Tải bản đầy đủ (.pdf) (149 trang)

Thực trạng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại hải dương luận văn ths kinh tế 60 31 01 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 149 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ

------***------

ĐÀO THỊ HỒNG LAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP Ở HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số

: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Xuân Thiên

Hà Nội - 2007

1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất và để
chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn là vấn đề cần thiết. Để đạt được mục
tiêu này, ở mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà có
những con đường và giải pháp riêng. Việt Nam đã và đang thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang ở giai đoạn
toàn cầu hoá. Những thành tựu vượt bậc của khoa học công nghệ và công


nghệ thông tin khiến các quốc gia cần phải tham gia vào các liên kết kinh tế
quốc tế, triệt để khai thác và phát huy lợi thế so sánh của mình. Việt Nam trở
thành thành viên 150 của WTO, nền kinh tế Việt Nam cạnh tranh ngang bằng
với 149 thành viên còn lại của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu. Năm
2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt xấp xỉ 40 tỷ USD và GDP hai
năm liên tiếp đạt trên 8%, cùng với những kết quả ấy: tên tuổi hàng hoá Việt
Nam, doanh nghiệp Việt Nam được nhắc nhiều hơn trên thị trường thế giới,
thu nhập của từng người lao động, của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế
tăng lên, vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 10 tỷ USD. Trong bối cảnh hiện nay,
để đạt được sự tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam đang thực sự đứng
trước những cơ hội và thách thức lớn. Việc nghiên cứu xây dựng những khu
công nghiệp, khu chế xuất nhằm thu hút đầu tư phát triển sản xuất và xuất
khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là rất cần thiết.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng đã khẳng định: “Khuyến khích phát triển các ngành công
nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công
nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút

2


nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao
hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất. Khuyến khích, tạo điều kiện để
các thành phần kinh tế tham gia phát triển mạnh các ngành công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng
theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế và các
công ty xuyên quốc gia. Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước đầu tư
thực hiện một số dự án quan trọng..." [ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X- trang 30]. Việt Nam đã ưu tiên phát triển các khu công nghiệp.

Đây chính là giải pháp tập trung sản xuất, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm
trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tiện lợi trong việc tổ chức quản lý, bảo
vệ tốt môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên, giảm chi phí, hạ giá
thành và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Phát triển khu
công nghiệp có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Nằm trong xu thế chung của đất nước, Tỉnh Hải Dương kể từ sau chín
năm tái lập (1997 - 2006) kinh tế xã hội đã có sự phát triển đáng kể. Hải
Dương có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong tam giác phát triển kinh tế của các
tỉnh phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có nhiều tuyến giao thông
quan trọng đi qua, gần cảng biển và sân bay, gần các trung tâm công nghiệp
và thành phố lớn....Hải Dương có nhiều cơ hội để phát triển nhanh các ngành
công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Xuất phát từ một tỉnh có sản xuất nông
nghiệp chiếm ưu thế, Hải Dương luôn xác định để phát triển kinh tế xã hội
cân đối và bền vững cần phải tập trung vào phát triển công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp. Nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Hải Dương luôn gắn liền
và chịu sự tác động từ chiến lược phát triển của vùng và cả nước. Để chuyển
dịch nhanh cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh,
Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII đã chỉ rõ: “Phát huy mọi nguồn
lực; vượt khó khăn thử thách, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từng

3


bước tăng cường cơ sở kinh tế - xã hội và nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh
tế, đảm bảo các yếu tố phát triển bền vững và có hiệu quả". Ngay từ khi tái
lập tỉnh, Hải Dương đã thấy rõ vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế
địa phương nhằm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp là ngành chủ đạo tạo ra nền tảng cho
sự tăng trưởng nhanh, bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế của
tỉnh, phù hợp với xu thế chung của cả nước, của khu vực và trên thế giới.

Việc phát triển công nghiệp đã tạo ra nguồn thu lớn hàng năm cho ngân sách
tỉnh (chiếm 60 %- 70%), tạo ra động lực và định hướng cho các ngành kinh tế
- xã hội khác phát triển và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Trong thời gian qua, nhờ phát triển các khu công nghiệp mà kinh tế xã hội của
Hải Dương có nhiều chuyển biến tích cực như: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch
vụ, gắn nông nghiệp với công nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
trong GDP, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động địa phương...Tuy
nhiên, việc phát triển các khu công nghiệp cũng nảy sinh nhiều vấn đề như:
phát triển cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng, phân phối quỹ đất, xử lý chất
thải công nghiệp... Nhiều khu công nghiệp ở các địa phương trong cả nước
hoạt động hiệu quả như khu công nghiệp Mê Linh (Vĩnh Phúc), Bắc Thăng
Long (Hà Nội), Việt Nam - Singapore (Bình Dương), Phố Nối (Hưng Yên).
Bên cạnh đó, có nhiều khu công nghiệp được đầu tư lớn nhưng khi đi vào hoạt
động vẫn chưa hiệu quả như khu công nghiệp Nomura (Hải Phòng), Đài Tư (Hà
Nội). Việc nghiên cứu xây dựng và phát triển những khu công nghiệp nhằm thu
hút các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh là rất cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng
Nhận thấy tầm quan trọng của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải
Dương trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tôi đã nghiên

4


cứu đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại Hải
Dương. Việc nghiên cứu nhằm khẳng định vai trò của các khu công nghiệp
đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương, phân tích những điểm
thành công và chưa thành công của Hải Dương trong việc phát triển các khu
công nghiệp và qua đó đề ra các giải pháp cho thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu để xây dựng khu công nghiệp hoạt động hiệu quả là một
vấn đề hấp dẫn để nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu. Trong
đó có một số nghiên cứu như:
- Luận văn Thạc sĩ, Phùng Quốc Chí (2004), Đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Hưng Yên: Thực trạng và giải pháp, Khoa Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà
Nội. Nội dung đề cập đến thực trạng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Hưng Yên, một địa phương nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ ( Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh) và mới tách tỉnh Hải Hưng
thành Hải Dương và Hưng Yên. Trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò
then chốt của các khu công nghiệp trong giải pháp thu hút vốn FDI vào các
địa phương trong giai đoạn hiện nay
GS.TS Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề kinh tế- xã hội Việt
Nam thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Tác giả đưa ra một
cách nhìn tổng quan về vấn đề phát triển nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới. Trong đó có những phân tích rất sâu sắc về vấn đề phát triển khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế với vai trò đầu tàu trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm.
- Aradhna Aggarwal (2004), Export Processing Zones in India: Analysis
of the Export Performance, Icrier. Nội dung cơ bản của nghiên cứu này là
những phân tích về vai trò và tác động của khu công nghiệp và khu chế xuất
đối với hoạt động thương mại và xuất khẩu của Ấn Độ.

5


Ngoài ra còn có nhiều hội thảo, dự án và tác giả nghiên cứu về vấn đề
này như: Ngô Thế Bắc (2001),“Khu công nghiệp - Khu chế xuất ở Việt Nam
hiện nay”, Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 3; Trần Ngọc Hưng (2001), “Hoàn
thiện chính sách thu hút đầu tư phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam”, Tạp
chí Kinh tế, tháng 4; Th.s Phan Tiến Ngọc (2006), " Vai trò của khu công

nghiệp, khu chế xuất với phát triển kinh tế Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu
Kinh tế, số 341; Th.s Đinh Hữu Quý (2006), "Mô hình khu kinh tế đặc biệt
trong điều kiện hội nhập", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 403; PGS. TS
Phương Ngọc Thạch (2006)," Các chính sách tác động không thuận lợi đến
phát triển các khu công nghiệp", Tạp chí Phát triển kinh tế, số 188; TS Đặng
Văn Thắng (2006) " Nâng cao chất lượng quy hoạch khu công nghiệp- Bài
học thực tiễn và những quan điểm định hưóng", Tạp chí Kinh tế và Dự báo,
số 397; Enrique Blanco de Armas & Mustapha Sadni Jallab (2002), A Review
of the Role and Impact of Export processing Zones in World Trade: the Case
of Mexico, University Lumière Lyon....
Tuy nhiên việc nghiên cứu để xây dựng mô hình khu công nghiệp khác
nhau với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính sách đầu tư của
Nhà nước đối với từng địa phương, từng vùng, ở từng giai đoạn là khác nhau
và chưa có nghiên cứu cụ thể về khu công nghiệp tại Hải Dương - Một tỉnh
đồng bằng thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư
vào khu công nghiệp nói chung và các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương
nói riêng.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá lý luận về sự phát triển khu công nghiệp.

6


+ Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả
đầu tư tại các khu công nghiệp nhằm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hải
Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải

Dương và so sánh với một số khu công nghiệp của các tỉnh tiêu biểu
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng các khu công nghiệp ở Hải Dương từ
2003 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, việc nghiên cứu áp dụng theo phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn thông qua
thống kê, phân tích, đối chiếu, và so sánh để tổng hợp và dự báo và từ đó rút
ra những giải pháp tối ưu.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
+ Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng các khu
công nghiệp tại một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, tại Việt Nam nói
chung.
+ Làm rõ thực trạng và những hạn chế trong hoạt động đầu tư tại các khu
công nghiệp tại Hải Dương.
+ Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc phát triển
các khu công nghiệp tại Hải Dương.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khu
công nghiệp.
Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp tại Hải Dương.

7


Chương 3: Những căn cứ và giải pháp phát triển các khu công nghiệp
tại Hải Dương trong những năm tới.

8



CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp
Hình thức đầu tư vào khu công nghiệp còn gọi là khu công nghiệp tập trung
mới xuất hiện ở Việt Nam sau khi Chính phủ cho phép thực hiện đầu tư theo
hình thức khu chế xuất. Tuỳ điều kiện từng nước mà khu công nghiệp có những
nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Hiện nay có hai mô hình phát triển khu
công nghiệp từ đó hình thành hai khái niệm về khu công nghiệp, đó là:
Thứ nhất, khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là sản
xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn
phòng, nhà ở...Khu công nghiệp theo quan điểm này về thực chất là khu hành
chính - kinh tế đặc biệt.
Thứ hai, Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở
đó tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ, không có dân
cư sinh sống.
Tại Việt Nam, theo Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao - Ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ban hành ngày 24/4/1997
“Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có
doanh nghiệp chế xuất”- [ Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao- chương 1- trang 2 ]
Như vậy khu công nghiệp ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa
thứ hai trong đó: Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành


9


lập và hoạt động trong khu công nghiệp gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh
nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp là doanh nghiệp sản
xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp.
Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động trong khu công nghiệp, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ
tầng khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Như vậy, sự hình thành khu công nghiệp tập trung phản ánh bước đi
đúng đắn trong việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nó đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp,
phát triển nhanh một số ngành có lợi thế, hình thành một số ngành mũi nhọn
trong các lĩnh vực chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí công nghiệp điện tử,
công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu xây dựng... Việc hình thành các khu
công nghiệp tập trung tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở công
nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp nông thôn tạo ra nhiều sản phẩm công
nghiệp mới.
1.1.2 Khái niệm về khu chế xuất
Khu chế xuất là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Anh là “Export
Processing Zone - EPZ”. Xung quanh khái niệm về khu chế xuất cho đến nay
các nhà kinh tế học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Tại Việt Nam, khu chế xuất thường được hiểu theo nghĩa hẹp theo đó
khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất
khẩu. Khu chế xuất là khu khép kín, có ranh giới địa lý được xác định trong
quyết định thành lập khu chế xuất nhưng biệt lập với các vùng lãnh thổ ngoài
khu chế xuất bằng một hệ thống tường rào. Khu chế xuất được hưởng một
quy chế quản lý riêng quy định tại Quy chế khu chế xuất.


10


Về cơ bản, khu chế xuất là khu kinh tế tự do, ở đó các xí nghiệp công
nghiệp được tổ chức ra để chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch
vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu. Thông thường, nước chủ nhà đứng ra
xây dựng cơ sở hạ tầng khu chế xuất, xây dựng công trình sản xuất và phục
vụ đời sống ở đây. Sau đó kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài mang vốn, thiết bị,
nguyên vật liệu... từ nước ngoài vào, thuê nhân công của nước chủ nhà, tổ
chức thành lập khu chế xuất, tiến hành sản xuất hàng hoá để bán ra thị trường
thế giới. Các mặt hàng dưới dạng máy móc, thiết bị, nguyên liệu nhập khẩu
vào khu chế xuất và hàng hoá được xuất khẩu ra thị trường thế giới đều được
miễn thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, ở một số khu chế xuất cũng có hoạt
động kinh doanh mua bán lại công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu
trong nội bộ khu chế xuất hoặc giữa các khu chế xuất với nhau hay việc bán
hàng hoá được sản xuất từ khu chế xuất vào thị trường nước chủ nhà. Vì vậy,
khu chế xuất còn được gọi là khu chế biến xuất khẩu, khu mậu dịch tự do
(Malaysia), đặc khu kinh tế (Trung Quốc), khu chế xuất tự do (Hàn Quốc)...
1.1.3 Khái niệm về khu công nghệ cao.
Khu công nghệ cao ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như: Trung tâm
công nghệ, Trung tâm khoa học, Khu phát triển công nghiệp.... Mục đích và ý
nghĩa chung của nó là xung quanh một cơ sở hạt nhân nào đó thành lập những
khu vực, lĩnh vực nhất định với một kết cấu hạ tầng riêng nhằm đảm bảo quá
trình chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất một cách nhanh chóng và hiệu
quả. Các khu công nghệ cao đều có đặc điểm là có sự liên kết chặt chẽ giữa
nghiên cứu khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh ....Việc thành lập khu
công nghệ cao ở bất cứ nước nào cũng nhằm phát triển công nghiệp kỹ thuật
cao, thu hút chất xám để tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học cao hơn hẳn
sản phẩm ở khu công nghiệp hay khu chế xuất, nhằm tạo ra bước đột phá

quan trọng để phát triển công nghệ và công nghiệp trong nước. Chính phủ

11


nước sở tại thường dành nhiều điều kiện ưu đãi để khuyến khích các nhà đầu
tư, các nhà khoa học làm việc, nghiên cứu và ứng dụng tại các khu công nghệ
cao để cho ra đời những sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
Tóm lại, khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ
cao, gồm nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có
liên quan, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được
hưởng một chế độ ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập.
1.1.4. Phân biệt khu công nghiệp với khu chế xuất.
 Điểm giống nhau :
Cả KCN và KCX đều là những địa bàn sản xuất công nghiệp gồm nhiều xí
nghiệp vừa và nhỏ, không có dân cư sinh sống, có ranh giới pháp lý riêng, có
Ban quản lý riêng do Chính phủ thành lập. Về cơ sở hạ tầng, KCN và KCX đều
được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đạt các tiêu chuẩn
quy định để phục vụ trực tiếp cho hoạt động của các doanh nghiệp công
nghiệp.
Về cơ cấu ngành, KCN và KCX thường tập trung vào các ngành truyền
thống mà trong nước có lợi thế so sánh như dệt may, giầy da, chế biến nông lâm - thuỷ hải sản.....và các ngành công nghiệp mới như điện tử, lắp ráp...
 Điểm khác nhau :
KCN có phạm vi hoạt động rộng hơn KCX, nó không chỉ bao gồm các
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và dịch vụ dành cho xuất khẩu mà còn gồm
tất cả các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Các doanh nghiệp 100% vốn trong nước có thể được hoạt động trong
KCN, khác với KCX là phải có liên kết với các công ty có vốn nước ngoài.

Các ưu đãi từ phía Chính phủ cũng được thực hiện đối với các doanh nghiệp

12


trong KCN chú trọng tới việc sản xuất hàng xuất khẩu, do đó những doanh
nghiệp này sẽ được hưởng chế độ ưu đãi như trong KCX và đồng thời được
hưởng song song ưu đãi như trong KCN.
KCX là khu vực thu hút các dự án đầu tư nước ngoài để xuất khẩu. Quan
hệ doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương
giống như quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. KCX
là khu thương mại tự do, bởi vì hàng hoá từ KCX ra nước ngoài và ngược lại
không phải chịu thuế xuất nhập khẩu và ít bị ràng buộc bởi hàng rào phi thuế
quan. Quan hệ giữa các doanh nghiệp KCN với thị trường nội địa là quan hệ
nội thương (trừ doanh nghiệp chế xuất trong KCN được hưởng ưu đãi như
doanh nghiệp trong KCX). KCN không phải là khu thương mại tự do mà là
khu sản xuất tập trung.
Về điều kiện ưu đãi, doanh nghiệp KCX được hưởng mức thuế thu nhập
doanh nghiệp 10% và miễn thuế trong 4 năm đầu đối với doanh nghiệp sản xuất,
nộp 15% và miễn 2 năm đối với doanh nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp KCN nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp 15% đối với doanh nghiệp xuất khẩu dưới 50% sản
phẩm trong 2 năm ; 10% đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên 80% sản phẩm và
trong 2 năm.
Đối với nước sở tại thì KCX có nhiều mặt lợi hơn so với KCN bởi một
số lý do sau đây :
+ Doanh nghiệp chế xuất không được trực tiếp sử dụng thị trường nội địa
nên khó cạnh tranh với sản xuất trong nước.
+ Nguồn ngoại tệ trong nước được bổ sung và tăng lên nhờ hoạt động
của KCX.
+ Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ

trương xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu.

13


Tuy nhiên đối với nhà đầu tư tại KCX lại gặp một số khó khăn. Để có thể
xuất khẩu được 100% sản phẩm thì doanh nghiệp cần phải đạt được đồng thời
nhiều yếu tố như : tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, giá cả hợp lý, phù hợp với
những hàng rào phi thuế quan của nước nhập khẩu, thoả mãn yêu cầu và thị
hiếu của người tiêu dùng nước nhập khẩu, có năng lực cạnh tranh trên thị
trường quốc tế....Do có nhiều khó khăn nên các nhà đầu tư nước ngoài thường
lựa chọn hình thức KCN nhằm tận dụng lợi thế về thị trường nội địa. Vì vậy
việc xây dựng thành công các KCX thường gặp khó khăn hơn KCN. Nhưng
việc một địa phương hay một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động tương
ứng với nó sẽ có hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất do nước ngoài đầu tư
phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước sẽ dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt không
cần thiết trên thị trường nội địa. Để khuyến khích đầu tư vào KCX, Chính phủ
cần rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô theo tinh thần
khuyến khích mạnh hơn, ưu đãi nhiều hơn cho KCX và làm cho nó có đủ sức
hấp dẫn lớn hơn đối với các nhà đầu tư so với KCN. Việc xây dựng cơ sở hạ
tầng của các KCN và KCX là không ít khó khăn nhưng việc kêu gọi các
doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn này còn khó khăn hơn nhiều. Chất lượng của
một KCX hay KCN phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các dự án đầu tư đã
thu hút được.
Như vậy, KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự
khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối
với nền kinh tế. Đối với KCN thường được thành lập ở những vùng mà kinh
tế chưa phát triển, nguồn lao động dư thừa nhưng có một số yếu tố thuận lợi
như : nguồn tài nguyên, vị trí địa lý...KCN được nhận một sự ưu tiên nhất
định từ phía Chính phủ và chính quyền địa phương với một vai trò nhằm thúc

đẩy phát triển kinh tế vùng. KCN bao gồm các doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp nước ngoài. Như vậy so với KCN thì KCX cũng được xác định

14


là KCN nhưng tập trung những doanh nghiệp chuyên sản xuất chế biến các
hàng xuất khẩu, được sự ưu tiên đặc biệt của Chính phủ, KCX có vai trò then
chốt trong việc chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của KCN
1.1.2.1 Đặc điểm của KCN
Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các
nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm, phương
thức xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng nói chung các KCN có đặc điểm chủ yếu
sau:
KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát
triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị,
phân bố dân cư hợp lý.
KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn. KCN cho phép các
doanh nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai nhất định bên trong KCN để
thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ, với nhiều ưu đãi
như thủ tục hành chính, giá thuê đất...
Về tính chất hoạt động, KCN là nơi tập trung và thu hút các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ gắn
liền với hoạt động sản xuất công nghiệp gọi chung là doanh nghiệp KCN.
Theo điều 6 Quy chế KCN, KCX ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP,
doanh nghiệp KCN có thể là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần
kinh tế; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các bên tham gia hợp đồng,
hợp tác kinh doanh. Các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các

lĩnh vực cụ thể sau: Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng;
sản xuất gia công; lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để phục vụ xuất khẩu và
tiêu dùng trong nước; phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ

15


thuật, quy trình công nghệ; nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ để
nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới; cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
đường xá, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải.... Nguồn vốn
xây dựng cơ sở hạ tầng thường do Chính phủ bỏ ra để san lấp mặt bằng, làm
đường giao thông....Trong trường hợp Nhà nước không đủ vốn đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng thì Nhà nước có thể kêu gọi từ các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài và trong nước. Việc xây dựng cơ sở trong KCN thường do một công ty
phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm. Công ty này có thể là doanh nghiệp
trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh
thực hiện. Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu
hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
Về tổ chức quản lý, trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban
quản lý KCN cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
trong KCN. Ngoài Ban quản lý KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có
nhiều Bộ, Ngành như: UBND tỉnh - thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Thương mại, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên môi trường...
Sản phẩm của các doanh nghiệp KCN chủ yếu dành cho thị trường thế
giới và phục vụ xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ. Tuy nhiên cũng có rất nhiều
doanh nghiệp KCN sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ thị trường nội địa.

Các nhà sản xuất trong KCN rất quan tâm đến việc giảm việc nhập khẩu máy
móc, thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, họ rất chú trọng đến việc sản xuất hàng
hoá chất lượng cao với mục đích thay thế hàng nhập khẩu.

16


Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế
thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế
trong KCN đều lấy điều tiết của thị trường làm chính.
KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn tách biệt như
KCX. Các chế độ quản lý hành chính, các quy định trong nội bộ KCN và với
các doanh nghiệp ngoài KCN sẽ rộng rãi hơn. Hoạt động trong KCN sẽ là
hoạt động của các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước với
các điều kiện bình đẳng.
KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và
nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh;
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh và doanh
nghiệp 100% vốn trong nước.
Ra đời cùng với mô hình KCX, KCN cũng đã nhanh chóng thu được
nhiều thành tựu ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những nước đang phát triển.
1.1.2.2 Vai trò của KCN
KCN ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới mở cửa do Đại
hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng. Tháng 9/1991 KCN đầu tiên
được thành lập ở Việt Nam là KCX Tân Thuận (Thành phố Hồ Chí Minh) và
hiện nay trên cả nước có khoảng hơn 230 KCN. Trong 15 năm qua, hoạt động
của các KCN đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát
triển nền kinh tế của đất nước. Đối với những nước đang phát triển như Việt
Nam, việc phát triển KCN tạo tiền đề cho đô thị hoá nông thôn, tạo bước

chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới theo hướng phát triển công nghiệp. KCN
cũng chính là cầu nối kinh tế nước ta với bên ngoài trong giai đoạn hội nhập
kinh tế quốc tế, KCN đóng vai trò tiên phong trong việc chuyển từ nền kinh
tế khép kín sang nền kinh tế mở.

17


 Đối với phát triển vùng lãnh thổ nói chung.
KCN là một công cụ hữu hiệu để thu hút đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư
nước ngoài để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện kế
hoạch phát triển vùng kinh tế của Chính phủ, KCN đồng thời tạo ra sự phân
công lao động theo hướng chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, góp
phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra một hệ thống cơ sở hạ
tầng mới, hiện đại và có giá trị lâu dài ở địa phương. Rất nhiều địa phương
thuần nông nghiệp, đất đai ít có khả năng sinh lợi, sau khi phát triển KCN đã
thu hút nhiều nhà đầu tư, đã đem lại “một bộ mặt mới” cho đời sống kinh tế
xã hội của vùng.
 Đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Phân tích lý luận về tái sản xuất của Mark, lý thuyết “Phân kỳ các giai
đoạn phát triển" của Rostow; lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia (M.
Porter - 1990); chủ nghĩa chiết trung trong hoạt động đầu tư, mô hình SWOT (
Strength, Weak, Opportunity, Threat) là ma trận dùng để tổng hợp các kết quả
phân tích dựa trên việc đánh giá 04 tiêu thức là cơ hội, thách thức, điểm mạnh,
điểm yếu để từ đó tìm ra những chiến lược cụ thể và phù hợp....chúng ta có thể
thấy rằng đầu tư là động lực và yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. KCN là một
trong hình thức thu hút đầu tư rất lớn nên nó cũng là một yếu tố của tăng trưởng.
Thực tế việc phát triển KCN trên thực tế đã gặt hái thành công ở nhiều
nước như: Đài Loan, Thái Lan đã phát triển KCN từ những năm đầu của thập
kỷ 60 và thu hút được những thành tựu to lớn. Đến năm 1991, tại ba KCN của

Đài Loan đã có 238 doanh nghiệp xuất khẩu với tổng số vốn đầu tư hơn 860
triệu USD với hơn 70% là đầu tư trực tiếp nước ngoài, tổng giá trị xuất khẩu
tích luỹ hơn 35 tỷ USD, tạo việc làm cho 90.000 lao động.
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy việc phát triển KCN là nhân tố quan
trọng đối với tăng trưởng kinh tế. KCN là nơi tập trung các xí nghiệp sản

18


xuất, chế biến công nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,
đưa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ.
KCN góp phần xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn, nâng cao vị trí
chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế để bảo đảm tốc độ tăng trưởng bền
vững. Bên cạnh đó, KCN còn phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm thủy - hải sản, hỗ trợ các ngành này và phục vụ xuất khẩu. Về địa lý, KCN đã
phân bố lại các khu vực sản xuất và sinh hoạt, thực hiện đô thị hoá nông thôn,
chuyển dời các cơ sở sản xuất từ nội đô ra ngoại vi, cải tạo môi trường sống
cho dân cư đô thị.
KCN đã thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để mở
mang hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và đạt tới mục tiêu tăng
trưởng chung của nền kinh tế. Giải quyết vấn đề thiếu vốn là một nhân tố cơ
bản của quá trình sản xuất và kinh doanh.
KCN làm cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế
giới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước. KCN chính là một cửa ngõ
khai thông nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới, từ đó
phát triển hoạt động ngoại thương. Hàng hoá từ các KCN cung cấp cho thị
trường nội địa, những hàng hoá này có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập
khẩu, ngăn chặn hàng nhập khẩu từ nước ngoài đồng thời góp phần làm tăng
sản xuất hàng xuất khẩu.
Bài toán kinh tế đặt ra là các quốc gia phải phát huy lợi thế so sánh của
mình về vốn, sức lao động, đất đai, công nghệ.... để sử dụng các nguồn nội

lực để sản xuất có hiệu quả nhất. KCN là một bộ phận cấu thành của kinh tế
trong nước, tạo nên sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài. Được thành lập
trong những điều kiện, tính chất và thời điểm khác nhau nhưng mục tiêu
thành lập KCN gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế của từng quốc gia. Đài
Loan , Hàn Quốc, Malaysia.... thành lập KCN với mục tiêu hàng đầu là xuất

19


khẩu và tạo việc làm, Ấn Độ lại chú trọng vào mục tiêu thu hút vốn đầu tư....
Chúng ta không thể phủ nhận rằng KCN đã tạo ra năng lực sản xuất mới, thu
hút lao động trong nước vào làm việc tại các KCN. KCN chính là công cụ
hữu hiệu về toàn dụng lao động, du nhập kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, học
tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài nhờ đó chúng ta
có thể rút ngắn khoảng cách với bên ngoài và các doanh nghiệp tăng khả năng
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. KCN còn phát triển mối liên kết giữa các
doanh nghiệp bên trong và ngoài KCN thông qua các hợp đồng gia công hay
cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị... Với Việt Nam, việc thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm
cho người lao động đồng thời trình độ của người lao động tăng lên cho phù
hợp với tác phong làm việc công nghiệp, góp phần thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động đầu tư trực
tiếp. Các KCN ở Việt Nam được thành lập chính là biện pháp tích cực để
thực hiện những mục tiêu đó.

20


 Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phát triển KCN là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà

nước ta nhằm xây dựng một mô hình kinh tế mới thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước. Các KCN đã thúc đẩy quá trình này thông
qua việc ứng dụng máy móc thiết bị, công nghệ mới trình độ quản lý hiện đại
vào sản xuất; Tạo ra các yếu tố để liên kết các doanh nghiệp công nghiệp
nước ngoài đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia với công nghiệp trong
nước; Góp phần tích cực vào việc nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu; Tăng
thu ngoại tệ; Thực hiện phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá.
 Đối với phát triển kinh tế xã hội
Mục tiêu phát triển kinh tế về thực chất là nhằm thoả mãn các nhu cầu
về vật chất, tinh thần của con người và xã hội. Mục tiêu phát triển xã hội là
nhằm nâng cao phúc lợi xã hội cho con người. Vai trò của KCN đối với phát
triển kinh tế như đã nêu trên cũng chính là sự tác động đến xã hội. KCN còn
là những “Trung tâm” tạo việc làm, đào tạo và nâng cao tay nghề cho cho lực
lượng lao động xã hội; hình thành các đô thị vệ tinh; thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng và góp phần xoá đói giảm nghèo; phát triển kinh tế
gắn với văn minh, tiến bộ và công bằng xã hội. Như vậy, KCN có tác động
nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như tổ chức lại
cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ , bố trí dân cư, nâng cao mức sống nhân dân,
phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khu vực.
Tóm lại, đối với nước thành lập, KCN có một vai trò vô cùng to lớn
trong việc: Thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài phát triển kinh tế
theo định hướng quy hoạch vùng; Mở rộng hoạt động ngoại thương và hội
nhập kinh tế quốc tế; tạo công ăn việc làm và tăng mức sống; nhập khẩu và
học tập công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý của các công ty

21


tư bản nước ngoài; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh

của nhà đầu tư và sản phẩm nội địa; tăng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ; thực
hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.
 Đối với nhà đầu tư nước ngoài
KCN góp phần làm giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng
các yếu tố sản xuất rẻ ở các nước đang phát triển.
Đầu những năm 60, các nước phát triển đã gặp phải khó khăn về nguồn
lao động trong nước trong khi nguồn lao động chân tay với mức lương thấp
ngày càng khan hiếm và chi phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng. Điều này đã
thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia quyết định chuyển những ngành công
nghiệp có hàm lượng lao động sống cao sang các nước đang phát triển. Thêm
vào đó, giá thuê đất ngày càng cao, các ngành sử dụng nhiều nguyên liệu,
công nghiệp tiêu chuẩn cao như cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện.... tại các
nước tư bản phát triển không đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Chính vì vậy,
việc sản xuất ngay tại các nước tư bản làm tăng chi phí lao động, chi phí vận
chuyển nguyên liệu vật liệu nhập khẩu, tăng giá thành sản phẩm và làm giảm
khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường ra bên ngoài. Các công ty xuyên
quốc gia thường tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến,
lắp ráp như: dệt may, giày da, điện tử điện lạnh, ô tô xe máy, kim khí hoá.... ở
các KCN của các nước đang phát triển.
Khi đầu tư sang các nước đang phát triển, các công ty xuyên quốc gia
có thể tránh được các hàng rào thuế quan, phi thuế quan và các chính sách
bảo hộ mậu dịch và sản xuất công nghiệp trong nước. Đồng thời các công ty
này có thể tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế và các chính sách ưu đãi
khác.
Xu hướng chung của công ty xuyên quốc gia (TNCs) là chuyển các
ngành công nghiệp gây nhiều phế thải ô nhiễm môi trường tạo chi phí xử lý ô

22



nhiễm môi trường cao sang các nước đang phát triển. Đầu tư vào các KCN ở
các nước đang phát triển chính là tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến
lược phát triển lâu dài của công ty tư bản nước ngoài.
 Đối với nhà đầu tư trong nước
KCN đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư được hưởng các chính sách ưu
đãi về đất, vốn, thuế....Đồng thời các nhà đầu tư được hưởng các cung ứng về
cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước, bưu chính viễn thông....), dịch vụ (bảo
hiểm, ngân hàng, an ninh...) tốt, không phải tốn kém các chi phí xử lý môi
trường, có cơ hội sàng lọc lao động có chất lượng, giảm chi phí đào tạo lại lao
động. Các doanh nghiệp trong nước trong KCN có thể tập trung sản xuất, có
điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường sản xuất kinh doanh
có nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài có cơ hội tiếp cận nguồn vốn đầu tư
nước ngoài và công nghệ hiện đại và có thể học hỏi được kỹ năng và kinh
nghiệm quản lý, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh từ nhà đầu tư nước ngoài.
1.1.3. Điều kiện hình thành và phát triển KCN
1.1.3.1. Điều kiện hình thành và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
hình thành KCN.
* Điều kiện hình thành
 Quá trình hình thành các KCN mới, cải tạo mở rộng các KCN cũ
phải tuân thủ những điều kiện sau:
Thứ nhất, dựa trên đường lối của Đảng và Nhà nước, chiến lược phát
triển kinh tế xã hội và yêu cầu phát triển công nghiệp trong tương lai của địa
phương để xây dựng quy hoạch phát triển tổng thể các loại hình KCN trên địa
bàn cho phù hợp với định hướng phát triển và phân bố công nghiệp một cách
hợp lý.
Thứ hai, khi xem xét thành lập các KCN cần xác định nhu cầu thành
lập các KCN và phải có kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài

23



nước đầu tư vào KCN. Thực tế cho thấy, một số KCN đã được thành lập kể cả
các KCN liên doanh với nước ngoài đã xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối
hoàn chỉnh đồng bộ và hiện đại song đang gặp khó khăn trong việc thu hút
đầu tư, dẫn đến việc không đạt được hiệu quả và mục tiêu đề ra. Một trong
những nguyên nhân cơ bản nhất đó là xác định không chính xác sự cần thiết
và nhu cầu thành lập KCN, khả năng kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài vào KCN được coi là điều kiện rất quan trọng trong việc thành lập
KCN.
Thứ ba, xây dựng quy hoạch cụ thể và mặt bằng KCN.
 Đối với KCN mới cần:
+ Xác định diện tích KCN bao gồm khu sản xuất, khu thương mại, khu
làm việc...
+ Xác định phương hướng mặt hàng, sản phẩm chủ yếu trong KCN cho
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế kỹ thuật tương ứng kể cả định
hướng tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm. Việc xác định số lượng các doanh
nghiệp và ngành nghề chủ yếu rất quan trọng.
+ Xác định vai trò và vị trí của KCN trong việc tạo ra năng lực sản xuất
mới ở địa phương, hình thành khu dân cư mới và yêu cầu giải quyết được các
vấn đề phát sinh. Việc hình thành và phát triển KCN phải phù hợp với định
hướng phát triển công nghệ và các ngành mũi nhọn.
+ Xác định nhu cầu lao động, điện, nước, và các khả năng đáp ứng khác
về cơ sở hạ tầng như giao thông liên lạc, xử lý chất thải....
+ Xây dựng sơ đồ mặt bằng KCN: Sơ đồ phân bố các doanh nghiệp
trong KCN sao cho phù hợp và hiệu quả, các công trình công cộng như công
viên, cây xanh, cấp thoát nước...
+ Xác định tiến độ xây dựng cho từng hạng mục công trình bao gồm dự
án khả thi, giấy phép xây dựng và đấu thầu xây dựng, kế hoạch đền bù và giải

24



phóng mặt bằng. Đồng thời, xác định các hạng mục công trình liên quan đến
các hạng mục ngoài hàng rào.
 Đối với KCN cũ:
+ Đánh giá thực trạng của từng KCN để tìm ra những bất hợp lý về thị
trường, công nghệ, hiệu quả sản xuất kinh doanh, môi trường...
+ Xác định những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, những doanh
nghiệp có thể cải tạo, những doanh nghiệp phải di dời ra ngoại vi.
Thứ tư, triển khai xây dựng KCN bao gồm lựa chọn các đối tác xây
dựng có uy tín, triển khai xây dựng theo các hạng mục công trình.
Thứ năm, khuyến khích đầu tư vào KCN thông qua cơ chế hấp dẫn có
lợi thế cạnh tranh so với các tỉnh và thành phố khác.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành KCN

 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý.
KCN phải được xây dựng ở vị trí địa lý thuận lợi, đảm bảo cho việc
giao lưu hàng hoá giữa KCN với thị trường quốc tế và thị trường nội địa. Đây
là một trong những yếu tố cần thiết cho sự thành công của bất cứ KCN nào.
Điều này đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu ra vào các
KCN được nhanh chóng và thuận tiện nhằm đảm bảo chi phí vận tải và tăng
khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra. Các KCN cần được xây dựng ở
gần các khu vực đô thị, gần các trung tâm văn hoá - xã hội và có hệ thống
giao thông thuận lợi.
Ngoài ra, các yếu tố về khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, sông hồ, địa chất...
cũng cần phải lưu ý để tránh gặp khó khăn cho quá trình xây dựng và hoạt
động sau này.

 Môi trường chính trị - xã hội
Nơi có dự kiến xây dựng KCN phải có sự ổn định về chính trị, an ninh

và trật tự xã hội để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ quyền lợi và

25


×