Tải bản đầy đủ (.doc) (102 trang)

Ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (682.91 KB, 102 trang )

Bộ giáo dục và đào tạo
trờng Đại học vinh

Hà nguyên sơn

Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Ngôn ngữ xã hội học, ngữ dụng học
Mã số : 60.22.01

Hớng dẫn khoa học:
PGS.TS Vũ Quang Hào

1


Vinh- 2006

Mục lục
Trang
Danh mục các từ viết tắt
Mở đầu

1

Chơng một: những vấn đề lý luận chung

9

1.1.


Phỏng vấn- nhìn từ góc độ báo chí

9

1.1.1.

Sự hành chức của phỏng vấn trong báo chí

9

1.1.2.

Phỏng vấn trên báo in

13

1.1.3.

Phỏng vấn trên phát thanh

17

1.1.4.

Phỏng vấn trên truyền hình

21

1.2.


Những đặc trng nổi bật của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền
hình

25

1.2.1.

Tính cập nhật và đa chiều trong nội dung câu hỏi

25

1.2.2.

Tính toàn dân, đại chúng

27

1.2.3.

Tính chủ điểm của cuộc phỏng vấn

29

Chơng hai: Diễn tiến của ngôn ngữ phỏng vấn
trên truyền hình

32

2.1.


Ngôn ngữ phỏng vấn trong chơng trình Thời sự

32

2.1.1.

Ngôn ngữ phỏng vấn bị giới hạn về thời gian

32

2.1.2.

Tính có vấn đề trong nội dung câu hỏi

36

2.1.3.

Tính qui thức trong xng hô

39

2.2.

Ngôn ngữ phỏng vấn ở thể loại chân dung

43

2.2.1.


Vận động hội thoại trong phỏng vấn

44

2


2.2.2.

Điều hành hội thoại trong cuộc phỏng vấn

47

2.2.3.

Câu hỏi của những ngời chứng kiến

50

2.3.

Ngôn ngữ phỏng vấn trong các Gameshows

53

2.3.1.

Quan hệ liên nhân trong các cuộc phỏng vấn

53


2.3.2.

Chức năng pha trò giải trí

56

Chơng ba: Sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn
trên truyền hình đối với hoạt động phát ngôn

59

3.1.

Với vấn đề tác nghiệp

59

3.1.1.

Đối với phóng viên, biên tập viên

60

3.1.2.

Đối với ngời dẫn chơng trình

64


3.1.3.

Đối với ngời quay phim

69

3.2.

Nghệ thuật đặt câu hỏi

72

3.2.1.

Tính linh động trong sử dụng ngôn từ

72

3.2.2.

Lịch sự trong giao tiếp

78

3.3.

Những vị khách mời đặc biệt

80


3.3.1.

Những áp lực về chuẩn mực ngôn ngữ và thông tin

81

3.3.2.

Phỏng vấn các nhà lãnh đạo

83

3.3.3.

Phỏng vấn ngời nớc ngoài

85

3.3.4.

Phỏng vấn trẻ em

88

Kết luận

92

tài liệu tham khảo


95

3


Lời cảm ơn
Tác giả bản luận văn chân thành cảm ơn công lao truyền dạy
kiến thức của các Thầy cô giáo qua các chuyên đề bổ ích. Đặc
biệt cảm ơn PGS.TS Vũ Quang Hào, ngời đã hớng dẫn tận tình
trong quá trình nghiên cứu đề tài. Cảm ơn sự giúp đỡ, động viên
của bạn bè và ngời thân để tác giả có đợc kết quả này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, tháng 11/ 2006

Tác giả luận văn

Hà Nguyên Sơn

4


Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t trong luËn v¨n
VTV

§µi truyÒn h×nh ViÖt Nam

(Vietnam television)

VTV1


Kªnh 1 cña §µi truyÒn h×nh ViÖt Nam

VTV3

Kªnh 3 cña §µi truyÒn h×nh ViÖt Nam

NTV

§µi PT- TH NghÖ An

PTV

Ph¸t thanh viªn

PV

Phãng viªn

BTV

Biªn tËp viªn

MC

Ngêi dÉn ch¬ng tr×nh

(Master of Ceremony)

SP


Ngêi nãi

(Speaker)

5


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1.

ý nghĩa lý thuyết

Trong dòng chảy của sự phát triển các thể loại báo chí, phỏng vấn là một
thể loại báo chí độc lập có sự ảnh hởng sâu đậm đến quá trình truyền thông.
Bởi vậy, khi nghiên cứu, giảng dạy, phỏng vấn cũng mới chỉ xét thuần túy về
báo chí học, tức là góc độ truyền thông. Nhng thực tế, bất kỳ một cuộc phỏng
vấn nào đều là cuộc đối thoại, giao tiếp giữa phóng viên với một hay hai ngời
trở lên và với công chúng. Phơng tiện của các cuộc phỏng vấn đó chính là
ngôn ngữ.
Báo chí đang chuyển từ truyền tin đơn điệu, một chiều sang hình thức đa
chiều, phong phú với sự vào cuộc của công chúng thì hàng ngày, chúng ta
luôn tiếp nhận những cuộc phỏng vấn trên các phơng tiện truyền thông. Nhng
dờng nh, ngôn ngữ phỏng vấn nói chung cho đến nay cha đợc nghiên cứu một
cách toàn diện. Hay nói đúng hơn, mới chỉ đợc quan tâm, nghiên cứu ở loại
hình báo in. Còn đối với loại hình báo chí khác nh phát thanh, truyền hình thì
việc nghiên cứu đang ở giai đoạn khởi đầu.
Bởi vậy, ngôn ngữ phỏng vấn nói chung và ngôn ngữ phỏng vấn trên
truyền hình nói riêng phải đợc nghiên cứu một cách cơ bản, trớc hết là từ góc
độ ngôn ngữ học. Đặc biệt, phỏng vấn trên truyền hình là một thể loại báo chí

liên quan đến lời nói và những yếu tố phi lời nói. Quá trình thực hiện, luận
văn còn nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn dới góc độ là công cụ của các cuộc
phỏng vấn gắn liền với những yếu tố mang tính lí thuyết, kỹ năng về báo chí
học.
1.2. ý nghĩa thực tiễn
Quá trình nghiên cứu, đề tài này sẽ chỉ ra những đặc trng cơ bản của
ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình. Do vậy, những đặc trng này có thể xem
là bộ tiêu chí để đánh giá tính chuẩn mực hay không chuẩn mực của những
cuộc phỏng vấn đem đến cho công chúng qua truyền hình. Nó bao gồm: các
loại phỏng vấn trên truyền hình, thời lợng- bị khống chế hay không, vai trò

6


của phóng viên trong phỏng vấn, cách xng hô của ngời phỏng vấn đối với ngời
đợc phỏng vấn và ảnh hởng của các cuộc phỏng vấn nh thế nào đối với đời
sống xã hội. Những đặc trng ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình này sẽ
đồng thời chỉ ra cho những ngời phỏng vấn truyền hình cách tổ chức một cuộc
phỏng vấn thành công phải thực thi nh thế nào và sử dụng ngôn ngữ ra sao để
đem lại hiệu quả.
Dù là phỏng vấn cho truyền hình hay báo in, báo nói (phát thanh) thì bản
chất của một cuộc phỏng vấn là hỏi và đáp. Nhng trong mối quan hệ giữa hỏi
và đáp đó trên truyền hình, nó không chỉ có một mối quan hệ thuần túy là
ngôn ngữ mà còn chịu sự chế định của hai yếu tố quan trọng: Một là trong
cuộc hỏi đáp này, ngoài liên hệ ngôn ngữ bằng lời còn có yếu tố ngôn ngữ phi
lời (bối cảnh, các hành vi, cử chỉ. . .). Hai là cuộc hỏi đáp này diễn ra chỉ với
2 ngời, hoặc 3- 4 ngời, nhng mục đích không phải để cho hai ng ời hay những
ngời tham gia mà kết quả của cuộc phỏng vấn phục vụ ngời thứ ba, đó là đông
đảo công chúng xem truyền hình. Đây là điều khác căn bản giữa ngôn ngữ
phỏng vấn và ngôn ngữ hội thoại. Bởi vậy, khi đặt câu hỏi đối với ngời đợc

phỏng vấn thì ngời phỏng vấn (là phóng viên, biên tập viên, dẫn chơng trình
và phát thanh viên), ngoài khả năng ngôn ngữ phong phú còn phải xét đến
những vấn đề: hoàn cảnh, điều kiện diễn ra cuộc phỏng vấn; tâm lý, lứa tuổi,
giới tính của ngời đợc phỏng vấn khi phải đối mặt với micrô, ống kính camera.
ở đây không đơn thuần là việc khai thác và chuyển tải thông tin trong quá
trình thực hiện phỏng vấn nữa mà còn là yếu tố văn hóa xng hô, lịch sự trong
giao tiếp xét trong nền văn hóa dân tộc. Bởi đặc thù của các phơng tiện truyền
thông, bên cạnh truyền tin còn thực hiện các chức năng xã hội khác nh chức
năng văn hóa- giáo dục, định hớng d luận, tổ chức các hoạt động xã hội, góp
phần vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, chức năng thẩm mỹ, giải trí.
Điều này thực sự có ý nghĩa đối với bản thân chúng tôi trong tác nghiệp báo
chí truyền hình.

2. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu
2.1. Phỏng vấn trên truyền hình xét góc độ là một thể loại báo chí xuất
hiện hàng ngày, trong nhiều chơng trình truyền hình khác nhau. Mỗi chơng

7


trình truyền hình đều có những đặc thù riêng, điều này quyết định đến những
nét khu biệt trong ngôn ngữ phỏng vấn của các chơng trình truyền hình. Cơ
chế hội thoại trong chuyển tải thông tin và thông qua đó còn có những yếu tố
của nghệ thuật kịch làm cho ngời tiếp thu dễ lĩnh hội. Đặc biệt, đối với truyền
hình, thể loại phỏng vấn còn đem lại cho công chúng sự tiếp thu thông tin một
cách toàn diện qua đối tợng cung cấp nguồn tin với bối cảnh, âm thanh, giọng
nói, điệu bộ, cử chỉ. Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn
trên truyền hình trong các chơng trình Thời sự, phỏng vấn chân dung và trong
các chơng trình vui chơi, giải trí (gameshows). ở đó, vai trò tổ chức, dẫn dắt
các cuộc phỏng vấn của phóng viên, biên tập viên, ngời dẫn chơng trình đóng

vai trò quan trọng. Các câu hỏi đặt ra phải nằm trong mối tơng quan với vấn
đề, sự kiện, với tâm lý, lứa tuổi, giới tính, địa vị xã hội của ngời trả lời phỏng
vấn.
2.2. Đối tợng khảo sát của luận văn này là ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền
hình. Bởi vậy, những cuộc phỏng vấn từ 2 phút trở lên đợc phát sóng trên Đài
truyền hình Việt Nam và các chơng trình truyền hình của Đài phát thanhtruyền hình Nghệ An là đối tợng nghiên cứu của luận văn. Đó là những chơng
trình: Thời sự, Ngời đơng thời, Ngời xây tổ ấm, Ai là triệu phú, Hãy chọn giá
đúng...(VTV); Thời sự, chuyên mục gặp nhau cuối tuần (Đài phát thanhtruyền hình Nghệ An- NTV) và những chơng trình truyền hình trực tiếp trên
VTV và Đài PT- TH Nghệ An. Công việc tập trung vào các cuộc phỏng vấn
mà ở đó, có hoạt động giao tiếp thông qua hỏi - đáp giữa phóng viên, biên tập
viên, ngời dẫn chơng trình, phát thanh viên và ngời đợc phỏng vấn. Trong
khóa luận này, chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, nghiên cứu ngôn ngữ phỏng
vấn trong ba loại phỏng vấn chủ yếu trên truyền hình là: phỏng vấn trong ch ơng trình thời sự, phỏng vấn chân dung và phỏng vấn trong các Gameshows.

3. Lịch sử vấn đề
3.1. Là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in và phát thanh nhng
với việc phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật truyền hình đã nhanh
chóng chiếm đợc u thế ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Bằng cách tác động
vào hai kênh tiếp nhận thông tin quan trọng của con ngời là mắt và tai, truyền

8


hình trở thành một phơng tiện truyền thông tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi vậy, trong một xã hội thông tin gồm
nhiều loại hình truyền thông nh báo in, phát thanh, Internet thì truyền hình đợc công chúng đón nhận với sự quan tâm đặc biệt. Nếu tính từ chơng trình
truyền hình phát sóng thử nghiệm đầu tiên ở nớc Đức vào năm 1928 thì đến
nay, ngành truyền hình mới chỉ có 78 năm hình thành và phát triển. Còn ở
Việt Nam, trong lịch sử nền báo chí cách mạng, truyền hình đợc thành lập từ
năm 1970. So với hơn 4 thế kỷ ra đời của báo in thì rõ ràng, truyền hình còn

non trẻ. Nhng là một tờ báo điện tử hiện đại, truyền hình có kế thừa, sử dụng
tất cả các hình thức ngôn ngữ của báo in, phát thanh và trở thành một binh
chủng thông tin quan trọng, hữu hiệu nhất hiện nay. Từ chỗ hình thức tuyên
truyền đơn giản, một chiều, đến nay, truyền hình đợc sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin, viễn thông đang chuyển sang cách thức truyền tin nhanh, hấp dẫn và
giao tiếp, hội thoại với khán giả. Bởi vậy, những cuộc phỏng vấn, hội thoại,
những chơng trình giao lu, giải trí trên truyền hình không chỉ đơn thuần là tìm
kiếm, phản ánh thông tin mà còn là dịp để công chúng tham gia vào diễn đàn
chung của xã hội.
3.2. Các công trình nghiên cứu về phỏng vấn ở các nớc trên thế giới có khối
lợng đồ sộ nhng chủ yếu chỉ đợc đề cập đến với sự quan tâm nó là một thể loại
báo chí và một số kỹ năng cơ bản khi thực hiện các cuộc phỏng vấn. Các tác
giả nớc ngoài đã có những công trình nghiên cứu công phu về phỏng vấn nh:
ba tác giả G.V Cudơnhetxốp, X.L Xvích và A.la. Lurốpxki với tác phẩm Báo
chí truyền hình [54]; Line Ross với Nghệ thuật thông tin [61]; X.A.Muratốp
- Giao tiếp trên truyền hình- Trớc ống kính và sau ống kính camera[62];
V.V.Vôroossilốp - Nghiệp vụ báo chí lý luận và thực tiễn [63]; Michael
Schudsen- Sức mạnh của tin tức truyền thông [64]. . .
Eric Fikhtelius (2002), nhà báo nổi tiếng của Thụy Điển cho rằng phỏng
vấn là một nghệ thuật. Theo Eric Fikhtelius, phỏng vấn báo chí có ba loại là:
phỏng vấn ý kiến, phỏng vấn nhân chứng và phỏng vấn đối đầu. Sau khi chỉ
ra những qui trình và thủ pháp tiến hành các cuộc phỏng vấn, Eric Fikhtelius
đã đề cập đến vấn đề quan trọng là cách đặt câu hỏi cho phỏng vấn. Trớc hết

9


phóng viên phải chuẩn bị trớc các câu hỏi của mình. Những câu hỏi hay là
những câu hỏi chính xác, ngắn gọn, đã đợc cân nhắc và đơn giản, dễ hiểu
Câu hỏi đặt ra phải ở dạng nghi vấn chứ không phải là khẳng định. Câu hỏi

phải tạo cho ngời đợc phỏng vấn có khả năng truyền đạt hết những gì anh ta
nghĩ, anh ta cảm thấy hoặc trải qua. Bởi vậy, cần tránh đặt ra những câu hỏi
chỉ có một từ trả lời có và không, nên đặt câu hỏi có hớng mở trong khả
năng cho phép tối đa [59. tr 108, 109]. Nhng ông cũng chỉ đề cập đến ngôn
ngữ phỏng vấn với góc độ là những kinh nghiệm đợc đúc rút. Còn ngôn ngữ
phỏng vấn trên truyền hình chỉ đợc đề cập sơ lợc, chung chung.
Trong cuống sách: Cách điều khiển cuộc phỏng vấn của hai tác giả ngời
Nga, Makxim Kuznhesop, Irop Skunop (2004) đã đa ra 13 bớc để thực hiện
một cuộc phỏng vấn thành công và 15 thủ pháp quan trọng để điều khiển cuộc
phỏng vấn. Đây là cuốn sách viết về phỏng vấn mang tính chất chung cho các
loại hình báo chí. Ngôn ngữ phỏng vấn đợc đề cập nhng chỉ mang tính chất
khái quát trong mối quan hệ giao tiếp giữa phóng viên và ngời đợc phỏng vấn
chứ không đi sâu vào nghiên cứu phỏng vấn của từng loại hình báo chí cụ thể.
Maria Lukina với công trình: Công nghệ phỏng vấn (2005), đã tổng hợp
10 nhóm vấn đề khó khăn trong tiến hành cuộc phỏng vấn và đi sâu vào
nghiên cứu các cách thức tiến hành cuộc phỏng vấn trên các phơng tiện thông
tin đại chúng. Trong đó, cách đặt câu hỏi đợc tác giả xem là một nghệ thuật
vì câu trả lời. Theo Maria Lukina, cần sử dụng điêu luyện các câu hỏi mở và
câu hỏi khép và có 9 dạng câu hỏi là: câu hỏi làm rõ, câu hỏi phát triển, câu
hỏi kiểm tra, câu hỏi vạch trần, câu hỏi số lợng, câu hỏi giả thuyết, câu hỏi
dự định, câu hỏi chuyển tiếp, câu hỏi thụ động và câu hỏi bằng điệu bộ. Đây
có thể xem là một công trình nghiên cứu khá qui mô về phỏng vấn.
Tuy nhiên, nh chúng ta biết, t duy là phạm trù nhân loại nhng ngôn ngữ lại
là phạm vi dân tộc. Do vậy, những kết quả nghiên cứu nớc ngoài không thể áp
đặt vào thực tế phỏng vấn ở Việt Nam. Do chỗ, ngôn ngữ phỏng vấn ở Việt
Nam là tiếng Việt, nó có đặc trng riêng. Bởi vậy, đề tài này sẽ tập trung
nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên nền tảng tiếng Việt, với văn
hóa ứng xử của ngời Việt.

10



3.3. Đa số các tác giả nghiên cứu về báo chí, ngôn ngữ báo chí trong nớc,
đến nay, mới chỉ đề cập đến ngôn ngữ báo chí nói chung và phỏng vấn mới
chỉ đợc nghiên cứu dới góc độ tác nghiệp báo chí, còn ngôn ngữ phỏng vấn
truyền hình vẫn là lĩnh vực chỉ mới đợc nhắc đến ở dạng sơ khai. Trong cuốn
sách: Sản xuất chơng trình truyền hình, Trần Bảo Khánh (2003) đã dành
một mục lớn để nói về phỏng vấn truyền hình. Nhng chủ yếu là những cách
thức chuẩn bị phỏng vấn, tiếp cận đối tợng và một số dạng câu hỏi khi tiến
hành phỏng vấn, cha đề cập đến các yếu tố tâm lý, bối cảnh cũng nh những
đặc trng của các cuộc phỏng vấn trên truyền hình. Lê Hồng Quang (2005) với
tác phẩm: Một ngày thời sự truyền hình cũng đã đề cập đến phỏng vấn
truyền hình với 3 loại chủ yếu: phỏng vấn- nhân chứng; phỏng vấn- tuyên bố
và phỏng vấn- giải thích. Nhng tác giả chỉ coi phỏng vấn nh một phơng tiện,
cách thức thực hiện các phóng sự truyền hình chứ cha nghiên cứu phỏng vấn
và ngôn ngữ phỏng vấn ở góc độ là một thể loại báo chí. Gần đây, trong luận
án Tiến sỹ, với đề tài: Dạng thức nói trên truyền hình (2005), Nguyễn Thế
Kỷ đã đề cập đến ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình là một dạng thức nói
với hình thức hỏi- đáp để cung cấp thông tin. Tác giả cũng chỉ mới đề cập đến
ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình ở góc độ là dạng thức nói và là một trong
những biện pháp nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin khách quan
về sự vật, sự kiện hay vấn đề nào đó của đời sống xã hội. Nhng thực chất, các
cuộc phỏng vấn trên truyền hình có những đặc trng riêng. Những năm qua,
nhiều cuộc hội thảo về ngôn ngữ truyền thông cũng đợc tổ chức song các bài
tham luận chủ yếu đánh giá chung chung về ảnh hởng của ngôn ngữ truyền
thông chứ cha đi cụ thể vào ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình. Với tầm
quan trọng và ảnh hởng của hoạt động phỏng vấn, năm 2005, Bộ giáo dục và
đào tạo đã đa nội dung phỏng vấn thành một môn học trong bộ sách giáo khoa
thí điểm Ngữ văn lớp 11, Ngữ văn lớp 12. Nhng chỉ giới hạn trong 2 tiết học
nên mới đề cập chung về hoạt động phỏng vấn, cha đề cập đến ngôn ngữ

phỏng vấn của bất kỳ loại hình báo chí nào.
Thống kê qua các công trình của các tác giả nêu trên cho thấy, ngôn ngữ
phỏng vấn truyền hình, nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy mới chỉ

11


đợc đề cập chứ cha đợc nghiên cứu sâu. Bởi vậy, Ngôn ngữ phỏng vấn trên
truyền hình, cho đến nay là một lĩnh vực mới mẻ, phức tạp. Đây là địa hạt
liên quan đến vấn đề giao tiếp văn hóa, các vấn đề văn hóa- xã hội, tác nghiệp
báo chí và ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học xã hội. Ngôn ngữ phỏng vấn
trên truyền hình còn bao hàm cả những yếu tố phi ngôn ngữ (nh: cử chỉ, điệu
bộ, thái độ, bản lĩnh nghề nghiệp). Luận văn này sẽ nỗ lực khảo sát, phân tích,
làm rõ những vấn đề nêu trên.

4. Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu phỏng vấn trên truyền hình là một công việc phức tạp, trớc
hết là ở khâu thu thập t liệu. Mặc dù hầu nh ngày nào, các chơng trình phát
sóng của Đài truyền hình Việt Nam và Đài PT- TH Nghệ An luôn có những
cuộc phỏng vấn. Nhng để nghiên cứu, chúng tôi phải ghi lại vào băng từ, sau
đó xem lại và ghi chép các cuộc phỏng vấn bằng văn bản viết. Tức là thực hiện
khâu chuyển văn bản từ dạng thức nói sang viết và đối chiếu với chuẩn ngôn
ngữ, cũng nh nghiên cứu ở góc độ kỹ năng nghề báo. Trên cơ sở đó, chúng tôi
áp dụng các phơng pháp: thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu để đ a ra
những kết luận có tính lý luận và thực tiễn.
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Thông qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ mạnh dạn tìm ra
những đặc trng cơ bản của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình. Kết quả
nghiên cứu của đề tài này sẽ là đóng góp bớc đầu vào hệ thống các tài liệu
nghiên cứu ngôn ngữ (tiếng Việt ) với t cách là phơng tiện của truyền thông

đại chúng, trong đó có truyền hình. Qua đó, mong muốn góp thêm những vấn
đề lý luận về sử dụng ngôn ngữ trên truyền hình, nhất là thể loại phỏng vấn.
Công trình có thể giúp những ngời làm truyền hình có thêm một số kinh
nghiệm trong khai thác thông tin và thực hiện thành công các cuộc phỏng vấn
thông qua hành vi ngôn ngữ cũng nh các chiến lợc giao tiếp khi tác nghiệp.
5.2. Luận văn cũng có thể hữu ích đối với những ngời quan tâm đến nghệ
thuật giao tiếp thông qua việc đặt câu hỏi để đem lại hiệu quả của các cuộc
giao tiếp. Đồng thời, luận văn cũng góp phần vào công tác thực hành ngôn

12


ngữ liên quan đến chuẩn ngôn ngữ quốc gia trên báo chí nói riêng và hoạt
động thông tin, tuyên truyền nói chung.
6. Cấu trúc luận văn.
Trên cơ sở những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu và Kết
luận, luận văn có 3 chơng.
Chơng một : Một vài vấn đề lý luận chung
Chơng hai : Diễn tiến của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình
Chơng ba : Sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình
với vấn đề tác nghiệp và hoạt động phát ngôn
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo.

13


Chơng một
Những vấn đề lý luận chung
Sự sống hàng ngày diễn ra sôi động và trớc áp lực của công chúng đã đòi
hỏi nhà báo phải có mặt ngay tại hiện trờng nơi xảy ra sự kiện, vấn đề để đa

tin một cách trung thực, hấp dẫn. Quá trình đó, ngoài những gì mắt thấy tai
nghe, nhà báo phải tiếp xúc, hỏi chuyện những ngời trong cuộc, chứng kiến
trớc đó, hoặc các cơ quan chức năng để khẳng định sự xác thực của thông tin.
Hoạt động hỏi chuyện đó đợc giới báo chí gọi là phỏng vấn. Nh vậy, với
góc độ khai thác, tìm kiến, xác nhận thông tin để phản ánh lại với công chúng
thì hoạt động phỏng vấn là một phơng thức tác nghiệp báo chí.
Ngày nay, báo chí chuyển từ cách thông tin một chiều, đơn thoại sang hình
thức đa chiều, đối thoại, có sự tham gia của những ngời liên quan đến sự kiện,
vấn đề và sự tham gia của công chúng. Bởi vậy, những cuộc phỏng vấn, đối
thoại trên báo in, phát thanh, truyền hình, internet xuất hiện ngày càng nhiều
dới hình thức hỏi- đáp giữa nhà báo với các nhân vật tham gia. Cuộc hỏi- đáp
đó đợc đăng tải, phát sóng gần nh nguyên vẹn đợc xem là một thể loại phỏng
vấn báo chí độc lập.

1.1. Phỏng vấn- nhìn từ góc độ báo chí
1.1.1. Sự hành chức của phỏng vấn trong báo chí
Đối với phóng viên, nhà báo, phỏng vấn vừa là phơng pháp giao tiếp để
thu thập thông tin vừa là một thể loại báo chí độc lập, trong đó, nhà báo sử
dụng hệ thống các câu hỏi để cùng ngời đợc phỏng vấn làm rõ chủ đề một
cách đầy đủ theo trình tự, diễn biến, kết quả của sự kiện, vấn đề đã, đang và sẽ
xảy ra trong cuộc sống.
Sự ra đời của các loại hình báo chí cùng với chức năng tuyên truyền, phổ
biến rộng rãi những thông tin, kiến thức, đã đánh dấu một bớc tiến mới trong
hoạt động xã hội của con ngời. Lịch sử báo chí thế giới đợc chọn từ mốc ra
đời tờ báo in đầu tiên ở nớc Đức, năm 1609, đến nay đã trải qua gần 4 thế kỷ

14


[42, tr.5]. Quá trình đó, có nhiều loại hình báo chí xuất hiện và đồng thời thực

hiện nhiệm vụ truyền bá thông tin, phổ biến kiến thức, nh: Báo in, báo nói
(Phát thanh), truyền hình, Internet. Công cụ truyền thông là các tờ báo, làn
sóng, băng hình, phim ảnh . . . và đối tợng của truyền thông là tất cả mọi ngời
đọc, nghe, xem. Hiệu quả mà các loại hình truyền thông tạo ra là d luận xã
hội, qua đó hình thành nên ý thức xã hội, nhận thức về t tởng, tình cảm và
hành động tích cực trong quần chúng nhân dân. Thông qua hoạt động tuyên
truyền của các phơng tiện truyền thông, nhằm phổ biến rộng rãi các chủ trơng,
chính sách hay các học thuyết cũng nh những sự kiện, hành động tích cực của
cá nhân, tập thể để làm chuyển biến thái độ, nhận thức của quần chúng. Lịch
sử báo chí gần bốn thế kỷ cũng ghi dấu các thể loại báo chí nh: Tin tức, phóng
sự, bút ký, chân dung, tài liệu, điều tra. . . Nhng thể loại phỏng vấn với hình
thức đăng tải cuộc hỏi- đáp giữa phóng viên và nhân vật tham gia mới đợc xác
lập ở châu Âu, châu Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XX [64]. Ngay từ khi
thể hình thức này xuất hiện, công chúng rất hoan nghênh. Cũng chính vì vậy,
phỏng vấn nhanh chóng trở thành một thể loại báo chí nổi bật và ngày càng có
giá trị thực tiễn cao.
Nằm trong nhóm các thể loại chính luận, phỏng vấn báo chí có thế mạnh tự
thân và tính xác thực thông tin cao. Bởi nó có những u thế nh: thông tin đợc đa ra chính từ sự phát ngôn của những ngời lu giữ nguồn tin; Cơ chế hội thoại
trong chuyển tải thông tin và thông qua đó còn có những yếu tố của nghệ
thuật kịch làm cho ngời tiếp thu dễ lĩnh hội. Đặc biệt, đối với truyền hình, thể
loại phỏng vấn còn đem lại cho công chúng sự tiếp thu thông tin một cách
toàn diện qua đối tợng cung cấp nguồn tin với bối cảnh, âm thanh, giọng nói,
điệu bộ, cử chỉ.
Phỏng vấn (Interview), theo nghĩa tiếng Anh là gặp gỡ để trao đổi. Interview
đợc ghép thành bởi hai từ: inter- có nghĩa là sự tác động lẫn nhau, hớng vào
nhau; view- một trong số nghĩa của từ này là quan điểm, ý kiến.
Theo Từ điển bách khoa Xô Viết (1985), Phỏng vấn- một thể loại của chính
luận, là cuộc trao đổi giữa nhà báo với một hay nhóm ngời về những vấn đề
cấp thiết nào đó.


15


Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên, (2004),
định nghĩa: Phỏng vấn là hỏi ý kiến để công bố trớc d luận.
Có nhiều khái niệm về phỏng vấn nhng có lẽ đầy đủ và phù hợp nhất là quan
điểm của John Savatski, nhà báo nổi tiếng ngời Canađa: Phỏng vấn- đó là sự
giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa con ngời với nhau để thu nhận thông tin và sản
xuất ra tri thức mới nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội
(dẫn theo [57, tr.23]).
Trên cơ sở đó, để phân biệt hoạt động phỏng vấn với hình thức phỏng vấn,
Trần Bảo Khánh đa ra khái niệm về thể loại phỏng vấn nh sau: Phỏng vấn là
thể loại báo chí, trong đó nhà báo làm rõ sự kiện, sự việc từ ngời có thẩm
quyền hoặc đợc chứng kiến sự việc bằng các câu hỏi đợc chuẩn bị từ trớc
hoặc ngay trong quá trình phỏng vấn. Phỏng vấn không chỉ đem lại thông tin
mà còn đa lại toàn bộ tiến trình diễn ra cuộc hỏi chuyện,làm cho ngời đọc,
ngời xem, ngời nghe thấy đợc cả tính cách của ngời hỏi, ngời trả lời[27,
tr.127]
Từ những vấn đề lý luận nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đa ra khái niệm về
thể loại phỏng vấn nh sau: Thể loại Phỏng vấn là cuộc giao tiếp bằng ngôn
ngữ giữa phóng viên báo chí với các nhân chứng, đợc đăng tải, phát sóng trên
các phơng tiện thông tin đại chúng dới hình thức hỏi- đáp để làm rõ những
vấn đề, sự kiện, hiện tợng xảy ra trong cuộc sống mà công chúng, d luận quan
tâm.
Xét về hình thức thì các cuộc phỏng vấn (interview), giống với những cuộc
hội thoại (conversation) hàng ngày. Bởi trong phỏng vấn, thực chất là hoạt
động hỏi- đáp giữa những ngời tham gia (Bao gồm ngời phỏng vấn là phóng
viên, biên tập viên, dẫn chơng trình và những ngời đợc phỏng vấn). Nhng xét
về mục đích cuộc hỏi- đáp của phỏng vấn và của hội thoại lại hoàn toàn khác
nhau. Nếu nh trong hội thoại hàng ngày, mục đích thông tin của cuộc hỏi- đáp

là dành cho chính những ngời tham gia hội thoại, thì trong phỏng vấn, mục
đích thông tin lại hớng về đối tợng thứ ba, đó là công chúng. Bởi vậy, những
ngời tham gia hoạt động hỏi- đáp trong phỏng vấn luôn chịu những áp lực về
uy tín, trách nhiệm trớc công chúng nói riêng và xã hội nói chung. Cho nên, từ

16


lâu, phỏng vấn đã trở thành một thể loại báo chí hàng đầu đợc các loại hình
báo chí sử dụng có hiệu quả trong hoạt động thông tin, tuyên truyền. Các nhà
báo chí học ở phơng Tây đã đa ra qui luật các cuộc phỏng vấn với diễn tiễn
của hoạt động hỏi- đáp phải đạt đợc yêu cầu các trình tự nội dung: Ai ?
(Who ?), Cái gì ? (What ?), Khi nào ? (When?), ở đâu? (Where ?), Nh thế
nào? (How ?) và Tại sao ? (Why ?). Trong thực tế, quá trình thông tin, cũng
nh các cuộc phỏng vấn, đợc tiến hành không theo trình tự và có thế thiếu vắng
một, hai yêu tố trong những yếu tố nêu trên. Nhng về cơ bản, nguyên tắc trên
là mô hình kinh điển của hoạt động báo chí nói chung.
Mặc dù có qui luật chung là vậy, nhng các kiểu phỏng vấn khác nhau đang
tồn tại. Nó đợc quyết định bởi mục đích, chiến lợc, bối cảnh, các đối tợng
tham gia, công nghệ cụ thể của các cuộc phỏng vấn với từng loại hình báo chí
khác nhau. Một cuộc phỏng vấn trực tiếp chắc chắn sẽ có hình thức thể hiện
phong phú hơn và hiệu quả thông tin đem lại chân thực hơn phỏng vấn gián
tiếp ( phỏng vấn qua điện thoại, qua bản thảo câu hỏi, phỏng vấn phiếu điều
tra xã hội học).
Các tài liệu nghiên cứu trong nớc và nớc ngoài khi đề cập đến phỏng vấn đã
đa ra nhiều loại phỏng vấn khác nhau. Theo nhà báo Lê Thị Thanh Xuân,
giảng viên Phân viện Báo chí- Tuyên truyền, thuộc Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh thì nếu căn cứ vào mục đích của phỏng vấn, có thể phân chia
phỏng vấn theo các loại: phỏng vấn thông tin (nhằm mục đích cung cấp thông
tin), phỏng vấn điều tra (để làm sáng tỏ vấn đề nào đó), phỏng vấn ý kiến (lấy

ý kiến của một cá nhân hay một số ngời về vấn đề còn gây tranh cãi), phỏng
vấn chân dung (khắc họa chân dung những nhân vật nổi tiếng để họ tự nói về
mình) và phỏng vấn giả tởng (nội dung và ngời trả lời chính là ngời đặt câu
hỏi). Trong đó, dạng phỏng vấn thông tin (hay còn gọi là phỏng vấn thời sự)
và phỏng vấn chân dung là phổ biến nhất mà các loại hình báo chí luôn sử
dụng [47, tr. 76, 77].
Maria Lukina, một giảng viên báo chí nổi tiếng của nớc Nga trong cuốn
sách: Công nghệ phỏng vấn cho rằng, có các kiểu phỏng vấn sau: phỏng vấn
thông tin, phỏng vấn linh hoạt, phỏng vấn điều tra, phỏng vấn chân dung và

17


phỏng vấn linh hoạt [57, tr. 30 đến 35]. Trong cuốn sách Báo chí truyền hình,
các tác giả: G.V Cudơnhetxốp, X.L Xvích, A.la. Lurốpxki [54], lại phân tách
phỏng vấn có những loại nh: phỏng vấn chính thức, phỏng vấn thông tin,
phỏng vấn tìm hiểu chân dung, phỏng vấn nêu vấn đề, phỏng vấn thăm dò ý
kiến. Trong đó những loại phỏng vấn đợc giới báo chí sử dụng nhiều nhất là
phỏng vấn thông tin, phỏng vấn chân dung và phỏng vấn đặt vấn đề.
Để thực hiện công tác thông tin đến công chúng, bên cạnh phơng tiện quan
trọng là ngôn ngữ, các loại hình báo chí còn sử dụng các loại phơng tiện
truyền thông khác nhau. Nếu nh báo viết với sự hỗ trợ của máy in và hệ thống
ngôn ngữ ở dạng chữ viết, hình ảnh tĩnh để chuyển tải thông tin thì phát thanh
có lợi thế về sử dụng ngôn ngữ ở dạng tiếng nói và làn sóng điện từ rộng khắp
để truyền tin. Còn truyền hình là một tờ báo điện tử hiện đại, có kế thừa, sử
dụng tất cả các hình thức ngôn ngữ của báo in, phát thanh và trở thành một
binh chủng thông tin quan trọng, hữu hiệu nhất hiện nay. Chính đặc điểm
khác nhau của từng loại hình báo chí đã quyết định đến những đặc thù riêng
của các thể loại báo chí, trong đó có thể loại phỏng vấn.


1.1.2. Phỏng vấn trên báo in
Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất và thể loại phỏng vấn cũng xuất
hiện đầu tiên trên báo in. Một số ý kiến cho rằng phỏng vấn với t cách là một
thể loại đợc báo chí Mỹ đa lên báo đầu tiên vào những năm của thập niên 70,
thế kỷ XIX và cho đến đầu thế kỷ XX, phỏng vấn trở thành một thể loại
không còn ai nghi ngờ về nó nữa [64, tr. 116]. Các nhà nghiên cứu báo chí
Mỹ cũng đa ra thống kê là ba phần t những gì nhà báo viết ra để đăng báo đều
xuất phát từ phỏng vấn. Điều đó cho thấy hoạt động tơng tác, hỏi- đáp để tìm
kiếm thông tin cho báo in trở thành công việc hàng ngày của các nhà báo.
Còn đối với một cuộc phỏng vấn đợc đăng lên báo gần nguyên vẹn thì các
công đoạn thực hiện không dễ mô tả. Nhng thực tế cho thấy, hiện nay, rất
nhiều tờ báo đang duy trì các bài phỏng vấn đều đặn với nội dung phong phú
và có độ dài lớn, kèm theo nhiều bức ảnh về ngời trả lời phỏng vấn.

18


Michael Schudson, nhà báo ngời Mỹ, trong tác phẩm Sức mạnh tin tức
truyền thông (The Power of news) [64], khi đề cập đến thể loại phỏng vấn
cho rằng: Nếu nh phỏng vấn để biết thông tin thì trình tự thờng là: hỏi, đáp
và hỏi tiếp; Nếu phỏng vấn để lý giải thông tin thì trình tự: hỏi, đáp và đánh
giá; Còn hỏi để khẳng định những điều đã biết (hoặc tăng tính cảm xúc) thì
trình tự là: hỏi, đáp và thừa nhận.
Chính sự quan trọng của cuộc phỏng vấn, trong đó, ngời trả lời các câu hỏi
(ngời đợc phỏng vấn) phải chịu trách nhiệm trớc công chúng về những đã nói
ra. Bởi vậy, đối với cuộc phỏng vấn theo hình thức báo in thờng ngời đợc
phỏng vấn có điều kiện để chuẩn bị, nghiên cứu câu hỏi để trả lời chính xác.
Thậm chí có rất nhiều cuộc phỏng vấn câu hỏi đợc chuyển trớc một vài ngày.
Thêm đó, quá trình ghi lại cuộc phỏng vấn để in lên báo, các nhà báo thờng có
quyền trong chỉnh lời của câu hỏi cũng nh câu trả lời theo ngôn ngữ diễn đạt

riêng để thể hiện bài phỏng vấn bằng chữ viết. Cũng nh vậy, khi cuộc phỏng
vấn đợc đăng tải, công chúng có thể biết đợc thông tin của cuộc phỏng vấn,
nhng lại ít biết đến thái độ, cử chỉ của cả phóng viên và ngời đợc phỏng vấn.
Mặc dù, bên cạnh nội dung cuộc phỏng vấn thờng đăng tải thêm ảnh cuả ngời
đợc phỏng vấn.
Quá trình thực hiện cuộc phỏng vấn, phóng viên các báo in, ngoài trí nhớ tốt
còn mang theo cả máy ghi âm, máy ảnh, thậm chí có thể mang cả máy quay
phim cá nhân. Nhng tất cả chỉ mang tính hỗ trợ, bởi cái căn bản là cuộc phỏng
vấn đợc đem đến công chúng bằng ngôn ngữ viết. Cũng do vậy, các cuộc
phỏng vấn trên báo in thờng không sinh động và ít hấp dẫn hơn các loại hình
báo chí nh: phát thanh, truyền hình, internet.
Thời gian gần đây để tăng tính hấp dẫn của các cuộc phỏng vấn trên báo in,
ngoài việc nêu tên tuổi, địa chỉ, công việc, chức vụ của ngời trả lời phỏng vấn,
phóng viên các tờ báo in đã chụp thêm nhiều ảnh của ngời trả lời phỏng vấn ở
các t thế hành động khác nhau. Cùng đó, ghi thêm vào trớc, trong hoặc cuối
nội dung trả lời những cử chỉ, hành động của ngời trả lời phỏng vấn. Đó là các
hành động kiểu nh: vò đầu, gãi tai, c ời, vung tay, suy nghĩ một lúc ...
Báo An ninh thế giới cuối tuần là một ví dụ điển hình: Trong bài phỏng vấn

19


cựu danh thủ bóng đá Ba Đẻn, trên báo An ninh thế giới cuối tháng 1- 2006
(trang 26):
Phóng viên: Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh và đúng nh những gì tôi đợc nghe kể, anh đeo hàm thợng tá lâu lắm rồi và ăn lơng đại tá cũng rất
lâu, thế nhng phong cách của anh thì vẫn rất giản dị, gần gũi, nói một
cách khác là lính tráng lắm, điều đó hình nh cũng là một bất lợi khi
tham gia tranh cử giải cầu thủ vàng 50 năm?
Ba Đẻn: Tôi thích mọi ngời nhận ra tôi là một Ba Đẻn, một Ba Đẻn
chân vòng kiềng bị xé rách quần áo te tua trên sân vận động. Nói vui với

bạn, tôi cha bao giờ là tổ trởng tổ 3 ngời, còn tổ trởng tổ 2 ngời, gồm
tôi và vợ tôi thì tôi vẫn là tổ viên.(Cời to).
Hay trong bài phỏng vấn TS Lê Kiên Thành (TS LKT)- Giám đốc Công ty
TNHH Thiên Minh, An ninh thế giới cuối tuần, số tháng 3, năm 2006:
... Phóng viên: Và bằng cả các mối quan hệ sẵn có . . . ?
TS LKT (Cời) Bằng cả các mối quan hệ . . .
Phóng viên: Ai cũng biết rằng, môi trờng kinh doanh của mình còn cha
ổn định; có nhiều lý do dẫn tới hiện tợng này, trong đó có việc hệ thống
pháp luật còn cha đầy đủ. Hơn nữa, tâm lý truyền thống của ngời Việt
Nam vẫn là Nhất sĩ, trọng chữ nghĩa hơn trọng tiền, dù rằng ai cũng
cần tiền. Vì thế, các doanh nghiệp dù thế nào cũng vẫn bị đánh giá theo
góc nhìn thiên kiến. Trong những điều kiện nh thế, một doanh nhân
thành đạt cảm thấy thế nào? Theo anh, có thể làm giàu một cách đàng
hoàng, lợng thiện, kiêu hãnh đợc không?
TS LKT: Xã hội mình thì nó hơi đặc biệt . . .Trong thời kỳ bao cấp, ai là
ngời giàu? Ngời bán phở! (Cời). Hồi đó, con nhà bán phở sang trọng lắm,
đi xe đạp Peugeot,đeo đồng hồ đẹp . . . Rồi thế nọ thế kia . . . Trong một
xã hội phát triển hiện nay . . .
Còn trong bài phỏng vấn nhà thơ Việt Phơng, An ninh thế giới cuối tháng 6,
năm 2006, sau câu hỏi của ngời phỏng vấn, câu trả lời là một nụ cời:
... Phóng viên: Sự thật luôn tồn tại, nhng tìm ra sự thật cũng là việc luôn
rất khó!

20


Nhà thơ Việt Phơng: (Cời) . . .
Khi đọc các đoạn phỏng vấn này, công chúng chắc chắn cũng hình dung đợc
các nụ cời của ngời đợc phỏng vấn nhng chắc chắn không biết đợc anh ta cời
kiểu gì và nét mặt của anh ta ra sao.

Cũng trên Báo An ninh thế giới, số cuối tháng 4, năm 2006, bài phỏng vấn
NSƯT Trần Bình, Giám đốc nhà hát nhạc nhẹ trung ơng lại ghi các điệu bộ
của nhân vật đợc phỏng vấn nh sau:
... Phóng viên: Một mình giữa bao nhiêu ngôi sao trẻ! Cô đơn nh thế
thì tôi lúc nào cũng muốn. . .anh có biết rằng nhiều ngời ghen tị với sự
cô đơn của anh không?
NSƯT Trần Bình: (Cời thích thú). . .
Phóng viên: Anh có thể nói những lời hay ý đẹp gì không?
NSƯT Trần Bình: (ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu): Cụ thể thì tôi không
nói ra ngay đợc đâu. . .
Mặc dù các bài phỏng vấn trên báo in đã sáng tạo nh vậy (xem những chỗ in
nghiêng, gạch chân), nhng rõ ràng ngời đọc rất khó hình dung ra đợc các sắc
thái, bộ dạng, cử chỉ hoặc các mức độ tình cảm của ngời đợc phỏng vấn. Đặc
biệt, công chúng khi đọc bài phỏng vấn càng không thể hình dung nổi vóc
dáng, thái độ, cử chỉ lời nói của những ngời phóng viên đặt câu hỏi (các bài
phỏng vấn trên báo in không kèm ảnh của phóng viên). Thêm đó, ngời đọc
càng không thể biết đợc giọng điệu của những ngời tham gia cuộc phỏng vấn
trên báo in và bối cảnh (gồm cả không gian, địa điểm) diễn ra cuộc phỏng vấn
nh thế nào. Về ngôn ngữ diễn đạt thì các bài phỏng vấn trên báo in đã có sự
kết hợp hài hòa giữa các phong cách ngôn ngữ nh: phong cách khẩu ngữ,
phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong cách văn chơng- nghệ
thuật, phong cách hành chính. Ngôn ngữ đợc sử dụng với lớp từ hình tợng,
biểu cảm, dễ hiểu, xuất hiện tần suất cao trong các bài phỏng vấn trên báo in.
Thực chất, các bài phỏng vấn trên báo in là một hình thức văn bản hóa lời
nói. Xét về quá trình thực hiện các cuộc phỏng vấn cho báo in, các phóng
viên khi tiếp xúc với các nhân vật đối thoại có nhiều thuận lợi, ngay cả khi
mới tiếp xúc cũng nh khi diễn ra cuộc hỏi- đáp phục vụ bài phỏng vấn. Cách

21



chào hỏi, xng hô, chia tay không cần phải theo qui thức mà có thể theo kiểu
thân mật, suồng sã hoặc trung tính. Quá trình đó, phóng viên có thể dựa vào
từng tình huống cụ thể để sử dụng các chiến thuật tiếp cận và nói chuyện,
nh mức độ thân thiện, quen biết, hoặc chức vụ, vị trí xã hội của nhân vật. Khi
diễn ra phỏng vấn, phóng viên có thể xng hô một cách linh hoạt nh: có thể xng
tên, xng: Tôi, em, chúng tôi . . .và hô (gọi) với nhân vật là: Ông, đồng chí,
bác, chú, anh, chị. . . hoặc bằng chức vụ, họ tên (thông thờng, các phóng viên
báo in khi tiến hành phỏng vấn ít xng hô kiểu này), nhng khi hoàn chỉnh bài
phỏng vấn bằng chữ viết lại thể hiện dới dạng qui thức. Điều dễ nhận thấy
trong ví dụ nêu trên là ở câu hỏi, phóng viên xng tôi và gọi anh đối với nhân
vật đợc phỏng vấn. Nhng khi trích, viết câu trả lời lại ghi phía trớc học hàm,
học vị hoặc chức vụ và họ tên của ngời trả lời phỏng vấn (xem những ví nêu
trên). Còn đối với phóng viên phát thanh và truyền hình không thể làm nh vậy
vì bị chi phối bởi máy ghi âm và máy quay phim (camera)- những dụng cụ ghi
rõ giọng nói, cách xng hô, hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ của phóng viên và ng ời
trả lời phỏng vấn. Nhng ngợc lại, các bài phỏng vấn đợc đăng tải trên báo in
lại có khả năng lu giữ thông tin lâu hơn các cuộc phỏng vấn trên phát thanh và
truyền hình. Bởi ngời đọc có thể xem lại bài phỏng vấn trên báo in bất cứ lúc
nào. Còn đối với phát thanh và truyền hình, thính giả và khán giả muốn nghe,
xem lại cuộc phỏng vấn là điều rất khó. Chính vì điều đó, đòi hỏi ngôn ngữ
phỏng vấn trên phát thanh và truyền hình phải súc tích, dễ hiểu theo đặc trng
của từng loại hình báo chí.

1.1.3. Phỏng vấn trên phát thanh
Phát thanh là loại hình báo chí có khả năng hiện diện khắp nơi bằng cách
truyền thông tin qua sóng điện từ. Bởi thế, phát thanh tác động sâu rộng đến
đông đảo quần chúng nhân dân thông qua việc tuyên truyền bằng lời nói. Âm
thanh (bao gồm: lời nói, tiếng động và âm nhạc), đợc truyền trên sóng là phơng tiện thể hiện chính của phát thanh. Tác động bằng âm thanh, phát thanh
có khả năng kích thích trí tởng, sự sáng tạo của ngời nghe. Và cũng chính vì

tác động bằng âm thanh vào thính giác của con ngời nên ngời nghe có thể vừa

22


làm việc, ăn uống, giặt giũ. . . vừa đón nhận thông tin từ đài phát thanh. Nhà
báo Nguyễn Đình Lơng cho rằng: Lời nói tự nhiên là một phơng tiện hoàn
hảo nhất, tin cậy nhất và cũng đặc biệt ngời, đặc biệt xã hội trong giao tiếp và
thông tin[ dẫn theo 22, tr.196].
Mặc dù có khoảng cách trong giao tiếp là ngời nghe không thể nhìn thấy
những hành động, cử chỉ, điệu bộ, khuôn mặt của những ngời nói trên đài phát
thanh. Nhng thông qua giọng điệu, tốc độ lời nói, tiếng động hiện trờng, thính
giả có thể hình dung đợc phần nào về khung cảnh, con ngời đang nói trên đài.
Chính sự gần gũi của lời nói và khả năng thẩm âm của con ngời ngày càng
đợc nâng lên, nên bằng cảm giác qua nghe giọng nói sống động trên Radio,
ngời nghe có thể nhận biết đợc một số thông tin về ngời nói (gồm cả PTV, PV,
BTV và ngời trả lời phỏng vấn) trên đài phát thanh. Thông qua cách nói, tốc
độ diễn giải vấn đề, ngời nghe có thể cảm nhận đợc ngời nói già hay trẻ, có
kiến thức sâu rộng hay không, vui tính hay buồn tẻ hoặc nhiệt huyết với vấn
đề đang đề cập hay không. Cũng thông qua lời nói mà ngời nghe đài nhận ra
đợc giọng đọc quen thuộc của các PTV, BTV, PV trên đài phát thanh.
Bình thờng, khi PTV, BTV, PV đọc các bản tin, phóng sự, câu chuyện phát
thanh... thì khán giả cảm nhận họ đang nói với mình nhng thực chất đó là
ngôn ngữ hội thoại đặc biệt. Còn các cuộc phỏng vấn, trao đổi giữa PTV,
BTV, PV với những khách mời của đài phát thanh về một vấn đề cụ thể thì đó
là cuộc hội thoại mang đặc trng ba chiều của cuộc phỏng vấn. Đó là lời nói
giữa PTV, BTV, PV với nhân vật trả lời phỏng vấn và hớng về công chúng
nghe đài. Nhng nó không giống hoàn toàn nh những cuộc hội thoại thông thờng trong cuộc sống. Bị chế định bởi giọng nói và mục đích truyền thông, nên
những ngời nói trên phát thanh phải lựa chọn lời nói, cách phát âm, xng hô
vừa chuẩn mực với ngôn ngữ quốc gia, vừa đảm bảo tính quần chúng và hấp

dẫn. Điều này luôn đặt ra yêu cầu cho PTV, BTV, PV phát thanh là phải trau
dồi năng lực ngôn từ và khả năng giao tiếp để không ngừng nâng cao hiệu quả
tuyên truyền.
Ngôn ngữ phỏng vấn phát thanh, theo nhà báo Nguyễn Đình Lơng, nó sẽ
tăng tính hấp dẫn của chơng trình bằng nhiều giọng nói; Tăng tính hiếu kỳ đối

23


với ngời nghe bằng cách đa ngời nghe tham gia vào chơng trình, cho phép giải
quyết đợc những thắc mắc của chính ngời nghe, do đó lôi cuốn, hấp dẫn đợc
họ; Giúp cho những nhân vật nổi tiếng, những chuyên gia lành nghề, đại diện
tiêu biểu của những nguồn tin có giá trị, truyền thông trực tiếp với ngời nghe
[33, tr. 120].
Chúng ta hình dung, khi các phóng viên báo in, phát thanh và truyền hình
cùng thực hiện một cuộc phỏng vấn đối với một vị lãnh đạo một công ty nào
đó. Nội dung của cuộc phỏng vấn đó là giống nhau và hình thức không gì
khác là quá trình trao đổi bằng cách hỏi- đáp giữa phóng viên các loại hình
báo chí với nhân vật trả lời phỏng vấn. Nhng trong quá trình tiến hành, phóng
viên báo in có thể xng hô một cách thân mật hơn bằng vai thân thiện sau đó về
viết lại bằng chữ theo qui thức chuẩn mực. Còn phóng viên phát thanh và
truyền hình không thể làm nh vậy, sự qui chuẩn phải thống nhất bắt đầu từ
cách xng hô, bởi đặc trng của hai loại hình báo chí này không cho phép phóng
viên phát thanh và truyền hình sửa lại lời đã ghi trong cuộc giao tiếp đó.
Phỏng vấn trên phát thanh tác động đến thính giác công chúng duy nhất bằng
lời nói. Bởi vậy, các điệu bộ, cử chỉ, nét mặt của những ngời tham gia cuộc
phỏng vấn đều bị triệt tiêu. Cùng đó, phỏng vấn trên phát thanh còn bị lệ
thuộc vào các yếu tố nh: giờ phát sóng; thời lợng dành cho cuộc phỏng vấn;
khả năng nghe (tiếp nhận thông tin) của thính giả ở các lứa tuổi, giới tính khác
nhau. Tiếng động cũng là một yếu tố quan trọng đối với phỏng vấn phát thanh.

Nếu nh phỏng vấn tại phòng thu thì tiếng động hầu nh không có. Nhng nếu
khi PTV giới thiệu cuộc phỏng vấn của phóng viên bản đài với một công nhân
ở công trờng thì chắc chắn phải có tiếng động máy móc, tiếng búa đập thi
công của những công nhân khác. Trong trờng hợp này nếu thiếu tiếng động
hiện trờng thì thính giả sẽ nghi ngờ vào hoàn cảnh cũng nh tính chân thật ở
thông tin của cuộc phỏng vấn. Tiếng động, đối với phát thanh nó mang giá trị
thông tin nhất định. Tuy nhiên nếu tiếng động át lời trao đổi giữa phóng viên
và ngời công nhân thì hiệu quả thông tin từ cuộc phỏng vấn bị hạn chế và đợc
xem là không đạt yêu cầu về âm thanh.

24


Những câu hỏi của phóng viên trong các cuộc phỏng vấn trên phát thanh
phải ngắn gọn, rõ ý, không lý giải, biện luận dài dòng. Qúa trình tiến hành
phỏng vấn, đòi hỏi phóng viên phải dùng từ khéo léo, kể cả trong xng hô và
nêu vấn đề cần hỏi. Trong cuộc phỏng vấn phát thanh, nhà báo Nguyễn Đình
Lơng cho rằng cần loại bỏ tật nói lắp và nhấn sai trọng âm của từ gây cảm
giác khó nghe; ngời phỏng vấn không nên đặt câu hỏi tùy tiện hoặc câu hỏi
quá nhiều nội dung thông tin; giọng điệu phỏng vấn nên ở mức bình thờng,
thân mật, tránh sự căng cứng nh lời hỏi cung hay luận tội của quan tòa. Tốc độ
lời nói phù hợp để ngời nghe ghi nhận đợc thông tin và cuộc phỏng vấn phát
thanh không nên kéo dài [33, tr.123. 125. 127].
Chúng ta biết rằng, lời nói xuất hiện theo chiều tuyến tính. Các thông tin, các
cuộc phỏng vấn đợc phát trên sóng phát thanh cũng vậy. Cho nên, quá trình
tiếp nhận thông tin từ sóng phát thanh, thính giả chỉ đợc nghe một lần, không
thể lu giữ và thẩm định lại ngữ lu nghe lại nh việc đọc lại báo in. Bởi thế, để
tăng khả năng thu nhận thông tin của thính giả, những ngời làm phát thanh
phải lựa chọn ngôn ngữ phổ thông, gần với ngôn ngữ hàng ngày của quần
chúng nhân dân, tránh dùng nhiều từ khoa học, thuật ngữ chuyên môn khó

hiểu. Cấu trúc câu phải đơn giản nhất, dễ tiếp nhận nhất đối với số đông thính
giả. Có nhiều ý kiến cho rằng câu trên phát thanh chỉ nên chứa một ý, nghĩa là
chỉ có một mệnh đề [22, tr. 214]. Đối với ngôn ngữ phát thanh, nghiên cứu
góc độ tiếng Việt, trong cuốn giáo trình Ngôn ngữ báo chí, tác giả Vũ
Quang Hào cho rằng: ...Tiếng Việt rất giàu chất nhạc, chất thơ và truyền
thống ngữ văn Việt Nam chịu ảnh hởng nhiều của văn biền ngẫu, của thơ Đờng. . . Những điều đó khiến ngời Việt dờng nh thích nghe lối diễn đạt giàu
âm hởng, nhịp nhàng, cân đối. Và cố nhiên, chính điều đó đòi hỏi các biên tập
viên phát thanh phải thỏa mãn thính giác bằng việc tạo lập cấu trúc câu sao
cho phù hợp ...[22, tr. 220]. Bởi mỗi câu hỏi là một dòng ngữ lu liền mạch có
thể cắt xén nhng không thể sửa lời nh đối với quá trình viết lại lời phỏng vấn
đăng tải trên báo in. Nhất là các cuộc phỏng vấn trực tiếp trên phát thanh. Đây
cũng là một đặc điểm gần giống với một trong những đặc điểm nổi bật của
phỏng vấn trên truyền hình.

25


×