MS3:
RÀ SOÁT NGHIÊN CỨU VỀ LĨNH VỰC THỨC ĂN
CHĂN NUÔI TRÊN PHẠM VI TOÀN CẦU
030/06VIE:
Định hướng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi giá trị
nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
Bởi
Tiến sĩ Jo Pluske
Tư vấn SciEcons ,
PO Box 1604
Subiaco WA 6904
AUSTRALIA
Tháng 9, 2007
Tư vấn SciEcons
Tóm tắt
Giá của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đang duy trì ở mức cao như là một hậu quả
của việc tăng cầu, và do đó việc chăn nuôi sẽ cần phải được tính toán kỹ lưỡng hơn. Ví dụ,
các nhà dinh dưỡng động vật sẽ có một vai trò nổi bật trong việc công thức hoá các chế độ ăn
uống mà theo các công thức này các thành phần thức ăn sẽ được kết hợp trong các hạt. Tuy
nhiên tính khả thi của việc phát triển chăn nuôi là khác nhau tại các nước đang phát triển và
các nước phát triển và cũng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Như là một kết quả của sự hiểu
cấu trúc và hoạt động của ngành thức ăn chăn nuôi tại các quốc gia khác nhau, trong đó sự
sẵn có của thức ăn, chuỗi thức ăn và sự cạnh tranh sẽ là các điều kiện tiên quyết cần thiết để
tạo nên một nền chăn nuôi nhanh hơn.
Báo cáo này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về lĩnh vực chăn nuôi toàn cầu với sự nhấn
mạnh vào các nước đang phát triển và đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Nhu
cầu đối với thức ăn trong nền chăn nuôi tập trung đang phát triển và sẽ tiêp tục phát triển.
Một kết quả theo đó là các nhà chăn nuôi động vật sẽ phải đối mặt với sự tăng lên của giá cả
thức ăn chăn nuôi và các nhà sản xuất thức ăn sẽ cần phải quan tâm tới sự cạnh tranh và phản
ứng lại một cách tương ứng. Có thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) sẽ có vai trò
trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp tại các vùng sâu, vùng xa nơi mà hoạt động của các doanh nghiệp lớn là không có lợi
nhuận. Tuy nhiên, những chính sách phù hợp cần thiết được phát triển để bảo đảm rằng sự
hiện hiện của các doanh nghiệp vừa và nhỏ này là đem lại lợi ích cho cộng đồng theo một
cách tổng thể chứ không chỉ riêng gì trong lĩnh vực của nó. Kết quả theo đó là các nhà hoạch
định chính sách sẽ cần có đủ hiểu biết về các chuỗi cung có liên quan và những điều chỉnh về
mặt thể chế khác có liên quan tới việc ra quyết định trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và lĩnh
vực chăn nuôi.
Báo cáo này sẽ cung cấp một nền tảng hữu dụng cho những nghiên cứu tài liệu tiếp theo nếu
cần thiết, và/hoặc thông tin mà nó sẽ có ích cho việc hướng dẫn các chương trình nghiên cứu
được đề xuất cho nghiên cứu này. Có khối lượng dồi dào các thông tin liên quan tới ngành
thức ăn chăn nuôi toàn cầu và kết quả là một cuộc nghiên cứu trong 5 ngày chỉ có thể đề cập
tới hầu hết những khía cạnh được bao hàm trong báo cáo này. Ví dụ cụ thể hơn là, do trở
ngại về mặt thời gian nên đã không thể xem nghiên cứu báo cáo IFPRI (2001) một cách chi
tiết nhưng đã có thể sử dụng nó như một sự tham chiếu hữu ích trong báo cáo này để so sánh
các kết quả được đưa ra. Báo cáo của Ngân Hàng Thế giới (2002) về xây dựng những thể
chế cho các thị trường cũng có thể được xem như một tài liệu tham chiếu để xác định Việt
Nam đang nằm ở vị trí như thế nào xét về mặt phát triển thị trường. Hơn nữa, những kết quả
nghiên cứu cụ thể đã được lập thành tài liệu tại ACIAR (2004) Proceedings số 119 về quản
lý chuỗi cung thức ăn nông nghiệp tại các nước đang phát triển có thể cung cấp những gợi ý
có giá trị cho việc áp dụng đối với ngành thức ăn chăn nuôi.
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi động vật đang phát triển và có vẻ là các lớn
nước ngoài sẽ thống trị thị trường thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ cũng có vai trò và thông tin sau có sẽ sẽ có ích cho việc đạt được những nghiên cứu mới
về chủ đề này:
1. Vì mục đích của dự án nghiên cứu này, các định nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi sẽ được phát triển bởi vì có thể là tác động
đối với từng định nghĩa có thể là khác nhau và do đó chúng sẽ không được xếp vào
cùng một nhóm. Những xem xét về mặt không gian cũng có thể cần được hiểu đối
với từng nhóm.
i
Tư vấn SciEcons
2. Tài liệu về ngành thức ăn chăn nuôi của Thái Lan là hạn chế và không có sẵn và do
đó một chuyến đi nghiên cứu đã được lên kế hoạch cần phải được diễn ra một cách
chắc chắn với vai trò cố gắng tìm hiểu về các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi vừa và
nhỏ tại đó, như xác dịnh cho những doanh nghiệp tương ứng tại Việt Nam.
3. Như đã đề cập ở trên, một vài tài liệu được liệt kê ra có thể được sử dụng như một
tham chiếu để tìm ra ngành thức ăn chăn nuôi đã phát triển như thế nào theo thời
gian. Trong khi tài liệu này đã được nghiên cứu một cách tóm tắt trong báo cáo này,
nếu cần thiết thì chúng sẽ được nghiên cứu chi tiết một cách độc lập.
ii
Tư vấn SciEcons
Mục lục
Tóm tắt....................................................................................................................................................... i
Danh mục hình vẽ minh hoạ .................................................................................................................. v
Danh mục các bảng ................................................................................................................................ vi
1.
Giới thiệu ........................................................................................................................................ 1
2.
Phương pháp luận ......................................................................................................................... 3
3.
Các động cơ đối với những nhu cầu thức ăn chăn nuôi............................................................ 3
4.
5.
6.
7.
8.
9.
3.1.
Việc sản xuất thịt.................................................................................................................... 3
3.2.
Sự tiêu thụ thịt........................................................................................................................ 5
3.3.
Nhu cầu về thức ăn ................................................................................................................ 6
Ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu .............................................................................................. 9
4.1.
Toàn cảnh về ngành thức ăn chăn nuôi ................................................................................ 9
4.2.
Việt Nam và sản xuất thức ăn chăn nuôi............................................................................. 10
4.3.
Việt Nam - Một trường hợp nghiên cứu lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.................................. 16
4.4.
Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi................................................................. 17
4.5.
Thái Lan và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi...................................................................... 20
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................................................................... 22
5.1.
Thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ? ......................................................................... 22
5.2.
Chính sách của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.................................................................... 24
5.3.
SMEs trong nền kinh tế........................................................................................................ 28
Thành phần của thức ăn chăn nuôi ........................................................................................... 28
6.1.
Nguyên liệu thô .................................................................................................................... 29
6.2.
Những vấn đề về đầu vào tại các trạm nghiền thức ăn ...................................................... 30
Chất lượng thức ăn chăn nuôi và hiệu quả sản xuất ............................................................... 30
7.1.
Chất lượng thức ăn chăn nuôi ............................................................................................. 30
7.2.
Quy định về chất lượng thức ăn chăn nuôi ......................................................................... 33
7.3.
Hiệu quả của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi ................................................................... 34
7.4.
Sự ảnh hưởng của tự do báo chí đối với an toàn thực phẩm.............................................. 36
Chuỗi cung cấp............................................................................................................................. 36
8.1.
Chuỗi cung cấp trong ngành chăn nuôi lợn........................................................................ 36
8.2.
Xử lý và vấn đề lưu kho ....................................................................................................... 43
8.3.
Tổ chức theo không gian...................................................................................................... 44
Một khu vực sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh................................................ 44
9.1.
Kinh tế quy mô ở ngành sản xuất thức ăn gia súc .............................................................. 45
9.2.
Sự phát triển của một ngành sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh................... 46
iii
Tư vấn SciEcons
9.3.
Tư nhân hóa ngành chế biến thức ăn chăn nuôi:................................................................ 52
9.4.
Sức mua: .............................................................................................................................. 52
10.
Đề xuất đối với những ngành phụ trợ cho nhành chế biến thức ăn chăn nuôi ............... 53
10.1.
Sự phát triển của ngành nhiên liệu hóa sinh trên toàn thế giới ......................................... 53
10.2.
Tác hại của thiếu thức ăn chăn nuôi ................................................................................... 55
10.3.
Nhập khẩu thành phẩm và nhập khẩu nguyên liệu sản xuất .............................................. 56
10.4.
Các thỏa thuận và chính sách hợp lý:................................................................................. 57
10.5.
Nghiên cứu các số liệu: ....................................................................................................... 58
11.
Kết luận.................................................................................................................................... 58
12.
Hạn chế .................................................................................................................................... 59
13.
Khuyến nghị: ........................................................................................................................... 59
iv
Tư vấn SciEcons
Danh mục hình vẽ minh hoạ
Hình 1 Các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi thuộc sở hữu tư nhân ở Trung Quốc
đang mở rộng.
19
Hình 2 Hệ thống thể chế hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
28
Hình 3 Nutrace®, Tracking & Tracing
38
Hình 4 Một ví dụ về chuỗi cung cấp sản xuất thịt lợn trong đó Chuỗi A mô tả
việc sản xuất và sử dụng vật liệu thô và Chuỗi B cho thấy chuỗi rộng hơn từ
nhà cung cấp đầu vào đến người tiêu dùng.
39
Hình 5 Kênh tắt tại địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng
40
Hình 6 Lưu đồ buôn bán ngô từ Vùng núi phía bắc đến ĐB Sông Hồng
41
v
Tư vấn SciEcons
Danh mục các bảng
Bảng 1 Xuất nhập khẩu thịt lợn đối với một số nước: 1.000 m3 (trọng lượng thịt sống
tương đương).
4
Bảng 2 Lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại một số nước (kg/người)
6
Bảng 3 Tóm tắt về lợn giống tại một số nước (trên 1000 dân)
6
Bảng 4 Các nguồn của thức ăn chăn nuôi đã được công thức hoá giành cho chăn nuôi
tại Việt Nam năm 2001.
11
Bảng 5 Các hãng nghiền thức ăn gia súc đang thống trị sản xuất tại Việt Nam năm 2006
12
Bảng 6 Giá thức ăn chăn nuôi (2006) tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam đối với một
vài nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn nuôi.
15
Bảng 7 Tóm tắt những định nghĩa chủ yếu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước
ASEAN-5
22
Bảng 8 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lao động và quy mô tài sản ở
Philippine
23
Bảng 9 Chi phí tối thiếu ước tính dành cho thức ăn chăn nuôi tại một số vùng ở Việt
Nam (2006) (VND/kg)
51
vi
Tư vấn SciEcons
1. Giới thiệu
OECD (2007) đã miêu tả nền nông nghiệp toàn cầu đang ở các đường viền bao quanh sự
tăng trưởng một cách ổn định về mặt kinh tế trên phạm vi toàn cầu theo trung hạn, sự tăng
trưởng chậm về dân số, sự tiếp tục của lạm phát thấp, và các thị trường mà đang phản ứng
một cách toàn cầu trước những thách thức của ngành nhiên liệu sinh học đang thay đổi
nhanh chóng. Họ nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng về mặt kinh tế toàn cầu được thúc đẩy
chính bởi sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế ở các nước đang phát triển như Trung
Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Thêm vào đó, sự tăng trưởng về mặt sử dụng các hàng hoá
nông nghiệp như là kho nguyên liệu cho ngành nhiên liệu sinh học là một trong những
nguyên nhân chính làm cho giá cả hàng hoá quốc tế đang cao hơn là trong các báo cáo trước
của OECD. Mặc cho những triển vọng của việc nhiên liệu sinh học tăng lên do sử dụng ngô,
OECD (2007) dự đoán rằng sự tăng lên về nhu cầu đối với các hạt thô trên thị trường thế
giới sẽ bị chi phối chủ yếu bởi sự tăng lên của nhu cầu thức ăn từ các ngành chăn nuôi đang
phát triển thịnh vượng tại các nền kinh tế đang nổi lên như là Trung Quốc, Ấn Độ, và
Argentina. Thêm vào đó, do giá cả của ngô đang tăng lên nhanh chóng liên quan tới giá cả
của các loạt hạt có dầu, cho nên có một nhu cầu đang tăng lên đối với các thức ăn dầu để
thay thế cho ngô trong các khẩu phần của thức ăn chăn nuôi như là một nguồn năng lượng
(OECD 2007).
Giá của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôn đang duy trì ở mức cao như là một hậu quả
của việc tăng cầu, và do đó việc chăn nuôi sẽ cần phải được tính toán kỹ lưỡng hơn. Ví dụ,
các nhà dinh dưỡng động vật sẽ có một vai trò nổi bật trong việc công thức hoá các chế độ ăn
uống mà theo các công thức này các thành phần thức ăn sẽ được kết hợp trong các hạt. Tuy
nhiên tính khả thi của việc phát triển chăn nuôi là khác nhau tại các nước đang phát triển và
các nước phát triển và cũng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Như là một kết quả của sự hiểu
cấu trúc và hoạt động của ngành thức ăn chăn nuôi tại các quốc gia khác nhau, trong đó sự
sẵn có của thức ăn, chuỗi thức ăn và sự cạnh tranh sẽ là các điều kiện tiên quyết cần thiết để
tạo nên một nền chăn nuôi nhanh hơn.
Việt Nam là một đất nước mà ở đó việc nghiên cứu đang thực hiện để giải quyết các vấn đề
đã nói ở trên. Một hội thảo với mục đích bàn về ngành thức ăn chăn nuôi chuyên sâu ở Việt
Nam đã được diễn ra tại Hà Nội vào ngày 7 tháng 8 năm 2007. Những đoạn sau đây sẽ tóm
tắt vài tranh luận chung về những vấn đề chính đang phổ biến trong lĩnh vực thức ăn chăn
nuôi.
Tranh luận tập trung vào những chi phí thức ăn đã tăng lên và việc chăn nuôi, nhu cầu đang
tăng lên đối với thị tại Việt Nam và các loại thuế. Đặc biệt là đã nhận thấy rằng việc chăn
nuôi ở Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu với 40% nguyên liệu được nhập khẩu
(đậu nành, lạc) theo giá cả thế giới và các loại thuế (30% đối với bột đậu nành, 2% đối với
ngô).
Với mục đích để phân loại các nhà máy thức ăn chăn nuôi theo sở hữu và phân loại theo các
hang về khả năng, có rất nhiều nguồn thông tin khác nhau với nhiều con số. Gợi ý rằng một
doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ở mức giữa 5 và 30 tấn/giờ trong khi một hãng lớn sản
xuất sản xuất hơn 30 tấn/giờ. Một gợi ý khác là một trạm nghiền nhỏ sản xuất từ 100 đến
300 tấn/tháng hoặc sản xuất dưới 3.000 tấn một năm hoặc sản xuất ít hơn 5 đến 10 tấn/giờ
(một nhà sản xuất sẽ sản xuất lớn hơn 20 tấn/giờ; một hãng trung bình sẽ sản xuất từ 10 đến
20 tấn/giờ).
Ghi nhận rằng có 145 thực thể đã đăng ký sản xuất ít hơn 5.000 tấn thức ăn/ năm không bao
gồm những thực thể mà đã không đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư. Các trạm nghiền nhỏ
sản xuất khoảng 10% tổng thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Một trạm nghiền nhỏ thường
1
Tư vấn SciEcons
không có văn phòng và thường kinh doanh với một điện thoại di động thường bán cho các
tiểu chủ vơi 1 hoặc 2 con lơn hoặc 100 con gà. Thường thì họ không có thiết bị của riêng họ
nhưng có thể thuê nó cùng với một vài nhà sản xuất nhỏ khác. Họ hầu hết ở khu vực nông
thôn và có thể bán thức ăn gia súc hoàn toàn hoặc cô đặc. Thường thì đó là thức ăn cô đặc
bởi vì những nông dân có các hạt riêng của họ (ngô hoặc gạo) do đó họ tự trộn thức ăn gia
súc. Các trạm nghiền nhỏ bán trực tiếp tới người nông dân và không có đại lý. Thức ăn gia
súc rẻ và thường có hàm lượng protein thấp (khoảng 10%), tuy nhiên lợn có thể vẫn tăng
trưởng tốt. Các trạm nghiền nhỏ có thức ăn bao gồm các chất gây ô nhiễm chẳng hạn như các
sâu bọ và bào tử nấm tuy nhiên các nông dân thường không biết các vấn đề này. Thường thì
việc dán nhãn là không chính xác và không có hình phạt nào cho việc này cả.
Cũng gợi ý rằng 45 doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản và lĩnh vực này cần phát triển sản
xuất hiệu quả và giảm giá thành hoặc các doanh nghiệp khác cũng sẽ gặp những khó khăn về
mặt tài chính. Các trạm nghiền nhỏ sẽ phá sản vì họ không có vốn đủ để duy trì sản xuất bởi
việ đầu tư vào trang thiết bị. Do đó thường thì họ đang dung các máy móc cũ không hiệu quả
và do đó mà chi phí sản xuất là quá cao. Cũng như vậy chi phí đầu vào đã tăng lên 3 lần
trong những năm gần đây. Các hang lớn hơn có thể đối mặt với sự tăng chi phí này tốt hơn là
các hang nhỏ. Tuy nhiên một vài người tin rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế như nhiều người tại khu vực nông thông vẫn thường
tin vào chúng và có vẻ thích hợp là làm như vậy thậm chí do sự phát triển của ngành chăn
nuôi đang tăng lên.
Thông tin về an toàn vệ sinh thực phẩm được phát trên TV và đài phát thanh và có chính
sách đúng đắn để tăng chất lượng của thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, rất nhiều luật liên quan
tới việc bảo đảm chất lượng có thể có nghĩa là việc thực thi là một vấn đề đặt ra.
Hiện nay, Việt Nam đang sản xuất rất nhiều sản phẩm phụ và chúng có thể thích hợp là thức
ăn chăn nuôi nhưng tại giai đoạnh này có ít hiểu biết về việc làm thế nào để sử dụng chúng
tốt nhất. Thêm vào đó, nếu Việt Nam có thể tăng việc sử dụng các sản phẩm phụ thì nó sẽ
làm giảm các vấn đề môi trường, tăng việc sử dụng lao động và tăng số lượng của thức ăn
sẵn có.
Đã có cuộc tranh luận xung quanh việc sử dụng đại lý. Một vài người nghĩ rằng không cần
thiết phải sử dụng đại lý để phân phối thức ăn chăn nuôi bởi vì nếu các hang lớn bán trực
tiếp cho nông dân thì sẽ giảm được các chi phí. Tuy nhiên, những người khác lại tin rằng các
hang lớn không thích việc buôn bán với các cá thể nông dân.
Vấn đề thay đổi dữ liệu trong khi báo cáo cũng đã được đề cập và nó sẽ thể hiện là có những
khác biệt trong dữ liệu do các nguồn cung cấp và các báo cáo nhưng cũng có những khác
biệt trong việc xác định thức ăn chăn nuôi là gì (cô đặc hay toàn phần). Dữ liệu cũng hạn chế
đối với một số vùng tại Việt Nam và đặc biệt là ở vùng Đông Bắc. Dữ liệu tại lĩnh vực thức
ăn chăn nuôi cũng có thể không phản ánh trung thực những gì đang diễn ra trên thực tế. Các
doanh nghiệp nhỏ có thể sản xuất thức ăn riêng của họ và các con số thì không được thống
kê. Cũng như vậy, chất lượng của thức ăn là quan trọng và thường xuyên bị bỏ qua trong các
dữ liệu. Thêm vào đó, ngày 1 Tháng 8 là ngày báo cáo tuy nhiên trong suốt năm có thể có sự
lên xuống trong việc chăn nuôi và những lên xuống này không được ghi lại. Các số liệu
thường xuyên cao hơn trong suốt năm hơn là vào ngày báo cáo do có sự tăng lên trong sản
xuất sau Tháng 8.
Mục đích của báo cáo này là để khai thác chi tiết hơn các vấn đề được đề cập ở trên và để
đưa ra một báo cáo để bàn về ngành thức ăn chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu. Chú ý đặc biệt
sẽ được giành cho yêu cầu đối với thức ăn trong các ngành chăn nuôi chuyên sâu, tính kinh
tế nhờ quy mô trong sản xuất thức ăn, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và vai trò
của chính sách công trong việc hỗ trợ sự phát triển của một lĩnh vực có tính cạnh tranh.
2
Tư vấn SciEcons
2. Phương pháp luận
Để đưa ra báo cáo này việc nghiên cứu tư liệu sẽ phải được tiến hành để đạt được những hiểu
biết về ngành thức ăn chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt là các động cơ đối với
những nhu cầu về ăn chăn nuôi sẽ được điều tra. Thông tin gắn liền với Việt Nam, Trung
Quốc và Thái Lan sẽ được tìm hiểu để xác định những điểm giống nhau và những bài học
mà có thể là hữu ích cho việc hiểu về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Bản chất của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các chính sách có liên quan tới vai trò của chúng trong nền
kinh tế cũng sẽ được xem xét. Thành phần thức ăn chăn nuôi, việc sản xuất và hiệu quả sẽ
được nghiên cứu rộng rãi cùng với các chuỗi cung liên quan và tài liệu cạnh tranh. Các vấn
đề mà lĩnh vực thức ăn chăn nuôi có thể đang đối mặt sẽ được điều tra một cách ngắn gọn.
Tại cuối báo cao, những đề xuất về những nghiên cứu trong tương lai liên quan đến lĩnh vực
thức ăn chăn nuôi của Việt Nam cũng sẽ được đưa ra. Thời gian giành cho nghiên cứu này là
5 ngày.
3. Các động cơ đối với những nhu cầu thức ăn chăn
nuôi
Tới một phạm vi rộng, việc sản xuất thịt và nhu cầu gián tiếp về thịt đã dẫn đến các nhu cầu
về thức ăn trong ngành chăn nuôi. Do đó việc đạt được một số hiểu biết về thị trường thịt
toàn cầu sẽ hữu ích để đạt được sự nhận thức về loại, chất lượng, khối lượng của thức ăn mà
điều này sẽ được đòi hỏi đối với các ngành chăn nuôi toàn cầu.
3.1.
Việc sản xuất thịt
Den Hartog (2005) đề xuất rằng việc xuất khẩu thịt lợn đên lại lợi nhuận gấp 4 lần việc xuất
khẩu các hạt. Theo nền tảng này quy đổi hạt ra thịt có thể sẽ là một sự lựa chọn nhạy cảm
đặc biệt đối với các nước mà có chi phí nhân công thấp và có một nền chăn nuôi tốt.
Ba nước đang phát triển, Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil chiếm gần hai phần 3 tổng lượng thịt
được sản xuất ở các nước đang phát triển (Steinfeld và Chilonda 2006). Tại Nam Mỹ, đặc
biệt là Brazil, thức ăn có sẵn, nhân công rẻ và có ít những cản trở về đất đai và do đó việc
chăn nuôi đang phát triển một cách nhanh chóng ở đó (Den Hartog 2005). Campbell (2006)
báo cáo rằng Brazil có chi phí sản xuất thịt lợn thấp nhất trên thế giới do có chi phí nhân
công thấp và các nguồn lực khác. Ông ta đã ghi nhận suy nghĩ rằng sự tăng trưởng trong
tương lai có thể sẽ bị chế ngự bởi bệnh lở mồm long móng tại Brazil và đồng tiền địa
phương đang mạnh lên (Reale). Mặc dù khi Ông ta thăm Brazil có vẻ là các công ty liên kết
lớn hơn đang phát triển rộng và đang nhắm đích xuất khẩu sang Nhật Bản và Châu Âu.
Một ví dụ của một đơn vị liên kết sản xuất là Perdigão Rio Verde tại Brazil. Nó có đàn gia
cầm lớn nhất và hoạt động sản xuất thịt lợn của loại này tại Nam Mỹ với một nhà máy giết
mổ 4 năm tuổi và nằm ở một khu liên hợp công-nông nghiệp cách đường lát 22 km (NFPC
2003). Khu liên hợp bao gồm những văn phòng công ty, một trạm nghiền, lò ấp trứng, nơi
giết mổ, nhà máy xử lý nước thải, trung tâm phân phối và nhà xưởng giết mổ gia cầm và lợn
và có 4.000 người làm thuê (NFPC 2003). Các trang trại nuôi gia cầm có ký hợp đồng với
đơn vị này nằm ngay gần nơi cung cấp hạt/thức ăn và trong phạm vi 52 km từ nhà máy
(NFPC 2003).
Mặc cho những cơ sở chăn nuôi tiên tiến, FAS (2006) gợi ý rằng thịt lợn của Mỹ xuất khẩu
sang Nga sẽ tăng vì Brazil sẽ không thể duy trì vị trí của mình trên thị trường Nga do bệnh lở
3
Tư vấn SciEcons
mồm long móng. Kết quả là Mỹ, cũng như là Canada và Châu Âu sẽ có khả năng thu lợi
nhuận từ sự tham gia bị suy giảm của Brazil tại thị trường Nga (Bảng 1). FAS (2006) đã ghi
nhận một điều rất quan trọng với Brazil la gia cầm được xuất khẩu từ Brazil tới Nga có thể
tăng.
Bảng 1 Xuất nhập khẩu thịt lợn đối với một số nước: 1.000 m3 (trọng lượng thịt sống
tương đương).
Nguồn: FAS 2006
Dữ liệu năm 2006 là dữ liệu ban đầu. Dữ liệu năm 2007 là dự b.
Xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng lên từ năm 2003 đến năm 2004 tuy nhiên sau đó thì duy
trì không thay đổi (Bảng 1). Bệnh tật và chất lượng có thể là một nhân tố làm giảm nhưng
theo như Fabiosa (2005) giải thích, nhu cầu đối với thịt lợn đang tăng nhưng nhân tố giới hạn
là việc cung cấp hạt. Để giải quyết sự tăng lên về nhu cầu của các sản phẩm từ động vật,
Trung Quốc đã giải quyết vấn đề này bằng cách đề ra các cải cách về mặt cấu trúc thông qua
việc phân quyền và tư nhân hoá điều mà đã làm tăng cả đầu tư tư nhân trong nước cũng như
là đầu tư trực tiếp nước ngoài, dẫn đến kết quả là một sự mở rộng về khả năng tạo ra năng
suất của nó (Fabiosa 2005). Niềm hi vọng cũng là để tăng sản xuất thịt lợn trong khu vực các
nhà sản xuất nhỏ, có một sự khác biệt giữa nội bộ các nhà sản xuất hiệu quả nhất và các nhà
sản xuất kém hiệu quả nhất (Fabiosa 2005).
Như đã được đưa ra bởi (Dinh et al. ?), tiểu chủ nuôi lợn chiếm khoảng 80% của lượng thịt
lợn được sản xuất tại Việt Nam, hệ thống này được xác định bằng các trang trại đang tăng
lên từ 1 đến 3 lợn nái hoặc không nhiều hơn 15 lợn đang béo lên hoặc một sự kết hợp tương
ứng của từng loại với định hướng để phát sinh thu nhập và để sản xuất phân bón hữu cơ cho
việc trồng trọt (Dinh et al. ?). Bán lợn thịt đến các lò giết mổ địa phương hoặc bán lợn con
4
Tư vấn SciEcons
cho các hang xóm khác hoặc cho những thưong lái trong làng là thực tiễn kinh doanh phổ
biến (Dinh et al. ?). Những trang trại nuôi lợn bán thương mại (3 đến 10 lợn nái với 15 đến
50 lợn đang vỗ béo.) chiếm khoảng 15 % của tổng đàn lợn tại Việt Nam với những con lợn
được nuôi bằng các sản phẩm phụ nông nghiệp kết hợp với những thức ăn công nghiệp chất
lượng cao (Dinh et al. ?). Các trang trại thương mại góp phần vào chỉ 5% của lượng lợn
được nuôi ở Việt Nam và bao gồm các trang trại với hơn 30 lợn nái và trên 100 lợn đang vỗ
béo với chế độ ăn đưwcj công thức hoá một cách thương mại và thường được cung cấp dưới
dạng toàn phần (Dinh et al. ?). Như đã được ghi nhận như một ví dụ bởi (Dinh et al. ?), các
chi phí của việc sản xuất thịt đối với các nhà chăn nuôi lợn thương mại tại tỉnh Hải Dương là
khoảng 14.000 đồng/kg thịt tươi và là cao hơn so với chi phí của các tiểu chủ nhỏ (khoảng
10.000-11.000/kg thịt tươi) và do đó họ phải đạt các tiêu chuẩn về xuất khẩu để có thể bán
với giá cao hơn hoặc là họ sẽ thua lỗ trên thị trường nội địa.
Đàn gia cầm bán sinh kế chiếm khoảng 55% tổng đàn gia cầm tại Việt Nam với các loài gia
cầm chủ yếu là có nòi giống bản địa và các đàn thường ít hơn 50 con (Dinh et al. ?). Người
ta ít quan tâm đến việc cho ăn uống, chăm sóc, kiểm soát bệnh tật và gia cầm được cho ăn
bằng các loại hạt được sản xuất tại gia như là thóc, ngô, đồ thừa nhà bếp bất kể thứ gì mà
chúng có thể bới được. Các đàn gia cầm bán sinh kế chiếm 25% tổng số lượng gia cầm và
các loại gia cầm này hoặc là giống địa phương hoặc là được lai giống và số lượng là từ 50
đến 200 con (Dinh et al. ?). Các loại gia cầm được nuôi bằng các loại hạt được chính gia
đình sản xuất kết hợp với thức ăn công nghiệp và khẩu phần ăn và việc kiểm soát bệnh tật
được chú ý hơn so với các loại gia cầm ở tại các trang trại bán sinh kế (Dinh et al. ?). Các
đàn gia cầm thương mại (20 % tổng đàn gia cầm tại Việt Nam) chủ yếu được hình thành và ở
xung quanh các trung tâm tiêu thụ với gia cầm được nuôi nhốt và cho ăn thức ăn thương mại
(Dinh et al. ?). Cỡ của trang trại thường hơn 200 con và các chăn nuôi thường áp dụng các
kỹ thuật tiên tiết vào việc cho ăn, cung cấp nước và kiểm soát bệnh tật (Dinh et al. ?).
Nhìn chung tại Đông Á, Thái Lan, Malaixia và Philipine là đang trải qua một sự phát triển
nhanh chóng tại lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là nuôi lợn và gia cầm (Steinfeld và Chilonda
2006). Thái Lan đã trở thành một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu về gà giò trên thế
giới, và trước khi có cuộc khủng hoảng cúm gia cầm thì Thái Lan xếp thứ 5 vào năm 2003,
sau Mỹ, Brazil, Pháp và Hà Lan (Steinfeld và Chilonda 2006). Tại Philipine, ngành chăn
nuôi (bao gồm cả nuôi gia cầm) đã làm tăng gấp tổng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp
trong 20 năm qua (Steinfeld và Chilonda 2006). Tại Việt Nam, sự mở rộng của ngành chăn
nuôi đã được thúc đẩy bởi sự tăng lên về cầu của các sản phẩm từ vật nuôi, được bắt nguồn
từ sự tăng lên của thu nhập dẫn đến việc thay đổi về khẩu vị và sở thích (Hall et al. 2006).
3.2.
Sự tiêu thụ thịt
Việc tiêu thụ thịt ở các nước đang phát triển đã tăng lên nhanh gấp 3 lần so với các nước
phát triển từ những năm 70 đến những năm 90, phần lớn là được giải thích bởi tiêu dung ở
Châu Á (FAO 2004). Từ năm 1995 đến 2020, khoảng 97,5% dân số toàn cầu tăng lên là ở
các nước đang phát triển, cũng trong thời gian đó thì 84% dân số thế giới (khoảng 6,3 tỷ) sẽ
sống ở các quốc gia đang phát triển và nhu cầu về thịt và sữa ở thế giới đang phát triển được
dự báo là sẽ tăng gấp đôi vào chậm nhất là năm 2020 (FAO 2004). Sự tăng trưởng về tiêu
thụ thịt và sữa tại thế giới đang phát triển được dự báo là 2,8 và 3,3% hàng năm từ 1990 đến
2020, ngược lại là từ 0,6% đến 0,2% tại các nước đang phát triển (FAO 2004).
5
Tư vấn SciEcons
Vào năm 2005, lượng tiêu thụ thịt trung bình tại Việt Nam là 34,2 kg/người, trên mức trung
bình của Châu Á (33 kg/người) và vượt xa mức của các nước đang phát triển (28 kg/người),
trong khi bình quân của thế giới là 39,9 kf/người (Hall et al. 2006). Ví dụ sự tăng lên về
tiêu thụ thịt lợn tại Việt Nam trong 5 năm qua là khoảng 5 kg/người, trong khi con số
này của Australia là khoảng giữa 1 đến 2 kg và ở Mỹ tiêu dung có vẻ đang giảm
xuống (Bảng 2). Tiêu dung được hi vọng là sẽ tiếp tục tăng trưởng với sự tăng lên
của thu nhập tại Việt Nam (Hall et al. 2006).
Bảng 2 Lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại một số nước (kg/người)
Nguồn: FAS (2006)
Ghi chú: 1/ Dữ liệu của EU bao gồm 25 quốc gia thành viên cho tất cả các năm . (p) sơ bộ; (f) dự báo
Giá của sản phẩm từ động vật tại Việt Nam giao động cao trong năm do yếu tố mùa (IFPRI
2001). Tại Miền Trung và Miền Bắc Việt Nam, những sự giao động theo mùa thường rõ hơn
tại Miền Nam (IFPRI 2001). Hơn nữa, trong năm, giá cả có xu hướng tăng rõ rệt vào giữa
Tháng 1 và Tháng 2, như là kết quả của sự tăng cầu mạnh về thịt trong dịp Tết (IFPRI 2001).
3.3.
Nhu cầu về thức ăn
Nhu cầu về thức ăn là biến đổi theo một mức độ nào đó về nhu cầu thịt và do đó gián tiếp
lên nhu cầu về thịt. Như là dẫn chứng tại mục 3.1 và 3.2 ở trên, sản xuất và nhu cầu đều tăng
lên rõ rệt tại một số nước và đặc biệt là tại một số nước đang phát triển. Xem xét việc chăn
nuôi lợn như một ví dụ, đã có sự tăng lên rõ rệt tại các nước đang phát triển như là Trung
Quốc và Việt Nam (Bảng 3). Điều này là mặc cho một số vấn đề chính về sức khoẻ của động
vật và sự thiết đất và chuyên môn hoá để tăng sản xuất thức ăn.
Bảng 3 Tóm tắt về lợn giống tại một số nước (trên 1000 dân)
6
Tư vấn SciEcons
Nguồn: FAS (2006).
Dữ liệu năm 2006 là sơ bộ. Dữ liệu năm 2007 là dự báo.
Trung Quốc đang trải qua thời kỳ mà lĩnh vực chăn nuôi tăng trưởng tốt, trên mức của các
quốc gia còn lại trong vùng như Lào, Campuchia, Việt Nam và Philipine, các nước này cũng
đang trải qua sự tăng trưởng tốt (hơn 50% trong 10 năm) (IFFT 2005). Trường hợn nghiên
cứu sự thay đổi trong việc sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Trung Quốc là hứa hẹn nhiều thú
vị. Fabiosa (2005) đưa ra một nét phác thảo về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và ghi nhận rằng
việc triển vọng tối với lĩnh vực thức ăn trộn là rất lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển của
lĩnh vực nguyên liệu thô, như là ngô, đậu nành, cũng như là sự phát triển của lĩnh vực đầu ra
cuối cùng, như là thịt lợn và gia cầm. Với gần một nửa việc sản xuất thức ăn thương mại1
được sử dụng để nuôi lợn, nhu cầu đối với thức ăn trộn là lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển
của lĩnh vực nuôi lợn (Fabiosa 2005). Nhu cầu về thức ăn cho lợn đã bị tác động bởi 2 nhân
tố: sự mở rộng ngành nuôi lợn và việc chuyển đổi cấu trúc của ngành (Fabiosa 2005). Trong
khoảng thời gian một thập kỷ thị phần về các trang trại lợn thiến đã giảm 14%, từ khoảng
95% xuống gần 81% (Fabiosa 2005). Thị phần các hộ gia đình chuyên môn hóa tăng 12%
điểm, từ chỉ dưới 4% tới gần 15% (Fabiosa 2005). Vì thực tế chăn nuôi của các hệ thống sản
xuất này là khá khác biệt so với nhau (đặc biệt là về tỷ lệ của các thức ăn trộn lẫn trong khẩu
phần ăn), việc chuyển đổi cơ cấu đã có những tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thức ăn chăn
nuôi (Fabiosa 2005). Các hoạt động kinh doanh mà với ít hơn 31 con lợn thiến thì có được
phần lớn nhất về khẩu phần ăn là các loại hạt thô, vào khoảng 57 đến 66% (Fabiosa 2005).
Đối với loại sản xuất nhỏ, các nhà sản xuất có từ 31 đến 100 con lợn chiếm tỷ lệ cao nhất về
1
Một thức ăn dinh dưỡng toàn phần bao gồm 3 thành phần: nguồn năng lượng ( điển hình là các hạt m
(thô), nguồn đạm (điển hình là các khẩu phần hạt dầu), và các chất phụ thêm (vitamin, khoáng chất,
thuốc) (Crook et al. 1999). Như được xếp loại tại thông báo thống kê của Trung Quốc, thức ăn hỗn
hơn là một loại hỗn hợp dinh dưỡng toàn phần của các thành phần, thức ăn cô đặc bao gồm nguồn
đạm và các chất phụ them được trộn lẫn sẵn, chất trộn lẫn sẵn bao gồm các chất phụ them kết hợp với
một chất rắn ăn được để làm cho chúng dễ dàng có thể được trộn đều (Crook et al. 1999).
7
Tư vấn SciEcons
các thức ăn hỗn hợp bán sẵn trong khẩu phần ăn, vào khoảng 20% (Fabiosa 2005). Các nhà
sản xuất lớn vơới hơn 500 con có một nửa khẩu phần thức ăn là dưới dạng thức ăn hỗn hợp
bán sẵn Fabiosa (2005). Fabiosa (2005) giải thích rằng đối với các cơ sở kinh doanh có ít
hơn 100 con lợn , việc tăng quy mô của đàn sẽ tăng tỷ lệ hỗn hợp thức ăn thương mại trong
khẩu phần ăn tuy nhiên do sự tăng lên của việc biến đổi thức ăn, sẽ làm giảm đi lượng thức
ăn trên mỗi con. Vì quy mô tăng lên đối với các cơ sở kinh doanh có hơn 100 con lợn, tựu
chung lại nhu cầu đối với thức ăn thương mại sẽ tăng lên vì một cách tổng quát thì đàn đang
sẵn sàng đạt đầu ra có hiệu quả hợp lý (Fabiosa 2005). Xu hướng thực tế thu được từ việc
tổng hợp dữ liệu về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi đã chỉ ra rằng việc sử dụng thức ăn hỗn
hợp trên một đơn vị thịt đầu ra đã tăng lên trung bình 7% hang năm trong vòng một thập kỷ
qua (Fabiosa 2005). Điều này được minh chứng thêm bởi tỷ trọng đang tăng lên của việc tiêu
thụ thức ăn chăn nuôi là ngô như một thức ăn hỗn hợp hơn là một loại hạt thô (Fabiosa
2005).
Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, đất nước này đã không ngừng nhập khẩu
thức ăn chăn nuôi để duy trì sự tăng trưởng nhanh của ngành nuôi lợn và gia cầm (Steinfeld
và Chilonda 2006). Việc chăn nuôi cũng như là hoạt động nhập khẩu đã tăng lên với tổng
lượng thức ăn được nhập khẩu tăng lên 0.4 tỷ tấn trong 10 năm kể từ năm 200, làm dấy lên
sự lo sợ rằng sự mở rộng của ngành chăn nuôi Trung Quốc có thể dẫn đến sự tăng đột biến
về giá và sự thiếu hụt trên phạm vi toàn cầu về ngũ cốc (Steinfeld và Chilonda 2006). Trung
Quốc trên thực tế vẫn là nhà nhập khẩu thực phẩm, tuy nhiên điều này đang giảm dần, giảm
42% trong thập kỷ qua (Steinfeld và Chilonda 2006). Tại một số nước (ví dụ như các doanh
nghiệp nuôi gia cầm ở Thái Lan), có một sự phụ thuộc rất lớn và ngày càng tăng vào bột đậu
nành và bột cá với những lo ngại ngày càng tăng lên về sự tăng lên của chi phí của các đầu
vào được nhập khẩu này (FAO 2004). Hậu quả là trong số những hộ gia đình chuyên môn
hoá và các nhà sản xuất lợn với quy mô lớn, các loại chi phí của thức ăn chăn nuôi, ví dụ ở
Trung Quốc là cao hơn ở Mỹ (Fabiosa 2005). Tuy nhiên, mọi bất lợi thế về chi phí mà các
nhà chăn nuôi lợn Trung Quốc có trong chi phí thức ăn chăn nuôi là nhiều hơn là sự bù đắp
được mang lại từ chi phí thấp của họ trong các thành phần còn lại như là chi phí của các nhà
chăn nuôi lợn và nhân công lao động (Fabiosa 2005). Tuy nhiên, tại rất nhiều nước đang phát
triển (ví dụ tại Ấn Độ), các cố gắng đang được thực hiện để tận dụng các nguồn nguyên liệu
thức ăn gia súc phong phú tại địa phương, đặc biệt là các nguyên liệu có protein (FAO
2004).
Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp sẽ bị hạn chế về việc sử dụng một số loại thức ăn (chẳng
hạn như là phế liệu của nhà hàng gia đình, (phổ biến ở rất nhiều nước đang phát triển) do
những khó khăn trong việc xuất khẩu các sản phẩm từ các động vật được nuôi bằng các thức
ăn này (Zhou 2004). Zhou (2004) dự báo rằng việc chăn nuôi động vật tại các nước đang
phát triển sẽ trở nên tập trung hơn vì các nông dân từ bỏ cách chăn nuôi truyền thống với quy
mô nhỏ do chi phí cơ hội cao đi cùng với nó và do đó nhu cầu đối với các loại ngũ cốc để
chăn nuôi sẽ tăng lên nhiều hơn 2 lần, tăng từ 222 triệu tấn vào năm 1997/1998 tới 573 triệu
tấn vào năm 2003. Điều này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về các loại ngũ cốc tại các nước đang
phát triển ở mức từ 190 đến 265 triệu tấn vào năm 2015 và 2030 một cách tương ứng (Zhou
2004).
Le (2007) báo cáo rằng các nhà sản xuất ở Việt Nam đang phải đối mặt với sự tăng lên về
giá cả của thức ăn chăn nuôi, chủ yếu là do việc nhập khẩu 1/3 tổng nhu cầu. Bàn luận trong
Le (2007) tập trung vào sự tưới nước đang tăng lên và do đó làm tăng việc sản xuất ngô từ
khoảng 3,5 tấn/ha/năm lên 11 tấn/ha/năm (như con số có thể đạt được ở Mỹ) và sự phát triển
8
Tư vấn SciEcons
của ngành thuỷ sản. Trong năm qua, giá của thức ăn cho gia cầm đã tăng từ 27.500 VNĐ lên
33.000 VNĐ/túi 25kg và túi thức ăn 25 kg của lợn tăng từ 40.000 VNĐ lên 50.000 VNĐ/túi
(Le 2007).
Mục này đã đưa ra bằng chứng chứng minh rằng việc sản xuất thịt và tự tiêu thụ đặc biệt là
tại các nước đang phát triển tại Châu Á đang tăng lên. Do đó những nhu cầu về thức ăn chăn
nuôi cũng đang tăng lên tại vùng này. Có được những hiểu biết về chăn nuôi rồi sẽ tập trung
vào mục tiếp theo.
4. Ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu
Nhu cầu của toàn cầu đối với thức ăn chăn nuôi sẽ tăng và phụ thuộc vào tình hình kinh tế
của một quốc gia, các nguồn lực, những quy định về kiểm dịch, sự bùng phát bệnh tật và sự
phát triển của những ngành mới, điều này sẽ là khác nhau ở các vùng khác nhau. Có một số
lượng lớn dữ liệu có sẵn về ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu và để nghiên cứu sâu vào từng
chủ đề này thì phụ thuộc vào phạm vi của nghiên cứu. Tuy nhiên, một nghiên cứu tổng thể
về ngành thức ăn chăn nuôi cùng mới những chi tiết đặc trưng tập trung vào Việt Nam,
Trung Quốc, Thái Lan và sẽ được đề cập trong phần tới.
4.1.
Toàn cảnh về ngành thức ăn chăn nuôi
Theo báo cáo của FAO (2004), khoảng 1.000 triệu tấn thức ăn cho động vật được sản xuất
mỗi năm trên pham vi toàn cầu, bao gồm 600 triệu tấn thức ăn hỗn hợp (FAO 2004). Như
năm 2004, hơn 80% số thức ăn này đã được sản xuất bởi 3.800 trạm nghiền thức ăn chăn
nuôi, và 60% của tổng thức ăn chăn nuôi toàn thế giới là từ 10 quốc gia (FAO 2004). Như
được thảo luận tại mục 10.1 dưới đây, sự cạnh tranh từ những ngành nhiên liệu sinh học đối
với ngũ cốc cũng có thể tác động đến lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.
Thêm vào đó, giá của thức ăn chăn nuôi sẽ phụ thuộc vào sự tăng lên của sản xuất để bắt kịp
nhu cầu. Brazil đã chiếm lợi thế ngày càng tăng vì có chi phí sản xuất thức ăn thấp cho
ngành chăn nuôi của mình và sẵn sàng tiếp tục là một nhà sản xuất quan trọng của ngành
thực phẩm (Steinfeld và Chilonda 2006). Năm 2003, Brazil là nhà sản xuất thực phẩm lớn
thứ 2 thế giới và cũng là nhà xuất khẩu đậu nành và bột đậu nành (NFPC 2003). Brazil cũng
là nhà sản xuất ngô lớn thứ 3 thế giới và đứng thứ 6 về kinh ngạch xuất khẩu trên thế giới
(NFPC 2003). Nông nghiệp Brazil, chế biến thức ăn và marketing sản phẩm thức ăn nông
nghiệp đều rất phát triển, được tổ chức tốt và rất cạnh tranh, đặc biệt là trong hoạt động
thương mại quốc tế với sự thành công của ngành qua quá trình hội nhập, thương mại quốc tế
của nước này chiếm 80% tổng sản xuất (NFPC 2003). Ví dụ Công ty Lar Agroindustrial
Cooperative ở nằm ở phía Nam của Brazil khẳng định bản thân trên thị trường trong mặt
hàng đậu nành, dầu và bột xay và các sản phẩm từ ngô, với 2 trạm nghiền thức ăn, một trạm
nghiền sắn, một nhà máy chế biến rau, một đơn vị đóng trứng thương mại và một nhà máy
chăn nuôi gia cầm (lĩnh vực lớn nhất của Công ty) với sở trường về các sản phẩm đã được
nấu chín. Công ty cũng đã xây dựng một trạm nghiền thức ăn giành riêng cho gà giò, là một
phần của chương trình hợp tác cung cấp thông tin về sản phẩm đối với 388 nhà sản xuất
(nằm trong phạm vi 40 km của nhà máy chế biến gia cầm), các doanh nghiệp này nhắm vào
thị trường xuất khẩu (NFPC 2003). Chi phí vận chuyển thấp đối với tất cả các nhà sản xuất
nằm trong phạm vi 40 km từ trạm nghiền thức ăn có hợp tác (NFPC 2003).
9
Tư vấn SciEcons
Trong tương quan với Mỹ, các nước EU và Brazil, ngành chăn nuôi tập trung của Australia
chỉ sử dụng hơn 10 triệu tấn thức ăn chăn nuôi hàng năm với hơn 50% là được sản xuất tại
120 trạm nghiền hoạt động liên kết với các nhà chăn nuôi và cá công ty chế biến thức ăn
chăn nuôi thương mại (Spragg 2004). Do các điều kiện kiểm dịch nghiêm ngặt. rất ít thức ăn
chăn nuôi được nhập khẩu vào Australia và như được gián tiếp đề cập bởi Campbell (2006),
có sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi ở đó.
Sự đầu tư liên tục vào tất cả các nước của các Công ty lớn như Charoen Pokphand (CP) cũng
sẽ là rất quan trọng. E-News (2007) báo cáo rằng CP đang lập kế hoạch xây một trạm nghiền
với công suất 144.000 tấn/năm tại Lào để hỗ trợ cho hoạt động chăn nuôi gia cầm và lợn với
công ty CP tại Lào của mình. Nghề nuôi trồng thuỷ sản đang mở rộng đặc biệt là tại khu vực
các nước Châu Á và điều này sẽ dẫn đến một nhu cầu tăng lên về thức ăn gia súc. CP đang
tăng cường lợi ích của mình tại các sản phẩm thức ăn cho thuỷ sản bằng cách bán các tài sản
của nhà máy sản xuất thức ăn thuỷ sản tại Malaysia và đang tiến hành nhiều dự án nuôi trồng
thuỷ sản tại Trung Quốc và đầu tư vào nghề nuôi cá tại Ấn Độ (E-News 2007).
Tóm lại, Brazil đang trở thành một nước tham gia nhiều vào thị trường thức ăn gia súc thế
giới và ngành chăn nuôi động vật. Có được sự hiểu biết sâu hơn về sự chuyển đổi ở cả 2 lĩnh
vực ở nước này có thể đưa ra những thông tin liên quan cho Việt Nam. Ở một thái cực khác
Australia có một ngành chăn nuôi với quy mô nhỏ với những giới hạn về việc nhập khẩu
thức ăn chăn nuôi. Vấn đề thiếu hụt thức ăn chăn nuôi và giá cao sẽ là những nhân tố tác
động quan trọng trong tương lai đối với ngành chăn nuôi ở đó. Không chỉ quan trọng là có sự
hiểu biết về điều gì đang xảy ra tại các nước khác nhau có liên quan đến việc sản xuất thức
ăn mà điều này cũng hữu dụng để biết đâu là một trong những lĩnh vực mà các công ty lớn
về thức ăn chăn nuôi đang lên kế hoạch tham gia và điều này sẽ được bàn đến nhiều hơn ở
dưới đây.
4.2.
Việt Nam và sản xuất thức ăn chăn nuôi
Theo McCarty (2006), Việt Nam không có sự mất cân bằng đặc biệt về chính trị và kinh tế
và tính hợp pháp của nhà nước một đảng duy đang duy trì sức mạnh, dẫn tới tỷ lệ tăng cao
của tăng trưởng kinh tế với những cố gắng đề ra để giải quyết những bất công bằng đang
tăng (dân chủ cơ sở, chống tham nhũng, dân tộc thiểu số, phân quyền). Lời dự đoán an toàn
là chậm nhất là tới năm 2010 sẽ có sự tăng trưởng của GDP là 7%, nhiều hơn hoặc thấp hơn
2% do sự thay đổi của các biến ngoại sinh (McCarty 2006).
Từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới vào năm 1986, đã có sự tăng trưởng ấn tượng về kinh tế tại
Việt Nam, đặc biệt là trong nông nghiệp Livingstone 2000). Tình trạng của ngành nông
nghiệp đã thay đổi một cách chóng mặt với sự khoán ruộng đất trong nông nghiệp theo Nghị
Quyết số 10 năm 1988 của Đảng, điều này đã mang lại một sự giảm đói nghèo tuyệt đối một
cách đáng kể nhưng không đều trên tất cả các vùng của đất nước (Livingstone 2000).
Số lượng lợn đã tăng lên và đặc biệt phổ biến ở Đồng bằng Sông Hồng, Khu Đông Bắc, Khu
duyên hải Bắc Trung Bộ, và Đồng bằng Sông Mekông (Hall et al. 2006). Vào năm 2004,
gia cầm là nổi bật tại Đồng bằng Sông Hồng, tiếp sau là Khu Đông Bắc và Khu
duyên hải Bắc Trung Bộ (Hall et al. 2006). Sau thời gian bùng nổ dịch cúm gia cầm,
hơn 15% đàn gia cầm của cả nước đã bị loại. Mặc dù McCarty (2006) đã gợi ý rằng các
10
Tư vấn SciEcons
chi phí kinh tế của bệnh dịch vì thế đã bị hạn chế tương đối, chúng có thể tăng lên đáng kể
với các chi phí kinh tế trực tiếp kết hợp với sự thiệt hại về đàn gia cầm và có nhiều tác động
gián tiếp lan rộng ra các ngành khác như là buôn bán gia cầm, nghiền thức ăn, các trang trại
chăn nuôi và cuộc sống. Những thay đổi về cơ cấu tiếp tục vì những người nông dân hoặc là
tái tăng đàn dưới những điều kiện với của sản xuất hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác (Hall
et al. 2006).
Từ khi có sự ra đời của Luật đầu tư mới năm 1994, đầu tư vào ngành chăn nuôi đã tăng lên
chủ yếu là từ đầu tư của khu vực tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) (IFPRI 2001). Do
máy móc và thiết bị lạc hậu, cũng như là các vấn đề về quản lý, Livingstone (2000) đã nghi
nhận rằng vào năm 1994, các trạm nghiền vỏ khô thuộc sở hữu nhà nước đã hoạt động ở
mức 20% công suất tuy nhiên sự tăng lên của các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ,
được xuất phát từ sự xuất hiện của các nhà doanh nghiệp, đã nhìn thấy sự xuất hiện của các
máy móc chế biến quy mô nhỏ. Vào năm 1994, lượng tiêu thụ hang năm chỉ là 154.000 tấn,
với thức ăn thưong mại chiếm khoảng 25 % của tổng lượng thức ăn đậm đặc tiêu thụ, và
0.6% tổng lượng thức ăn và nguyên liệu thô được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi (IFPRI
2001).
Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi đã tăng lên với tỷ lệ là 23% trong thời gian từ năm 1988 đến
1998 và tỷ lệ của việc tiêu thụ thức ăn thương mại đã tăng lên từ khoảng 1 đến 27% (IFPRI
2001). Đến năm 1999, việc sản xuất thương mại thức ăn chăn nuôi tại miền Nam Việt Nam
là khoảng 1.7 triệu tấn, với 10 trạm nghiền lớn nhất, trong đó 50% là thuộc sở hữu bởi khu
vực tư nhân ở địa phương, sản xuất gần 81% thức ăn chăn nuôi và việc sản xuất bởi các trạm
thuộc nhà nước là không đáng kể (IFPRI 2001).
Theo Tisdell và Wilson (2001), vào năm 2001, 2.6 triệu tấn thức ăn công thức giành cho vật
nuôi đã được cung cấp trực tiếp bởi các nhà chăn nuôi Việt Nam và 2.4 triệu tấn bởi các nhà
nghiền thức ăn thương mại (Bảng 4).
Bảng 4 Các nguồn của thức ăn chăn nuôi đã được công thức hoá giành cho chăn nuôi tại
Việt Nam năm 2001.
Phần tăm
Khối luợng (Mt)
Trực tiếp sản xuất bởi các nhà chăn nuôi
2.6
52
Các trạm nghiền sở hữu thuộc nước ngoài
1.4
28
Các trạm nghiền thuộc sở hữu nội địa
1.0
20
Tổng cộng
5.0
100
Nguồn: (Tisdell và Wilson. 2001)
Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tháng 5 năm 2004, đã có 196 nhà
sản xuất và trộn thức ăn chăn nuôi đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có 44 trạm nghiền
thức ăn chăn nuôi sản xuất thức ăn chăn nuôi trộn sẵn và 138 đến 152 trạm nghiền thức ăn
chăn nuôi, có 65 trạm nghiền thuộc về Hiệp hội sản xuất thức ăn chăn nuôi (Nguyen 2005).
Tại thời điểm đó, tổng công suất cảu các tạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam được ước
tính vào khoảng 5.4 triệu tấn với hầu hết các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi nằm ở phía nam
Việt Nam (Nguyen 2005). Các trạm này chiếm gần 43% số lượng tất cả các trạm nghiền trên
đất nước và gần 40% tổng lượng sản xuất thức ăn chăn nuôi (Nguyen 2005). Khu vực đồng
bằng Sông Hồng ở phía Bắc Việt Nam chiếm khoảng 26% số lượng trạm nghiềm và hơn
11
Tư vấn SciEcons
35% lượng sản xuất (Nguyen 2005). Các hãng nghiền thức ăn chăn nuôi chủ chốt là Tập
đoàn CP (Thái Lan); Proconco (Pháp); Cargill (Mỹ); TTC (Đài Loan); New Hope (Trung
Quốc) và Tập đoàn Cheil Jedang (Hàn Quốc) cùng với một số các công ty Việt Nam như là
DABACO (Bắc Ninh), VINA, Thanh Bình, Long Châu (Đồng Nai), VIC (Hải Phòng), Hoàn
Duơng (Hà Nội), NOPICO An Khánh, Trạm nghiền thức ăn gia súc Ngọc Hồi, và AFIMEX
(An Giang) (Nguyen 2005).
Các công ty nước ngoài và các liên doanh thống trị lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
(Bảng 5) với nhà sản xuất lớn nhất là Proconco, một liên doanh giữa Việt Nam và Pháp,
công ty này đã được thành lập vào năm 1991 (Burch và Rickson 2006). Các doanh nghiệp
Việt Nam tham gia vào việc sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng đã tăng lên đáng kể trong vòng
10 năm qua, tuy nhiên công suất của từng hãng thì vẫn còn nhỏ và ở khoảng 1.000 đến 5.000
tấn/năm (Burch và Rickson 2006Ít hơn một nửa thức ăn chăn nuôi được sản xuất ở nội địa là
từ các nguồn thương mại với phần còn lại bao gồm các phế thải gia đình và các nguồn khác,
và chủ yếu được dùng để nuôi lợn (Burch và Rickson 2006). ). Điều quan trọng là nhận ra
rằng thị phần trên được tính toán như là thị phần của lĩnh vực thương mại (Burch và Rickson
2006).
Bảng 5 Các hãng nghiền thức ăn gia súc đang thống trị sản xuất tại Việt Nam năm 2006
Công ty
Công suất (tấn/năm)
Proconco (Liên doanh Pháp Việt)
Cargill (Mỹ)
CP Group (Thái Lan)
Japfa Comfeed (Indonesia)
CR4=
600,000
376,000
366,000
150,000 (ước tính)
Thị phần
(%)
15.5
9.7
9.3
5.0
39.5
Nguồn: (Burch và Rickson 2006)
Burch và Rickson (2006) đã nhận thấy rằng trong khi tất cả các dữ liệu trên là đáng tin cậy
vào thời điểm viết nghiên cứu, cần phải có sự khuyến cáo bởi vì số liệu thống kê về thức ăn
chăn nuôi là đại diện cho công suất lắp đặt, trong khi thị phần của công ty được tính toán dựa
trên dữ liệu USDA đối với các mức sản xuất hàng năm. Đó không phải là vấn đề khi mà tất
cả các công ty đều trải qua các điều kiện thị trường giống nhau, và tất cả đều hoạt động tại
các mức tận dụng công suất giống nhau tuy nhiên thị phần lại thay đổi theo thời giai vì các
công ty tiến hành những đầu tư mới (Burch và Rickson 2006).
Hiện nay, Việt Nam đang sản xuất khoảng 10 triệu mét khối thức ăn gia súc hang năm, với
33% là được sản xuất thương mại và phần còn lại được tự sản xuất tại gia bởi các nông dân
(Tran 2007). Theo Tran (2007), 3 trạm nghiền mới đã được đi vào hoạt động vào năm 2006
với mục tiêu giành một tỷ lệ lớn từ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại gia đình mà hiện
nay nó đang chiến hơn 65% thị trường thức ăn chăn nuôi. Thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi, không giống như là thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại gia đình bởi các nông dân về lượng các sản phẩm từ rau và đồ ăn thừa, được lấy tứ từ các
chất đã được tiêu chuẩn hoá đây, trong đó ngô là thành phần đầu tiên (Tran 2007).
12
Tư vấn SciEcons
Một cách cục bộ các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ đã mang lại lợi thế về trạng thái
ở gần kề cho các nông dân ở địa phương những người phải chế biến sản phẩm của họ (ví dụ
gạo và đậu nành) cũng như là phải phân tán, những người tiêu dùng ở nông thông người mà
mua bản phẩm (Livingstone 2000). Hall et al. (2006) đã đồng ý rằng cũng có khả năng
giảm các chi phí của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi với việc sử dụng ngày càng
tăng lên những trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở địa phương với quy mô nhỏ bằng
việc tạo ra sự tiếp cận ở địa phương tới thức ăn chăn nuôi với chất lượng và giá cả ổn
định. Thêm vào đó họ đã bảo vệ những hiểu biết ngày càng tăng lên về quản lý thức
ăn chăn nuôi và giảm thực phẩm chất lượng thấm và ghèo dinh dưỡng có sẵn ở địa
phương (ví dụ một số nông dân nuôi lợn với quy mô nhỏ chỉ sử dụng thức ăn chăn
nuôi là đồ thải trong gia đình) và do đó mà làm tăng tính cạnh tranh trong ngành
chăn nuôi. Livingstone (2000) gợi ý rằng có một cơ hội lớn cho việc sự hiện đại hoá ngành
chế biến thông qua sự phát triển của chế biến được tiến hành bởi doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Một lợi thế khác của các doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ là chúng có thể có mặt ở địa
phương, với doanh nghiệp chỉ là một góc cửa hàng, sự kết hợp của các hoạt động: xay gạo,
trồng đậu nành, nghiền sắn, bóc vỏ lạc, bóc vỏ cà phê và thức ăn gia súc (Livingstone 2000).
Tuy nhiên, Livingstone (2000) báo cáo rằng tín dụng có thể là một trở ngại lớn đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).
IFPRI (2001) khuyến cáo rằng các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương có thể là quá nhỏ để
có thể cạnh tranh trong thời gian dài bởi vì các doanh nghiệp này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
trên thị trường thức ăn chăn nuôi cả nước khi so sánh với các trạm nghiền thuộc sở hữu nước
ngoài. Sự khác biệt về quy mô của các trạm nghiền nước ngoài và địa phương có thể được
giải thích bằng sự thiếu tín dụng đối với việc mở rộng và xây dựng các trạm nghiền với các
chi phí xây dựng là rất lớn khi phải tự bỏ vốn đối với các trạm nghiền tư nhân ở địa phương
(IFPRI 2001). Kết quả là, tính sẵn có của vốn bị giảm cùng với dự thiếu cách tiếp cận với tín
dụng đã thúc ép các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi xây dựng các trạm nghiền bé và
thiếu hiệu quả (IFPRI 2001). Nếu như ngành thức ăn chăn nuôi tư nhân ở địa phương có tính
cạnh tranh với các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoại và thức ăn chăn nuôi được nhập
khẩu trong thời gian dài thì cần phải kết hợp lại để làm tăng thị phần của nó trên thị trường
thức ăn chăn nuôi ở địa phương (IFPRI 2001).
Thức ăn chăn nuôi được sản xuất bởi các trạm nghiền nước ngoài, tư nhân và nhà nước khác
nhau về nhiều mặt bao gồm loại, chất lượng, giá sản phẩm (IFPRI 2001). Các trạm nghiền
nước ngoài và các trạm nghiền lớn mới được xây dựng nhắm đích sản xuất và bán thức ăn
đậm đặc, trong khi đó phần lớn các trạm nghiền tư nhân ở địa phương và thuộc sở hữu nhà
nước thường sản xuất thức ăn toàn phần là chính (IFPRI 2001). Thức ăn gia súc được bán
bởi các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài có mức protein cao hơn và gía bán cao hơn so
với thức ăn gia súc cùng loại được sản xuất bởi các trạm nghiền tư nhân ở địa phương
(IFPRI 2001). Kết hợp với tỷ lệ tận dụng công xuất thông thường cao hơn thông, có vẻ như
là các trạm nghiền tư nhân ở địa phương phần lớn là nhắm đích vào phần thấp hơn còn lại
của thị trường bằng cách bán một lượng lớn hơn thức ăn chăn nuôi với chất lượng thấp hơn
và rẻ hơn cho các nhà chăn nuôi (IFPRI 2001). Trong khi chiến lược này có thể là phù hợp
nhất đối với các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở thời điểm đó, các điều kiện thị trường được
đưa ra, vì nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi chất lượng cao tăng, các máy xử lý thức ăn chăn
nuôi của các tư nhân ở địa phương tính toán rủi ro của việc hoặc là nhắm đích một thị trường
ngách nhỏ, đang bị thu hẹp đối với thức ăn chăn nuôi có giá rẻ hơn và chất lượng thấp hơn,
13
Tư vấn SciEcons
hoặc là họ sẽ cần tăng một cách ổn định đầu tư của mình để thành công rực rỡ với các nhà
sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô lớn (IFPRI 2001).
Trong khi chất lượng, cung và cầu thức ăn chăn nuôi thương mại đều đang tăng và giá cả lại
đang giảm, ngành này bị tác động bởi một số vấn đề mà các vấn đề này đang kìm hãm sự
phát triển của một ngành thức ăn chăn nuôi giàu có, có lãi và đang tác động sự thừa nhận
thức ăn chăn nuôi thương mại của các nhà sản xuất (IFPRI 2001). Giá cả đối với thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam là cao hơn bởi các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là đối với các nguyên
liệu thô giầu protein như là ngô và đậu nành (IFPRI 2001) với với ví dụ Mỹ đang có một lợi
thế về các chi phí của thức ăn chăn nuôi (Hall et al. 2006). Các loại thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam thường đắt hơn so với các nước trong vùng từ 20 đến 25% (Hall et al.
2006). Ví dụ, thức ăn toàn phần giành cho lợn vỗ béo ở Việt Nam thì cao hơn khoảng
28% đối với ở Malaysia trong đầu năm 2000, và thức ăn mới bắt đầu cho gà giò là
khoản 285 đô la Mỹ ở Việt Nam, và khoảng 213 đô la Mỹ ở Malaysia (IFPRI 2001).
Góp phần làm cho chi phí của các nguyên liệu thô giầu protein cao hơn bao gồm các
nhân tố kết hợp với sự sản xuất ở địa phương còn hạn chế, sản lượng thấp, và các
loại thuế nhập khẩu (IFPRI 2001). Thức ăn thương mại ở Việt Nam hoạt động như là một
một thị trường không có người thống trị, với rất ít người tham gia và sở hữu bị thống trị bởi
nước ngoài với nhân công lao động chất lượng tốt hơn và các chi phí đầu tư cao hơn là khu
vực nội địa (Hall et al. 2006). Các trạm nghiền địa phương cung cấp gần 4.6 triệu tấn (40%
tổng nhu cầu), và hơn 60% các nguyên liệu thô của thức ăn chăn nuôi là được nhập khẩu
hang năm (Hall et al. 2006).
Lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nguyên liệu
được nhập khẩu và trong quá khứ việc nhập khảu thức ăn chăn nuôi chủ yếu là protein, với
nhu cầu năng lượng được cung cấp ngay tại địa phương (Tran 2007). Như được bàn bởi
Livingstone (2000), việc đưa ngô vào Việt Nam vào năm 1996 tới các khu vực nghèo đã
chuyển lĩnh vực thức ăn chăn nuôi đang có ý nghĩa rất bình thường ở khu vực này thành một
cơ sở thúc đẩy sự phát triển của chăn nuôi. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc nhập khẩu
thức ăn, đặc biệt là ngô, đã phát triển mạnh mẽ bởi vì nhu cầu đối với việc sản xuất thức ăn
chăn nuôi tiếp tục vượt lên trên việc cung cấp các loại hạt làm thức ăn chăn nuôi ở địa
phương (Tran 2007). Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm 80% tổng lượng tiêu thụ ngô ở
Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu năm 2006 tăng gần 200% so với năm 2005 do nhu cầu
tăng (Tran 2007).
Vào năm 2006, Việt Nam đã trở thành một nước nhập khẩu hàng đầu về ngô từ Thái Lan với
số liệu được báo cáo bởi Hải quan Thái Lan là 125.000 tấn trong tổng số 306.000 tấn ngô
được xuất khẩu từ Thái Lan vào năm 2006 là được nhập vào Việt Nam (Tran 2007). Các
nguồn tin về công nghiệp tại Việt Nam đánh giá rằng con số trên có thể là 300.000 tấn, bởi vì
số liệu của hải quan không tính đến số container được vận chuyển hoặc chuyển tải qua
Campuchia và Lào (Tran 2007). Argentina cũng tăng thị phần của mình từ 141.000 tấn vào
năm 2005 lên 186.000 tấn vào năm 2006. Tuy nhiên Trung Quốc đã giảm 28% từ xuất khẩu
năm 2005 (Tran 2007).
Hall et al. 2006) đã nhận thấy rằng Việt Nam có một bất lợi thế cạnh tranh rất lớn về việc
trồng ngô và đậu nành do các nhân tố như: các điều kiện sinh thái học không thích hợp; cạnh
tranh với các loại cây trồng có giá trị cao; đất đai không phù hợp; và không có đa dạng sinh
14
Tư vấn SciEcons
học. Kết quả là, các nhân tố này dẫn đến giá cả của thức ăn chăn nuôi thay đổi giữa miền
Bắc và miền Nam Việt Nam (Bảng 6). Để cải thiện tình hình này, Hall et al. (2006) kiến
nghị rằng chính sách cần phải kết hợp các yếu tố khác mà có thể tác động đến sự phát triển
của cơ sở hạ tầng (đường xá, giao thông vận tải) tại các khu vực mà xét về mặt kinh tế là
thích hợp hơn đối với trồng ngô và đậu nành để hướng vào thị trường thức ăn gia súc.
Bảng 6 Giá thức ăn chăn nuôi (2006) tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam đối với một vài
nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn nuôi.
Nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn
Cả nước
nuôi
Giá thức ăn cho lợn (VND/kg)
Bắt đầu (1-15 kg)
7724
Tiền trưởng thành (15-30 kg)
4305
Trưởng thành (30-60 kg)
4020
Kết thúc (60- off take)
3723
Lợn nái mang bầu
3847
Lợn nái nuôi con
4168
Miền
Bắc
Miền
Nam
7048
4341
4140
3596
3894
4136
8400
4200
3900
3850
3800
4200
Giá thức ăn cho gà (VND/kg)
Bắt đầu (1-21d)
Trưởng thành (22-41d)
Gà giò (42-50+ d)
Gà đẻ trứng
5123
5038
4855
4215
4993
4717
4717
4784
5530
5460
4813
6200
Giá các loại nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi (VND/kg)
Ngô
2600
Gạo vỡ
3615
Cám gạo
2770
Bánh đậu nành
3880
Các loại đậu nành
6000
2543
3771
2200
4600
4650
2350
3516
2200
5350
6200
Nguồn: (Hall et al. 2006)
Với việc phải cạnh tranh giành đất từ công nghiệp, đất ở, và đất trồng các loại cây có giá trị
cao khác ngoài vật nuôi, câu trả lời là không đơn giản vì việc phân lại vung đất cho các mục
đích sản xuất thức ăn chăn nuôi (Hall et al. 2006). Họ nhận ra rằng giá của thức ăn chăn nuôi
đang giảm theo sự suy giảm của các loại thuế giá trị gia tăng đánh vào thức ăn chăn nuôi
được nhập khẩu. Tuy nhiên, Tran (2007) ghi nhận rằng các loại thuế thấp này tiếp tục gây áp
lực đối với giá nội địa, và điều này có thể dẫn tới sự tăng trưởng chậm hơn về sản xuất trong
các năm tới. Có thể có sự tăng trưởng tiếp theo của sản lượng địa phương vào các năm tiếp
theo, tuy nhiên cạnh tranh từ ngô được sản xuất tại các nước có ít trở ngại đất đai và với khí
hậu tốt hơn cho việc trồng ngô chắc chắn sẽ có những tác động tiêu cực tới việc trồng ngô
của Việt Nam trong những năm tiếp theo (Tran 2007). Những hạn chế về cơ sở vật chất để
dự trữ và xử lý hạt cũng là các nhân tố tác động tới sự tăng trưởng trong tương lai (Tran
2007).
15
Tư vấn SciEcons
4.3.
Việt Nam - Một trường hợp nghiên cứu lĩnh vực
thức ăn chăn nuôi
Trong thời gian đầu Tháng Tám năm 2007, nhiều chuyến đi thực tế đã được tiến hành tại các
khu vực xung quanh Hà Nội tại Việt Nam để tìm hiểu về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi ở đó.
Một trạm nghiền có quy mô lớn thuộc sở hữu nước ngoài và một trạm nghiền nhỏ nội địa đã
được đến thăm cùng với một doanh nghiệp trộn thức ăn chăn nuôi nhỏ và một trang trại nhỏ
nơi sử dụng thức ăn chăn nuôi. Tổng kết dưới đây sẽ cung cấp một cái nhìn về cách các
doanh nghiệp này hoạt động2.
Nhà máy thuộc sở hữu nước ngoài bắt đầu hoạt động vào năm 2002 và thuê 118 lao động.
Họ sản xuất cả thức ăn đậm đặc và thức ăn toàn phần với 75% lượng thức ăn được sản xuất
là giành cho lợn và 25% là cho gia cầm. Họ có 3 hệ thống sản xuất sản xuất thức ăn chăn
nuôi (một là cho gia cầm, một cho lợn con và một cho lợn trưởng thành) và làm việc 2 ca,
mỗi ca từ 8 đến 9 tiếng. Giữa 2 ca họ tắt máy để bảo dưỡng và lau dọn. Sản lượng là 30 đến
40 tấn/năm. Họ sẽ tăng công suất nếu nhu cầu thức ăn chăn nuôi tăng tuy nhiên hiện nay họ
đang sản xuất để đáp ứng nhu cầu. Trong thời gian từ Tháng 8 đến Tháng 12 họ sản xuất
tăng hơn vì nhu cầu là cao hơn. Dự thay đổi nhẹ về nhu cầu trong năm tại Việt Nam là khác
với Trung Quốc. Nhu cầu từ Tháng 8 đến Tháng 11 tại Trung Quốc tăng nhiều do Tết Trung
thu và Quốc Khánh. Họ chỉ bán cho đại lý và không bán trực tiếp cho nông dân và không có
khách hàng tại khu vực miền núi. Họ không có bất kỳ nông dân nào ký hợp đồng. Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hỏi tại sao họ không bán trực tiếp cho nông dân. Gần như
bởi vì là nông dân nghèo và đại lý trả họ tín dụng. Đại lý phải trả cho công ty và điều này thì
tốt hơn là cố gắng thu tiền từ nông dân.
Trạm nghiền thức ăn nội địa bắt đầu sản xuất tại Việt Nam vào năm 1996 như là một công ty
liên kết giữa tư nhân và nhà nước (Nhà nước sở hữu 45%, tư nhân sở hữu 55%) Có 4 công ty
tại Miền Bắc Việt Nam và 2 công ty tại miền Nam Việt Nam và họ có Chứng chỉ về hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Công ty sản xuất thức ăn toàn phần và thức ăn đậm đặc
(đóng túi) và họ cũng có hợp đồng với người căhn nuôi gia cầm và lợn (tất cả nhu cầu thức
ăn chăn nuôi của những người này sẽ được họ cung cấp). Tổng sản lượng thức ăn cho lợn,
gia cầm, cá và gia súc là vào khoảng 250.000 tấn/năm với 95% là được đóng thành dạng
viên. Trong đó, toàn bộ hợp chất khẩu phần ăn chiếm 85% tổng sản lượng với 15% là thức
ăn đậm đặc (nông dân thêm các loại hạt và các thức ăn khác nữa). Thức ăn cũng được cung
cấp cho các đại lý để phân phối tới nông dân. Trong khi bàn luận cần nghi nhớ là một sự
thiếu hụt về đầu vào đang hạn chế sự tăng trưởng của công ty. Ngô được nhập khẩu chủ yếu
từ Trung Quốc nhưng kiến nghị là ngô của Việt Nam có chất lượng tốt hơn và do đó Công ty
sẽ chỉ nhập khẩu ngô khi mà không có ở Việt Nam. Tất cả đậu nành là được nhập khẩu từ
Argentina, Brazil, Mỹ và Ấn Độ. Đầu vào được mua dựa trên giá và chất lượng. Trạm
nghiền thức ăn có đủ khả năng dự trữ trong 8 tháng tuy nhiên nhận ra rằng việc dự trữ đầu
vào cũng có thể là đắt đỏ phụ thuộc vào giá được trả cho họ. Công ty đã tiếp cận một phóng
thí nghiệm trên thực địa để kiểm tra chất lượng của đầu vào và đầu ra (ví dụ là protein, chất
béo, độc tố, nấm, năng lượng và độ ẩm).
Một ví dụ về một doanh nghiệp nhỏ trộn thức ăn gia súc ngay ngoài Hà Nội trộn 100 tấn
thức ăn đậm đặc/tháng và không sản xuất thức ăn toàn phần. Điều này tương đương với 4
đến 5 tấn/ngày và việc sản xuất tăng nếu nhu cầu tăng. Việc kinh doanh gặp một vấn đề là
tìm kiếm đầu vào và không có nhiều không gian để dự trữ nhưng cố gắng mua hàng hoá đầu
vào chất lượng tốt để bảo đảm rằng đầu ra sẽ có chất lượng cao. Các trở ngại bao gồm việc
2
Chi tiết của các chuyến thăm này được dựa vào sự giải thích của tác giả tài liệu dịch
16
Tư vấn SciEcons
thiếu không gian và chi phí sản xuất đã tăng lên gấp đôi kể từ khi sản xuất bắt đầu 5 năm
trước đây, mặc dù là giá đầu ra không răng. Công ty bán hàng cho đại lý cung cấp hàng ở các
vùng núi sâu xa. Công ty kiểm tra chất lượng bằng việc sử dụng các thí nghiệm và có chuyên
gia kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra. Chi phí là 110.000 VND(6.90 USD)3/thí nghiệm về
protein. Hầu hết các trạm nghiền thức ăn nhỏ phải trả 100.000 VND (6.25 USD) để có được
một thí nghiệm được tiến hành bởi Sở Nông nghiệp cho một năm (mặc dù là người giám đốc
không biết là thí nghiệm này được tiến hành ở đâu). Ví dụ thí nghiệm thể hiện lượng protein
và độ ẩm và kiểm tra xem là nhãn hàng có đúng hay không. Công ty sẽ bị phạt nếu dán nhãn
sai tuy nhiên đó không phải là vấn đề lớn và khách hàng không phát hiện ra. Kết quả là dù
lượng thành phần trong hỗn hợp và không chỉ hỗn hợp đã thay đổi nhưng sẽ là vấn đề vì nếu
lượng protein trong đầu vào thấp thì nó sẽ thấp ở đầu ra. Không có việc tham nhũng đi cùng
với những hình phạt này bởi vì khoản tiền phạt phải được nộp đến sở khác phụ trách vấn đề
này.
Một hộ gia đình với 1.700 con gà đẻ trứng chỉ ở ngay gần Hà Nội là một ví dụ về người mua
thức ăn chăn nuôi. Bàn luận được tập trung xung quanh giá của thức ăn khi mà nó được ghi
nhận là giá đã tưng từ 90.000 VNĐ(5.26USD)/túi 25 kg vào năm 2006 lên 113.000 VNĐ
(7.06 USD)/túi vào năm 2007. Thức ăn chăn nuôi được mua từ nhà sản xuất Dr Nupak (một
công ty của Đài Loan cách Hà Nội khoảng 60 km) bởi vì có một thoả thuận làng sẽ mua thức
ăn chăn nuôi từ nhà cung cấp này, nó rẻ hơn các loại thức ăn khác và chất lượng là chấp
nhận được. Tuy nhiên đã có nhận thức được rằng hang Concord sản xuất thức ăn tốt nhất cho
gà và hang CP sản xuất thức ăn tốt nhất cho lợn nhưng giá thì quá cao.
4.4.
Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi
Trung Quốc là nước sản xuất lợn lớn nhất thế giới (Bảng 3) với các trạm nghiền thứ ăn được
đặt một cách điển hình tại các khu vực chăn nuôi bởi vì việc vận chuyển và cơ sở hạ tầng có
liên quan là rất nghèo nàn (Crook et al. 1999). Den Hartog (2005) đã đưa ra rằng vì Trung
Quốc tiếp tục tăng sản xuất thịt lợn, hơn 50% lượng thịt lợn được sản xuất trên thế giới trong
tương lai là sẽ được sản xuất tại nước này.
Khi Đảng Cộng sản lên nắm quyền tại đại lục năm 1949 thì vào thời điểm này Trung Quốc
không có một ngành thức ăn chăn nuôi hiện đại và cơ khí hoá và sự phát triển đã không thực
sự diễn ra ở lĩnh vực này cho tới giữa những năm 1950 khi mà các nhà lãnh đạo Đảng Cộng
sản tập thể hoá nông nghiệp (Crook et al. 1999). Các chính sách của chính phủ và thiếu sự
khuyến khích đối với các nhà sản xuất đã dẫn đến kết quả là tại các trạm nghiền gạo có quy
mô lớn của họ việc sản xuất cám gạo để làm thức ăn chăn nuôi diễn ra ở mức độ thấp (Crook
et al. 1999). Từ năm 1976 đến 1985, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chuyển chính sách cơ
bản của họ từ phụ thuộc chủ yếu vào kế hoạch trung ương, hạn chế hoạt động ngoại thương
và nhấn mạnh trọng tâm vào khả năng của bản thân sang dựa chủ yếu vào các thị trường, mở
rộng ngoại thương, và sẵn sàng chấp nhận những ý kiến, kỹ thuật, thể chế, và kỹ thuật từ
phần còn lại của thế giới (Crook et al. 1999). Kết quả là, chăn nuôi đã tăng lên và do đó, nhu
cầu đối với thức ăn gia súc được sản xuất cũng tăng lên (Crook et al. 1999).
Thêm vào đó Công xã nhân dân đã được thay thế bằng chính quyền ở các quận, huyện và các
hợp tác xã kinh tế ở làng và nông dân đã được thuê các thửa đất trong thời gian dài, đã được
bảo đảm nhiều hơn cho sự linh hoạt trong việc ra quyết định kinh tế của họ, và đã được
3
Tất cả các quy đổi trong mục này được tính theo tỷ giá 1USD=16.000 VND
17
Tư vấn SciEcons
khuyến khích tối đa hóa thu nhập của mình (Crook et al.1999). Những điều này đang thay
đổi ở tầm trang trại, bên cạnh việc tư nhân hoá hoạt động trồng trọt, đã làm cho các gia đình
ở nông thôn có kiếm được và duy trì lợi nhuận từ việc chăn nuôi (Crook et al.1999). Các hệ
thống marketing cũng đã thay đổi và các thị trường nông thôn và thành thị cũng đã được mở
cửa, tạo cho nông dân một nguồn mua thức ăn chăn nuôi và một lối ra cho việc đưa ra thị
trường các sản phẩm từ động vật (Crook et al. 1999). Việc dỡ bỏ những hàng rào thương mại
và du lịch đã cho phép các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi nhập khẩu những nguyên liệu
chính, kỹ thuật và thiết bị cũng như là các kỹ thuật gia từ Trung Quốc đã được phép đi ra
nước ngoài để học hỏi làm quen với nhữn công nghệ nghiền thức ăn gia súc hiện đại hiện
nay. (Crook et al. 1999) Các hãng nước ngoài cũng được mời kết hợp với các thành phần
kinh tế ở Trung Quốc để thành lập các nhà máy nghiên thức ăn gia súc hiện đại (Crook et al.
1999). Ngành thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc, thực tế không tồn tại vào năm 1975, đã lớn
mạnh trong 2 thập kỷ và trở thành một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới (Crook et
al. 1999). Chính phủ đã giữ một vai trò chủ động, bằng cách ban hành kế hoạch hàng năm và
có tầm xa cho lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, xây dựng và vận hành hang nghìn trạm nghiền
thức ăn của mình, cho phép việc gián đoạn nộp thuế và đầu tư tài chính cho các trạm khác,
và khuyến khích các hang nước ngoài đầu tư vào các liên doanh (Crook et al. 1999). Đầu ra
thức ăn chăn nuôi tăng lên từ gần như là con số không vào năm 1975 lên hơn 66 tỷ tấn vào
năm 1998, đang mở rộng song song với sự tăng nhanh của sản lượng lợn và gia cầm (Crook
et al. 1999).
Vào cuối những năm 80, các cơ quan của Chính phủ đã vận hành hơn 60% số lượng các trạm
nghiền và mặc cho sự tăng lên nhanh chóng của các trạm nghiền tư nhân, vào năm 1997 các
cơ quan này vẫn chỉ sở hữu có 37% các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc (Crook
et al. 1999). Vào cuối những năm 1990, trong phạm vi của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, các trạm nghiền được điều hành ban đầu bởi Vụ Trang trại nhà nước (để cung cấp
cho các trang trại thuộc sở hữu nhà nước), Vụ Thuỷ sản (để cung cấp cho ngành nuôi cá) và
vụ Chăn nuôi với Bộ Thương mại, chuyên môn hoá vào sản xuất thức ăn chăn nuôi hỗn hợp
(Crook et al. 1999). Bộ hoá chất và Văn phòng dược tiến hành các hoạt động về thức ăn chăn
nuôi và Bộ Cơ khí, thường xuyên kết hợp với các thực thể khác, vận hành các trạm nghiền
thức ăn chăn nuôi để nắm được thực tế về hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi phục vụ cho
việc sản xuất các thiết bị nghiền thức ăn chăn nuôi (Crook et al. 1999). Bộ Ngoại thương đã
hợp tác với các hãng nước ngoài để xây dựng các liên doanh nghiền thức ăn chăn nuôi, và
các đơn vị quân đội đã cùng nhau tiến hành chăn nuôi và quản lý các trang trại để cung cấp
thực phẩm cho quân nhân và đến năm 1996 họ đã có 50 trạm nghiền thức ăn (Crook et al.
1999).
Các trạm nghiền theo mô hình hợp tác xã ở vùng ngoại ô và các làng thì thường được gọi là
Các doanh nghiệp làng xã (TVEs), và được sở hữu tập thể bởi các nông dân và được quản lý
trên danh nghĩa bởi các công chức từ Bộ Nông nghiệp (Crook et al. 1999). Trong những năm
80, rất nhiều các Doanh nghiệp làng xã nhỏ, không hiệu quả chống lại các áp lực cạnh tranh,
các giám đốc của các doanh nghiệp mà còn tồn tại được thì đều là những người có năng lực
về tổ chức và sản xuất (Crook et al. 1999).
Tại Trung Quốc, các trạm nghiền thức ăn có thể được phân chia thành 3 loại sở hữu: nhà
nước; tập thể; và tư nhân, tư nhân thì bao gồm các liên doanh của tư nhân và liên doanh của
nhà nước và tập thể, sở hữu đơn lẻ, và các loại sở hữu khác; và sở hữu nước ngoài gồm liên
doanh giữa Trung Quốc và nước ngoài, các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi được đầu tư bởi
18
Tư vấn SciEcons