Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

Kết cấu tiểu thuyết nho lâm ngoại sử (ngô kính tử)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (278.33 KB, 50 trang )

Lời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Lê Thời Tân đã tận tình hớng
dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình hoàn thành khoá luận
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ văn học nớc ngoài
thuộc khoa Ngữ văn Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành tốt khoá luận này
Vinh, ngày 28 tháng 4 năm 2004
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Liên

A. mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

1.1. Tầm quan trọng cuả tiểu thuyết Minh Thanh
Cũng nh các nớc có nền văn minh sớm, Trung Quốc có nền văn học
lâu đời và vô cùng phong phú. Kể từ khi có văn tự đến nay, nền văn học
Trung Quốc đã trải qua hơn ba nghìn năm lịch sử, cha kể đến hơn hai nghìn
năm văn học truyền miệng trớc đó. Lịch sử văn học Trung Quốc đã trải qua
những bớc thăng trầm gắn liền với sự hng thịnh của các triều đại nối tiếp
nhau trong lịch sử.

1


Một đặc điểm nổi bật của văn học Trung Quốc là sự ra đời và phát
triển các thể loại văn học thờng gắn với một triều đại nhất định. Nói cách
khác mỗi một triều đại hình thành trong lịch sử Trung Hoa với những đặc
điểm riêng về tình hình chính trị xã hội cũng nh những chính sách của thế
lực cầm quyền đã hình thành nên một số thể loại văn học nổi bật đặc trng của
triều đại đó. Đời Đờng có thơ ca, đời Tống có từ, đời Nguyên có kịch, đời
Minh Thanh có tiểu thuyết. Trong đó tiểu thuyết Minh Thanh đợc coi


là thành tựu to lớn nhất mà văn học Trung Quốc cống hiến cho văn học nhân
loại.
Minh Thanh là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển văn học cổ
điển Trung Quốc, có mối liên hệ gần gũi với văn học cận đại và hiện đại,
cũng là giai đoạn mà tiểu thuyết Trung Quốc đạt đến trình độ mẫu mực. Tiểu
thuyết Minh Thanh đợc coi là thành tựu rực rỡ nhất của văn học cổ điển
Trung Quốc trên hầu hết các phơng diện nội dung, nghệ thuật. Số lợng
nhiều, đề tài cũng hết sức đa dạng và phong phú, có tiểu thuyết lịch sử, tiểu
thuyết đời thờng, tiểu thuyết thần thoại, tiểu thuyết viết về những anh hùng
hảo hánCó những tác phẩm là những sáng tác tập thể đợc lu truyền rộng rãi
và đợc thêm thắt, bổ sung, hoàn thiện dần, có những tác phẩm là do văn nhân
sáng tác. Nhìn chung, những bộ tiểu thuyết này đều phản ánh rõ và chân thực
t tởng, khát vọng, tình cảm của ngời dân, những yêu cầu về giải phóng cá
tính, hôn nhân tự do Những bộ tiểu thuyết nh Tam Quốc chí diễn nghĩa,
Tây du ký, Thuỷ hửđợc mọi ngời truyền tụng. Câu chuyện đợc miêu tả
trong nhng bộ tiểu thuyết này vốn đợc lu truyền rộng rãi trong cuộc sống và
trải qua quá trình lu truyền ngày càng đợc đầy đủ hơn về nội dung, về hình tợng nhân vật. Những bộ nh Hồng lâu mộng, Nho lâm ngoại sử, Liêu trai chí
dị là những sáng tác của cá nhân với những quan điểm hết sức tiến bộ. Các
tác phẩm này hầu hết đều đợc viết với khuynh hớng hiện thực xã hội chủ
nghĩa với ngòi bút phê phán khá sắc sảo và khả năng phân tích tâm lý nhân
vật ít nhiều đã đạt đến trình độ tiểu thuyết hiện đại.
Có thể nói trong lịch sử phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc hơn một
nghìn năm từ khi có tiểu thuyết chí quái đời Tấn thì tiểu thuyết Minh
Thanh đợc xem là một thời đại hoàng kim trong lịch sử văn học Trung
Quốc. Một thời đại rực rỡ với một số lợng tác phẩm nhiều cha từng có,và hơn
tất cả là sự vợt trội nổi bật về giá trị nội dung và nghệ thuật, mà các loại tiểu
thuyết xuất hiện trớc đó không thể có đợc. Đó là những đóng góp không thể
phủ nhận của tiểu thuyết Trung Quốc nói riêng và của văn học Trung Quốc

2



nói chung vào dòng chảy vĩ đại của văn học dân tộc. Trong số hàng nghìn
cuối tiểu thuyết ra đời vào thời Minh Thanh, có những tác phẩm đợc đánh
giá là những mẫu mực hoàn chỉnh nhất của tiểu thuyết cổ điển: Tam quốc
chí , Hồng lâu mộng, Thuỷ hử, Nho lâm ngoại sửKhi nhắc đến các tác
phẩm này là nhắc đến đỉnh cao của tiểu thuyết Minh Thanh.
1.2. Vị trí và đóng góp trong nền tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
của Nho lâm ngoại sử .
Khi nhắc đến những bộ tiểu thuyết đỉnh cao của giai đoạn Minh
Thanh ngời ta thờng nhắc nhiều đến những tác phẩm nh: Hồng lâu mộng,
Thuỷ hử, Tây du ký Nho lâm ngoại sử hầu nh ít đợc ngời đọc quan tâm
trong nền văn học dịch ở nớc ta. Nhng nếu tính đến khả năng phản ánh cuộc
sống, phản ánh hiện thực và đời sống con ngời thì chúng ta không thể không
nghĩ đến nó .Có thể nói, Nho lâm ngoại sử là sự bổ sung lớn nhất và hoàn
chỉnh nhất cho bức tranh xã hội Trung Hoa đơng thời- đó là một mảng hiện
thực quan trọng nhất mà văn xuôi Trung Hoa phản ánh
Tác phẩm ra đời vào khoảng năm thứ 40 của thế kỉ XVIII, trở thành
một trong những tác phẩm đầu tiên thoát ra khỏi nguồn đề tài lấy từ trong
thần thoại và lịch sử, mà xuất phát trực tiếp từ chính xã hội mà nó ra đời. Đây
có thể coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên phản ánh trực tiếp xã hội Trung Quốc,
mặc dù Ngô Kính Tử cố ý khoác cho nó chiếc áo khoác của bối cảnh đời
Minh, nhng những hình tợng trong tác phẩm lại chỉ ra một cách khá rõ ràng
và có căn cứ nhiều nguyên mẫu sống ở thời nhà Thanh.
"Nho lâm ngoại sử" đã dựng lên một cách rõ nét và chân thật xã hội
Trung Hoa xoay quanh cuộc sống của một tầng lớp ngời đợc coi là quan
trọng thời bấy giờ tầng lớp Nho sĩ. Ông bộc lộ một thái độ phê phán
mạnh mẽ vào cái mà Lỗ Tấn gọi là tệ nạn của thời đại - đó chính là chế độ
khoa cử. Có thể nói trớc Ngô Kính Tử cha ai làm đợc điều này. Lỗ Tấn nhận
xét "Nho lâm ngoại sử" đã căn cứ vào những điều mình nghe thấy, lại ngòi

bút cũng đủ sức để viết ra, cho nên soi rõ đợc đến chỗ u tối, tìm ra đợc
những chỗ kín đáo, con ngời cũng nh sự thật không thể dấu đợc mình. Tác
phẩm đã dựng lên một bức tranh sinh động về cuộc sống của các Nho sĩ và
hoạt động của họ ở chốn khoa trờng. Qua đó khái quát lại cả một xã hội
Trung Hoa phong kiến u tối và hỗn loạn. Mặc dù chỉ xoay quanh một vấn đề
trung tâm là chế độ khoa cử nhng toàn bộ bộ mặt của xã hội Trung Quốc với
tất cả các khía cạnh của nó nh tình hình chính trị, kinh tế cũng nh thái độ,

3


cuộc sống, suy nghĩ, tình cảm của con ngời cũng đợc bộc lộ . Đó là khả năng
khái quát hiện thực rất rộng ở tác phẩm này.
Và thông qua quá trình miêu tả bộ mặt thật của chốn khoa trờng , ông
cũng kín đáo bộc lộ khát vọng về một xã hội lý tởng, một xã hội công bằng
và hợp lý. Thái độ này không đợc bộc lộ trực tiếp, mà thông qua các hình tợng nhân vật mang trong mình khát khao về một cuộc sống bình yên và hạnh
phúc.
Không phải ngẫu nhiên mà Ngô Kính Tử quan niệm những chuyện
ông nói đến trong tác phẩm chỉ là ngoại sử. Ngoại sử là để đối lập với
chính sử, nó ghi lại những gì ở ngoài lề chính sử và những quan điểm, lập trờng khác với chính sử. "Nho lâm ngoại sử" là những chuyện kể bên ngoài
lịch sử chính thống về rừng Nho, những chuyện không đợc các nhà chép sử
công nhận. Hiểu nh thế mới biết đợc thái độ của thế lực cầm quyền đối với
những kiểu tác phẩm này nh thế nào, và biết đợc t tởng mà tác giả gửi gắm
vào cuốn tiểu thuyết này bất chấp những quy định đơng thời tiến bộ và dũng
cảm nh thế nào. Lỗ Tấn nói cho đến khi Ngô Kính Tử làm sách Nho lâm
ngoại sử thì mới biết giữ lòng công bằng, chỉ trích tệ nạn của thời đại, mũi
nhọn xỉa vào khắp, nhất là vào đám học trò Nho. Thế mới biết đợc vị trí
quan trọng của tác phẩm này trong dòng chảy của tiểu thuyết Minh Thanh
đồ sộ và phong phú. Nó là tác phẩm đi tiên phong trong việc tố cáo cả một xã
hội phong kiến với đầy đủ tội ác của nó. Đó là cái mới mẻ của cuốn tiểu

thuyết này, và đó cũng phần nào thể hiện một ngòi bút dũng cảm của một
nhà văn luôn suy nghĩa về cuộc sống của con ngời.
"Nho lâm ngoại sử" có một chỗ đứng khiêm tốn nhng lại quan trọng
bậc nhất trong văn học lúc bấy giờ không phải chỉ ở nội dung sâu sắc và khái
quát của nó. Cái làm nên thành công của tác phẩm này còn nằm ở những
cách tân, những mới lạ về nghệ thuật mà trớc đó trong lịch sử văn học Trung
Hoa cha hề có. Tác phẩm mang một kiểu kết cấu lạ và độc đáo, cùng cách kể
chuyện và cách xây dựng hình tợng nhận vật theo cách riêng của tác giả, đã
tạo nên đợc ấn tợng mới lạ và độc đáo cho những ai đã từng đọc nó.
Chính vì những lẽ đó, "Nho lâm ngoại sử" có một ví trí không nhỏ
trong hệ thống những bộ tiểu thuyết cổ điển xuất sắc nhất của văn học Trung
Hoa. Nghiên cứu kỹ về tác phẩm này cũng là một cách để hiểu sâu thêm về
những đóng góp đó.

4


1.3. Tầm quan trọng của vấn đề kết cấu trong lý luận văn học
Kết cấu là một phơng diện của sáng tạo nghệ thuật. Xét một cách
khách quan, vấn đề kết cấu của một tác phẩm văn học đợc coi là một vấn đề
quan trọng nhất khi nghiên cứu về tác phẩm đó, bền cạnh các vấn đề nội
dung, chủ đề t tởng, hình tợng nhân vật đợc xây dựng trong tác phẩm.
Nghiên cứu về kết cấu của bất kì một tác phẩm văn học nào là sự
nghiên cứu một cách tổng quát tất cả các giá trị nội dung và nghệ thuật của
nó. Bất kỳ một nội dung nào cũng phải đợc thể hiện trong một kết cấu nhất
định, và nghiên cứu về kết cấu cũng là một cách để khám phá tìm hiểu nội
dung.
"Nho lâm ngoại sử" là một cuốn tiểu thuyết có kết cấu khá độc đáo và
sự độc đáo đó khi đi kèm với những yếu tố mới mẻ, táo bạo về nội dung đã
tạo nên một giá trị khó phủ nhận ở tác phẩm này. Do đó đi sâu vào vấn đề

kết cấu - đó là con đờng tốt nhất để khám phá giá trị tác phẩm cũng nh phong
cách của nhà văn.
2. Lịch sử vấn đề

Nhìn chung, "Nho lâm ngoại sử" là một cuốn tiểu thuyết cha thịnh
hành và ít đợc lu truyền rộng rãi bằng các bộ tiểu thuyết nh Tây du ký, Hồng
lâu mộng, Thuỷ hửtrong nền văn học dịch ở Việt Nam, do đó số lợng các
bài nghiên cứu, các bài phê bình, phân tích về tác phẩm này so với tài liệu
nghiên cứu các bộ tiểu thuyết cổ điển khác mà nói còn hạn chế. Mặc dù đây
là một tác phẩm xuất sắc cả về nội dung và nghệ thuật, nhng các công trình
chỉ dừng lại ở sự miêu tả một cách đơn giản, cha có sự đi sâu tìm tòi, tìm
hiểu một cách kỹ càng .
Các bài nghiên cứu phê bình khi đi vào tác phẩm này lại chú trọng vào
những giá trị nội dung của tác phẩm còn vấn đề kết cấu thì lại nói qua rất sơ
sài. Tính đến thời điểm này vẫn cha có một công trình nào thực sự lấy vấn
đề kết cấu của "Nho lâm ngoại sử" làm mục tiêu chính. Một mặt là do vấn
đề kết cấu còn hơi lạ lẫm với nền lý luận văn học Việt Nam, nhng mặt
khác tình trạng này là do tác phẩm cha có một chỗ đứng thực sự quan trọng
trong nền văn học dịch nớc nhà.
Lỗ Tấn một nhà văn đồng thời là một nhà lý luận phê bình nổi tiếp
của Trung Quốc khi viết về tác phẩm này cũng chỉ nói chuyện không có
nhân vật chính mà cho hoạt động tất cả , nh xếp hàng mà đến, kể đến là có
chuyện mà đi thì chuyện cung hết luôn, tuy là tiểu thuyết trờng thiên mà rốt
cuộc cũng nh đoản thiên, truyện ngắn mà thôi. Mặc dù không phân tích rõ
nhng Lỗ Tấn cũng đã phác hoạ sơ qua kết cấu của tác phẩm.
5


Trần Xuân Đề trong Lịch sử văn học Trung Quốc cũng chỉ mới nói
điểm qua một cách hết sức khát quát kết cấu của tác phẩm: "Nho lâm ngoại

sử" xoay quanh chủ đề và t tởng trung tâm. ở đấy không có cốt truyện hoàn
chỉnh, khôngcó nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm chỉ có một chủ đề t tởng
trung tâm .Nh vậy, Trần Xuân Đề không đi sâu vào tìm hiểu kỹ vấn đề này
mà chỉ chỉ ra một nét khái quát nhất của kết cấu tác phẩm, đó chỉ là những
đánh giá ở mức độ chung nhất.
Lịch sử văn học Trung Quốc khi viết về vấn đề này cũng chỉ mới ở
mức độ khái quát không có nhân vật chính xuyên suốt toàn chuyện, tác giả
để cho nhiều nhân vật khác nhau, mỗi nhân vật biểu hiện một mặt nào đó
của cuộc sống thời đại, khi tập hợp lại, thì có thể phản ánh xã hội với muôn
màu muôn vẻ của cuộc sống và thời đại. Các tác giả mới chỉ dừng lại ở sự
tìm hiểu các mảng đời riêng xuất hiện trong tác phẩm, cha phân tích tối đa
các mảng đời này trong việc tạo ra một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh.
Cuốn Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc của tác giả Lơng
Duy Thứ dù đã khẳng định "Nho lâm ngoại sử" có một kết cấu đặc biệt, lấy
một t tởng làm cốt lõi và triển khai bằng các nhóm hình tợng nhân vật khác
nhau nhng ông lại cha chỉ ra đợc sự liên kết bên trong giữa các hình tợng đó
đối với t tởng trung tâm.
Một số luận án tốt nghiệp cũng đã nghiên cứu về tác phẩm này, nhng
chủ yếu lại nghiên cứu về các yếu tố thuộc về nội dung, hoặc về một khía
cạnh nhất định của nghệ thuật nh nghệ thuật châm biếm. Vấn đề kết cấu hầu
nh không đợc nói tới
Công trình nghiên cứu này đi sâu vào việc phân tích, nghiên cứu kĩ
càng kết cấu của tiểu thuyết "Nho lâm ngoại sử", phát hiện ra nét đặc sắc về
kết cấu cùng những biểu hiện và tác dụng của nó trong việc bộc lộ chủ đề, t
tởng tác phẩm. Từ đó hi vọng đóng góp một chút công sức vào việc khám
phá ra cái hay cái đẹp còn tiềm ẩn trong tác phẩm, giúp ngời đọc và những ai
có quan tâm đến vấn đề này có đợc ít nhiều sự hiểu biết về tác phẩm.Vì đây
là một kiệt tác của văn học cổ điển Trung Quốc nên vấn đề này đợc coi là
một vấn đề khá quan trọng, và việc nghiên cứu nó đồng thời cũng đợc coi là
một công việc ít nhiều có ý nghĩa và có khó khăn.

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu

Mục đích của đề tài này là tìm hiểu và phân tích một cách tập trung và
hệ thống kết cấu của cuốn "Nho lâm ngoại sử". Cuốn tiểu thuyết này có kết
cấu đặc sắc, sự đặc sắc đó đợc thể hiện nh thế nào? và ý nghĩa của việc dùng

6


kết cấu đó trong việc phản ánh hiện thực khách quan cũng nh trong việc bộc
lộ thái độ, t tởng của tác giả Ngô Kính Tử.
Để làm đợc điều đó, trớc tiên chúng ta sẽ phải nghiên cứu kĩ cuốn tiểu
thuyết này, đó là bản dịch ra tiếng Việt của hai dịch giả Phan Võ và Nhữ
Thành do Nhà xuất bản văn học, xuất bản năm 2001
Qua đó, rút ra nét đặc sắc về kết cấu của tác phẩm, những biểu hiện
của kết cấu đó thông qua việc xây dựng hình tợng nhân vật, tổ chức cốt
truyện, tổ chức lời kể chuyệnNét đặc sắc này sẽ đợc so sánh trong mối
quan hệ tơng quan với các tác phẩm cùng thời, và qua đó sẽ làm nổi bật ý
nghĩa cũng nh nét đặc trng riêng của vấn đề kết cấu trong bản thân nó.
4. Phơng pháp nghiên cứu

+Phơng pháp khảo sát , thống kê
+Phơng pháp phân tích
+Phơng pháp so sánh

B. Nội dung
Chơng 1
Kết cấu - giới thuyết chung

1. Kết cấu và kết cấu tác phẩm văn học

1.1. Một vài cách hiểu
1.1.1. Vai trò của kết cấu
Kết cấu là một phơng diện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Không
có một tác phẩm văn học nào lại không tồn tại trong một kết cấu nhất định
của nó.Từ một bài thơ ngắn có khi chỉ với một hai câu thơ đến một thiên tiểu
thuyết hàng nghìn trang khi ra đời đều đợc đóng khung trong một kết cấu
nhất định. Quá trình hình thành một tác phẩm văn học cũng đồng thời là một
quá trình hình thành một kiểu kết cấu, và kết cấu khi đó đợc coi là một phần
quan trọng nhất của tác phẩm đó
Thuật ngữ kết cấu vốn là một thuật ngữ của lĩnh vực kiến
trúc, xây dựng.Từ những vật liệu sẵn có, ngời ta xây dựng nên những công
trình hoàn chỉnh, hài hoà. Những công trình đó không phải là sự tập hợp cơ
học, sự lắp ghép cơ học của các yếu tố cấu thành. Nó là sản phẩm của một
quá trình gay go và phức tạp, là sự cộng lại một cách hoà hợp vật liệu và tài
năng của những ngời xây dựng.Ta có thể xem tác phẩm văn học giống nh một
công trình kiến trúc đợc tạo nên một cách hợp lí và hợp mục đích.Và quá
trình thai nghén cũng nh quá trình hình thành một tác phẩm văn học cũng

7


giống nh các bớc hình thành một công trình.Tác phẩm đó có một nội dung và
kết cấu hoàn hảo hay không, đó chính là những tiêu chí để đánh giá, phê bình
1.1.2. Các ý kiến đáng chú ý
Từ trớc tới nay,xung quanh vấn đề tìm ra một cách hiểu cô đúc nhất về
kết cấu, đã có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể xem những cách hiểu này nh
những định nghĩa cơ bản nhất, rõ ràng nhất về kết cấu, để lựa chọn một cách
nhìn chính xác nhất và toàn diện nhất về vấn đề này. Các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nớc hầu hết đều bộc lộ sự quan tâm của mình vào việc tìm ra
một cách hiểu đúng đắn nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất

Trong cuốn Nguyên lý lý luận văn học, tác giả L.I Timôfiep cho rằng:
Kết cấu là điều kiện tất yếu của việc phản ánh cuộc sống trong tác phẩm
văn học nghệ thuật, bất cứ tác phẩm nào cũng có một kết cấu nhất định.
Theo ông, sự ra đời của tác phẩm tất yếu đã bao gồm sự ra đời của kết cấu,
không có một kết cấu nào tồn tại độc lập, trớc và sau khi tác phẩm đó ra đời.
Đó là một quá trình bao gồm hai công đoạn tồn tại song song và phụ thuộc
tất yếu vào nhau. Định nghĩa trên của ông L.I.Timôfiep đã khẳng định tính
chất đồng nhất giữa vấn đề kết cấu và vấn đề nội dung.
Theo tác giả Lại Nguyên Ân kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các
thành phần hiện thực nghệ thuật tức là sự cấu tạo tác phẩm tuỳ theo nội
dung và thể tài. Theo ý kiến trên thì ta có thể hình dung kết cấu một tác
phẩm văn học chính là sự tổ chức sắp xếp các dữ liệu, các vật liệu của đời
sống một cách nghệ thuật. Các chất liệu của hiện thực bên ngoài không phải
đợc bê y nguyên vào trong văn học, nếu thế chúng ta không thể có một tác
phẩm hoàn chỉnh, và do thế cũng không hình thành một kết cấu. Chất liệu đó
phải phải đợc chọn lọc, phải nghệ thuật hoá và tham gia vào cấu tạo tác phẩm
nh một hạt nhân quan trọng. Sự sắp xếp, phân bố các chất liệu đó một cách
nghệ thuật đợc coi là một quá trình cơ bản hình thành nên kết cấu. Định
nghĩa này coi kết cấu là một hệ thống dữ liệu.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh
động của tác phẩm. Kết cấu không chỉ dừng lại ở sự tiếp nối bề mặt, sự phân
bố các chơng đoạn, sự liên kết ở bề ngoài mà còn bao hàm sự liên kết bên
trong, sự liên kết ở nội dung tác phẩm.
Giáo s Hà Minh Đức lại cho rằng Kết cấu là sự tạo thành và liên kết
các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các
chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và

8



theo một chiều hớng t tởng nhất định. Theo đó kết cấu là một yếu tố của
hình thức, nhng lại có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành
và thể hiện nội dung. Kết cấu có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố của nội
dung tác phẩm nh chủ đề, t tởng, tính cách, cốt truyện, các yếu tố ngoài cốt
truyện và có tính chi phối nội dung. Theo giáo s hình thức của kết cấu chịu
ảnh hởng khá mạnh mẽ của thế giới quan sáng tác của nhà văn, có nghĩa là
kết cấu ra đời chịu sự chi phối chủ quan của ngời nghệ sĩ, đó là vấn đề lựa
chọn kiểu kết cấu nào cho phù hợp.
Các cách hiểu, các định nghĩa trên của các nhà nghiên cứu đã giúp
chúng ta có một cái nhìn khá đa diện và đầy đủ về kết cấu. Mỗi một ý kiến
đều nhấn mạnh đến một đặc điểm nhất định của kết cấu nh mối quan hệ với
quá trình hình thành tác phẩm, mối quan hệ với thế giới quan ngời nghệ sĩ,
với nội dung tác phẩm Chúng tôi từ tất cả các cách hiểu đó đã rút ra hai đặc
điểm đồng thời cũng là hai định nghĩa, hai vai trò của kết cấu mà các nhà lý
luận đã tổng kết lại.
1.2. Kết cấu là gì?
1.2.1.Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm.
Nhà văn từ những chất liệu của cuộc sống cụ thể bên ngoài sáng tạo ra
một tác phẩm hoàn chỉnh phản ánh một cách chân thật hiện thực khách
quan. Tác phẩm đó không phải là sự phản ánh đơn thuần, đa hiện thực y nh
nó vốn có vào văn chơng một cách máy móc. Nhiệm vụ của nhà văn là phải
tổ chức lại chất liệu đó, lựa chọn cái gì, thêm cái gì, bớt cái gì, liên kết ra
sao để tạo thành một chỉnh thể. Khi đó bản thân tác phẩm đã mang trong
mình một kết cấu tức là một hình thức để chuyển tải một nội dung, và có mối
liên hệ hữu cơ với nội dung. Toàn bộ tổ chức bên trong và bên ngoài của tác
phẩm chính là kết cấu, mặc dù trên mọi cách hiểu thông thờng nó là yếu tố
thuộc về hình thức, nhng bản chất thực sự của kết cấu lại nằm ở cả hình thức
và nội dung tác phẩm, tức là nó tham gia vào cả quá trình hình thành và hoàn
thiện tác phẩm, từ khi thai nghén đến khi tác phẩm đến với công chúng. Kết

cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trng nghệ thuật và
nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm
không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và t tởng trong tác phẩm đó.
Cần phân biệt kết cấu nh một phơng diện hình thức của tác phẩm với
kỹ thuật, thủ pháp. Trong văn học vai trò của kỹ thuật thủ pháp là rất quan
trọng, nó tạo nên tính độc đáo, mới lạ của tác phẩm. Nhng kỹ thuật và thủ
pháp không phải là yếu tố quyết định nội dung cũng nh nghệ thuật của tác

9


phẩm, nó chỉ có vai trò nh một công cụ tham gia vào quá trình hoàn thiện tác
phẩm. Việc sử dụng chúng phụ thuộc vào nhà văn ở từng thời điểm nhất
định. Kết cấu là một khái niệm trải dài, xuyên suốt tác phẩm, còn kỹ thuật
thủ pháp chỉ là một yếu tố xuất hiện nhất thời. Một tác phẩm văn học nặng về
kỹ thuật, thủ pháp là đã xem nhẹ nội dung sa vào chủ nghĩa hình thức. Trong
khi đó, kết cấu dù thuộc phạm vi hình thức của tác phẩm nhng vẫn đợc coi
trọng vì mối liên quan hữu cơ với tất cả các yếu tố của tác phẩm văn học.
Và cũng cần thiết phải phân biệt kết cấu và bố cục một tác phẩm văn
học. Nếu xem kết cấu chính là bố cục tác phẩm, vô hình trung chúng ta đã
xem kết cấu chỉ là ở mặt hình thức. Tổ chức tác phẩm không phải ở sự tơng
quan bên ngoài, ở sự sắp xếp, bố trí các chơng đoạn, các bộ phận mà còn bao
hàm cả sự liên kết bên trong, là nghệ thuật tổ chức nội dung cụ thể của tác
phẩm. Bố cục chỉ là phơng diện nhỏ của kết cấu, là sự biểu hiện của kết cấu ở
bên ngoài tác phẩm.
Kết cấu một tác phẩm văn học cũng khác hẳn với vấn đề cấu trúc của
nó. Cấu trúc của tác phẩm chỉ là phần ổn định, bất biến của tác phẩm đó. Chủ
nghĩa cấu trúc xem tác phẩm có một kết cấu bất biến, bỏ qua cái độc đáo, cá
biệt, không lặp lại của tổ chức tác phẩm. Kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm
trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó. Kết cấu tác phẩm không phải

là sự liên kết các yếu tố theo những công thức, biện pháp có sẵn, mà là liên
kết theo sự phát triển của đời sống và suy nghĩa của nhà văn phù hợp với sự
logic của quá trình phát triển nội dung tác phẩm.

1. 2.2. Kết cấu là phơng tiện khái quát nghệ thuật
Kết cấu đợc coi là phơng tiện tổ chức hình tợng nghệ thuật và khái
quát t tởng, cảm xúc, đó đồng thời là vai trò quan trọng mà kết cấu đảm
nhận.
Là phơng tiện khái quát, kết cấu ra đời cùng lúc với ý đồ nghệ thuật
của tác phẩm, cụ thể hoá cùng với sự phát triển của hình tợng. Không pjải tạo
ra hình tợng có sẵn rồi sau đó mới tạo ra kết cấu, không phải trong đầu nhà
văn đã sáng tạo ra cốt truyện, ra nhân vật, hoàn chỉnh sự liên kết giữa các yếu
tố cốt truyện rồi mới đem đặt vào một mô hình kết cấu có sẵn.
Kết cấu xuất hiện nh là một mặt của bản thân hình tợng đợc sáng tạo, đó là
một quá trình đợc thực hiện đồng thời với nhau.

10


Kết cấu một tác phẩm không chỉ là liên kết các hiện tợng, con ngời ,
nhiệm vụ của nhà văn là sử dụng các biện pháp liên kết để làm nổi bật những
giá trị chủ yếu, đích thực của tác phẩm. Và kết cấu nh một phơng tiện
khái quát nghệ thuật, bộc lộ vai trò của nó trong quá trình khái quát trình tự
các chi tiết. Khi kết cấu thay đổi t tởng của tác phẩm cũng sẽ thay đổi. Đây là
một quá trình tác động biện chứng giữa kết cấu và nội dung tác phẩm, do đó
sự lựa chọn kết cấu của nhà văn luôn đặt song song với sự lựa chọn, làm thế
nào để có thể bộc lộ một nội dung thật trọn vẹn, phát huy tối đa sức tác động
thẩm mỹ của tác phẩm. Điều đó phản ánh tầm quan trọng của kết cấu.
1.3. Các bình diện và cấp độ của kết cấu
Kết cấu là một khái niệm khá rộng lớn và phức tạp, nó liên quan đến

nhiều phơng diện: ý đồ sáng tạo, điểm nhìn, vai trò ngời trần thuật, cốt
truyện, thể loạinên đánh giá đúng phạm vi của nó là một công việc khá khó
khăn. Vai trò cũng nh tác dụng, ý nghĩa của khái niệm này không chỉ tập
trung ở một khía cạnh nào đó liên quan đến tác phẩm, mà nó tỏ rõ vai trò của
mình ở tất cả các mặt, các phơng diện thuộc về cả nội dung lẫn hình thức của
tác phẩm đó. Thậm chí, ở một mức độ lớn hơn, sáng tác chính là kết cấu, một
tác phẩm nghệ thuật ra đời chính là một kiểu kết cấu mới, cha hề lặp lại trớc
đó
1.3.1. Bình diện quy luật tổ chức thể loại
Khái niệm kết cấu đợc xem xét ở bình diện quy luật tổ chức thể loại,
tức khi đó kết cấu đợc coi là một công trình nghệ thuật có những nét đặc trng
khác biệt với các công trình thuộc các lĩnh vực khác về mặt tổ chức chất liệu
ở bình diện này,chúng ta có thể phân biệt rõ kết cấu của loại hình văn
học nghệ thuật với kết cấu của các loại hình nghệ thuật khác nh: điêu khắc,
hội hoạ, kiến trúcNhững tác phẩm thuộc các loại hình này sẽ mang một đặc
trng riêng, và văn học cũng mang trong nó một đặc trng riêng biệt về mặt sắp
xếp, tổ chức các yếu tố cấu thành. Cùng một chất liệu hiện thực, nhng nếu
điêu khắc sử dụng đờng nét, hội hoạ sử dụng màu sắc, kiến trúc sử dụng hình
khốilàm cơ sở căn bản để tạo ra kết cấu của tác phẩm ,làm cho kết cấu của
tác phẩm đó mang những dấu ấn riêng thì văn học lại từ những chất liệu hiện
thực, nhà văn sắp xếp , phân bố lại để tạo ra tác phẩm trên cơ sở phơng tiện
ngôn từ. Do đó , kết cấu của các tác phẩm thuộc các lĩnh vực này là hoàn
toàn khác nhau.
Và ngay trong một loại hình văn học, khái niệm này cũng đợc mở rộng
để xem xét ở các thể loại khác nhau: thể loại tự sự, thể loại trữ tình, thể loại

11


kịch.Từ đó hình thành nên các cách tổ chức tác phẩm khác nhau, tức là hình

thành nên những kết cấu khác nhau: kết cấu tự sự, kết cấu trữ tình, kết cấu
kịch. Kết cấu một vở kịch khác hẳn với kết cấu một bài thơ, kết cấu một bài
văn tế cũng khác xa so với kết cấu một bài hịch Do đó xem xét ở tất cả các
bình diện của kết cấu cũng là một phạm vi rộng lớn và khá đa dạng. Khả
năng mở rộng của khái niệm kết cấu ở bình diện này là rất lớn, vì mỗi một
thể loại văn học đều có một phơng thức tổ chức riêng. Văn học phân chia ra
các loại hình cụ thể đến đâu thì kết cấu cũng đợc phân biệt rõ ràng đến đó.
Ngay trong thể loại tiểu thuyết, kết cấu của từng loại cũng không
giống nhau. Kết cấu của một cuốn tiểu thuyết chơng hồi sẽ khác so với kết
cấu của một cuốn tiểu thuyết hiện đại. Sự khác nhau đó chịu sự chi phối của
việc sắp xếp các dữ liệu trong tác phẩm, và việc phát triển cốt truyện cũng
nh hình tợng nhân vật nó.
1.3.2. Bình diện văn bản nghệ thuật
Khái niệm kết cấu còn đợc xem xét ở bình diện văn bản nghệ thuật
tức là nghiên cứu mối quan hệ quy định và tuỳ thuộc của các cấp độ tác
phẩm nh một chỉnh thể. ở bình diện này chúng ta chỉ xem xét kết cấu trên cơ
sở văn bản của tác phẩm văn học, nó có nhiều cấp độ khác nhau.
1.3.2.1 Cấp độ trần thuật
ở cấp độ này, ngời ta nói đến kết cấu nh là một hệ thống các yếu tố
thuộc về phơng thức trần thuật, cũng nh là sự tổ chức các câu, sự vận dụng
cuả các phơng thức tu từ. ở đây, ngời ta thờng nói đến bố cục nh là một kết
cấu bề mặt, bao gồm sự sắp xếp phân bố các phần của nội dung vào các
mảng của trần thuật nh chơng, đoạn. Và do đó kết cấu ở cấp độ này đợc
xem xét ở mặt hình thức, và đợc nhìn nhận một cách rõ ràng ở sự phân bố các
chơng, các đoạn của tác phẩm ở bề ngoài. Nghiên cứu kỹ kết cấu tức là đã đi
sâu nghiên cứu đặc trng thể loại, đặc điểm tổ chức thể loại của từng loại hình
văn học khác nhau.
1.3.2.2. Cấp độ hình tợng
Cấp độ này của kết cấu gắn liền với toàn bộ tổ chức của thế giới nghệ
thuật bao gồm hệ thống nhân vật, hệ thống các sự kiện, tình tiết và trình tự

xuất hiện của chúng, tơng quan các chi tiết tạo hình, biểu hiện tạo nên bức
tranh sinh động về cuộc sống. Đây là cấp độ kết cấu bề sâu, và nghiên cứu
chúng là phải nghiên cứu kỹ tác phẩm về mặt tổ chức các yếu tố nghệ thuật.
ở cấp độ hình tợng, nếu đi sâu vào vấn đề kết cấu chúng ta có khái
niệm kết cấu hình tợng. Kết cấu hình tợng về bản chất chính là sự phân bố

12


một cách hợp lý thế giới hình tợng trong tác phẩm, sao cho sự phân bố đó
đem lại ý nghĩa quan trọng cho việc bộc lộ chủ đề, t tởng tác phẩm.

2. Kết cấu tiểu thuyết

2.1. Đặc điểm kết cấu tiểu thuyết chơng hồi
2.1.1. Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận
đại và hiện đại, tuy nhiên nguồn gốc sự ra đời của nó lại từ rất lâu. Không
phải ngẫu nhiên mà tiểu thuyết đợc coi là hình thái chủ yếu của nghệ thuật
ngôn từ, sử thi của thời đại mới (Hegel) - điều đó chứng tỏ vị trí then chốt
của nó trong đời sống văn học toàn nhân loại. Tiểu thuyết với những đặc trng
riêng của nó về dung lợng, về quy mô tác phẩm, có những khả năng riêng
trong việc tái hiện với một phạm vi lớn những bức tranh hiện thực đời sống
trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận
con ngời, của lịch sử, của đạo đức phong tụcnghĩa là tiểu thuyết có năng
lực phản ánh hiện thực một cách sinh động và bao quát.
ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện sớm, vào thời Ngụy, Tấn dới dạng
chí quái, chí nhân. Sang đời nhà Đờng , xuất hiện loại tiểu thuyết
truyền kỳ, đời Tống xuất hiện thêm tiểu thuyết thoại bản. Văn học Trung
Quốc bớc sang bớc sang giai đoạn phát triển rực rỡ của tiểu thuyết chính là ở

thời kỳ Minh Thanh. Nhìn một cách tổng quát, tiểu thuyết Minh Thanh
là sự kết tinh đầy đủ mọi tinh hoa truyền thống của nền văn xuôi lâu đời
Trung Quốc. Các bộ tiểu thuyết nh Tam quốc, Thuỷ hử, Nho lâm ngoại sử,
Hồng lâu mộngxứng đáng đợc coi là những đỉnh cao của thể loại tiểu
thuyết cổ điển Trung Quốc bởi tính chất mẫu mực của nó ở hầu hết các phơng diện: kết cấu, cách xây dựng nhân vật, không gian, thời gian Các phơng diện này của tiểu thuyết đều mang đậm đặc trng riêng của tiểu thuyết cổ
điển và đợc coi là dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt tiểu thuyết cổ điển và
tiểu thuyết hiện đại sau này.
2.1.2. Kết cấu tiểu thuyết chơng hồi
Về mặt kết cấu, tiểu thuyết cổ điển ( hay còn gọi là tiểu thuyết chơng
hồi) có những đặc điểm riêng khu biệt với các thể loại tiểu thuyết khác. Tiểu
thuyết chơng hồi đầu tiên phải nói đến là nó thuộc loại hình văn hoá trung
cổ, nó có những đặc trng chịu ảnh hởngcủa loại hình văn hoá nơi nó ra đời và
tồn tại. Văn hoá trung cổ mang màu sắc riêng không hề giống với loại hình
văn hoá các thời đại sau.
13


Tiểu thuyết chơng hồi có những đặc điểm riêng về kết cấu. Nh chúng
ta đã biết, dới sự thống trị tàn bạo của nhà Minh và nhà Thanh về văn hoá,
các nhà văn không có cơ hội bày tỏ thẳng thắn quan điểm của cá nhân mình
về xã hội, về hiện thực cuộc sống bên ngoài. Chính sách ngục văn tự của
các triều đại phong kiến Minh Thanh đã ảnh hởng sâu sắc tới quá trình
sáng tác của các văn nhân, khiến họ không dám sáng tạo nghệ thuật một cách
công khai. Làm sách mà không đúng ý nhà vua, hoặc làm một câu thơ mà bị
nghi kỵ sẽ bị chém đầu, nếu chết rồi thì bị đào mồ, bà con, họ hàng, ngời đề
tựa, ngời khắc in đều bị liên lụy. Đó chính là lý do vì sao 9/10 tiểu thuyết
Minh Thanh lấy đề tài và cốt truyện từ thoại bản xuất hiện ở thời Tống.
Thoại bản là bản gốc để thuyết thoại nhân (ngời kể chuyện) kể lại. Và đây
cũng chính là nguồn gốc cơ bản ban đầu hình thành nên kết cấu riêng biệt
của tiểu thuyết chơng hồi.

Kết cấu của tiểu thuyết chơng hồi là sự liên kết giữa các hồi lại với
nhau, nói cách khác, các hồi trong một câu chuyện đợc gắn kết lại với nhau
theo một cách nào đó, tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh về nội dung và
hình thức. Một cuốn thiểu thuyết ít là vài chục, nhiều là một trăm hoặc hơn
hợp thành. Tam quốc chí diễn nghĩa bao gồm 120 hồi, Tây du ký có 100 hồi,
Hồng lâu mộng có 120 hồi, Nho lâm ngoại sử có 55 hồiMỗi hồi kể một câu
chuyện hoặc vài ba câu chuyện tơng đối hoàn chỉnh, nọi dung của mỗi một
hồi ít nhiều đủ cung cấp cho ngời đọc một cốt truyện đầy đủ.
Nh vậy kết cấu của một cuốn tiểu thuyết chơng hồi về cơ bản lấy hồi
làm hạt nhân cấu tạo nên tác phẩm. Một tác phẩm hoàn chỉnh là sự liên kết
giữa các hồi lại với nhau, tất nhiên đó không phải là sự liên kết cơ học, máy
móc. Một tác phẩm trọn vẹn, thể hiện trớc hết là ở sự hài hoà, vẻ đẹp kiến
trúc của nó, nhng vẻ đẹp kỹ thuật này cũng chỉ thực sự phát huy tác dụng, khi
nào nó phục vụ cho một nội dung chân thực, sâu sắc. Và nh thế, kết cấu theo
hồi dù sao cũng chỉ là kết cấu bên ngoài, nơi ngời đọc tiếp xúc tác phẩm dễ
dàng nhìn thấy bởi nó có những dấu hiện trần thuật riêng biệt. Phạm vi dung
lợng một hồi có nguồn gốc từ việc các thoại nhân mở đầu và kết thúc buổi
kể chuyện của mình, họ dừng câu chuyện đang kể dở dang vào đúng thời
điểm nhất định nào đó, để tiếp tục vào lần sau.Vì thế mỗi một hồi đại để
giống nhau về độ dài, mở đầu một hồi thờng dùng hai câu thơ đối ngẫu tóm
tắt đại ý, kết thúc thờng bằng câu hạ hồi phân giải
Tuy nhiên, kết cấu lấy hồi làm hạt nhân chỉ là kết cấu ở bề ngoài, còn
kết cấu ở nội dung tác phẩm lại lấy đoạn làm đơn vị cơ bản. Mỗi một

14


đoạn có thể bao gồm một hồi hoặc nhiều hồi kết hợp lại với nhau, và kể
một sự kiện tơng đối hoàn chỉnh. Dấu hiệu nhận ra đoạn không nằm ở hình
thức bên ngoài mà nằm ở nội dung tác phẩm, đòi hỏi ngời đọc phải đọc kĩ

mới nhận ra. Một đoạn có thể nằm trọn trong một hồi, có thể nằm trong
nhiều hồi liên kết lại với nhau, đó là kết cấu ở tầng nghĩa nằm sâu trong tác
phẩm.
Tiểu thuyết chơng hồi nhìn chung đều có một cốt truyện hoàn chỉnh,
cốt truyện đó xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm và đợc các sự kiện, các
biến cố, các chi tiết làm cho hoàn chỉnh dần dần. Tây du kí là câu chuyện
kể về cuộc hành trình của bốn thầy trò đi về Tây Trúc thỉnh kinh, Thủy hử
là câu chuyện kể về cuộc khởi nghĩa của anh em Tống Giang và các anh
hùng Lơng Sơn Bạc, diễn biến và thất bại của nó, Tam quốc chí diễn nghĩa
kể về quá trình tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến Trung
Quốc Cốt truyện đó đợc hoàn chỉnh bởi sự liên kết của các chi tiết nghệ
thuật, hình tợng nhân vật, lời văn, bố cục, nó không thay đổi mà chỉ đợc bổ
sung để hoàn thiện dần. Có thể xem cốt truyện là một cái xơng sống trên một
cơ thể, nó là yếu tố quyết định sự hoàn thiện của một tác phẩm văn học.
2.2. Đặc sắc của Nho lâm ngoại sử về mặt kết cấu
Nho lâm ngoại sử đợc viết trong một bối cảnh chính trị xã hội phức
tạp và rất mất ổn định của Trung Hoa cổ xa. Lúc này quân xâm lợc Mãn
Thanh đã đặt ách thống trị lên toàn cõi Trung Hoa rộng lớn. Đối mặt với tinh
thần phản kháng quyết liệt của toàn dân tộc, chúng thi hành những chính
sách vừa ôn hòa ,vừa khắc nghiệt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Riêng về văn hóa, một mặt chúng dụ dỗ, lừa phỉnh, mua chuộc các phần tử
trí thức, thông qua con đờng thi cử để lựa chọn nhân tài thực chất là cách
thức để biến họ thành những tên nô lệ suốt đời phục vụ triều đại Mãn Thanh,
nhng mặt khác lại dùng văn tự ngục để đàn áp về mặt văn hóa, dập tắt con
đờng phản kháng bằng văn hóa của quần chúng lao động. Ngô Kính Tử đã
viết tác phẩm của mình trong hoàn cảnh nh vậy, nên chúng ta không lạ gì khi
bối cảnh câu chuyện lại đợc đặt trong khoảng từ năm 1487 đến năm 1595 đời
Minh kéo dài trên 100 năm.
Tác phẩm này không chỉ mang giá trị đặc sắc về mặt nội dung mà nó
còn có một kết cấu hết sức đặc biệt. Mặc dù vẫn thuộc loại hình tiểu thuyết

cổ điển, chịu ảnh hởng sâu sắc cách thức kết cấu của loại tiểu thuyết chơng
hồi , nhng Nho lâm ngoại sử vẫn có những nét riêng về mặt kết cấu mà
các bộ tiểu thuyết ra đời trớc, thậm chí sau nó đều không có đợc. Điều này

15


tạo nên tính riêng biệt ,sâu sắc của tác phẩm bên cạnh những nét bất biến
chịu ảnh hởng của thể loại tiểu thuyết chơng hồi. Và điều này cũng là lí do
giải thích tại sao Nho lâm ngoại sử lại có sức hút lớn nh vậy.
Nét đặc sắc của kết cấu tác phẩm này là ở chỗ, hệ thống trần thuật của
nó xoay quanh chủ đề và t tởng trung tâm. Nếu tình tiết, cốt truyện của các
bộ tiểu thuyết trên xoay quanh những sự kiện, biến cố, và những nhân vật
chính , coi đây là những yếu tố xuyên suốt toàn truyện thì Nho lâm ngoại
sử lại lấy chủ đề t tởng làm hạt nhân cơ bản. Tác phẩm không có một cốt
truyện hoàn chỉnh, không có một số nhân vật chính thâu tóm toàn bộ nội
dung tác phẩm, nó chỉ có một chủ đề t tởng trung tâm. Nhân vật chính ở đây
chỉ có thể đợc hiểu là hình tợng Nho lâm (tức là một rừng Nho - một tập
hợp đông đảo các nhà Nho phức tạp và sinh động), mà mỗi nhân vật bộc lộ
một mặt nào đó của đời sống xã hội, tốt có, xấu có, nhân nghĩa có, giả dối
có, già có, trẻ có.Mỗi nhân vật tiêu biểu cho một khía cạnh của cuộc sống,
khi tập hợp , sắp xếp lại sẽ tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh của rừng Nho
.
Nh vậy, nhân vật ở đây không phải là thành phần chính yếu của tác
phẩm, vì tác phẩm không hề có nhân vật chính, nhân vật phụ, tất cả chỉ là
những phơng tiện để bộc lộ chủ đề t tởng của tác phẩm mà thôi. Có thể hình
dung toàn bộ tác phẩm là một chỉnh thể có một t tởng làm cốt lõi, cuộc đời
của từng cá nhân con ngời sẽ là một mảng màu phản ánh một phơng diện của
cuộc sống. Toàn bộ tác phẩm sẽ là một bức tranh ,và nó do nhiều mảng màu,
số phận, mảnh đời ghép lại.

Điều này có thể giải thích là do tác phẩm không phải đợc viết ra nhằm
để thể hiện lịch sử của một vài nhân vật cụ thể mà là viết về lịch sử của cả
một tầng lớp trong một xã hội rộng lớn. Do đó tác phẩm không xoay quanh
nhân vật mà xoay quanh một chủ đề, nhân vật do đó không có ai là chính,
không có ai là phụ cả, tất cả nh xếp hàng mà đến, đến là có chuyện, mà đi
thì chuyện cũng hết luôn ( Lỗ Tấn). Chính Lỗ Tấn cũng đã nói tác phẩm
cuối cùng là nh góp các mảnh gấm lại đem ghép thành một bức tranh, tuy
không phải to lớn gì nhng có lúc quý lạ, làm cho ngời ta nhìn ngắm bằng con
mắt khác biệt với thờng ngày.
Mặc dù không có một nhân vật chính nhng đầu đuôi câu chuyện vẫn
liên kết, vẫn dính kết lại với nhau. Nó vẫn có sự sắp xếp trình tự các câu
chuyện, các nhân vật với sự ứng chiếu của tình tiết trong toàn bộ câu chuyện.
Có nghĩa là mặc dù là sự lắp ghép số phận, cuộc đời của từng nhân vật lại với

16


nhau để tạo thành một tác phẩm hoàn chỉnh, nhng đó là sự lắp ghép trên cơ
sở các mối liên hệ nội tại với nhau. Câu chuyện về mỗi nhân vât bắt đầu và
kết thúc liên kết với nhau, khâu này móc vào khâu kia,có mối quan hệ bên
trong rất chặt chẽ, nên câu chuyện không hề bị rời rạc
Chủ đề t tởng nằm ở vị trí trung tâm của tác phẩm chính là thái độ
phê phán nghiêm khắc, gay gắt chế độ khoa cử của tác giả đối với xã hội lúc
bấy giờ. Ngô Kính Tử vạch trần không thơng tiếc tác hại của chế độ khoa cử,
của loại văn bát cổ và quy tất cả bộ mặt giả dối, tàn ác của bọn thống trị cũng
nh sự tha hóa về mặt đạo đức, nhân cách của đám văn nhân là do nó tạo ra.
Xung quanh chủ đề t tởng cốt lõi này, ông xây dựng lên nhiều hình tợng nhân
vật, mỗi một hình tợng phản ánh một mặt của xã hội do khoa cử thống trị
đó . Phản kháng, tỏ thái độ căm ghét, coi khinh là nhân vật Vơng Miện
xuất hiện ngay từ hồi 1, kẻ nô lệ, ngời phát ngôn cho chính chế độ đó một

cách mù quáng là nhân vật Mã Thuần Thợng, tiêu biểu cho quá trình tha hóa
của tầng lớp văn nhân là Khuông Siêu Nhân, nạn nhân của chính xã hội đó là
Phạm Tiến, Chu Tiến Nh vậy, mỗi một nhân vật đại diện cho một khía cạnh
của chủ đề trung tâm, các nhân vật này cùng hoạt động của họ có mối liên hệ
với nhau, làm cho tác phẩm không rời rạc mà có sự kết dính xoay quanh chủ
đề
Kết cấu đó tạo nên nét đặc sắc cho tác phẩm, đồng thời cũng tạo ra
nét đặc sắc riêng góp phần không nhỏ vào việc bổ sung cho lý luận kết cấu
một minh chứng cụ thể về tính đa dạng của kết cấu. Tuy nhiên, để có thể hiểu
đợc nét đặc sắc, đổi mới trong kết cấu cuốn tiểu thuyết này, chúng tôi
sẽ triển khai sự tiếp cận của mình theo hai hớng chính của lý luận kết cấu
+ Kết cấu văn bản trần thuật
+ Kết cấu hệ thống hình tợng nhân vật

17


Chơng 2:
Kết cấu văn bản trần thuật của Nho lâm ngoại sử
1. Kết cấu văn bản trần thuật một ph ơng diện quan trọng
của kết cấu tác phẩm

1.1. Trần thuật là gì?
Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện,
tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn
theo một cách nhìn nhất định. Hiểu một cách đơn giản, trần thuật tức là kể lại
câu chuyện với đầy đủ các tình tiết, các biến cố của câu chuyện đó, cũng nh
các biến cố của các nhân vật tham gia câu chuyện. Vai trò của khái niệm này
trong văn thơ là hết sức quan trọng, nó giúp ngời đọc hình dung đợc diễn
biến cốt truyện một cách đầy đủ và chuẩn xác.

Nhà văn thực hiện trần thuật thông qua thao tác trần thuật, tức là cách
thức mà nhà văn đa chất liệu của cuộc sống bên ngoài vào văn chơng, là quá
trình nhà văn lựa chọn cái gì, bỏ cái gì, thêm cái gì, và phản ánh vào tác
phẩm ra sao
Toàn bộ một văn bản nghệ thuật hoàn chỉnh là một chuỗi ngôn từ gồm
nhiều chơng, tiết, đoạnkết hợp lại với nhau. Mỗi đoạn nh vậy ứng với một
nội dung nhất định, có nhiệm vụ trình bày những phần nhất định của hình tợng. Dĩ nhiên, các thành phần ấy không phải là có sẵn rồi, nhà văn chỉ có
nhiệm vụ lắp ghép lại với nhau. Nhà văn không thể viết một đoạn văn mà cha
xác định đoạn văn đó mang nội dung gì, nhng nhà văn cũng không thể lắp
ghép các đoạn văn lại với nhau một cách ngẫu nhiên. Nếu thế, thì trần thuật
trong tác phẩm văn học đã đợc hiểu quá máy móc. Các đoạn, các chơng ấy
bản thân nó đã đợc lựa chọn kỹ về tình tiết, về sự kiện, về nhân vật đợc kể lại
trong đó, và các đoạn, các chơng ấy kết hợp với nhau phải theo một logic hợp
lý, có trình tự nhất định phục vụ cho một chủ đề, t tởng nhất định.
Nhìn chung,tất cả các bộ tiểu thuyết cổ điển đều sử dụng phần nhiều
yếu tố trần thuật, điều đó xuất phát từ nguyên nhân hình thành nên loại hình
tiểu thuyết chơng hồi này. Với nguồn gốc từ thoại bản, các thoại nhân kể
lại câu chuyện với đầy đủ các diễn biến cụ thể của nó,nhiều khi đến mức chi
tiết (hồi Võ Tòng đả hổ có ngời đã kể trong 60 đêm). Đó chính là lý do
giải thích vì sao các bộ tiểu thuyết này thiên về trần thuật nhiều hơn cả

18


Nho lâm ngoại sử cũng sử dụng phần lớn yếu tố trần thuật, tác giả
kể lại câu chuyện về rừng Nho một cách có trật tự, có đầu đuôi.Toàn bộ tác
phẩm là sự trần thuật hài hòa về cuộc đời của các Nho sĩ, từ thủa hàn vi đến
khi bị đẩy đến đờng cùng của sự tha hóa, hoặc toàn bộ cuộc đời thiên lơng
trong sạch của mình dù có trải qua bao biến cố do chế độ hà khắc đè nén
nhân tài thời đó đa lại. Tác giả đã trần thuật một cách chi tiết diễn biến, hành

động, việc làm của các nhân vật trong một cốt truyện hoàn chỉnh.
1.2. Kết cấu trần thuật
Chúng ta đã biết, một tác phẩm không phải là sự trần thuật lại nội dung
câu chuyện, những biến cố của hình tợng nhân vật một cách tuần tự, máy
móc. Một tác phẩm sử dụng yếu tố trần thuật không có nghĩa là nó đã có một
kết cấu trần thuật hoàn chỉnh. Trần thuật là sự thể hiện của hình tợng văn
học, truyền đạt nó tới ngời thởng thức, thể hiện một cách tốt nhất giá trị nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học. Trần thuật nếu đợc sử dụng một
cách thẩm mĩ, bị chi phối bởi ý đồ sáng tạo của nhà văn thì khi đó ta có khái
niệm kết cấu trần thuật, tức là trần thuật đó đã tạo ra một cái khung hợp lý,
trong đó hình tợng văn học đợc sắp xếp, phân bố một cách hài hòa, theo một
mục đích nhất định. Kết cấu trần thuật có ý nghĩa rất lớn trong việc bộc lộ
chủ đề t tởng của tác phẩm.
Kết cấu trần thuật về bản chất chính là sự phân bố thế giới hình tợng
vào một văn bản ngôn từ nhằm đạt đợc hiệu qủa t tởng thẩm mĩ nhất định mà
nhà văn đã có chủ định khi lựa chọn. Sự phân bố đó theo trật tự nh thế nào,
rộng hẹp ra saođều phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của nhà văn, vì vậy thể
hiện một kết cấu trần thuật độc đáo trong tác phẩm của mình cũng là một yêu
cầu đặt ra với những ngời cầm bút. Kim Thánh Thán khi nhận xét về bộ tiểu
thuyết Thuỷ hử đã viết : Một bộ sách lớn bảy mơi hồi, viết 108 ngời nhng
mở đầu cha viết 108 ngời vội mà miêu tả Cao Cầu trớc đã. Đó là vì nếu
không tả Cao Cầu trớc mà viết ngay 108 ngời thì tức là loạn nảy sinh từ dới.
Nếu không viết 108 ngời trớc, mà viết Cao Cầu trớc thì tức là loạn nổi từ
trênthật là có lý vậy. Nh thế trật tự cũng nh kết cấu của trần thuật có vai
trò vô cùng lớn nếu không muốn nói có ảnh hởng quyết định tới giá trị t tởng
của tác phẩm. Chỉ riêng việc sắp xếp chuyện gì nên kể trớc, chuyện gì nên kể
sau, dung lợng mỗi truyện dài ngắn nh thế nào, cách thức liên kết các truyện
lại với nhau thành một thể thống nhất ra sao, cũng đã có ý nghĩa đối với việc
bộc lộ chủ đề tác phẩm. Trần Xuân Đề khi nghiên cứu về tác phẩm Tây du
ký cũng đã có nhận xét: Mở đầu tác phẩm không nói về quá trình đi Tây


19


Trúc thỉnh kinh của bốn thầy trò Đờng Tăng mà lại miêu tả sự ra đời khác
thờng của Tôn và không phải con khỉ đá này vô cớ xuất hiện ở trần gian,
đôi mắt có hào quang sáng chói của nó báo hiệu điều gì đó không hay cho
cái trật tự an ninh của thế giới thần. Đó là một kết cấu trần thuật mang một
đặc điểm riêng biệt và nó góp công vào việc thể hiện giá trị t tởng của nhà
văn La Quán Trung khi mợn thế giới thần linh hỗn loạn để nói về xã hội
Trung Hoa cũng đang nhiều biến động không kém.
Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử cũng có một kết cấu trần thuật
khá độc đáo. Mặc dù nội dung chính của bộ tiểu thuyết này là ngoại sử về
rừng Nho tức là những câu chuyện không nằm trong lịch sử chính thống
của tầng lớp Nho sỹ, nhng tác giả vẫn đan xen vào đó nhng câu chuyện về
những con ngời phát ngôn cho t tởng của ông.Toàn bộ tác phẩm là thái độ
phê phán gay gắt của tác giả vào bộ mặt thực sự của xã hội Trung Hoa đơng
thời dới những chính sách và quy định gắt gao, hà khắc trong lĩnh vực khoa
cử. Ngô Kính Tử vạch trần không thơng tiếc tác hại của chế độ khoa cử, của
loại văn bát cổ. Theo ý ông ,đó là nguyên nhân căn bản của các bi kịch xã
hội: phong tục lễ giáo bị bại hoại, nhân cách con ngời bị biến đổi tha hoá và
nền chính trị quốc gia trở thành thối nát. Miêu tả và dựng lại bức tranh xã hội
hỗn loạn và đen tối của đất nớc Trung Hoa đơng thời, Ngô Kính Tử đã xây
dựng nên một loạt các hình tợng nghệ thuật phong phú và khá đa dạng. Và
với ngòi bút tinh tế, ông đã lựa chọn và phân bố các hình tợng này một cách
đặc biệt để tạo thành một kết cấu trần thuật khá khác lạ so với các cuốn tiểu
thuyết cùng thời.
Miêu tả cuộc sống tha hoá, biến chất của các Nho sỹ hám danh, a
chuộng vinh hoa phú quý, vì địa vị tiền tài mà sẵn sàng đánh đổi cả nhân
cách của mình, từ bỏ những mối quan hệ thiêng liêng , cao quý, đó là chủ đề

chính của Nho lâm ngoại sử. Và lựa chọn chủ đề đó, Ngô Kính Tử muốn
thể hiện thái độ phủ định chế độ khoa cử, và ớc mơ về một xã hội mới công
bằng hơn. Và tác phẩm bắt đầu không phải bằng việc miêu tả hình thái hay
một cuộc sống của một kẻ sỹ đại diện cho chế độ xã hội đồi bại lúc bấy giờ.
Tác phẩm mở đầu bằng việc miêu tả hình tợng nhân vật Vơng Miện- một con
ngời trung thực, thẳng thắn, coi trọng cái đẹp và coi thờng mọi vinh hoa phú
quý ở đời. Đây là một con ngời không chịu ảnh hởng của chế độ thi cử đơng
thời, không ăn phải bả công danh, suốt cuộc đời sống thanh bạch. Vơng
Miện đợc coi là tiếng nói phát ngôn của tác giả về loại Nho sỹ nên có trong
thiên hạ.

20


Nh vậy, tác phẩm lấy việc miêu tả cuộc sống suy thoái nghiêm trọng về
mặt đạo đức của tầng lớp các nhà Nho trong xã hội cũ làm mục đích chính,
nhng tác phẩm lại không trực tiếp viết về cuộc sống đó ngay từ chơng đầu
tiên. Việc đa hình tợng Vơng Miện lên đầu tác phẩm và dành trọn cả hồi 1 để
viết về nhân vật này đã tạo nên sự đặc sắc trong kết cấu của toàn bộ tác
phẩm.
Bất cứ một văn bản ngôn từ nào cũng có mở đầu và kết thúc, chuỗi
ngôn từ mở đầu cho đến kết thúc là một trật tự cố định không thể thay đổi, và
trật tự đó là xuất phát từ ý đồ của nhà văn nhằm mục đích tạo ra một hiệu quả
thẩm mĩ nhất định. Nho lâm ngoại sử đã có một cách mở đầu thật ấn tợng
và từ cách mở đầu đó, đã tạo ra cho tác phẩm một kết cấu trần thuật riêngtức là một cách phân bố thế giới hình tợng riêng. Mở đầu bằng một hình tợng
đẹp nh vậy, tác giả Ngô Kính Tử một mặt đẩy sự phê phán châm biếm của
mình lên mức độ cao hơn do có sự tơng phản gay gắt giữa hai hệ thống hình
tợng nghệ thuật, một mặt bộc lộ gián tiếp khát vọng của tác giả về một xã hội
đẹp đẽ hơn, có tình ngời hơn.
Có thể khẳng định, Nho lâm ngoại sử là một cuốn tiểu thuyết có một

kết cấu trần thuật khá độc đáo, sự độc đáo đó không phải nằm ở chỗ mở đầu
và kết thúc của nó, mà là ở chỗ mặc dù tác phẩm xoay quanh việc trần thuật
tính cách cũng nh hành động của những con ngời thuộc tầng lớp Nho sỹ và
quan lại, nhng không phải Ngô Kính Tử trần thuật lại một cách tuần tự, theo
một diễn biến cốt truyện thống nhất. Nếu nh thế thì Nho lâm ngoại sử
không có đặc điểm gì khác so với các bộ tiểu thuyết cùng thời.
Hồng lâu mộng trần thuật lại mối tình trong sáng, cao đẹp giữa hai
nhân vật Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, từ đó làm lộ ra bộ mặt của cả xã
hội Trung Hoa trên bớc đờng suy tàn. Tây du ký cũng trần thuật lại cuộc
hành trình của bốn thầy trò Đờng Tăng vợt qua bao hiểm nguy để đến Tây
Trúc thỉnh kinh. Nhng hai tác phẩm này cũng chỉ là sự trần thuật tuần tự xoay
quanh một cốt truyện và một số nhân vật chính xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.
Hay nói cách khác kết cấu trần thuật ở đây không có sự phân bố ra các chơng, đoạn phản ánh các nội dung trần thuật một cách rõ ràng. Chỉ có Thuỷ
hử là có vẻ giống Nho lâm ngoại sử ở kết cấu trần thuật. Nhng Thuỷ hử
phân chia ra các tập hợp hồi dựa trên tình tiết, sự kiện chứ không phải dựa
trên hình tợng nhân vật nh N ho lâm ngoại sử. Nói cách khác, Thuỷ hử
dù cũng là một đoản thiên liên hoàn tuyểt thuyết, là sự góp lại của những
câu chuyện khác nhau, nhng toàn bộ các câu chuyện này thực chất là các

21


chuỗi sự kiện liên kết lại với nhau tạo thành tác phẩm hoàn chỉnh. Nó vẫn
chia ra một số nhóm hồi nh từ hồi 2 hồi 19 kể lại những số phận riêng lẻ
về các cá nhân anh hùng, từ hồi 19 hồi 41 đã thành một tập thể, hồi 42
hồi 70 bắt đầu quá trình xuất quân đánh phá các châu phủ,nhng thực ra chỉ là
những nhóm sự kiện đánh dấu những thời kỳ phát triển của lực lợng Lơng
Sơn Bạc, chứ không phải chia ra các nhóm hồi phản ánh từng mảng của cuộc
sống.
Nho lâm ngoại sử về mặt kết cấu trần thuật đã tạo ra các nhóm hồi

dựa trên các nhóm hình tợng, cốt truyện ít thấy sự phát triển, chỉ có sự bổ
sung từ các nhóm hình tợng thể hiện tập trung qua các nhóm hồi để làm
hoàn chỉnh chủ đề t tởng tác phẩm.
Và nh vậy, kết cấu của cuốn tiểu thuyết này về vấn đề phân bố thế giới
hình tợng đã có một dấu ấn riêng biệt. Nó tạo nên một điểm đặc biệt không
lặp lại ở tác phẩm nào khác. Và không chỉ riêng ở cách mở đầu, kết thúc,
toàn bộ nội dung tác phẩm là một kết cấu trần thuật độc đáo, lấy hình tợng
nhân vật làm đơn vị trung tâm để cấu tạo nên kết cấu đó.
2. Sự phân bố thế giới hình tợng trong tác phẩm.

2.1. Nho lâm ngoại sử vẫn đợc tổ chức theo những đặc trng của thể
loại tiểu thuyết chơng hồi, tức là lấy hồi làm đơn vị cấu tạo cơ bản. Toàn bộ
tác phẩm có 55 hồi, miêu tả toàn bộ cuộc sống tha hoá, biến chất của một số
đông các nhà Nho dới ảnh hởng tiêu cực của chế độ khoa cử mà triều đình
Mãn Thanh đặt ra, và sự sụp đổ không thể cứu vãn nổi của rừng Nho dới
những tác động của xã hội. Tác phẩm còn là sự cố gắng cứu vãn những giá trị
văn hoá đang bị mai một dần của tác giả, với hy vọng về một cuộc sống mới
ấm no và công bằng hơn. Nhìn chung, về cơ bản Nho lâm ngoại sử vẫn là
một cuốn tiểu thuyết cổ điển viết theo kiểu chơng hồi, và mỗi một hồi
miêu tả một sự kiện tơng đối trọn vẹn về nội dung.
Ví dụ nh hồi 3, kể lại gần nh trọn vẹn quá trình đi thi, đỗ đạt của nhân
vật Phạm Tiến. Sau khi Chu Tiến đã ra làm học đạo, và đợc bổ làm quan
chấm thi, khi chấm bài, Chu Tiến cho Phạm Tiến đỗ. Toàn bộ hồi 3 miêu tả
một cách chân thực với ngòi bút châm biếm sâu sắc thái dộ của họ hàng, gia
đình khi nghe tin Phạm Tiến thi đỗ. Đây có thể xem nh một vở hài kịch ngắn
có đầy đủ tất cả các giai đoạn: thắt nút, đỉnh caoCó cả thái độ coi thờng của
bố vợ Phạm Tiến đến thái độ cung kính, thờ phụng khi nghe tin con rể đỗ. Bà
mẹ thì quá choáng vì bất ngờ mà lăn ra chết, họ hàng thì xoay hẳn thái độ lại.
Đó là một hồi trọn vẹn, có cả mở đầu và kết thúc, miêu tả một sự việc trọn
vẹn, một câu chuyện hoàn chỉnh. Toàn bộ nội dung tác phẩm chính là sự liên

22


kết một cách khoa học, hợp lý các hồi lại với nhau, hay nói cách khác là
những câu chuyện đợc kể trong các hồi này liên móc xích vào nhau, tạo
thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, một thể thống nhất. Nho lâm ngoại sử
chính là một bức tranh mà mỗi một hồi là một mảng màu sắc, một đờng
nét kết hợp hài hoà, logic vào nhau.
Nh vậy, là một tiểu thuyết cổ điển, Nho lâm ngoại sử mang những
đặc trng của thể loại tiểu thuyết này về các phơng diện cơ bản nh kết cấu,
cách xây dựng hình tợng nhân vậtMỗi một hồi cũng mang đầy đủ đặc trng của loài tiểu thuyết chơng hồi, mở đầu, kết thúc theo những công thức bất
biến. Ngoài ra nó còn có những nét biến đổi tạo nên nét đặc sắc của cuốn tiểu
thuyết này so với các cuốn tiểu thuyết khác cùng thời.
2.2. Cách cấu tạo các nhóm hồi trong Nho lâm ngoại sử
Nét đặc sắc của Nho lâm ngoại sử là mặc dù vẫn đợc cấu tạo theo
quy phạm của tiểu thuyết cổ điển nhng trong sự phân bố thế giới hình tợng
lại có những sáng tạo mới. Toàn bộ tác phẩm là một nội dung trọn vẹn lấy
chủ đề rừng Nho làm trung tâm, và bút pháp châm biếm làm phơng thức
xây dựng cốt truyện. Xoay quanh chủ đề trung tâm đó là các mảnh đời đợc
tác giả thế hiện rất tinh tế và sâu sắc, các mảnh đời đó đợc xây dựng sao
cho giữa chúng có mỗi liên hệ với nhau tạo thành một hệ thống bao bọc xung
quanh chủ đề t tởng trung tâm. Chủ đề t tởng đó là con mắt phê phán kịch liệt
chế độ khoa cử và tầng lớp Nho sỹ của Ngô Kính Tử, và từ việc lấy t tởng đó
làm một nhân vật xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, tác giả đã tạo ra
một bức tranh về cuộc sống của tầng lớp Nho sỹ nói riêng và cả xã hội Trung
Hoa nói chung đang trong buổi hỗn loạn, nhố nhăng.
Tất nhiên khi nói hạt nhân cơ bản là hồi, thì có nghĩa mỗi hồi là một
hình tợng, một câu chuyện. Thực ra toàn bộ tác phẩm là các nhóm hồi
trong đó bao gồm nhiều hồi có chung một nội dung, một t tởng nghệ thuật,
một chủ đề tơng tự nhau. Cách cấu tạo ra các nhóm hồi nh vậy đã làm cho

kết cấu trần thuật của tác phẩm này có nét đặc sắc riêng biệt. Và mỗi một
nhóm hồi phản ánh một khía cạnh trong cuộc sống của rừng Nho, tốt có,
xấu có, sự thất vọng và hy vọng của tác giảTất cả tập hợp lại tạo nên một
chỉnh thể nghệ thuật vừa phong phú, đầy đủ về mặt nội dung vừa có đợc nét
riêng biệt không lặp lại về mặt kết cấu. Cụ thể trong tác phẩm, 55 hồi đợc
cấu tạo thành các nhóm hồi sau:

23


+ Hồi 1: Xây dựng biểu tợng có ý nghĩa tuyên ngôn sáng tác: Vơng
Miện. Hồi này đối lập khỏi phần còn lại của tác phẩm cả về mặt tình tiết lẫn
thời gian truyện
+ Nhóm các hồi từ hồi 2 đến hồi 30: Bức tranh về các nhà Nho tha hoá
+ Nhóm các hồi từ hồi 31 đến hồi 37: Bức tranh về các nhà Nho ngay
thẳng, chính diện và những cố gắng của họ trong việc khôi phục phong hoá,
khôi phục lễ nhạc
+Nhóm các hồi từ hồi 38 đến hồi 55: Sự suy tàn không cứu nổi của
rừng Nho, sự sụp đổ không tránh khỏi của văn hoá cử nghiệp.
Nét đặc sắc của kết cấu tác phẩm này không phải ở chỗ tạo ra các
nhóm hồi nh đã nói ở trên, mà là ở chỗ các nhóm hồi đó tồn tại không hề có
một cốt truyện chính nào, không hề có một nhân vật chính nào chạy suốt từ
đầu câu chuyện. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là một tập hợp các hạng ngời trong
xã hội nh Lỗ Tấn nói xếp hàng mà đến, kể đến là có chuyện, mà di thì
chuyện cũng hết luôn, cứ kể lần lợt từng ngời, từng ngời một, nh xếp hàng
điểm danh.
Hồng lâu mộng lấy Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc cùng mối tình
trong sáng, mạnh mẽ của họ để làm trung tâm của câu chuyện. Và từ trung
tâm này, toàn bộ bộ mặt của xã hội Trung Hoa đã lộ rõ nguyên hình: sự đồi
truỵ, ruỗng nát, sự đen tối, tàn bạo của chế độ phong kiến. Thuỷ hử cũng

lấy cuộc đấu tranh của 108 vị anh hùng Lơng Sơn Bạc chống lại triều đình
phong kiến nhằm xây dựng lại một xã hội mới công bằng hơn làm cốt truyện
cơ bản của mình. Tây du ký của Ngô Thừa Ân lấy việc bốn thầy trò Đờng
Tăng vợt qua bao gian khổ để đến Tây Trúc thỉnh kinh làm nhân vật và cốt
truyện của mình, để từ đó thêm thắt các chi tiết, các nhân vật, các biến cố, sự
kiện để hoàn chỉnh thêm cho tác phẩm. Còn Nho lâm ngoại sử, tất cả các
yếu tố cốt truyện, nhân vật đều không có cái nào là trung tâm, cuốn tiểu
thuyết này lấy chủ đề rừng Nho và t tởng dựng lên bức tranh về cuộc sống
của rừng Nho làm yếu tố trung tâm, và xoay quanh nó là các cuộc đời, các
nhân vật bổ sung cho yếu tố trung tâm đó. Xây dựng kết cấu nhóm hồi nh
trên, Ngô Kính Tử đã thể hiện một cách trọn vẹn toàn bộ sinh hoạt giả dối, ô
hợp, lừa lọc cũng nh những cuộc sống lơng thiện, thanh cao tạo thành một
hiện thực sống động và đa dạng, không thiếu một khía cạnh nào
2.3. Hình tợng chính trong các nhóm hồi
2.3.1 Hồi mở đầu

24


Ngô Kính Tử đã miêu tả hết sức sinh động cuộc đời riêng t của Vơng
Miện, cũng là cách phản ánh trực tiếp t tởng, tình cảm của tác giả. Với việc
đa hình tợng nhân vật này lên đầu tác phẩm, tác giả muốn nói lên ớc mơ xây
dựng một xã hội lý tởng, một xã hội không có áp bức, con ngời sống chân
thật với nhau trong một không khí chính trị, xã hội tốt đẹp. Toàn bộ hồi 1 của
tác phẩm là tuyên ngôn sáng tác của chính tác giả, vì thế miêu tả sự thối nát
của xã hội mà lại để cho một nhân vật mang trong mình một thiên lơng trong
sáng, đó là dụng ý của tác giả và cũng là nét đặc sắc trong nội dung của tiểu
thuyết này
Toàn bộ cuộc đời của Vơng Miện đợc Ngô Kính Tử thể hiện một cách
chân thực và rõ nét, từ thủa ấu thơ sống nghèo khổ bên cạnh ngời mẹ làm

nghề may vá thuê cho đến khi mắc bệnh qua đời trong núi Cối Kê. Toàn bộ
cuộc đời đó diễn ra đầy biến động, sóng gió, song trớc sau chàng chăn trâu
Vơng Miện vẫn giữ đợc khí tiết của mình trớc bao cám dỗ từ bên ngoài. Trớc
khi miêu tả thực trạng mục rỗng của giới Nho sỹ, mà xây dựng nên một tợng
đài có tính tuyên ngôn nh vậy, thật là một tài năng

2.3.2. Nhóm hồi 2 đến hồi 30
Toàn bộ là bức tranh sinh động về bộ mặt của tầng lớp Nho sinh mà
Ngô Kính Tử đã dùng con mắt tinh tế và một ngòi bút châm biếm xuất sắc
tạo dựng nên. Tất cả các khía cạnh khác nhau của bộ mặt này đều đợc tác giả
lôi ra ngoài ánh sáng, vạch trần không thơng tiếc, không thiếu một tính cách
nào. Từ đạo đức giả, lừa đảo, hám công danh đến độc ác, tàn bạo, toàn bộ
bản chất xấu xa và lố bịch của thế giới Rừng nho này đợc thể hiện rất rõ
ràng qua bộ mặt của từng tên một, mỗi tên có một hoặc vài ba nét tính cách
bổ sung cho nhau, và làm hoàn thiện bức tranh xã hội Trung Hoa phong kiến
rộng lớn dới ảnh hởng của chế độ khoa cử đơng thời.
+ Hồi 2: Kể về anh học trò Chu Tiến, xuất hiện qua lời giới thiệu của
thôn trởng Hạ nhận làm gia s cho thôn Tiết, làng Vấn Thợng. Đây là một nạn
nhân của chế độ khoa cử, đã ngoài 60 tuổi vẫn còn ôm mộng nhờ khoa cử để
tiến thân. Thậm chí khi cuộc sống nghèo khó không có điều kiện đi dự thi,
vẫn nhún nhờng chịu nhịn nhục trong cuộc sống. Khi đến trờng thi cùng anh
rể Kim Hữu D nhìn thấy quang cảnh phòng thi lập tức xúc động khóc ngất đi.
Sau này, nhờ mọi ngời giúp đỡ tiền bạc, Chu Tiến tham dự thi và lần lợt đỗ
đầu(hồi 3), làm đến chức Ngự sử và đợc làm học đạo ở tỉnh Quảng Đông, đó

25


×