Tải bản đầy đủ (.doc) (113 trang)

Hình tượng tác giả trong quốc âm thi tập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (449.55 KB, 113 trang )

LờI cảm ơn
Luận văn đợc hoàn thành nhờ sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Trơng Xuân Tiếu và các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn trờng Đại học
Vinh. Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn công lao giáo dục của quý thầy - cô giáo.
Ngoài ra sự đồng hành, khích lệ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè là động
lực và niềm cổ vũ để chúng tôi thực hiện đề tài luận văn của mình. Chúng tôi biết
ơn trớc những tình cảm quý báu mà mọi ngời dành cho chúng tôi. Chúng tôi
cũng xin đợc cám ơn khoa Đào tạo Sau đại học và trờng Đai học Vinh đã tạo
điều kiện học tập, nghiên cứu thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập.
Trân trọng cám ơn!
Vinh, ngày 19 tháng 12 năm 2009
Tác giả


2

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Trãi là vị anh hùng dân tộc, là nhà văn hóa lớn và cũng là con
ngời có số phận bi thơng nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông đã để lại một di sản
phong phú về các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hoá, văn học cho nớc
nhà. Đặc biệt, ông là tác giả tập thơ Nôm có giá trị mở đầu nền thơ cổ điển viết
bằng tiếng Việt và đó là một tác phẩm có giá trị mở ra cho ngời đọc thấy một
trái tim đau thơng cao cả, một tâm hồn rất mực giàu có, một tình cảm biết nén
nỗi buồn để lúc nào cũng có thể lạc quan yêu đời của một nhân vật vĩ đại sống
cách đây sáu thế kỉ, một nhân vật tiêu biểu cho sự phục hng toàn diện của trí tuệ
và tình cảm Việt Nam [19, 1484 - 1485].
1.2. Quốc âm thi tập là tập thơ đậm đà phong vị dân tộc, phong vị đồng quê,
với chất thơ giản dị hiền hoà của cảnh vật nơi nội cỏ, làng quê. Tập thơ đề cập
đến thế sự nhân tâm và tâm t hoài bão cá nhân, phản ánh đợc vẻ đẹp tâm hồn
Nguyễn Trãi, lí tởng nhân nghĩa, tình yêu thiên nhiên, con ngời, khát vọng về
một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc cho nhân dân. Tâm hồn trong sáng của


Nguyễn Trãi cũng nh thiên nhiên và cuộc sống của đất nớc sáu thế kỉ trớc đợc
ngng đọng lại trong biết bao câu thơ trong trẻo, sinh động. Nghệ thuật thơ độc
đáo với phần lớn các bài thơ làm theo thể thất ngôn xen lục ngôn, ngôn ngữ đậm
chất dân gian làm nên vẻ đẹp độc đáo, nét riêng cuốn hút của tập thơ. Giá trị của
tập thơ chính là bóng dáng đẹp đẽ của một cốt cách, một tài năng góp phần làm
sáng tỏ khá nhiều vấn đề cơ bản trong thân thế, sự nghiệp, tâm hồn ngời anh
hùng dân tộc, nhà thi hào dân tộc.
1.3. Hình tợng tác giả là phạm trù độc đáo trong tác phẩm văn học, là hạt
nhân của tác giả văn học. Vì vậy đã có nhiều chuyên luận, luận văn, khoá luận
tốt nghiệp nghiên cứu về phơng diện này. Về Nguyễn Trãi đã có tác giả khóa
luận nghiên cứu hình tợng tác giả trong ức Trai thi tập và so sánh hình tợng
Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập và ức Trai thi tập. Nghiên cứu Hình tợng tác
giả trong Quốc âm thi tập, chúng tôi mong muốn góp phần hoàn thiện thêm về
hình tợng tác giả Nguyễn Trãi trong thơ.
1.4. Thơ Nôm Nguyễn Trãi đợc đa vào chơng trình dạy và học trong nhà trờng ở phổ thông và cả bậc đại học. Tuy có nhiều tài liệu giảng dạy và học tập,
nhng các tài liệu cha có sự thống nhất trong cách tiếp cận bài thơ, câu thơ.
Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ngời đọc định hớng cách hiểu trong dạy - học thơ
Nôm Nguyễn Trãi.
2. Lịch sử vấn đề
Hình tợng tác giả là phạm trù của thi pháp học, là một hình tợng đợc sáng
tạo ra trong tác phẩm nh hình tợng nhân vật, nhng theo một nguyên tắc khác


3
hẳn; đó là đợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm
mĩ đối với thế giới nhân vật. Hình tợng tác giả là cái đợc biểu hiện ra trong tác
phẩm một cách đặc biệt. Nhà thơ ngời Đức I.W. Gớt nhận xét: Mỗi nhà văn, bất
kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách
đặc biệt. Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ
và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình. Viện sĩ Nga V.Vinôgrađốp trong rất nhiều

công trình khẳng định hình tợng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách
ngôn ngữ. Vấn đề hình tợng tác giả không chỉ là sự phản ánh tác giả vào tác
phẩm, thể hiện tơng quan giữa con ngời sáng tạo ra văn học và văn học, mà còn
là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể. Hình tợng tác giả là
một hiện tợng của văn học nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tác giả. Nó tồn
tại và phát triển trên cơ sở tác giả cụ thể [50, 110]. Đinh Trọng Lạc cho rằng:
Hình tợng tác giả nó diễn đạt hai khái niệm gắn bó với nhau. Thứ nhất, đó là
ngời sáng tạo ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm, ngời đại diện cho những quan
niệm, t tởng nghệ thuật nhất định thể hiện ra trong tác phẩm. Nhà văn ý thức,
cảm nhận nh thế nào về cuộc đời, về hiện thực đang diễn ra và thái độ trớc hiện
thực đó bằng một giọng điệu nh thế nào, hệ thống ngôn từ đợc dùng nh thế nào
[27, 143]. Hình tợng tác giả đợc biểu hiện trên nhiều yếu tố và cấp độ tác phẩm,
nhng chủ yếu đợc biểu hiện ở: cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t tởng đạo đức, thị hiếu; giọng điệu và ở sự miêu tả, hình dung về mình của tác giả.
Những yếu tố này là dấu hiệu của một phong cách nhà văn.
Hình tợng tác giả là hạt nhân của tác giả văn học, là phạm trù ý thức của tác
giả về xã hội, văn học, bản thân mình đợc thể hiện trong tác phẩm. Hình tợng tác
giả khác với hình tợng nhân vật về nguyên tắc xây dựng. Hình tợng nhân vật đợc
xây dựng theo nguyên tắc h cấu, thì hình tợng tác giả đợc xây dựng theo nguyên
tắc tự biểu hiện. L.Ginzburg cho rằng nhà thơ luôn nghiên cứu về mình, tự giới
thiệu về mình. Trong các thể loại văn học, thơ là thể loại mà hình bóng tác giả
hiện lên rõ nhất. Dù thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, hình bóng của tác giả, thái
độ và nhân cách của tác giả vẫn in bóng trong tác phẩm. Tác giả mang đậm cá
tính sáng tạo, cho phép nhận ra phong cách nhà văn và dĩ nhiên hình tợng tác giả
mang đậm dấu ấn loại hình.
Hình tợng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhng cũng mang đậm cá
tính tác giả khi vai trò cá tính sáng tạo của cái tôi cá nhân đợc ý thức đầy đủ.
Phạm trù hình tợng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách cá nhân,
mà còn giúp ta tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối liên hệ của nó
với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học. D.X. Likhachốp
nhận xét, nếu nh nhà văn hiện đại thờng cá thể hoá cao độ cho nên không còn



4
nhìn thấy một hình tợng tác giả chung cho từng thể loại, thế nhng đó lại là đặc
điểm của tác giả trung đại: mỗi thể loại có một hình tợng tác giả, và một tác giả
sáng tác các thể loại khác nhau sẽ tuân theo các hình tợng tác giả khác nhau.
Nh vậy nói đến hình tợng tác giả là nói đến cái tôi tác giả, cái tôi nghệ
thuật hạt nhân cơ bản tạo nên hình tợng tác giả trong thơ. Thông qua cái tôi
nghệ thuật ấy hình tợng tác giả biểu hiện rõ nét sự tự ý thức về vai trò xã hội, đặc
biệt là vai trò văn học của mình trong tác phẩm. Đồng thời qua đó ta có thể xác
định đợc cá tính sáng tạo cũng nh phong cách cá nhân của tác giả ấy trong diện
mạo chung của một nền văn học.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì cái tôi nhân cách là cơ sở tâm lí để
hình thành hình tợng tác giả và là cơ sở không thể thiếu để có đợc tác phẩm trữ
tình. Do đặc trng từng loại hình nghệ thuật mà cái tôi nghệ thuật bộc lộ trực
tiếp hoặc gián tiếp. Trong tác phẩm tự sự cái tôi nghệ thuật bộc lộ gián tiếp
qua những hình tợng khách quan có thể là ngời trần thuật hay ngời kể chuyện.
Tác phẩm trữ tình nó đợc bộc lộ trực tiếp thông qua cái tôi trữ tình, nhân vật
trữ tình. Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học thì cái tôi nghệ thuật là cơ sở
nghệ thuật của hình tợng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản
nghệ thuật. Ngời kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình. Nhà văn xây dựng một văn
bản đồng thời với việc xây dựng một hình tợng ngời phát ngôn với một giọng
điệu riêng nhất định [16, 125]. Văn học trung đại mang tính quy phạm cao. Các
nhà thơ trung đại a cao nhã, kín đáo, thiên về lối miêu tả và thể hiện gián tiếp
bởi thế sự vắng bóng cái tôi trữ tình cá thể trong thơ là một nguyên tắc thi
pháp, một phong cách thể hiện nghệ thuật. Theo nhận xét của V.Zhirmunxki nhà
thơ trung đại ít có nhu cầu bộc lộ cá tính.Vì thế ta có thể nói hình tợng tác giả
của từng loại thơ. Theo kết luận của TS. Nguyễn Đăng Điệp thì: Do sự thiếu
vắng chủ thể trữ tình, hình tợng tác giả trong thơ trữ tình trung đại đợc giấu kín.
Nhà thơ không phơi lộ toàn bộ cái nhìn, cách cảm, cá tính riêng biệt vì thế yếu tố

giọng điệu cá nhân cha phát triển. Cái nhìn của anh ta là cái nhìn siêu cá thể,
tiếng thơ của anh ta là tiếng nói của một ai giữa trời chứ không phải là tiếng
nói của một cá thể cụ thể [13, 152]. Nhận xét này đợc tác giả lu ý đó là nhìn
một cách tổng quát, cho thấy hình tợng tác giả trong thơ trữ tình trung đại khác
với hình tợng tác giả trong thơ trữ tình hiện đại là đợc giấu kín mà không đợc
bộc lộ, thể hiện rõ rệt. Mặt khác cách thể hiện của chủ thể cũng khác nhau tuỳ
thuộc vào tài năng và bản lĩnh của nhà thơ. ở những nhà thơ tài năng chúng ta
vẫn nhận ra cái riêng độc đáo về hình tợng tác giả. Mặc dù yếu tố cá nhân trong
văn học trung đại còn mờ nhạt và đến giai đoạn cuối của văn học trung đại (thế


5
kỷ XVIII - XIX) mới xuất hiện đậm nét với những tác giả tiêu biểu: Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Tú Xơng Nhng đó là cách nhìn tổng thể còn trong thực
tế làm thơ là để thể hiện cái ngã chỉ có khác là yếu tố ngã trong thơ hiện đại
đậm nét hơn. Điều đáng chú ý là các nhà thơ trung đại có ý thức giấu đi bản ngã.
Về vấn đề này Nguyễn Hữu Sơn đã chỉ ra và phân tích, lí giải: Đã có nhiều ý
kiến cho rằng văn chơng cổ - trung đại là phi ngã, là sự thể hiện con ngời chức
năng phận vị, là sự quẩn quanh với các khuôn thớc tam cơng ngũ thờng,
trung, hiếu, tiết, nghĩa, quân, thần, phu, tử, Thế nhng từ hơn hai ngàn năm
trớc, ngay từ cái nôi của nền văn minh đồng văn đồng chủng Trung Hoa đã có
sự phân định rạch ròi chữ nhân () thì hẳn là con ngời đã có ý thức về cá thể
cá nhân mình lắm rồi. Với toàn bộ loại hình văn học viết, mặc dù phơng thức thể
hiện ở từng thời đại (cổ - trung đại, cận đại và hiện đại) có khác nhau, song đều
chịu một sự chi phối chung: vai trò chủ thể sáng tạo đợc cá thể hoá, tác phẩm do
chính cá thể viết, có thể xác định bản quyền tác phẩm của tác giả này hay của
tác giả khác, Điều này càng trở nên rõ ràng ở các tác gia lớn, các phong cách
lớn - những ngòi bút đã trở thành đại diện hình bóng của thời đại và vơn tới
khám phá chiều sâu bản chất tính ngời - nh chính trờng hợp Nguyễn Trãi [47,
729].
Nghiên cứu hình tợng tác giả trong thơ trung đại dựa vào đặc điểm thi pháp

riêng biệt của loại hình văn học này sẽ nhận ra bản chất và vẻ đẹp của nó. Nh
vậy, hình tợng tác giả trong văn học trung đại nói riêng và trong văn học nói
chung là phạm trù độc đáo. Nhiều nghiên cứu về vấn đề hình tợng tác giả đã đem
lại những kết quả thích đáng, góp phần tìm hiểu sâu, rộng hơn về tác giả và tác
phẩm. Nghiên cứu về hình tợng tác giả Nguyễn Trãi trong thơ Nôm đã đợc xem
xét ở từng góc độ riêng biệt và mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp: tình yêu thiên
nhiên, lòng u quốc ái dân, con ngời cá nhân, t tởng, thái độ Nguyễn Trãi trong
cuộc sốngTuy nhiên những bài viết này là những gợi ý đáng quý, là tiền đề giúp
chúng tôi tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn hình tợng Nguyễn Trãi trong thơ
Nôm. Nghiên cứu về văn chơng Nguyễn Trãi nói chung và thơ Nôm của ông nói
riêng đã có quá trình lịch sử lâu dài với những công trình quy mô và nhiều bài viết
trên các tạp chí. Để có thể thấy rõ việc tìm hiểu hình tợng tác giả trong thơ Nôm đã
đợc chú ý ở mức độ nào, trong phần này chúng tôi sẽ xem xét vấn đề theo hớng
điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Trãi đã gián tiếp nói đến
hình tợng tác giả để có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trên cơ sở tiếp thu thành
tựu của những ngời đi trớc.


6
Bùi Văn Nguyên đã nhận xét trong Thơ quốc âm Nguyễn Trãi: Tuy
Nguyễn Trãi đề cập đến nhiều góc cạnh của cuộc sống nhng t tởng nổi bật trong
tập thơ quốc âm của ông là t tởng Đạo ngời hợp với Đạo trời, tức là t tởng
hài hòa giữa xã hội và thiên nhiên [42, 19].
Nguyễn Huệ Chi khi viết về Nguyễn Trãi trong Từ điển văn học (bộ mới) đã
khẳng định: Và cả hai phơng diện nhân nghĩa và dân cũng sẽ là cơ sở thẩm mĩ
cao nhất của mọi sáng tạo văn học giá trị của Nguyễn Trãi. Tuy nhiên chủ nghĩa
yêu nớc lấy dân làm nền tảng và lấy nhân nghĩa làm phơng hớng vẫn không loại
trừ ở ngòi bút Nguyễn Trãi khả năng thể hiện những tâm trạng cá nhân, những
nỗi thao thức dằn vặt, cái tôi trữ tình. Đó chính là ảnh hởng ngấm ngầm của hệ
t tởng Lão - Trang, của Phật giáo đối với Nguyễn Trãi làm cho cách nhìn sự vật

của nhà nghệ sĩ trong ông trở nên thăng bằng. Có thể nói trong thơ văn Nguyễn
Trãi ít nhiều đã có sự kết hợp giữa mặt miêu tả cái chung, cái lí tởng, miêu tả
những hình tợng rộng lớn có tầm đất nớc và mặt cá thể hóa những cảnh ngộ
riêng, những nỗi buồn riêng của chính mình [19, 1200].
Và Nguyễn Huệ Chi khi viết mục Quốc âm thi tập trong sách này đã nhấn
mạnh: Nguyễn Trãi ngợi ca cảnh vật đất nớc với tấm lòng tin yêu, rộng mở, thiên
nhiên gợi cho ông nhiều thi hứng (...) phản ánh những mặc cảm cô đơn, lòng yêu
sống và sự chống trả âm thầm mà không kém quyết liệt của nhà thơ đối với tình
trạng bị nghi kị, bị bỏ rơi, bị gạt ra khỏi xã hội loài ngời mà triều đình phong kiến
Lê sơ đã dành cho ông. Chủ đề quan trọng bậc nhất trong Quốc âm thi tập: sự giãi
bày những tâm sự thiết tha nhng phải nén kín của nhà thơ (...) xuyên suốt những nỗi
niềm tâm sự ấy có một nét nổi bật làm thành cảm hứng chủ đạo trong thơ ức Trai
đó là tấm lòng yêu thơng gắn bó với con ngời, cuộc đời không lúc nào nguội lạnh, ý
muốn thiết tha giúp nớc và chủ nghĩa trung quân tích cực... tạo nên trong thơ
Nguyễn Trãi một trạng thái thao thức có tính bi kịch [19, 1484].
Đinh Gia Khánh trong bài viết Nguyễn Trãi với tấm lòng đêm ngày cuồn
cuộn nớc triều đông (trích phần cuối) trong sách Thơ văn Nguyễn Trãi đã có ý
kiến nhận xét: Trong thơ chữ Hán cũng nh thơ chữ Nôm chúng ta gặp những bài
thơ ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi cảnh nhàn, ca ngợi mây nớc, trân trọng từng ánh
trăng trong, nâng niu từng bông hoa rụng, tỏ thái độ cảm khái trớc cảnh công
danh đầy khổ nhục, phê phán xã hội quyền quý đầy phản trắc... có nhiều bài thơ
pha ít nhiều cái chán nản của một dật sĩ chán đời mang t tởng xa trần thoát tục
của một vị bồ đề Lão - Trang nhng đừng nghĩ là Nguyễn Trãi đã thực sự trở
thành một ẩn sĩ chỉ biết Say mùi đạo trà ba chén - Tả lòng phiền thơ bốn câu
giữa những bài thơ nhàn dật đó vẫn quặn lên những niềm lo đời, lo nớc rất day
dứt, thiết tha [56, 295].


7
Lê Trí Viễn, Đoàn Thu Vân trong sách Học tập thơ văn Nguyễn Trãi đã

nhận xét: Thơ Nôm Nguyễn Trãi hầu hết là những lời tâm sự chân thành bộc lộ
ra một cách thoải mái, hồn nhiên (...) phát hiện cái đẹp ở những sự vật rất bình
thờng một cách bất ngờ mà lại rất tinh vi [65, 47].
Phạm Thế Ngũ với bài viết trong sách Nguyễn Trãi tác phẩm và lời bình đã
viết: Cái tâm sự canh cánh đây chẳng phải là một chuyện bất mãn tầm thờng về
chức vị, hoạn lộ cá nhân mà là nỗi buồn của một sự nghiệp cha xong, việc quy
điền dù sao cũng là bất đắc dĩ bởi mình còn nhiều khả năng muốn hiến dâng hết
cho việc kiến thiết quốc gia sau buổi đại định nói rộng ra nỗi thấp thỏm lo âu
cho tơng lai của đất nớc, của dân, của ngôi nhà Lê nữa vào tay kẻ tể phụ kém
tài, kém đức chính là cái mối lo cao quý của bậc nho thần trung trực khi ngồi
cao ở miếu đờng thì lo lắng vì dân, khi xa lánh ở giang hồ thì lo lắng vì vua [58,
305 - 306].
Trần Ngọc Vơng trong sách Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn
chung ở đề mục Nhà t tởng và nhà nghệ sĩ trong Quốc âm thi tập đã nêu lên:
Hình nh đến thơ ông, chúng ta gặp một Nguyễn Trãi khác. ở đó, tính chất
quan phơng, tính chất hành chính đã bặt im lì, nhờng chỗ cho một tiếng nói
sâu thẳm cất lên từ đáy lòng và những nhức nhối cân não của Nguyễn Trãi [70,
232] và ông đã khái quát ba luận điểm đáng chú ý về Nguyễn Trãi:
- Nhà t tởng phát ngôn và hành động cho đạo Nho, nhà nghệ sĩ mang nặng
nỗi u thời mẫn thế [70, 237].
- Nhà t tởng của triết học Lão - Trang và ngời nghệ sĩ ca tụng thú thanh
nhàn hòa mình vào tạo vật [70, 244].
- Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn hay là ý nghĩa của bi kịch Nguyễn Trãi
[70, 260].
Phạm Văn Đồng trong bài viết Nguyễn Trãi, ngời anh hùng dân tộc ở sách
Trên đờng tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi đã rất nâng niu trân trọng thơ
văn Nguyễn Trãi và nhận xét: Thơ của Nguyễn Trãi là tâm hồn của Nguyễn
Trãi, trong sáng và đầy sức sống. Có ngời nói thơ của Nguyễn Trãi buồn vì cảnh
đời Nguyễn Trãi buồn. Thơ của Nguyễn Trãi có bài buồn, có câu buồn, vì lẽ gì
chúng ta đều biết nhng cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một ngời yêu đời,

yêu ngời, tâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sông đất nớc tơi vui
[59, 18].


8
Cũng trong sách này, Nguyễn Huệ Chi với bài viết Niềm thao thức lớn
trong thơ Nguyễn Trãi đã nhận xét: Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ta
bắt gặp một cuộc đời khác hẳn, một cuộc đời đạm bạc, cảnh vật dàn trải ra mênh
mông và trong cảnh đất trời phóng khoáng ấy nổi bật lên hình ảnh tiên cốt của
nhà thơ quấn quýt với trăng, gió, thông [59, 143] (...) Tâm hồn Nguyễn Trãi là
sự hài hoà giữa nét lí tởng vơn đến gần tự nhiên, thanh cao và những nét bình thờng của cuộc đời thực. Ông có nhiều hình bóng của một tiên nhân ẩn dật nhng
ngay trong cái tiên cốt, vẫn có cái phần chan chứa tình đời [59, 165] (...) Cái
nhìn của Nguyễn Trãi trớc cảnh vật là cái nhìn lạc quan của một ngời dân Việt
Nam đứng ở đỉnh đầu thế kỉ XV mà nhận thức vai trò của mình đối với lịch sử,
cảm nhận đợc cái vẻ đẹp hùng tráng của đất nớc rộng lớn và càng nhìn sâu vào
quá khứ càng thấm thía hơn trách nhiệm của chính mình [59, 168].
Trần Đình Sử với bài viết Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam từ thế
kỷ XV đến đầu thế kỷ XVIII trong sách Về con ngời cá nhân trong văn học cổ Việt
Nam đã kết luận: Với thơ Nôm Nguyễn Trãi ta bắt gặp một con ngời có ý thức
cao với đức tài, lí tởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng cảm, tự khẳng
định, chọi lại thói phàm tục của ngời đời, không trùng khít hoàn toàn với khuôn
mẫu nào hết. Đó là một phong cách lớn hết sức phong phú [44, 157].
Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam cho
rằng: Nếu Nguyễn Trãi ẩn c toàn tập thì ông cũng đã đánh mất lẽ sống. Đó là
bi kịch của ông, một nhân cách cao thợng nhập thế, biết trớc mọi họa phúc, mọi
mất mát mà không tránh đợc tai họa. Là con ngời trong thơ, Nguyễn Trãi hiện
diện nh một day dứt, một con ngời thao thức khôn nguôi của thời đại. Ông hiện
diện không nhằm khẳng định Nho hay Đạo mà là khẳng định một con ngời
muốn hiến dâng tài năng cho cuộc sống một cách trọn vẹn [50, 217].
Trần Nho Thìn ở mục Sáng tác thơ ca thời cổ và sự thể hiện cái tôi tác giả

trong sách Văn học trung đại Việt Nam dới góc nhìn văn hóa đã chỉ ra cái tôi
của các tác giả trung đại nói chung và nói riêng.
Tập sách Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm tập hợp, chọn lọc các bài
nghiên cứu có giá trị của các tác giả trong và ngoài nớc về thơ văn của Nguyễn
Trãi trong suốt sáu thế kỷ qua. Về mảng thơ Nguyễn Trãi, tiêu biểu có các bài:


9
- Một vài nét về con ngời Nguyễn Trãi qua thơ Nôm - Hoài Thanh khẳng
định: ... Nét tiêu biểu nhất của con ngời Nguyễn Trãi qua thơ, ấy là ý thức trách
nhiệm đối với dân, với nớc. ý thức ấy đã ra đời từ rất sớm, đã lớn mạnh không
ngừng, đã bền bỉ gắn bó với mọi suy nghĩ và hoạt động của ông cho đến ngày tắt
thở [47, 708] (...) Thơ Nguyễn Trãi có những lời đau xót đọng lại rất sâu trong
lòng ta. Ngoài ra phần ta nhớ nhất không phải là những lời thơ buồn nó chỉ nh
những đám mây mù, không sao che lấp đợc cốt cách tráng kiện của con ngời
ông, che lấp đợc tấm lòng tin yêu bền bỉ của ông đối với con ngời, đối với cuộc
sống [47, 710].
- Hồn thơ đa dạng của Nguyễn Trãi - Tế Hanh viết: Trong thơ, Nguyễn
Trãi nói đến thời đại của mình và nói đến cuộc đời riêng của mình đến một độ rất
cao và rất sâu [47, 718] (...) Đọc thơ Nguyễn Trãi khi nói về cái riêng ta thấy ông
nói nhiều đến đau buồn hơn là sớng vui [47, 720].
- Về con ngời cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi - Nguyễn Hữu Sơn nhận xét:
Trong sáng tác của Nguyễn Trãi quả có một bộ phận thơ ca mang đậm tính quy
phạm, khuôn thớc và mờ nhạt dấu ấn cá nhân. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất qua
mảng thơ đề vịnh trong thơ chữ Hán, mảng thơ răn dạy đạo đức, vịnh cảnh, vịnh vật
tùng, cúc, trúc, mai trong thơ Nôm. ở đây hình bóng tác giả chỉ đợc cảm nhận
trong tơng quan với đối tợng diễn tả. Nhng trong phần chủ yếu hơn Nguyễn Trãi thờng đặt mình ở ngôi thứ nhất chủ thể nh: d, kỉ, ngã, ngô, lão tức là các đại từ tơng
ứng trong thơ Nôm: ông, ông này, ta, một ta, nhà ta, bằng ta, ta khen ta, mình,
trách mình, khoe mình... Điều quan trọng hơn, Nguyễn Trãi bộc lộ tình cảm cá nhân
mình và diễn tả tâm trạng con ngời theo nhiều trạng huống, cung bậc và cảnh đời

khác nhau [47, 731] () Nguyễn Trãi là nhà thơ của những phức điệu trữ tình,
những trạng huống cảm xúc đối nghịch. Ông có quan phơng nhng cũng li tâm,
bung toả đến tận cùng gam độ () Nhìn nhận sâu hơn về đời sống tâm linh, dễ
thấy Nguyễn Trãi không chịu bó buộc trong khuôn thớc Nho giáo mà luôn tự mở
rộng, nâng cấp vốn tri thức, thể hiện một cách nhìn cởi mở, dân chủ, đa phơng [47,
734] (...) Chung quy con ngời cá nhân hiện diện trong thơ văn Nguyễn Trãi thuộc
một mẫu hình riêng vừa có ý nghĩa bao quát điển hình vừa bao gồm nhiều kiểu


10
khác nữa. Ông có cả quan phơng, cả nhập thế lẫn li tâm, hớng về tự do tuyệt đối.
Trong ông có cả Nho, cả Phật, cả Đạo, cả h vô viễn vọng và đời thờng trần tục, cả
uyên bác và bình dân, cả thiên nhiên và tình yêu, cả thơng cảm đắm say lẫn giận
hờn trách cứ [47, 735].
- Hồn thơ Nguyễn Trãi - Đức Mậu: Hình ảnh đậm nét đi đi lại lại trong ức
Trai thi tập và Quốc âm thi tập là một Nguyễn Trãi suy t thao thức vì nhiều lẽ, ở
nhiều cấp độ [47, 471] (...) Nguyễn Trãi đặt mình trớc dân tộc, lịch sử, trớc nhân
dân để hành động, chính vì vậy sự đổ vỡ lí tởng ở Nguyễn Trãi mang tính bi kịch
lớn [47, 474] (...) Sắc thái thao thức của Nguyễn Trãi sau khi nhận thấy sự đổ vỡ của
lí tởng trớc thực tại phũ phàng, chua chát là cái thao thức của một triết gia trớc một
vấn đề của thời đại, của thơng sinh và của chính mình [47, 475] (...) Bao đêm không
ngủ những suy t của Nguyễn Trãi đi về trên hai chiều đối lập: Thánh chúa và dân
sinh [47, 476] (...) Trong những bài thơ viết về tâm sự, về cuộc đời giàu chất triết lí,
trí tuệ, hiện lên một Nguyễn Trãi triết gia đang suy t; và trong những bài thơ thiên
nhiên giàu chất trữ tình, cảm xúc bộc lộ một Nguyễn Trãi phóng khoáng, tự do, tự
tại. Hai con ngời đó trong một Nguyễn Trãi, đa Nguyễn Trãi lên vị trí đại biểu cho
tinh hoa thời đại, cho trí tuệ tâm hồn dân tộc [47, 484].
Nhìn chung, các bài viết đã chỉ ra t tởng, cơ sở thẩm mĩ, tâm sự, tâm hồn,
khí phách, sắc thái, hình ảnh nhà thơ, con ngời nhà thơ; cảm hứng chủ đạo, nội
dung thơ Nôm Nguyễn Trãi. Với tất cả những gì đợc trình bày trong phần Lịch

sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy hình tợng tác giả trong Quốc âm thi tập cha đợc
đặt ra nh là một vấn đề chuyên biệt. Trong các công trình nghiên cứu về Quốc
âm thi tập các tác giả với những phạm vi, mức độ khác nhau tuy đã đề cập đến
các bình diện, các khía cạnh về hình tợng Nguyễn Trãi, nhng mới chỉ dừng lại ở
những đánh giá về một phơng diện nào đó của hình tợng tác giả mà cha có công
trình quy mô, hệ thống về hình tợng tác giả trong thơ Nôm. Kế thừa và tiếp thu
thành tựu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tập trung chú ý tới đề tài: Hình tợng tác giả trong Quốc âm thi tập để xác lập hình tợng tác giả trong thơ Nôm
Nguyễn Trãi một cách bao quát, hoàn chỉnh và toàn diện hơn.
3. Mục đích nghiên cứu


11
3.1. Tìm hiểu thơ Nôm Nguyễn Trãi và qua đó hiểu đợc tâm hồn, lý tởng, t
tởng, cốt cách và những đóng góp quan trọng cho văn hóa dân tộc của ức Trai
tiên sinh.
3.2. Đi sâu tìm hiểu và phân tích những biểu hiện, đặc điểm về hình tợng tác
giả Nguyễn Trãi trong thơ Nôm.
3.3. Góp phần xác lập hình tợng tác giả trong Quốc âm thi tập một cách hệ
thống và toàn diện hơn.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Hình tợng tác giả trong Quốc âm thi tập
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thơ, Nguyễn Trãi có thơ chữ Hán và thơ Nôm. Chúng tôi dựa vào văn
bản do Bùi Văn Nguyên (biên khảo, chú giải, giới thiệu), Thơ quốc âm Nguyễn
Trãi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng thêm Nguyễn
Trãi toàn tập để tham khảo và chọn lựa những câu thơ khi trích dẫn.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau:

Phơng pháp thống kê - phân loại
Phơng pháp phân tích - tổng hợp
Phơng pháp so sánh - đối chiếu
6. Đóng góp và cấu trúc luận văn
6.1. Đóng góp của luận văn:
Luận văn hệ thống những đặc điểm về hình tợng tác giả Nguyễn Trãi trong
Quốc âm thi tập qua đó khẳng định thêm về bản lĩnh, t tởng, tâm hồn, khí phách
của Nguyễn Trãi.
6.2. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận. Nội dung của luận văn đợc triển khai trong
ba chơng.
Chơng 1: Cái nhìn nghệ thuật trong Quốc âm thi tập
Chơng 2: Giọng điệu nghệ thuật trong Quốc âm thi tập
Chơng 3: Sự tự biểu hiện của tác giả trong Quốc âm thi tập


12

Chơng 1
Cái nhìn Nghệ thuật trong quốc âm thi tập
1.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật
Cái nhìn là một góc độ của hình tợng tác giả. Theo GS. Trần Đình Sử trong
giáo trình Dẫn luận thi pháp học thì Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt
của con ngời, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn
ở ngoài sự vật, bảo lu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sự vật, do đó cái nhìn đợc vận
dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn.
M.Khrápchencô nhận xét: Chân lí cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không
tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở
từng nghệ sĩ thực thụ [51, 109]. Nhà văn Pháp Macxen Prútxt có nói: Đối với
nhà văn cũng nh đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà

là vấn đề cái nhìn [51, 109]. Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả. Cái
nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát do đó có thể phát hiện cái đẹp,
cái xấu, cái hài, cái bi cái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong
không gian và thời gian và bị không gian, thời gian chi phối. Cái nhìn xuất phát
từ một cá thể mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét. Cái nhìn gắn với liên tởng, tởng tợng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, đối sánh Cái nhìn có
thể đem các thuộc tính xa nhau đặt bên nhau, hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi
sự vật một cách trừu tợng. Cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết
là điểm rơi của cái nhìn. Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn
thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã bớc vào phạm vi ý thức của họ,
chú ý cái mà họ chú ý. Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cái này, nhà văn kia
chú ý cái kia, tức là ta đã nhận ra con ngời nghệ sĩ của tác giả.
Trong nhiều tác phẩm của một nhà văn cho thấy cái nhìn và sự chiếm lĩnh độc
đáo của nhà văn đối với thế giới, con ngời. Điều đó biểu hiện phong cách cá nhân tơng đối ổn định, bền vững, lặp đi lặp lại. Nhà văn muốn có phong cách riêng phải
có t tởng nghệ thuật, cách cảm nhận riêng, cái nhìn riêng độc đáo về con ngời và
thế giới. Cái nhìn, giọng điệu, tự vẽ chân dung mình trong tác phẩm cho thấy tài
năng và bản lĩnh của ngời nghệ sĩ. Cái nhìn nghệ thuật thể hiện chiều sâu t tởng
và sự nhạy bén của ngời nghệ sĩ. Mỗi nhà văn thờng có cái nhìn riêng độc đáo.
Cái nhìn thực sự là một năng lực tinh thần của con ngời. Nói thế để thấy rằng,
chiều sâu của cái nhìn nghệ thuật quy định tầm cỡ và thể hiện u thế của nhà văn.
T tởng tạo ra cái nhìn (M.Bakhtin) hay nói cách khác, cái nhìn sẽ bị sai
khiến, bị điều phối bởi t tởng. Vì vậy những nhà văn có cùng t tởng sẽ gặp


13
nhau trong cái nhìn về con ngời, thế giới cho dù quan điểm chính trị có khác
nhau.
1.2. Cái nhìn nghệ thuật trong Quốc âm thi tập
1.2.1. Cái nhìn về con ngời, cuộc đời
Quốc âm thi tập chủ yếu đợc Nguyễn Trãi sáng tác trong cảnh làm quan
không thuận và lúc ở ẩn, nhng không vì thế mà ông chỉ có cái nhìn bi quan, bất

mãn trớc cuộc đời, con ngời. Bi quan, buồn là không tránh khỏi trớc thực tại bi
đát, nhng Nguyễn Trãi vẫn thiết tha, phóng khoáng, lạc quan trớc cuộc đời và
con ngời.
1.2.1.1. Cái nhìn tha thiết, rộng mở, lạc quan đối với con ngời, cuộc đời
Ước mơ lớn lao, cao đẹp nhất và cũng là t tởng của Nguyễn Trãi là dân tộc
đợc thái bình, dân chúng đợc an c, lạc nghiệp; trong thôn cùng xóm vắng
không còn tiếng hờn giận, oán sầu. Đó là một xã hội Vua Nghiêu Thuấn, dân
Nghiêu Thuấn. Suốt cuộc đời mình, ông tận tâm, tận lực để thực hiện sở
nguyền ấy của mình. Ngay từ thời đi học, đi thi mà thi cha đậu mà cái nghĩa lớn
đối với nhà, với đất nớc đã đợc bộc lộ:
Một thân lẩn quất đờng khoa mục,
Hai chữ mơ màng việc quốc gia.

Quân thân cha báo, lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha.
(Ngôn chí, bài 7)
Cho đến khi phải Lánh mình cho khỏi áng phong trần, ức Trai vẫn một lòng
tha thiết, mong mỏi:
Đem mình non nớc nhàn qua tuế,
Kết bạn thông mai ngõ phỉ nguyền.
Chúc thánh cho tày Nghiêu, Thuấn nữa,
Đợc về ở thú điền viên.
(Bảo kính cảnh giới, bài 16)
Xuất thế, nhập cuộc, Nguyễn Trãi hết lòng tận tuỵ với công cuộc kháng
chiến và dựng xây nớc nhà. Ông hiểu đợc rằng dựng và giữ nớc phải nhờ đến sức
mạnh lật thuyền của dân. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi viết thay lời Lê
Lợi sau ngày đại thắng quân Minh thì câu mở đầu của bài đại cáo là đề cập
đến dân:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân



14
Ông biết đợc sức mạnh và công lao to lớn của nhân dân bốn cõi. Ông không
bao giờ quên sự đoàn kết, anh dũng trong kháng chiến; sự cần mẫn chịu thơng chịu
khó trong thời bình của ngời dân để góp công xây dựng đất nớc - ăn lộc, đền ơn
kẻ cấy cày (Bảo kính cảnh giới, bài 19) và ông cũng xót xa, đau khổ trớc cảnh ngời dân trong chiến tranh loạn lạc, trong đói nghèo lam lũ. Yêu dân nớc Niềm cũ
sinh linh, đeo ắt nặng Cật trng hồ hải, đặt cha an và ông mơ ớc:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phơng.
(Bảo kính cảnh giới, bài 43)
Ông cảm thấy vui và ấm lòng trớc cảnh náo nhiệt, đời thờng của ngời dân
ng thôn:
Lao xao chợ cá, làng ng phủ
Dặng dõi cầm ve lầu tịch dơng.
(Bảo kính cảnh giới, bài 43)
Tiếng lao xao của chợ cá cùng với tiếng ve ran tạo nên bản hợp âm rộn rã
của sự sống. Âm thanh của cuộc sống, của đời thờng nh ngân lên trong lòng ông
niềm vui trong những tháng ngày lánh tục tìm thanh. Lánh thân nhàn nhng ông
vẫn nặng nợ với dân, dân đối với ông là một phần không thể thiếu của cuộc đời
ông, làm thành t tởng thân dân trong ông:
Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền
Cành bắc cành nam một cội nên
(Bảo kính cảnh giới, bài 15)
Đồng bào là ngời trong một nớc. Câu thơ vì vậy mang nghĩa những câu ca
dao:
- Nhiễu điều phủ lấy giá gơng
Ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng
- Bầu ơi thơng lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhng chung một giàn
Đồng bào là cốt nhục của nhà thơ. Nhìn cảnh thái bình lòng ông mừng

vui, thanh thản, tự tại nh quên đi đắng cay trong lòng:
Mừng thuở thái bình yêu hết tấc,
Nó lòng tự tại quản chi là
(Trần tình, bài 3)
Mong muốn đợc góp hết sức mình vì dân, vì nớc bị gián đoạn. Bọn gian thần đã
kìm tỏa ông, vua không tin tởng không cho ông cơ hội thực hiện chí bình sinh, ông


15
đành ngậm ngùi lánh về với giang sơn, với mây ngàn hạc nội để giữ đất nho thần.
Nhng khi đợc vua Lê Thái Tông vời trở lại chốn triều đình ông đã cảm động, tỏ lòng
biết ơn, niềm xúc động đợc vua tri ngộ bằng bài Biểu tạ dâng lên nhà vua. Ông viết
thật xúc động:
Thơng thần nh tùng bách sơng tuyết đã quen
Coi thần nh ngựa già đờng xa kham ruổi
Và ông hăng hái với việc quốc gia:
Những vì chúa thánh, âu đời trị
Há kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn
(Tự thán, bài 2)
Điều này cho ta thấy Nguyễn Trãi tha thiết với cuộc đời, với con ngời
nguyện đem hết tâm sức cống hiến cho đất nớc, để thực hiện sự nghiệp kinh
bang tế thế còn dang dở của mình. Nhng rồi lần trở lại này cũng không thể cho
ông cơ hội để trị quốc. Chỉ ba năm sau một thảm họa đã giáng xuống cớp đi
sinh mệnh khiến ông mãi mãi không còn cơ hội thực hiện hoài bão của mình.
Nguyễn Trãi Lánh trần, náu thú sơn lâm, hoà mình với chim kêu hoa nở, hơng lụi cờ tàn, hớp nguyệt, xem hoa, quét trúc, thởng mai với công việc cày nhàn
câu vắng. Với nghĩa đi nghỉ nhng thực chất tâm trí ông không hoàn toàn cởi
tục, lòng vẫn vơng vấn, băn khoăn về thế sự:
Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân
Lẳng thẳng cha lìa lới trần
(Mạn thuật, bài 11)

Ông vẫn nặng lòng, day dứt vì dân, vì nớc:
Bui một tấc lòng u ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông
(Thuật hứng, bài 5)
Ngay cả khi ông về ở ẩn, đó cũng là một cách ẩn đặc biệt, điển hình, không
có sự nhẹ nhõm h tâm, không có sự an bần, lạc đạo độc thiện kỳ thân mà luôn trăn
trở, bồn chồn, khắc khoải vì đất nớc, vì Cật trng hồ hải cha an [69, 209]:
Nhân gian mọi sự đều nguôi cả
Một sự quân thân, chẳng khứng nguôi
(Tự thán, bài 36)
Chữ học ngày xa quên hết dạng
Chẳng quên có một chữ cơng thờng
(Tự thán, bài 12)


16
Lí tởng sống và tấm lòng thiết tha với dân, nớc luôn thờng trực trong lòng
Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng. Về Côn Sơn tạc tĩnh, canh điền nhng đấy chính là
lúc ông biểu lộ nỗi lo âu sâu xa nhất về việc nớc, việc đời. Nguyễn Trãi bơ vơ giữa
cảnh Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải. Ông đã làm hàng trăm bài thơ để ca
ngợi cuộc sống xa cảnh phồn hoa, với một tâm hồn thanh cao không bận bụi đời.
Mặc dù nhà thơ thổ lộ Chân mềm ngại bớc dặm mây xanh (Bảo kính cảnh giới, bài
31), Danh lợi lòng đà ắt dửng dng (Tự thán, bài 7), Am quê về ở dỡng nhàn chơi Yên phận yên lòng kẻo tiếng hơi (Thuật hứng, bài 14), Những màng lẩn quất vờn
lan cúc - ắt ngại lanh chanh áng mận đào (Thuật hứng, bài 7), Cửa mận tờng đào
chân ngại chen (Thuật hứng, bài 1), Chim kêu cá lội yên đòi phận - Câu quạnh cày
nhàn dỡng mỗ thân (Mạn thuật, bài 7), Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại - Hai chữ
công danh biếng vã vê (Bảo kính cảnh giới, bài 28), Dầu phải dầu chăng mặc thế Đắp tai biếng mảng sự vân vân (Bảo kính cảnh giới, bài 38), Dửng dng sự thế biếng
đua tranh - Dầu mặc chê khen mặc dữ lành (Bảo kính cảnh giới, bài 42). Nhiều câu
thơ Nguyễn Trãi thể hiện sự th thái, nhàn tản, khoan khoái trớc cảnh non nớc, mây
trời, với thú vui câu quạnh cày nhàn:

Trà tiên, nớc kín, bầu in nguyệt
Mai rụng, hoa đeo, bóng cách song
(Thuật hứng, bài 6)
Hái cúc, ơng lan, hơng bén áo
Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn
(Thuật hứng, bài 15)
Tuyết đợm, trà mai, câu dễ động
Đìa in bóng nguyệt, hứng thêm dài
(Tự thán, bài 14)
Nớc biếc non xanh, thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu
(Bảo kính cảnh giới, bài 26)
Nhng đọc lên ta thấy những lời lẽ đó đã hoàn toàn trái ngợc với trạng thái
thật sự của tâm hồn Nguyễn Trãi. Đằng sau những câu chữ nổi dần lên tấm lòng


17
một con ngời không bao giờ nguôi trớc cuộc sống đang diễn biến phức tạp trên
đất nớc của mình. Nỗi niềm dân, nớc vẫn canh cánh trong lòng. Nguyễn Trãi
muốn phát huy lí tởng ái dân, thân dân cùng với lí tởng yêu nớc nhng vấp phải
sự đối lập của bọn hoạn quan, quyền thần. Đối lập với bọn ngời tham tàn bạo ngợc nhng cha hoàn toàn mất lòng tin vào thánh chúa, vào triều đại, đó là hai mặt
trong tâm t Nguyễn Trãi [47, 692]. Nguyễn Trãi suốt đời Coi công việc quốc
gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỉ (Quân
trung từ mệnh tập, bản dịch):
Bui một quân thân ơn cực nặng
Tơ hào cha báo hãy còn âu
(Mạn thuật, bài 8)
Nợ quân thân cha báo đợc
Hài hoa còn bện dặm thanh vân
(Ngôn chí, bài 11)

Nguyễn Trãi tha thiết muốn đợc sống ở nơi quê hơng yêu dấu nhng đó cha
phải là niềm thiết tha lớn nhất của ông. Do đó mà sống giữa bao nhiêu bạc ác,
ganh ghét, ti tiện ở chốn triều đình vẫn kiên trì ở lại giúp vua mong đem lại cuộc
sống yên vui cho nhân dân. Trong quan niệm của các nhà Nho, vua là thiên tử
thay trời hành đạo vì nặng lòng với vua nghĩa là nặng lòng với đất nớc Lòng một
tấc son còn nhớ chúa và mong muốn:
Quốc phú binh cờng chăng có chớc
Bằng tôi nào thuở ích chng dân
(Trần tình, bài 1)
Bốn biển nhẫn còn mong đuốc đốt
Dầu về, dầu ở mặc ta dầu
(Bảo kính cảnh giới, bài 27)
Với Nguyễn Trãi vận mệnh của đất nớc, hạnh phúc của ngời dân đó là điều
quan trọng nhất, tất cả tin yêu, vui buồn của ông đều bắt nguồn từ đó. Có thể nói
ông cha bao giờ thực sự chán đời. Thiên hạ đợc thái bình là thoả lòng mong muốn
thì sự lựa chọn về hay ở với Nguyễn Trãi sẽ dễ dàng hơn, thanh thản hơn. Nhng dù


18
gặp cảnh trái ngang, buồn khổ khi vua không còn tin mình, chung quanh lại nhiều
kẻ ghen ghét với tài năng, công trạng nhất là khi ông vẫn thích thú với nớc non cây
cỏ chốn quê hơng nhng nhà thơ vẫn giữ tấm lòng u ái, vẫn muốn ở lại giúp vua, vẫn
lạc quan, tin tởng, vẫn thiết tha với con ngời, cuộc đời:
Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh
áo bô quen cật vận xênh xang
Bốn dân nghiệp có cao cùng thấp
Đều hết làm tôi Thánh thợng hoàng
(Tức sự, bài 4)
ức Trai không ngại, không sợ khó khăn và xem khó khăn là nơi thử thách lòng
ngời. Bản thân mình đang phải trải qua những tháng ngày khó khăn, cơ cực mà vẫn

ngời lên tâm, chí sáng trong của một ngời nặng lòng với nớc và thơng sinh:
Khó khăn thì mặc có màng bao
Càng khó bao nhiêu chí mấy hào
Đại địa dày, Nam Nhạc khoẻ
Cửu tiêu vắng, Bắc Thần cao
(Thuật hứng, bài 21)
Nguyễn Trãi vẫn tin tởng và nhìn đời với cái nhìn yêu mến, lạc quan:
Khó lẫn vui, chăng thửa trách
Vì chng đời có chúa Đờng, Ngu
(Thuật hứng, bài 13)
Khó bền mới phải ngời quân tử
Mạnh gắng, thì nên kẻ trợng phu
Cày ruộng, cuốc vờn dầu hết khoẻ
Tôi Đờng Ngu ở đất Đờng Ngu
(Trần tình, bài 7)
Với Nguyễn Trãi, gặp cảnh khó khăn nhng vẫn bền gan vững chí, vẫn tin tởng
lạc quan và cố gắng không mệt mỏi mới là ngời quân tử. Về với ruộng vờn, thôn dã
nơi sinh trởng ông vẫn tin rằng mình là ngời ở đất Đờng Ngu. Lánh đến giang
san hoà mình với nguyệt, chim, hoa, lá, cỏ cây, suối hồ, rùa, hạc, vợn nhng với
tác giả cuộc sống nơi lâm tuyền vẫn là Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải mặc
dù ông có nói Thân đà hết luỵ thân nên nhẹ nhng ông vẫn cha thể lìa lới trần. Vì
vậy ở ẩn với ông là ẩn cả, là ẩn giữa lòng nhân dân:
ẩn cả lọ chi thành thị nữa
Nào đâu là chẳng đất nhà quan


19
(Ngôn chí, bài 16)
Ngẩm ngột sơn lâm lẫn thị triều
Nào đâu là chẳng đất Đờng Nghiêu

(Mạn thuật, bài 2)
ẩn nhng không tránh đời, lánh đời mà nơi ẩn vẫn là đất nhà quan. Do
đó mọi rung động của cuộc đời đều tác động đến tâm trí nhà thơ cho nên ông
không thể có đợc cuộc sống ẩn dật thật đúng nghĩa:
Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà
(Ngôn chí, bài 3)
Tuy có lúc ức Trai:
Dửng dng sự thế, biếng đua tranh
Dầu mặc chê khen mặc dữ lành
(Bảo kính cảnh giới, bài 42)
Nhng sâu thẳm tự đáy lòng không lúc nào ông yên đòi phận mà vẫn khắc
khoải trong lòng niềm trung hiếu, nghiệp thi th. Mặc dù biết cảnh ngộ, vị thế
của mình giữa triều quan, buồn đến tận độ nhng Nguyễn vẫn tha thiết với cuộc
đời:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối, ớc về đâu?
(Ngôn chí, bài13)
Câu thơ cho thấy sự băn khăn với lẽ xuất, xử, hành, tàng, dù
Nguyễn Trãi vẫn biết đợc rằng:
Lấy đâu xuất, xử lọn hai bề
Đợc thú làm quan, mất thú quê
(Tự thán, bài 39)
ở Nguyễn Trãi t tởng nhập thế, giúp đời còn nặng nợ. Vì vậy khi Lánh mình
cho khỏi áng phong trần, ông không thể yên đòi phận; vẫn thiết tha mở lòng đón
lấy những vang vọng của cuộc đời. Đó là bi kịch của một ngời hết lòng vì dân, vì nớc, nhng vì điều kiện khách quan mà không đợc sống hết mình vì lí tởng. Dù cuộc
đời gặp đắng cay, nhng tâm hồn ức Trai vẫn sáng ngời, ông vui với thú vui nơi
giang san với cái nhìn cao thợng, phóng khoáng về cuộc đời:
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu

Dới công danh, đeo khổ nhục
Trong dại dột, có phong lu


20
(Ngôn chí, bài 2)
Tinh thần lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống còn thể hiện khá rõ trong thơ
Nguyễn Trãi nói về cảnh vật thiên nhiên, về các mùa. Nhà thơ hay nói đến ý
tham tiếc thời gian và có ý muốn khuyên những ai đang tuổi xuân hãy vui chơi
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói Tiếng chuông ch a đóng ắt còn xuân (Vãn
xuân). Những bài thơ thiên nhiên của ông phần lớn nghiêng về trữ tình phóng
khoáng. Cũng là Nguyễn Trãi nhng trong thơ thiên nhiên ông không đăm chiêu,
lo buồn mà tự do, tự tại, cởi mở hoà vào tạo vật [47, 479]. Nguyễn Trãi rời xa
cửa quyền có đợc một phút thanh nhàn với:
Ngày vắng xem chơi, sách một an
Am rợp chim kêu hoa xẩy động
Song im hơng tiễn khói sơ tàn
(Ngôn chí, bài16)
Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối, gác cần câu
(Trần tình, bài 5)
Nguyễn Trãi hoà với thiên nhiên, với công việc thú nhà quê th thái thanh
nhàn, hồn hậu nh quên hết Mùi thế đắng cay cùng mặn chát:
Một cày, một cuốc thú nhà quê
áng cúc lan xen vãi đậu kê
Khách đến chim mừng hoa xẩy động
Chè tiên nớc kín nguyệt đeo về
(Thuật hứng, bài 3)
Trở về với cảnh cũ non quê là niềm chốc mòng của Nguyễn Trãi, ông
muốn sống giữa non lạ, nớc thanh, đất Bụt; là xa rời đất phàm, cõi tục để

quên đi thân xa, nghiệp cũ, vui thú điền viên, tiêu sái tự nhiên:
Nghìn hàng cam quýt con đòi cũ
Mấy đứa ng tiều bậu bạn thân
(Tự thán, bài 32)
Lồng chim, ao cá tự làm khách


21
Ngòi nguyệt, ngàn mai phụ lệ nhà
(Tự thuật, bài 7)
Rủ viên hạc, xin phơng giải tục
Quyến trúc mai kết bạn tri âm
(Tự thuật, bài 8)
Cảm giác khoan thai, dễ chịu khi sống giữa cảnh sơn khê, Nguyễn Trãi đã
bộc bạch:
Cảnh thanh nhờng ấy chăng về nghỉ
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào
(Mạn thuật, bài 13)
Lời thơ nh lời tự trách mình, nhắc mình cho thấy Nguyễn Trãi nhìn cuộc đời,
con ngời bằng cái nhìn bao dung, trìu mến. ở mỗi hoàn cảnh, vị thế khác nhau, cái
nhìn của ông về con ngời, cuộc đời cũng khác nhau, nhng trên hết vẫn là cái nhìn
thiết tha, yêu mến. Khi ở triều quan sự yêu mến, thiết tha của Nguyễn Trãi thể hiện
ở việc cứu nớc, dựng nớc, chăm lo muôn dân. Khi lánh thân nhàn thì việc ông hoà
mình với thiên nhiên đã là sự yêu mến cuộc đời, nhng còn đáng kính trọng hơn khi
nhà thơ lui mà vẫn đeo âu việc thế sự. Nếu không thiết tha với cuộc đời một
cách trọn vẹn thì ông đã thảnh thơi cõi lòng mà nhàn tự tại.
1.2.1.2. Cái nhìn bi quan, chán nản, thất vọng, mỉa mai về con ngời, cuộc đời
Cuộc đời của Nguyễn Trãi có nhiều thăng trầm. Tâm t, ý chí nhà thơ đợc thể
hiện khá rõ nét trong thơ văn của ông. Thơ Nôm đợc ông sáng tác vào cuối đời,
trong mời năm nhàn quan và khi đã về ở ẩn tại Côn Sơn; lúc cuộc đời ông có

nhiều gập ghềnh, trắc trở. Đã không thể toại nguyện ở đời, nhà thơ tự nói với
mình, tự khuyên mình, nhắc nhở mình:
Vấn quân hà bất quy khứ lai
Bán sinh trần thổ trờng giao cốc
(Côn Sơn ca)
(Ngơi sao còn cha về đi
Nửa đời bụi bặm hoài lăn lóc)
Với tâm tình ấy thì cái nhìn của Nguyễn Trãi đối với cuộc đời, con ngời không
thể chỉ cứ:


22
ở đài các, giữ lòng Bao Chửng
Nhậm tớng khanh, gìn thói Nguỵ Trng
(Bảo kính cảnh giới, bài 61)
Trong Quốc âm thi tập rất ít bài có tâm sự vui vẻ, phấn chấn, đắc ý, hành
đạo, mà phần nhiều là những bài dằn vặt, đau xót, buồn bã. Rất nhiều bài bộc lộ
tâm sự chán nản, bực bội khi ông phải sống lẻ loi, lạc lõng giữa triều đình nhà
Lê. Thơ ông càng về cuối đời càng phảng phất nỗi buồn thơng man mác và lắm
lúc còn là những lời chua chát. Thơ Nguyễn Trãi cho ta thấy ông là một ngời vô
cùng thanh khiết, thiết tha vì đất nớc, vì nhân dân. Bị gièm pha, chèn ép ông rất
đau khổ. Không phải đau khổ vì những thiệt hại mà sự gièm pha chèn ép gây ra
cho bản thân mình chính vì thấy đạo mình không dùng đợc, hoài bão trí quân
trạch dân, những ớc vọng trị quốc, bình thiên hạ của mình không đợc thực
hiện. Nhiều ngời cho thấy thơ Nguyễn Trãi có nhiều t tởng yếm thế, bi quan,
trong thơ Nguyễn Trãi buồn nhiều hơn vui. Nhìn chung thơ chữ Hán thì đầy
giọng trầm hùng, não nuột, thơ quốc âm nhiều chất luân lí, mỉa mai [34, 19].
Nguyễn Trãi hay nói đến lòng ngời. Lòng ngời là cái tâm, cái tình của
con ngời. Nhà thơ nói nhiều đến lòng ngời với sự buồn nản, thất vọng. Lòng ngời
thật khó lờng, khó hiểu, khó nắm bắt; quanh co, khúc khuỷu, tráo trở, đổi

thay, không có trớc sau, không tình nghĩa, chỉ biết vụ lợi:
Dễ hay ruột biển sâu cạn
Khôn biết lòng ngời vắn dài
(Ngôn chí, bài 5)
Ngoài chng mọi chốn đều thông hết
Bui một lòng ngời cực hiểm thay
(Mạn thuật, bài 4)
Lòng ngời Man, Xúc nhọc đua hơi
Chẳng cốc nhân sinh gửi chơi
(Tự thán, bài 15)
Sự thế sá phòng khi đợc mất
Lòng ngời tua đoán thuở mừng, thơng


23
(Bảo kính cảnh giới, bài 1)
Nhân cách, đạo đức, phẩm chất của con ngời đợc thể hiện ở lòng ngời. Thời
Nguyễn Trãi sống, thế thái nhân tình nhiễu nhơng, nhiều giá trị đạo đức, thuần phong
mĩ tục bị xuống cấp. Con ngời đối xử với nhau giả tạo, ích kỉ. Nguyễn Trãi đề cập
nhiều đến thế thái nhân tình với tâm trạng xót xa, buồn nản. Rất nhiều câu thơ, ý thơ
của ông thể hiện tâm t tình cảm trớc thực tế của xã hội và tấm lòng tha thiết với đất nớc, con ngời, với những giá trị tinh thần tốt đẹp đang bị chà đạp.
Lòng ngời đã khó lờng. Miệng ngời cũng đáng sợ:
Miệng ngời tựa mật mùi qua ngọt
Đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài
Ngỏ óc nhợng khiêm là mĩ đức
Đôi co ai dễ kém chi ai
(Tự thán, bài 21)
Nào ai dễ có lòng chân thật
ở thế tin gì miệng đãi buôi
Khóng khảy kẻ cời cùng kẻ thốt

Khó khăn ngời dễ mấy ngời xui
(Tự thán, bài 36)
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng ngời quanh nữa nớc non quanh
(Bảo kính cảnh giới, bài 9)
Nguyễn Trãi nhận thấy miệng thế, lòng ngời thật khó đoán, quanh co,
thiếu chân thật; khi khó khăn, thất thế, cha thành đạt thì không ai màng tới, làm
ngơ, xa lánh; nhng khi có vị thế, vinh hoa phú quý thì:
Nhà ngặt bằng ta, ai kẻ vì
Khó khăn phải luỵ đến thê nhi
Đắc thời, thân thích chen chân đến
Thất sở, láng giềnh ngảnh mặt đi
(Thuật hứng, bài 12)
Của nhiều sơn dã, đem nhau đến


24
Khó ở kinh thành, thiếu kẻ han
(Bảo kính cảnh giới, bài 6)
Vinh hoa, nhiều thấy khách đăm chiêu
Bần tiện, ai là kẻ trọng yêu
(Bảo kính cảnh giới, bài 8)
Phú quý thì nhiều kẻ đến chen
Uốn đòi thế thái tính cha quen
(Bảo kính cảnh giới, bài 13)
Thật xót xa trớc tình cảm thực dụng, giả dối của con ngời. Ngời ta đến với
nhau không vì tình nghĩa, vì sự quý trọng, tình yêu thơng, tình ruột thịt, mà đến
với nhau vì lợi danh, vì vật chất theo kiểu Gang không mật mỡ kiến bò chi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm). Đến chen là vì mục đích, không vì tình cảm.
Con ngời làm nên thời thế. Vì con ngời nh vậy cho nên cùng với nỗi niềm

xót xa, chán nản về con ngời là sự ngán ngẩm, chua chát về thế thái nhân tình
tráo trở, đổi thay, giả tạo:
Lòng ngời tựa mặt, ai ai khác
Sự thế bằng cờ, bớc bớc nghèo
(Mạn thuật, bài 10)
Ai thấy rằng cời là thế thái
Ghê thay biến bạc làm đen
(Tức sự, bài 2)
Thế tình khéo uốn vuỗn bằng câu
Đòi phận mà yên, há sở cầu
(Bảo kính cảnh giới, bài 35)
Chép hết bao nhiêu sự thế
Ai ai đà biết đợc hay cha
(Bảo kính cảnh giới, bài 52)
Thế thái nhân tình bạc bẽo, giả dối nh vậy nên Nguyễn Trãi buồn chán, lo
lắng, thất vọng là điều không tránh khỏi:
Lòng ngời một sự yêm chng một
Đèn khách mời thu lạnh hết mời


25
Phợng những tiếc cao, diều hãy lợn
Hoa thì hay héo cỏ thờng tơi
(Tự thuật, bài 9)
Thế gian đờng hiểm há chăng hay
Càng còn đi, ấy thác vay
(Tự thuật, bài 1)
Khó khăn của thế gian yêm
Huống mỗ già, dại dột thêm


Biển hiểm nhân gian ai kẻ biết
Ghê thay thế nớc vị qua mềm
(Tự thuật, bài 4)
Thế tình, lòng ngời sâu hiểm, nhng Nguyễn Trãi không chỉ có chán ghét;
mà cao đẹp hơn khi ông còn cảm thông, bao dung, độ lợng và hiểu đợc tình cảnh
của nhân tình thế thái, ông nhìn nhân thế với cái nhìn khách quan, trìu mến: đấy
lòng thờng, là tự nhiên, không quá trách móc, giận hờn:
Mựa trách thế gian lòng đạm bạc
Thế gian đạm bạc đấy lòng thờng
(Tức sự, bài 3)
Thế sự, ngời no ổi tiết bảy
Nhân tình ai ủ cúc mồng mời
(Ngôn chí, bài 21)
Tuy rằng bốn biển cũng anh tam
Có kẻ hiền lành, có kẻ phàm
(Bảo kính cảnh giới, bài 47)
Nguyễn Trãi tìm cho mình cách sống, cách ứng xử trớc thực trạng thế thái
nhân tình ấy:
Đạo ta cậy bởi chân non khoẻ
Lòng thế tin chi mặt nớc bằng
(Mạn thuật, bài 1)
Lòng thế bạc đen dầu nó biến
Ta gìn nhân nghĩa chớ loàn đơn
(Bảo kính cảnh giới, bài 12)
Ngời tham phú quý ngời hằng trọng
Ta đợc thanh nhàn ta sá yêu
(Mạn thuật, bài 2)



×