượng hàng hóa không lớn, tính chất hàng hóa
thường là hàng khô và hàng có bao bì, đồng thời tuyến đường tàu đi được biết
trước, nó nằm trong quy định công bố của hãng tàu, người ta gọi đó là định
tuyến9. Cước tàu chợ không do hai bên thỏa thuận mà do hãng tàu đã tính toán từ
trước để lập nên biểu cước, chủ hàng có thể xem và chấp nhận (trong trường hợp
đặc biệt có thể thương lượng giảm giá).
Khi thuê tàu chợ hai bên không đàm phán, vì chủ tàu đã có sẵn vận đơn
(Bill of Loading - B/L) trong đó có những quy định sẵn, có giá trị như một họp
đồng thuê tàu. Trong vận đơn chỉ có chữ ký của thuyền trưởng, không có chữ ký
của người thuê tàu. Vì vậy trong phương thức thuê tàu này có những ưu điểm và
nhược điểm mà chúng ta cần phải biết để có sự lựa chọn trong việc thuê tàu cho
phù họp với tình hình thị trường.
* Ưu điểm của phương thức thuê tàu chợ là khối lượng hàng hóa không
hạn chế, việc xếp dỡ thường do chủ tàu đảm nhận cho nên đơn giản được thủ tục,
đồng thời việc tính toán điều kiện giao nhận trong mua bán dễ dàng, và cuối cùng
là ừong phương thức thuê tàu này sẽ thuận tiện cho chủ hàng trong việc tính toán
hiệu quả kinh doanh, vì căn cứ vào biếu cước, căn cứ vào giá cả hàng hóa tại nơi
sản xuất và nơi tiêu thụ, chủ hàng có thể sơ bộ tính toán được lợi nhuận. Giấy lưu
cước được xem như một giấy yêu cầu thuê tàu gửi cho đại diện hãng tàu và khi
hãng tàu đã nghiên cứu điều phối được thì sẽ gửi thông báo chấp nhận cho thuê,
trong đó có thông báo ngày, giờ cho nên chủ hàng chủ động trong việc đưa hàng
ra cảng, khi chủ hàng nhận được thông báo thì xem như đã có giao ước giữa hai
bên, nếu một bên không thi hành có thể phạt tùy mức độ.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
22
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
10 />Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
* Nhược điểm của phương thức thuê tàu chợ là cước thuê tàu chợ thường
cao hom tàu chuyến do đã tính cả chi phí xếp dỡ và do tàu chợ thường không tận
dụng hết trọng tải (trọng tải sử dụng chỉ tương đương 85%) nên phải tính luôn cả
phần tàu chạy không hàng vào ừong giá cước. Bên cạnh đó về mặt pháp lý người
thuê tàu chợ thường ở vào thế yếu vì không được tự do thỏa thuận các điều kiện
chuyên chở mà phải chấp nhận những điều kiện in sẵn trong vận đơn.10
Trong thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa chủ hàng và người chuyên
chở được điều chỉnh bằng vận đơn đường biển, nó là bằng chứng duy nhất xác
định họp đồng chuyên chở đã được ký kết. Theo điều 73 khoản 2 của Bộ luật
hàng hải có quy định: vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc
người vận chuyển đã nhận hàng hoá với số lượng, chủng loại, tình trạng như
được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu
hàng hoá dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của họp đồng vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển. Như vậy ta có thể hiểu vận đơn đường biển là
một chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người chuyên chở hoặc
người đại diện của họ cấp cho người gửi hàng sau khi đã xếp hàng lên tàu hoặc
sau khi đã nhận hàng để xếp. Qua đó cho ta thấy vận đơn đường biển có chức
năng rất quan trọng, nó không những là bằng chứng duy nhất xác định họp đồng
chuyên chở đường biển đã được ký kết (nó không phải là họp đồng vận tải và chỉ
do một bên ký) mà còn là biên lai nhận hàng của người chuyên chở bởi vì sau khi
cấp vận đơn người chuyên chở có trách nhiệm đối với toàn bộ hàng hóa ghi trong
vận đơn và sẽ giao cho người cầm vận đơn họp pháp ở cảng biển, đồng thời vận
đơn đường biển còn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa ghi trong vận
đơn, cho nên có thể dùng để cầm cố, vay mượn, chuyển nhượng, mua bán.........Do
đặc điểm của quá trình mua bán hàng hóa khác nhau cho nên cần có nhiều loại
vận đơn để đáp ứng các nhu cầu đó. Vì vậy, người ta đã nghiên cứu nhiều loại
vận đơn khác nhau để cho phù họp với từng đối tượng hàng hóa cũng như trên
từng thị trường mua bán. Cụ thể:11
* Vận đơn đến thẳng: là vận đơn được dùng trong trường họp hàng hóa
được chở trực tiếp từ cảng gửi tới cảng nhận.
* Vận đơn chuyển tải: còn gọi là vận đơn chở suốt, dùng trong trường họp
chuyên chở hàng hóa có ghé qua những cảng khác rồi mới tới cảng đến. Khi cấp
vận đơn này, người chuyên chở thứ nhất sẽ chịu trách nhiệm trên toàn bộ quãng
" />%C4%91%C6%B0%E1%BB%9D
ng bi%El %BB%83n
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
23
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
đường chuyên chở kể cả việc chuyển tải ở các cảng dọc đường, tức là có trách
nhiệm thuê những người vận tải tiếp theo. Những người vận tải sau chỉ chịu trách
nhiệm trên quãng đường của mình và sẽ cấp vận đom địa hạt và vận đom này chỉ
lảm chức năng là biên lai nhận hàng mà thôi. Người nhận hàng vẫn nhận hàng
trên cơ sở vận đom trả suốt.
* Vận đom hoàn hảo: là vận đom trên đó thuyền trưởng không ghi một ghi
chú xấu nào về hàng hóa và bao bi hàng hóa. Vận đom này được ngân hàng chấp
nhận để thanh toán. Theo Điều 88 của Bộ luật hàng hải 2005 quy định về ghi chú
trong vận đom:
1. Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đom các nhận xét của
mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá.
2. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đom sự mô tả về hàng
hoá, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người gửi
hàng, người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác
minh.
3. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đom ký, mã hiệu hàng
hoá, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo
đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc.
4. Trường họp hàng hoá được đóng gói trước khi giao cho người vận
chuyển thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đom là không biết rõ nội dung
bên trong.
5. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư
hỏng hàng hoá hoặc tổn thất liên quan đến hàng hoá trong mọi trường họp, nếu
người gửi hàng, người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị của
hàng hoá khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đom.
* Vận đom không hoàn hảo: là vận đom trên đó có ghi chú xấu về hàng hóa
hoặc bao bì của hàng hóa. Ngân hàng không chấp nhận thanh toán khi người bán
hàng xuất trình vận đom này, cho nên khi giao hàng cho người chuyên chở, người
bán bằng mọi cách phải lấy được vận đom hoàn hảo.
* Vận đom đã xếp hàng: là vận đom được cấp sau khi hàng hóa đã thực sự
xếp lên tàu. Người mua hàng và ngân hàng thanh toán đều đỏi hỏi người bán xuất
trình vận đom này.
* Vận đom nhận để xếp: là vận đom được cấp trước khi hàng hóa được xếp
lên tàu. Neu trong họp đồng mua bán hoặc thư tín dụng không có quy định gì
khác thì ngân hàng không chấp nhận vận đom này. Trong thực tế thì chỉ dùng vận
đom đã xếp hàng.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
24
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
12 />Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
* Vận đơn đến chậm: là vận đơn đến sau hàng hóa. Trong hường hợp này
thì chủ hàng sẽ gửi kèm theo tàu một bộ chứng từ hàng hóa để người nhận hàng
có thể nhận hàng nếu vận đơn đến chậm.
* Vận đơn theo lệnh: là vận đơn không ghi rỏ người nhận hàng là ai mà
chỉ ghi chữ theo lệnh (To Order). Trong trường hợp này người chuyên chở sẽ
giao hàng “theo lệnh của người gửi hàng” hoặc “theo lệnh của một người khác”.
* Vận đơn đích danh: là vận đơn ghi đích danh tên và địa chỉ của người
nhận hàng. Chỉ người nào có tên trong vận đơn mới được nhận hàng.
* Vận đơn xuất trình: còn gọi là vận đơn vô danh, là vận đơn trên đó
không ghi tên người nhận hàng, và cũng không ghi theo lệnh của ai cả. Người
chuyên chở sẽ giao hàng cho bất kỳ người nào cầm vận đơn này và xuất trình cho
họ.
* Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu: vận đơn này dùng trong trường hợp
chở hàng bằng tàu thuê chuyến, sau khi xếp hàng lên tàu theo yêu cầu của người
chủ hàng thuyền trưởng sẽ cấp vận đơn được gọi là vận đơn theo hợp đồng thuê
tàu.
Ngoài ra, trong vận tải quốc tế còn có nhiều loại vận đơn khác như: vận
đơn hải quan, vận đơn xếp hàng lên boong, vận đơn rút gọn, vận đơn chở
Container...Trong thực tế thường sử dụng phổ biến nhất là vận đơn có tính
chất
đã
xếp hàng, theo lệnh và hoàn hảo.
* Thứ hai là phương thức thuê tàu chuyến
Thuê tàu chuyến là chủ tàu cho người thuê tàu thuê toàn bộ hay một phần
chiếc tàu chạy rông để chuyên chở hàng hỏa giữa hai hay nhiều cảng và được
hưởng tiền cước theo 2 bên thỏa thuận12. Do có tính thỏa thuận này cho nên trong
việc thuê tàu chuyến sẽ có nhiều hình thức để thuê tàu khác nhau. Chẳng hạn như
hình thức thuê chuyến một tức là thuê tàu chỉ chuyên chở một lần hàng giữa các
cảng nhất định, sau khi hoàn thành việc dỡ hàng ở cảng đến cuối cùng thì hợp
đồng thuê tàu cũng hết hiệu lực. Thuê chuyến khứ hồi tức là thuê tàu chuyên chở
cả hàng hóa lẫn lượt đi lẫn lượt về theo hợp đồng. Ta cũng có thể thuê tàu theo
phương thức thuê liên tục ở đây được hiểu là ta có thể thuê một chuyến liên tục
hoặc khứ hồi liên tục, tức là thuê tàu để chuyên chở hàng hóa nhiều chuyến liên
tục cho một lượt hoặc cho cả lượt đi lẫn lượt về. Ngoài ra còn có hình thức thuê
bao tức là tiền cước thuê tàu tính và ừả theo đơn vị trọng tải hoặc dung tích của
tàu.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
25
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng
13 http:/Avww.wattpad.com/103736-cau-6-thue-tau
14 http://www.
wattpad. com/103736-cau-6-thue-tau
Vận tải và bảo hiểm vận tải trong Thương mại quốc tế
Giống như phương thức thuê tàu chợ, trong phương thức thuê tàu chuyến
cũng có những đặc điểm riêng biệt của nó chẳng hạn như khối lượng chuyên chở
hàng hóa lớn, thường là đầy tàu hoặc gần đầy tàu. Không những thế mà hai bên
sẽ đàm phán với nhau về điều kiện chuyên chở và giá cước để ký họp đồng thuê
tàu chuyến, vận đơn được sử dụng trong trường họp này là vận đơn theo họp
đồng thuê tàu. Trong phương thức thuê tàu chuyến thường có môi giới, người
thuê tàu sẽ ủy thác cho người môi giới đi tìm tàu, gặp gỡ với các chủ tàu để đàm
phán, trả giá rồi ký họp đồng. Từ những đặc điểm trên, cho ta thấy phương thức
thuê tàu chuyến cũng có những ưu và khuyết điểm đặc trưng giúp chúng ta có sự
lựa chọn phù họp vì vậy ta cần phải biết những ưu và khuyết điểm đó:
* Ưu điểm của phương thức thuê tàu chuyến là có tính linh hoạt cao sở dĩ
nói như vậy là bởi vì người thuê có thể yêu cầu xếp dỡ ở bất kỳ cảng nào và có
thể thay đổi cảng xếp dở dễ dàng. Giá cước thuê tàu rẻ hơn so với thuê tàu chợ.
Người thuê tàu đươc tự do thỏa thuận mọi điều khoản trong họp đồng chứ không
buộc phải chấp nhận như trong phương thức thuê tàu chợ. Đồng thời trong
phương thức thuê tàu này có tốc độ chuyên chở hàng hóa nhanh vì thuê tàu
thường chạy thẳng từ cảng xếp đến cảng dỡ, ít ghé qua các cảng dọc đường.
* Nhược điểm của phương thức thuê tàu chuyến là kỹ thuật thuê tàu, ký
kết họp đồng rất phức tạp và giá cước luôn biến động thường xuyên và rất mạnh
đòi hỏi người thuê tàu phải nắm vững thị trường nếu không sẽ phải thuê với giá
đắt hoặc không thuê được.13
* Thứ ba là phương thức thuê tàu định hạn
Thuê tàu định hạn là chủ tàu cho thuê toàn bộ chiếc tàu cùng sĩ quan thủy
thủ để chuyên chở hàng hóa hay cho thuê lại trong một thời gian nhất định và
người thuê tàu phải trả tiền thuê và chịu các chi phí hoạt động của tàu theo họp
đồng quy định14. Như vậy khác với 2 phương thức thuê tàu trước, trong phương
thức thuê tàu định hạn chủ tàu không phải là người chuyên chở. Từ đặc điểm đó,
đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu sâu về phương thức thuê tàu này để đưa ra những
ưu và khuyết điểm cụ thể nhằm có thể áp dụng cho phù họp với tình hình thị
trường vận chuyển.
* Ưu điểm của phương thức thuê tàu định hạn là người thuê rất chủ động
trong chuyên chở hàng hóa vì được quyền sử dụng chiếc tàu trong thời gian thuê.
Bên cạnh đó, có ưu điểm đặc biệt là tiền thuê tàu rẻ nếu người thuê giỏi kinh
doanh tàu, có nguồn hàng hai chiều ổn định thì hiệu quả càng cao đồng thời chủ
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương
26
SVTIĨ: Trần Thị Kim Phụng