nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
Quan niệm về
bất động sản và động sản
trong luật dân sự một số nớc
ThS. Phạm Công Lạc *
1.Trong luật dân sự, vật nói riêng và
tài sản nói chung đợc phân chia theo
những căn cứ khác nhau. Cơ sở của các
cách phân loại có thể dựa vào các căn cứ
khác nhau nh tôn giáo, giá trị tài sản,
bản chất của tài sản (tự nhiên, x hội),
chế độ pháp lí của tài sản... bởi quan
niệm về vật, tài sản, ý nghĩa cũng nh giá
trị của nó đối với cá nhân, x hội ở các
thời điểm lịch sử không đồng nhất với
nhau. Trong bài viết này chúng tôi muốn
đề cập cách phân loại tài sản thành động
sản và bất động sản trong luật dân sự một
số nớc.
Từ thời La M cổ đại, quan niệm về
vật (tài sản) và cách phân chia vật có nét
đặc thù riêng mà hiện nay không tồn tại.
Chẳng hạn, nô lệ đợc coi là vật và tơng
ứng với quan niệm này, vật đợc chia
thành công cụ biết nói (nô lệ), công cụ
biết kêu (gia súc), công cụ câm (đồ vật).
Do ảnh hởng của tôn giáo, vật đợc
phân chia thành vật thiêng liêng theo luật
của chúa trời và vật theo luật của con
ngời. Theo quan niệm này, vật theo luật
của chúa trời là những vật phục vụ cho
thợng đế và các mục đích thiêng liêng
bao gồm nhà thờ, các tờng thành, thánh
thất... và không thuộc quyền sở hữu của
ai, con ngời chỉ có thể chiếm hữu, sử
dụng. Vật theo luật của con ngời là
những vật thuộc sở hữu của nhà nớc hay
thuộc sở hữu của t nhân nh đất đai, các
đồ vật thông dụng khác... Ngoài ra, vật có
thể phân chia thành res mancipi và res
36 - Tạp chí luật học
nec mancipi. Vật thuộc res mancipi là
những vật khi chuyển giao quyền sở hữu
cho ngời khác chỉ thực hiện thông qua
việc chuyển giao thông thờng mà không
phải tuân theo thủ tục đặc biệt nào. Vật
thuộc res nec mancipi là những vật mà
khi chuyển giao quyền sở hữu cho ngời
khác phải tuân theo nghi thức trọng thể
trớc toà án, quan chấp chính... (nô lệ,
đất đai...).
Cách phân loại vật (tài sản) đợc xem
là chính thống, quan trọng nhất bắt nguồn
từ cổ luật La M và cho đến nay vẫn đợc
ghi nhận trong các BLDS của nhiều nớc
trên thế giới là cách phân tài sản thành
động sản và bất động sản. Tuy nhiên, tiêu
chí để phân loại cũng nh quan điểm
phân loại có sự khác nhau, dẫn đến những
tài sản nào đợc coi là bất động sản, động
sản cũng khác nhau
Xuất phát từ điều kiện kinh tế, x hội
thời cổ đại, đất đai đợc coi là tài sản có
giá trị nhất trong cuộc sống nói chung và
trong sản xuất nông nghiệp nói riêng bởi
tính ổn định về vị trí địa lí của nó. Cùng
với đất đai, các tài sản khác gắn với đất
đai đ tạo thành t liệu sản xuất quan
trọng nhất trong x hội. Bởi vậy, bất động
sản đợc coi là tài sản có giá trị còn của
di động là thấp hèn (res mobilis, res
vilits). Trong luật La M , bất động sản
không chỉ là đất đai, của cải trong lòng
đất mà còn là tất cả những thứ đợc tạo ra
* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
do sức lao động của ngời khác trên đất
của mình. Bất động sản bao gồm các
công trình xây dựng, mùa màng, cây
trồng... và tất cả những gì liên quan đến
đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật
trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu
thành nên l nh thổ (khoảng không, lòng
đất). Việc phân loại tài sản thành động
sản và bất động sản đợc hình thành từ
thời Principat (năm 27-TCN); việc dịch
chuyển các bất động sản đ có những quy
định riêng nhằm công khai hoá các giao
dịch liên quan đến bất động sản(1).
Việc phân loại tài sản thành động sản
và bất động sản bởi giá trị đặc biệt của
đất đai về kinh tế cũng nh vị trí tự nhiên
của nó. Giá trị đặc biệt quan trọng của
bất động sản đợc xác định bởi các yếu
tố sau:
+ Bất động sản trớc hết là đất đai.
Nó là bộ phận quan trọng nhất của l nh
thổ quốc gia, bởi vậy quyết định về đất
đai phải do cơ quan quyền lực cao nhất
của nhà nớc thực hiện.
+ Việc quy định các chế độ về đất đai
liên quan đến quyền lợi của quốc gia
(phân bố dân c, tổ chức sản xuất, khai
thác tài nguyên...) nên cần thiết phải có
quy chế đặc biệt về bất động sản nói
chung, về đất đai nói riêng.
Pháp luật của các nớc trên thế giới
đều tiếp nhận cách phân loại tài sản có từ
thời cổ đại nh đ nêu ở trên. Tuy quan
niệm chung về động sản và bất động sản
đều có những nét tơng đồng nhng ở các
hệ thống pháp luật khác nhau, vào những
thời điểm khác nhau cũng có những đặc
thù riêng biệt về bất động sản và động
sản.
Điểm tơng đồng trong quan niệm về
bất động sản của các nớc, đó là:
Đất đai và những tài sản có liên quan
đến đất đai, không tách rời với đất, đợc
xác định do vị trí địa lí của mảnh đất
đợc coi là bất động sản do tính chất của
tài sản - bản chất tự nhiên của tài sản
(Điều 517, 518 BLDS Pháp, Điều 86
BLDS Nhật Bản, Điều 130 BLDS Nga,
Điều 94,96 BLDS Đức, Điều 449 BLDS
Bắc Kì; Điều 364, 365 BLDS Sài Gòn
1972...). Tuy nhiên, BLDS Nga ghi nhận
cụ thể: mảnh đất chứ không phải là đất
đai nói chung. Việc ghi nhận này hợp lí
hơn bởi đất đai nói chung là bộ phận của
l nh thổ, không thể là đối tợng của giao
lu dân sự mà đối tợng của giao lu dân
sự chỉ có thể là mảnh đất đợc xác định
bởi diện tích, kích thớc và tại những vị
trí nhất định.
Nếu đất đai trong luật dân sự đợc coi
là bất động sản thì tài sản gắn liền với
đất đai đợc coi là bất động sản lại có
những quan điểm khác biệt trong pháp
luật ở các nớc. Điều 520 BLDS Pháp
quy định: Mùa màng cha gặt, trái cây
cha bứt khỏi cây là bất động sản, nếu đ
bứt ra khỏi cây đợc coi là động sản.
Tơng tự, quy định này cũng đợc thể
hiện ở khoản 8 Điều 449 BLDS Bắc Kì và
Điều 364 BLDS Sài Gòn 1972. Nhng
Điều 86 BLDS Nhật Bản lại quy định
khái quát hơn: Những vật gắn liền với
đất đai. Điều trùng hợp này có thể giải
thích dễ dàng bởi BLDS Bắc Kì, BLDS
Sài Gòn, BLDS Đức, BLDS Nhật Bản
đợc soạn thảo dựa trên cơ sở BLDS
Pháp. Điều 100 BLDS Thái Lan lại quy
định: Bất động sản là đất đai và những
vật gắn liền với đất đai hoặc hợp thành
một thể thống nhất với đất đai, bao gồm
cả những quyền gắn với việc sở hữu đất
đai. BLDS Đức đa ra khái niệm bất
động sản bao gồm đất đai và các tài sản
gắn với đất. Điều 86 BLDS Nhật Bản quy
định giống BLDS Đức mà không đề cập
những động sản đợc coi là bất động sản
vì công dụng.
Tạp chí luật học - 37
nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
BLDS bang California (Hoa Kì) đa
ra khái niệm tơng đối khác biệt: Bất
động sản bao gồm: 1- Đất đai, 2- Tất cả
những gì liên quan đến đất đai, 3-Những
tài sản cùng với đất đai hoặc thuộc đất
đai, 4- Những tài sản khác do pháp luật
quy định.
Việc xác định rõ những gì đợc coi là
bất động sản (theo quy định của BLDS
Pháp, BLDS Bắc Kì, BLDS Sài Gòn) tạo
ra đợc cách hiểu dễ dàng, chính xác, ít
bị giải thích sai lệch. Còn các quy định
theo quy định của BLDS Đức, BLDS Thái
Lan cần phải có sự giải thích chính thức
bởi khái niệm gắn liền với đất đai có
thể đợc hiểu rất khác nhau và cũng có
thể dẫn đến việc giải thích rộng với nghĩa
của thuật ngữ này. BLDS Pháp, BLDS
Bắc Kì, BLDS Sài Gòn còn đa ra và liệt
kê những tài sản đợc coi là bất động sản
bởi mục đích sử dụng (Điều 521, 525,
526 BLDS Pháp; Điều 451, 452 BLDS
Bắc Kì; Điều 367, 368, 369 BLDS Sài
Gòn). Về bản chất tự nhiên, những tài sản
này là các động sản nhng đợc chủ sở
hữu tài sản đặt vào hay gắn với một
bất động sản để sử dụng vào việc khai
thác bất động sản đó nh là bộ phận cấu
thành của bất động sản, những vật phụ để
phục vụ cho vật chính là bất động sản ban
đầu. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng các
quy định này chỉ áp dụng đối với đất
nông nghiệp, nhà ở... mà không đề cập
những loại tài sản khác cũng liên quan
đến đất đai nh nhà xởng, thiết bị máy
móc, hầm mỏ..., BLDS Bắc Kì, BLDS Sài
Gòn đ đề cập những đối tợng này.
Khoản 5 Điều 452 BLDS Bắc Kì quy
định: Máy móc, đồ dùng trong các xởng
công nghệ nh cầu kéo dầu hoặc ép dầu,
nồi máy, nồi cất rợu, thùng chứa rợu
cũng đợc coi là bất động sản vì mục
đích. Điều 386 BLDS Sài Gòn thì quy
định ống dẫn nớc, dẫn hơi, đờng dây
38 - Tạp chí luật học
điện trong căn nhà hay cơ sở là bất động
sản vì công dụng. Điều này cũng có thể
giải thích dễ dàng bởi BLDS Bắc Kì,
BLDS Sài Gòn đợc ban hành sau BLDS
Pháp hơn 100 năm, điều kiện kinh tế, x
hội đ có những tiến bộ đáng kể mà các
nhà làm luật đ nhận thức đợc và phản
ánh trong pháp luật.
Điều 453 BLDS Bắc Kì, Điều 526
BLDS Pháp, Điều 369 BLDS Sài Gòn còn
quy định bất động sản do đối tợng trên
bất động sản và liệt kê cụ thể những
quyền nào đợc gọi là các quyền trên bất
động sản. Tuy nhiên, việc liệt kê này
trong các điều luật kể trên cũng không
đồng nhất. BLDS Pháp liệt kê các quyền
sở hữu, quyền hởng lợi, quyền dùng và
ở, quyền cho thuê dài hạn, quyền địa
dịch, quyền cầm cố, quyền để đơng(2),
quyền kiện đòi lại bất động sản; BLDS
Sài Gòn liệt kê các quyền sở hữu, dụng
ích, quyền c ngụ và hành dụng, quyền
cho thuê trờng kì, quyền thế chấp,
quyền để đơng, quyền địa dịch.
BLDS Cộng hòa liên bang Nga năm
1994 quy định về bất động sản có những
điểm đặc biệt khác so với các BLDS
truyền thống. Điều 130 Bộ luật này quy
định: Vật bất động bao gồm (tài sản bất
động, bất động sản) khoảnh đất, lòng đất,
công trình thuỷ lợi, những gì liên quan
đến đất, nghĩa là những đối tợng mà nếu
dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến vật và
mục đích sử dụng của nó, trong đó bao
gồm rừng, cây lâu năm, nhà ở và các
công trình xây dựng khác.
- Bất động sản còn bao gồm tàu bay,
tàu biển, tàu sông, phơng tiện vũ trụ
phải đăng kí nhà nớc.
- Các bất động sản khác do pháp luật
quy định.
Sự khác biệt trong quan niệm bất
động sản trong pháp luật dân sự Liên
bang Nga so với các bộ dân luật trớc đó
nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
ở chỗ:
- Một mặt, liệt kê một số đối tợng
tơng tự theo cách của các BLDS truyền
thống. Mặt khác, đa ra khái niệm chung
về bất động sản là những đối tợng mà
nếu dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị
của chúng.
Nh vậy, tính bất động (ở tại vị trí
nhất định) là đặc tính chung của bất động
sản. Ngoài ra, theo tính chất tự nhiên,
những vật là động sản không liên quan gì
đến bất động sản nhng cũng đợc coi là
bất động sản nh tàu biển, tàu sông, tàu
bay, phơng tiện vũ trụ. Hơn nữa, những
văn bản pháp luật khác cũng có thể quy
định loại tài sản nào đó là bất động sản.
Cần lu ý rằng pháp luật dân sự Xô
viết trớc đây không phân chia tài sản
thành động sản và bất động sản. Với quan
niệm cho rằng việc phân chia tài sản
thành động sản và bất động sản chỉ căn
cứ thuần túy vào bản chất, đặc tính tự
nhiên của tài sản, không lột tả đợc bản
chất x hội của tài sản (chủ t bản điền
địa, xí nghiệp cũng giống nh chủ sở hữu
tài sản khác). Hệ thống pháp luật dân sự
Xô viết phân chia tài sản thành t liệu sản
xuất và t liệu tiêu dùng(3). Việc phân
chia tài sản thành động sản và bất động
sản đợc quy định trong Luật về sở hữu
của Liên bang Nga năm 1991 (đợc Xô
viết tối cao Liên Xô thông qua ngày
31/5/1991) và sau đó đợc quy định trong
Những cơ sở của pháp luật dân sự Xô
viết năm 1991 và đợc ghi nhận trong
BLDS của Liên bang Nga năm 1994.
Từ việc phân loại tài sản thành động
sản và bất động sản đợc thể hiện trong
luật dân sự của một số nớc có thể đa ra
một số nhận xét sau:
Thứ nhất: Các bất động sản đợc xác
định theo bản chất tự nhiên, theo giá trị
sử dụng và bởi đối tợng trên bất động
sản (BLDS Bắc Kì, BLDS Sài Gòn, BLDS
Pháp).
Thứ hai: Coi đất đai và những tài sản
liên quan đến đất đai là bất động sản
(BLDS Đức, BLDS Nhật Bản, BLDS Thái
Lan).
Thứ ba: Coi đất đai, những gì liên
quan đến đất đai là bất động sản cùng với
sự liệt kê bất động sản và những động sản
mà pháp luật quy định là bất động sản
đồng thời các văn bản pháp luật khác có
thể quy định những tài sản khác là bất
động sản (BLDS Liên bang Nga, BLDS
Việt Nam).
2. Trong các cách phân loại tài sản thì
cách phân loại tài sản thành động sản và
bất động sản đợc coi là quan trọng nhất
và đợc ghi nhận trong luật dân sự của
các nớc. Cách phân loại này đợc xếp
trớc tất cả các cách phân loại khác trong
các BLDS.
Đứng dới các giác độ khác nhau để
xem xét ý nghĩa của việc phân định có
thể nhận thấy:
- Xét về bản chất tự nhiên
Bất động sản là tài sản tĩnh (tự nó hay
bằng sự tác động của ngoại lực hầu nh
không thể thay đổi đợc vị trí) nên việc
quản lí, theo dõi bất động sản trên thực
tế rất dễ thực hiện, cho dù chúng thay đổi
chủ sở hữu. Ngời đang chiếm hữu bất
động sản đợc suy đoán là có quyền đối
với bất động sản đó nhng vì bất động
sản luôn là vật đặc định nên đang bị
ngời khác chiếm hữu bất hợp pháp thì
chủ sở hữu hoặc ngời chiếm hữu hợp
pháp luôn có điều kiện đòi lại tài sản từ
ngời chiếm hữu bất hợp pháp. Ngợc
lại, do bản chất là di, dời đợc cho nên
việc thay đổi ngời chiếm hữu, chủ sở
hữu động sản rất khó kiểm soát. Vì vậy,
để kiện đòi lại tài sản là động sản khó
thực hiện hơn so với việc kiện đòi tài sản
là bất động sản.
Tạp chí luật học - 39
nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
Tuy nhiên, xét về bản chất tự nhiên,
không di, dời đợc chỉ áp dụng đối với
đất đai và các công trình xây dựng nói
chung. Còn đối với các tài sản khác gắn
liền với đất đai, gắn liền với các công
trình xây dựng tuy vẫn đợc coi là bất
động sản nhng khi đ tách ra khỏi bất
động sản ban đầu thì chúng không còn là
bất động sản nữa và quy chế về động sản
đợc áp dụng cho các tài sản này. Mặt
khác, những tài sản là động sản nhng
phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ sở hữu
hoặc ngời chiếm hữu hợp pháp phải
chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu của
mình hoặc họ là ngời đang chiếm hữu
hợp pháp tài sản đó.
Tính ổn định trong việc xác lập quyền
sở hữu bất động sản đợc thể hiện rất rõ
trong Điều 255 BLDS của nớc Cộng hòa
XHCN Việt Nam quy định việc xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu. Đối với
động sản là 10 năm và đối với bất động
sản là 30 năm; Điều 247 quy định quyền
sở hữu đối với vật vô chủ không xác định
đợc chủ sở hữu: Ngời đ phát hiện vật
vô chủ là bất động sản sau 5 năm thuộc
sở hữu Nhà nớc; đối với động sản sau 1
năm thuộc sở hữu của ngời phát hiện
đợc.
Khi dẫn chiếu Điều 2279 BLDS Pháp
về bất động sản, sự chiếm hữu là bằng
khoán (các giấy tờ chứng nhận quyền đối
với tài sản) và với động sản chiếm hữu là
thực tế chiếm hữu, các luật gia Sài Gòn
đều có quan niệm thống nhất coi sự
chiếm hữu đồng nghĩa với sở hữu. Tuy
nhiên, bằng khoán thời đó có lẽ đợc áp
dụng đối với bất động sản mà ít đợc áp
dụng cho động sản. Ngày nay, rất nhiều
động sản cũng có giấy tờ chứng nhận
quyền sở hữu (đăng kí ô tô, tàu,
thuyền...). Bởi vậy khẳng định trên không
còn phù hợp trong x hội hiện đại.
- Xét về giá trị của tài sản
40 - Tạp chí luật học
Theo quan niệm truyền thống có từ
thời La M , bất động sản là tài sản có giá
trị hơn động sản. Điều này có thể lí giải
là vào thời kì đó t liệu sản xuất chủ yếu
và quan trọng là các trang trại và lao
động đợc sử dụng trong các trang trại đó
(nô lệ). Thể hiện rõ nét nhất về giá trị của
bất động sản đợc quy định trong luật về
thừa kế. Trong việc thừa kế, chủ yếu cổ
luật La M quy định về thừa kế bất động
sản. Quan điểm bất động sản có giá trị
hơn động sản tồn tại suốt thời kì phong
kiến đến thời kì t sản và đợc thể hiện
rõ trong BLDS Pháp, sau này BLDS Đức,
BLDS Nhật Bản cũng thể hiện quan điểm
đó. Ngày nay, quan điểm này không còn
phù hợp nữa bởi có rất nhiều động sản có
giá trị, đặc biệt khi thị trờng tài chính
phát triển, các bản quyền sở hữu trí tuệ
ngày càng đóng vai trò quan trọng. Tuy
nhiên, các quy định về bất động sản trong
các bộ luật mới ban hành (BLDS Liên
bang Nga, Việt Nam) vẫn thể hiện quan
điểm bất động sản có giá trị hơn động
sản. Thực ra, khi nói rằng bất động sản có
giá trị hơn động sản hay ngợc lại đều
không chuẩn xác, bởi không có đơn vị
đồng nhất để xác định giá trị của các loại
tài sản đó. Tuy là bất động sản nhng
một cái nhà nhỏ ở vị trí không thuận lợi
có thể không giá trị bằng động sản là một
chiếc ô tô còn mới.
Nh vậy, pháp luật dân sự Việt Nam
thể hiện khá rõ nét quan điểm bất động
sản có giá trị hơn động sản. Các quy chế
về chuyển dịch bất động sản thông
thờng phức tạp hơn chuyển dịch động
sản. Trong quy chế bán đấu giá tài sản
nhà làm luật coi bất động sản tơng tự
nh động sản có giá trị 10 triệu đồng trở
lên (thời hạn thông báo, đăng kí mua tài
sản bán đấu giá, bán đấu giá tài sản phải
đợc công chứng).
Xuất phát từ quan điểm cho rằng bất
nhà nớc & pháp luật nớc ngoài
động sản có giá trị hơn động sản cho nên
theo quan điểm chung của các bộ dân
luật thì bất động sản phải đợc đăng kí.
Đăng kí bất động sản là sự ghi nhận của
nhà nớc đối với chủ thể có quyền đối với
bất động sản. Việc đăng kí có mục đích
bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu đồng
thời thực hiện sự kiểm soát của nhà nớc
đối với bất động sản và sự chuyển dịch
bất động sản. Tuy ngày nay có rất nhiều
loại động sản theo quy định cũng phải
đăng kí quyền sở hữu bởi vai trò, giá trị
của nó đối với x hội. Đó là những tài sản
có giá trị lớn hoặc do đặc tính của chúng
khi sử dụng có thể ảnh hởng đến an toàn
và trật tự công cộng. Nhng việc đăng kí
đợc thực hiện với tất cả bất động sản,
Điều 131 BLDS của Liên bang Nga năm
1994 quy định: Quyền sở hữu và các
quyền khác đối với bất động sản, những
hạn chế các quyền đó cũng nh sự phát
sinh, chuyển dịch hay chấm dứt phải
đợc đăng kí nhà nớc tại cơ quan đăng
kí t pháp.
Tóm lại, tài sản đợc phân loại thành
động sản và bất động sản là cách phân
loại truyền thống có từ thời cổ đại và tồn
tại trong pháp luật của các nớc trên thế
giới hiện nay.
Quan niệm về bất động sản qua các
thời kì và ở các hệ thống pháp luật có
những sự tơng đồng nhng cũng còn có
những khác biệt. Thiên hớng quan niệm
về bất động sản trong hệ thống pháp luật
đợc thay đổi. Từ sự liệt kê thuần tuý
trong các bộ luật truyền thống những gì
đợc coi là bất động sản chuyển sang
việc quy định những dấu hiệu đặc trng
chung của chúng với liệt kê những bất
động sản đặc trng chung thống nhất. Do
giá trị đặc biệt của bất động sản nên các
quy định về bất động sản trong việc
chuyển dịch, phát sinh hay chấm dứt
quyền đối với bất động sản đều đợc ghi
nhận một cách cụ thể. Ngoài ra, do sự
phát triển của khoa học kĩ thuật, kinh tế,
x hội cho nên nhiều tài sản theo truyền
thống là động sản nhng đợc pháp luật
ghi nhận là bất động sản và các quy chế
về bất động sản cũng đợc áp dụng cho
những tài sản đó.
Mặc dù qua các thời kì khác nhau
trong sự phát triển của x hội loài ngời
với các chế độ x hội khác nhau, các kiểu
nhà nớc khác nhau, với những hệ thống
pháp luật khác nhau, cách phân chia này
vẫn tồn tại cho đến ngày nay chứng tỏ nó
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên,
cách nhìn nhận, đánh giá cũng nh ý
nghĩa của nó có nhiều điểm tơng đồng
nhng cũng vẫn còn nhiều điều khác biệt.
Vì vậy, trong điều kiện hiện nay, xem xét
các quan niệm về bất động sản cũng có ý
nghĩa lí luận và thực tiễn trong việc đánh
giá để giải quyết những vấn đề thực tế đặt
ra./.
(1).Xem: I.B. Hoviski và P. Peterski. Luật t pháp La
M . Matxcơva, 1994, tr.148.
(2). Bộ luật dân sự Sài Gòn quy định ba hình thức bảo
đảm là cầm cố, thế chấp và để đơng với nội dung:
- Cầm cố là khế ớc do đấy ngời có nghĩa vụ giao
một động sản cho ngời có quyền để bảo đảm một
món nợ (từ Điều 1350 - 1361);
- Thế chấp bất động sản là giao cho chủ nợ (ngời có
quyền) một bất động sản để bảo đảm một món nợ.
Cho đến khi trả đủ nợ, chủ nợ có quyền giữ bất động
sản làm tin (từ Điều 1362 - 1378);
- Quyền để đơng là vật quyền trên một bất động sản
đợc sung dụng để bảo đảm cho sự thi hành một
nghĩa vụ (từ Điều 1379 - 1403). Tơng tự nh thế
chấp bất động sản nhng bên thế chấp vẫn giữ bất
động sản.
(3).Xem: Mazolina. Luật dân sự thơng mại các nớc
t bản. Matxcơva, 1980, tr.119.
Tạp chí luật học - 41