Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (130.1 KB, 3 trang )
Gai cột sống, khi nào cần điều trị?
Gai cột sống là một biểu hiện của thoái hóa cột sống và cũng là một trong nhiều
nguyên nhân gây ra đau lưng, đau cột sống cổ. Khi lớp sụn đĩa đệm giữa các đốt
sống bị mất hoặc giảm chức năng dẫn tới mâm đốt sống phải chịu lực quá mức, sẽ
hình thành các gai xương ngoài rìa thân đốt sống.
Với bệnh lý này, không phải lúc nào cũng cần thiết phải điều trị, chỉ can thiệp khi có triệu
chứng hoặc gây ra những biến chứng nghiêm trọng. Để giúp độc giả và bệnh nhân hiểu rõ
về căn bệnh này cũng như tìm ra cách trị bệnh hữu hiệu, sau đây VnDoc sẽ chia sẻ một số
thông tin cơ bản về bệnh gai cột sống mà bạn cần biết.
Gai cột sống là một biểu hiện của thoái hóa cột sống
1. Biểu hiện và triệu chứng của gai cột sống
Nếu gai cột sống thắt lưng thì bệnh nhân có thể thấy đau tập trung ở giữa thắt lưng hay
lan tỏa xuống vùng hông. Hầu hết bệnh nhân có cơn đau thắt lưng ở mức độ thấp và
chịu đựng được (mạn tính), dù thỉnh thoảng có cơn đau dữ dội kéo dài vài ngày ảnh
hưởng tới đi đứng, hạn chế vận động. Với cơn đau mạn tính, bệnh nhân đau nhiều hơn
khi vận động, cơn đau sẽ giảm bớt lúc nghỉ ngơi.
Nếu gai cột sống xảy ra ở vùng cổ, bệnh nhân thường đau sau gáy, đau hai bên vai. Một
số bệnh nhân bị gai cột sống cổ có thể bị đau buốt kéo lên đỉnh đầu, đau nửa đầu,
chóng mặt, buồn nôn, mất ngủ. Gai cột sống cổ nặng, đặc biệt khi kèm theo thoát vị đĩa
đệm vùng cổ, có thể chèn ép các rễ thần kinh, gây đau, tê lan xuống vai, cánh cẳng tay.
Trường hợp bệnh nhân ban đầu chỉ cảm thấy đau vùng thắt lưng, nhưng lâu dài cơn đau
lan xuống mông, chân, hoặc đang đau vùng cổ, vai bỗng cơn đau lan xuống cánh tay thì
có thể tổn thương đã chèn ép lên rễ dây thần kinh cột sống.
Nếu chủ quan không điều trị, về lâu dài bệnh nhân có thể bị biến chứng vẹo, gù cột sống
và nếu có chèn ép rễ dây thần kinh cột sống kéo dài sẽ gây yếu cơ, teo cơ ở tay hoặc
chân.
2. Chỉ phẫu thuật khi tổn thương chèn ép nặng
Gai cột sống hiếm khi can thiệp ngoại khoa, trừ trường hợp bệnh nhân bị biến chứng