Tải bản đầy đủ (.doc) (136 trang)

Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nguyễn tuân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (651.22 KB, 136 trang )

MỤC LỤC
1


Trang
MỞ ĐẦU
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Lí do chọn đề tài
Lịch sử vấn đề
Phương pháp nghiên cứu .
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ của đề tài
Cấu trúc luận văn
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ

1
2
7
8
8
9

NGUYỄN TUÂN TRONG VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT
1.1.



NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THANMGSTÁM 1945
Vị trí của Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam

trước 1945
1.1.1. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
1.1.2. Vị trí truyện ngắn Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam
1930-1945
1.2.
Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
1.2.1. Giới thuyết về trần thuật
1.2.2. Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
1.3.
Tiểu kết
Chương 2
ĐIỂM NHÌN VÀ NHỊP ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.3.

3.1.
3.1.1.
3.1.2.
3.1.3.
3.2.

3.2.1.
3.2.2.

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN
Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật chủ quan (trần thuật tham dự)
Điểm nhìn trần thuật khách quan (trần thuật không tham dự)
Sự luân phiên, chuyển dịch các điểm nhìn trần thuật
Nhịp điệu trần thuật
Nhịp điệu trần thuật nhanh, gấp gáp
Nhịp điệu trần thuật chậm rãi, khoan thai, đĩnh đạc
Tiểu kết
Chương 3
GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN
Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu khinh bac, cao ngạo
Giọng điệu khách quan lạnh lùng
Giọng điệu ngợi ca, luyến tiếc vẻ đẹp Vang bóng một thời
Ngôn ngữ trần thuật
Kết hợp ngôn ngữ kể và tả
Trữ tình ngoại đề
2

10
10
21
27
27
30

36

38
40
48
55
61
63
67
76

78
79
84
88
96
97
107


3.2.3
3.3.

Đặc điểm lời văn trần thuật
Tiểu kết

113
126

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

127
129

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trần thuật là một phương diện cơ bản của nghệ thuật tự sự - một phương
thức biểu đạt thông dụng mà văn học chọn dùng để hiểu biết và phản ánh đời sống.
Trong nghệ thuật tự sự, vai trò của người trần thuật rất quan trọng, vì cách trần thuật là
một yếu tố hình thức lôi cuốn độc giả, nó chi phối mạnh mẽ mạch vận động của tác
phẩm từ bố cục, kết cấu, nó giúp người đọc nhìn thấy vị trí, góc nhìn của người trần
thuật và mọi diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật, diễn biến cốt truyện. Hiện nay,
trong sáng tác cũng như nghiên cứu văn học, vấn đề cách kể như thế nào được đặc biệt
quan tâm hơn là kể cái gì. Hướng tìm hiểu này thúc đẩy cách sáng tạo, cách tiếp nhận
về gần hơn với đặc trưng thẩm mĩ của sáng tạo văn học. Đó chính là lí do khiến chúng
tôi chọn nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của nhà văn. Bởi tìm hiểu nghệ thuật trần
thuật chính là đi sâu khám phá những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của mỗi nhà
văn, trên cơ sở đó, giải mã cấu trúc bên trong của tác phẩm, đồng thời có cơ sở để tìm
3


hiểu, đánh giá những sáng tạo, những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển
truyện ngắn nói riêng và quá trình hiện đại hoá văn xuôi Việt Nam nói chung.
1.2. Nguyễn Tuân là một tác gia lớn trong văn học Việt Nam hiện đại. Tên tuổi
và sự nghiệp của ông đã được khẳng định từ các tập tuỳ bút và nhất là tập truyện ngắn
Vang bóng một thời trước Cách mạng tháng Tám. Đọc truyện ngắn Nguyễn Tuân,
chúng tôi nhận thấy nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện cơ bản tạo
nên giá trị thẩm mĩ đặc sắc cho văn phong của ông. Từ trước Cách mạng tháng Tám
1945 cho đến nay, sáng tác của Nguyễn Tuân, nhất là truyện ngắn đã trở thành đối

tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu nghệ
thuật trần thuật của nhà văn từ góc độ Tự sự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Vì vậy, chúng tôi muốn qua việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Tuân để xác lập một cái nhìn có tính hệ thống các phương thức trần thuật của
nhà văn nhằm khám phá những đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn của nhà
văn này.
1.3. Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, Nguyễn Tuân là một tác gia
quan trọng, số tiết và số tác phẩm được dạy học khá nhiều. Bản thân là một giáo viên
trực tiếp dạy học Ngữ văn, việc tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Tuân là một hướng nghiên cứu mới, giúp chúng tôi có thêm cơ sở lí luận để
giải mã sâu hơn giá trị tác phẩm của Nguyễn Tuân và các tác phẩm tự sự nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Tuân khẳng định sự độc đáo của mình trong đời sống văn học Việt nam
hiện đại bằng thể loại truyện ngắn và tuỳ bút. Ông là nhà văn có nội lực sáng tạo dồi
dào và luôn gây được sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình văn học. Tính đến nay đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn ở nhiều phương diện khác nhau. Qua thu
thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy một số hướng nghiên cứu như: nhận xét về con người
và tác phẩm Nguyễn Tuân; bàn về khuynh hướng truyện ngắn; quan niệm sáng tác;
phong cách nghệ thuật; những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong một số
truyện ngắn và tuỳ bút… Cùng với sự phát triển của ngành Tự sự học, những nét đặc
sắc trong nghệ thuật trần thuật văn xuôi Nguyễn Tuân ngày càng được phát hiện,
nghiên cứu sâu hơn.
4


Trần thuật là một khái niệm có nội hàm rộng. Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi
chỉ xin đề cập đến những ý kiến bàn về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Tuân trước Cách mạng tháng Tám như: cách lựa chọn điểm nhìn trần thuật, nhịp điệu
trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật. Chúng tôi cho rằng, đây là những
phương diện nghệ thuật cơ bản góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn

Tuân.
2.1. Một số ý kiến về cách tổ chức điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Tuân
Trong nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Tuân, chưa thấy nhiều công trình đi
sâu vào các phương diện cụ thể của nghệ thuật trần thuật. Tuy chưa gọi đúng khái niệm
điểm nhìn trần thuật nhưng một số ý kiến cũng đã đề cập đến phương diện này, dù ở
những mức độ khác nhau. Từ 1940, trên báo Ngày nay (số 212), Thạch Lam đã nhận ra
một Nguyễn Tuân “yêu mến và than tiếc những cái đã qua, và cố sức làm sống lại cả
một thời xưa cũ”. “Những nhân vật được trình bày với lời ăn tiếng nói riêng, với những
suy xét theo hồi ấy”. Hoặc, ông “khéo phác họa được cái “không khí” của những ngày
đi mất ấy”. Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, đã nhận xét về tài năng trần
thuật của Nguyễn Tuân: “Những bài bút kí, những truyện ngắn, truyện dài của ông
đăng từ 1938 trong Tiểu thuyết thứ bảy, Tao đàn, Hà Nội tân văn và Trung Bắc chủ
nhật đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và
những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc,
lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một phác hoạ, nhưng bao giờ nó
cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”. Ông phát hiện, đọc Vang bóng
một thời, “người ta có cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một
bức hoạ cổ”. “Cái hay cái dở của tập tranh này của Nguyễn Tuân ở cả như sự dàn xếp,
ở cả như những nét, những màu, rồi sau mới đến cái thú vị của những cảnh, những vật,
tuỳ theo sự xét đoán và sở thích của từng người”. Trương Chính (trong Tuyển tập
Trương Chính, tập 2, 1997) cho rằng, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân đã “tìm
được sự tài hoa trong thời quá khứ. Và những chuyện cũ, người cũ đó, ông kể lại bằng
một giọng thán phục và luyến tiếc như là những cái gì cố hữu của người Việt Nam ta”.
Ông nhìn, kể cuộc đời “qua màn sương tâm tình của ông”, một lối kể “trầm tĩnh”
5


nhưng lôi cuốn người ta “một cách dịu dàng, êm ái”. “Chưa ai viết về quá khứ mà dựng
lại được cái không khí thời xưa như Nguyễn Tuân. Ông kể chuyện các cụ thưởng trà,

đánh cờ, ngâm thơ thành thạo như người trong cuộc sống thời ấy. Từ khung cảnh cho
đến nhân vật, cách ăn nói, dáng điệu, thần thái nhất nhất, ông đều khôi phục y nguyên”.
Đi sâu hơn vào nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Tuân là Phan Cự Đệ
trong chuyên luận: Truyện ngắn Việt Nam hiện đại - Lịch sử phát triển của các khuynh
hướng và loại hình truyện ngắn. Ông cho rằng: “Nguyễn Tuân vẫn giữ cho mình lối kể
chuyện gần với truyền thống dân tộc, một cách hành văn hoàn toàn Việt Nam. Cơ bản
vẫn là lối kể chuyện theo tuyến tính thời gian, dường như ít thay đổi điểm nhìn trần
thuật và rất hiếm trường hợp kể chuyện từ ngôi thứ nhất”. Theo ông, “Điểm thu hút
nhất của truyện ngắn Nguyễn Tuân là nghệ thuật xây dựng nhân vật” và sự linh hoạt
trong cách kể chuyện, xây dựng cốt truyện. Mai Quốc Liên (trong cuốn Phê bình và
tranh luận văn học, Nxb. Văn học, 1998) đã chỉ ra cách nhìn, điểm nhìn trần thuật chủ
quan của Nguyễn Tuân “thấm đẫm chất trữ tình, chất thơ của một người nhập cuộc”.
Mặc dù chưa tập trung vào cách tổ chức điểm nhìn trần thuật, nhưng hầu hết các
nhà nghiên cứu đã phát hiện ra dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Tuân là muốn làm sống
dậy vẻ đẹp “vang bóng một thời” với một cách kể chuyện xuất phát từ điểm nhìn trần
thuật chủ quan, trầm tĩnh, với một tình cảm thán phục, luyến tiếc những vẻ đẹp xưa,
lúc khách quan, lạnh lùng, tràn đầy căm phẫn cuộc đời đen bạc và lũ ô trọc.
2.2. Một số ý kiến, nhận xét về giọng điệu trần thuật của văn Nguyễn Tuân
Đây là phương diện được nhiều nhà nghiên cứu đề cập với những góc độ khác
nhau. Vũ Ngọc Phan thấy Nguyễn Tuân “hay dùng lối phiếm luận, cái giọng khinh bạc
bất cứ về việc gì”. “Là người có tính hào hoa và giọng điệu khinh bạc đệ nhất trong
văn giới Việt Nam hiện đại”. Trương Chính vừa khẳng định “giọng điệu khinh bạc, cao
ngạo” trong văn Nguyễn Tuân vừa lí giải căn nguyên của nó. “Xét cho cùng, giọng
khinh bạc của ông là do ông phủ nhận thực tại xấu xa của xã hội, do lòng hoài nghi đạo
đức giả, dối người đời, do lòng tự cao tự phụ của mình xen lẫn cả lòng hoài nghi của
chính bản thân mình nữa”…Nguyễn Đăng Mạnh khi theo dõi quá trình sáng tác của
Nguyễn Tuân cũng nhận thấy “giọng khinh bạc gai góc Nguyễn ném vào bọn người có
đầu óc nô lệ, bọn hãnh tiến, vào cuộc đời nô lệ”. “Ở một số truyện, Nguyễn Tuân châm
6



biếm, có lúc kín đáo nhẹ nhàng nhưng cũng có lúc quyết liệt, táo bạo bọn thống trị đế
quốc và phong kiến tay sai”.
Trong những truyện ngắn viết trước cách mạng, các nhà nghiên cứu còn phát
hiện Nguyễn Tuân “gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc về một
thời vàng son đã qua, hướng người ta quay về quá khứ” (Tôn Thảo Miên). Thạch Lam,
Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Phan Cự Đệ… đều khẳng định thái độ trân trọng, tình
yêu của Nguyễn Tuân dành cho vẻ đẹp vang bóng một thời của quá khứ dân tộc. Văn
Tâm trong một bài viết in trong Nguyễn Tuân - người đi tìm cái đẹp, Nxb. Văn học,
1997, nhận định: “Khi Nguyễn Tuân tái hiện hiện thực trước mắt, cái tôi - Nguyễn
Tuân thường chiếm vị trí tiền cảnh cùng thái độ khinh miệt; ngược lại, khi hướng về
đời sống văn hoá dân tộc cái tôi ấy của tác giả lùi xa hẳn về hậu cảnh”[…] và “được
người viết tái tạo bởi một thái độ đặc biệt trân trọng”. Đỗ Đức Hiểu phát hiện ở Vang
bóng một thời như “một bài thơ với những nhịp mạnh xen lẫn những nhịp nhẹ, với
những trùng điệp day dứt, những rung động mãnh liệt hay nhẹ nhàng, toả lan thành
những đợt sóng dữ và những làn sương mờ” (Chất thơ trong Vang bóng một thời, in
trong Nguyễn Tuân về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007).
Tóm lại, nhận xét về giọng điệu văn Nguyễn Tuân, mỗi người một cách nói
song các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở sự phát hiện ra giọng điệu cốt lõi và nổi bật
của văn Nguyễn Tuân: chất khinh bạc lạnh lùng, cao ngạo cùng một tình cảm tha thiết,
trân trọng vẻ đẹp xưa.
2.3. Một số ý kiến về ngôn ngữ trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Tuân
Ngôn ngữ, cách tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Nguyễn Tuân là một
phương diện được bàn luận khá sôi nổi. Nguyễn Tuân từng nói rằng: “nghề văn là nghề
chữ, cái nghề dùng chữ mà sinh sự”. Chữ trong văn ông giàu có lạ lùng. Mỗi trang văn
của ông là những “trang hoa”, “Tờ hoa”. Văn ông tổng hợp nhiều thứ kiến thức: lịch
sử, địa lí, hội hoạ, điển ảnh, văn chương…Ông nhìn sự vật từ phương diện thẩm mĩ,
văn hóa, vốn từ giàu có, do đó ông luôn tìm thấy những mới mẻ bất ngờ ở sự vật và có
đủ vốn liếng để diễn tả. Ngay từ những ngày xuất hiện tập Vang bóng một thời, Vũ
Ngọc Phan đã ngợi ca: “Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn

mĩ” (Nhà văn hiện đại). Trương Chính: “trong sáng lạ lùng”. Nguyễn Đăng Mạnh cho
7


rằng văn Nguyễn Tuân được viết với “nghệ thuật văn xuôi điêu luyện”, “kho từ vựng
phong phú, giàu có, có ý thức sáng tạo từ mới và cách dùng từ mới”. Mai Quốc Liên,
Hoài Anh cho Nguyễn Tuân là “bậc thầy nghệ thuật ngôn từ”, “nhà nghệ sĩ ngôn từ đã
đưa cái đẹp thăng hoa”. Văn Tâm cũng phát hiện “ngôn ngữ Nguyễn Tuân đầy chất tạo
hình và điển ảnh”, là người có “vốn từ cổ phong phú tạo hiệu quả lợi hại trong tái hiện
cụ thể lịch sử quá khứ”.
Ở phương diện ngôn ngữ xây dựng hình tượng nghệ thuật, Đoàn Trọng Huy
thấy ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Tuân có khả năng xây dựng hình tượng không gian
nghệ thuật đa dạng: không gian kí vãng, không gian kinh dị, không gian văn hoá…
(Hình tượng không gian đa dạng trong văn xuôi nghệ thuật Nguyễn Tuân, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, 6/2007). Từ góc độ hệ thống ngôn từ, tác giả Đinh Trí Dũng phát
hiện Nguyễn Tuân có “biệt tài trong sử dụng từ láy”, các “động từ diễn tả tâm trạng sợ
hãi của con người trước cái huyền bí” để tạo nên “cái riêng không thể trộn lẫn của
Nguyễn Tuân trong việc tạo ra những hình tượng kì ảo kiểu Liêu Trai” trong Yêu
ngôn” (Màu sắc Liêu Trai trong các tác phẩm Yêu ngôn của Nguyễn Tuân (nhìn từ góc
độ ngôn từ), Sông Lam, 94/2009).
Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân là một phương diện được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm (Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Ngọc, Đỗ Ngọc Thống, Hà Văn Đức…). Họ
đã chỉ ra nhiều đặc điểm cụ thể của văn phong Nguyễn Tuân. Đó là một thứ văn
chương chăm chú khám phá ở phương diện “kĩ thuật”. Theo Phan Ngọc: “Nguyễn là
người đầu tiên nêu lên cái đẹp ở khía cạnh kĩ thuật. Tiếng nói mới của anh mà hầu như
không ai để ý, đó là anh nhìn cái đẹp ở khía cạnh kĩ thuật…”. “Trước Nguyễn, văn học
là cuộc đời những con người, những tình huống éo le của thân phận. Với anh, văn học
là để giáo dục những kiến thức về văn hoá và cách nhìn kĩ thuật để tự mình tạo ra cái
đẹp… biến ngôn ngữ kĩ thuật thành ngôn ngữ nghệ thuật và vẽ lên một bức tranh kì ảo,
mông lung, trong đó từng chi tiết đều chính xác lại có kết thúc tung bay được”(Quá

trình chuyển biến của một phong cách, trong sách Thử xét văn hoá văn học bằng ngôn
ngữ học, Nxb TN, 2000). Hà Văn Đức lại thấy “văn xuôi Nguyễn Tuân giàu hình
tượng, giàu nhạc điệu và đầy chất thơ”, màu sắc huyền thoại, với những mô típ nghệ
thuật đầy ấn tượng (mô típ “buổi chiều máu”, mô típ “sương mờ”, mô típ “Liêu Trai”
8


(Chất thơ trong Vang bóng một thời). Đỗ Ngọc Thống trong bài viết Nguyễn Tuân và
phép lạ hoá trong văn (TBKH ĐHQG Hà Nội, 1/1993) phát hiện Nguyễn Tuân dùng
rất nhiều thủ pháp lạ hoá trong văn như động từ hoá danh tính từ; đảo trật tự từ; sử
dụng tối đa từ gần nghĩa, đồng nghĩa, dùng từ đặc biệt; cách so sánh liên tục, tới tấp,
gây ấn tượng mạnh…
Về đặc điểm câu văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam sớm phát hiện ra cái cách “hành
văn cầu kì, kiểu cách”. Trương Chính cũng nhận xét: “Đây đó có những câu văn hơi
cầu kì, văn hoa một chút nhưng lại rất hợp với đề tài. Không có nó, tác phẩm mất đi
một phần giá trị”. Vũ Ngọc Phan cũng cùng quan điểm này, “Người ta hay nói đến
những cái lôi thôi, những cái dài dòng trong văn của Nguyễn Tuân, nhưng người ta
quên không nhớ rằng M.Prút, Tuốc-ghê-nhép còn dài dòng hơn nhiều, mà đó chỉ là
những sự diễn tả thành thực của tâm hồn” (Nhà văn hiện đại). Mai Quốc Liên thấy câu
văn xuôi Nguyễn Tuân “nó trùng điệp, phức điệu, phức cú để diễn tả cho được những
quan hệ phức tạp” nhưng “bao giờ cũng trong sáng, đúng, ở đó ông chú ý đến giọng
điệu, cách sắp xếp từ ngữ để làm nổi bật các mối quan hệ trong sự vật và trong cảm
giác của chính ông” (Phê bình và tranh luận văn học, NxbVăn học, H.,1998). Nguyễn
Đăng Mạnh trong: Nguyễn Tuân, một phong cách độc đáo và tài hoa cũng viết: “Câu
văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiểu kiến trúc đa dạng. Ông là nghệ sĩ ngôn từ biết
chú trọng tới âm điệu, nhịp điệu của câu văn xuôi… Câu văn có khớp xương biết co
duỗi nhịp nhàng”. Còn Hà Bình Trị trong Thầy chữ Nguyễn Tuân cũng nhận thấy câu
văn Nguyễn Tuân “nhịp điệu đĩnh đạc, thong thả, từ tốn, tưởng cầu kì nhưng đó là cách
gợi không khí cho truyện, tạo nhịp điệu hài hoà”… Hà Văn Đức cũng khẳng định cái
tài hoa, uyên bác, vốn từ vựng phong phú và lối diễn đạt nhiều khi cầu kì, khác lạ

(Nguyễn Tuân một bậc thầy về ngôn ngữ, TCKH ĐHTH Hà Nội, số 4.1991).
Nhìn chung, các ý kiến trên đã đi vào khám phá những đặc sắc của đề tài, ở khả
năng xây dựng hình tượng nghệ thuật, ở sự sáng tạo ngôn từ và đặc điểm câu văn…
của Nguyễn Tuân. Lịch sử vấn đề cho thấy, những nhận định đánh giá ở trên về nghệ
thuật trần thuật của Nguyễn Tuân nghiêng về nhận xét có tính khái quát những đặc sắc
về nội dung (kể cái gì) hơn là nghệ thuật kể (kể như thế nào). Một số phương diện quan
trọng trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Tuân như: cách tổ chức điểm nhìn trần
9


thuật, nhịp điệu, giọng điệu trần thuật còn sơ lược và chưa được quan niệm rõ ràng.
Riêng phương diện nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật, những yếu tố quan trọng
cấu tạo nên hình thức nghệ thuật của tác phẩm Nguyễn Tuân còn ít được đề cập. Trên
thực tế số công trình chuyên sâu qui mô lấy nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Tuân làm đối tượng chính để nghiên cứu một cách hệ thống và có ý nghĩa thao
tác còn khá khiêm tốn. Mặc dù vậy, những ý kiến, nhận định, đánh giá của các nhà
nghiên cứu trên là rất ý nghĩa: gợi mở và định hướng cho chúng tôi thực hiện đề tài
này.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp phân loại - thống kê
Chúng tôi tiến hành khảo sát hầu hết các tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn
Tuân sáng tác trước 1945, tìm hiểu, phân loại và thống kê các phương thức trần thuật,
nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật cơ bản, các thủ pháp trần thuật, đặc điểm
hành văn, các kiểu câu, hệ thống các từ loại ưa dùng của nhà văn…để có cơ sở đánh
giá nghệ thuật trần thuật của nhà văn.
3.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Nghệ thuật trần thuật thuộc phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn
học, nó bao gồm nhiều vấn đề. Chúng tôi tiến hành phân tích từng phương diện của
trần thuật, từ đó, khái quát chung về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Tuân.

3.3. Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Nghệ thuật trần thuật nằm trong cấu trúc văn bản nghệ thuật tự sự, nên chúng
tôi khảo sát các dạng thức trần thuật trong một số tác phẩm tiêu biểu để có cái nhìn bao
quát và hệ thống cấu trúc tự sự cơ bản, góp phần làm nên cách trần thuật của nhà văn.
3.4. Phương pháp so sánh - đối chiếu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xem xét những nét đặc sắc của nghệ
thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân với một số cây bút truyện ngắn trước
1945.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

10


4.1. Đối tượng nghiên cứu: nghệ thuật trần thuật của nhà văn Nguyễn Tuân, bao
gồm một số phương diện: điểm nhìn, nhịp điệu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Truyện ngắn Nguyễn Tuân sáng tác trước Cách mạng
tháng Tám 1945, tập trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu.
5. Nhiệm vụ đề tài
5.1. Đề tài tập trung khảo sát nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Tuân theo hướng tự sự học trên các phương diện: điểm nhìn, nhịp điệu, các thủ
pháp trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật. Hi vọng kết quả nghiên cứu của
luận văn sẽ góp phần tiếp nối khẳng định tài năng Nguyễn Tuân trong nghệ thuật
truyện ngắn. Qua đề tài, chúng tôi đề xuất một hướng tiếp cận nghệ thuật trần thuật
trong tác phẩm tự sự có giá trị thao tác, mặc dù vấn đề còn phải bàn thêm và đây chỉ là
những thử nghiệm.
5.2. Khảo sát sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, nhất là sáng tác giai đoạn
trước Cách mạng tháng Tám 1945, chúng tôi hướng tới một cái nhìn khái quát về tác
phẩm của ông để xác định vị trí, sự độc đáo, đóng góp về thể loại truyện ngắn của nhà
văn trong quá trình phát triển nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Mặt khác, nghiên cứu
văn xuôi Nguyễn Tuân dưới góc nhìn Tự sự học để thấy được vai trò quan trọng của

trần thuật trong phương thức tự sự, trong sáng tạo tác phẩm của nhà văn.
5.3. Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Tuân trước 1945, chúng tôi nhằm nhận diện
những nét đặc sắc của nghệ thuật trần thuật của nhà văn như: cách tổ chức điểm nhìn,
nhịp điệu trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật. Qua những phương diện cơ bản
trên đây, chúng tôi có thêm cơ sở để khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo của
nhà văn.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về sự nghiệp sáng tác và vị trí của Nguyễn Tuân trong văn
học lãng mạn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945
Chương 2: Điểm nhìn và nhịp điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
11


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
VÀ VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG VĂN HỌC LÃNG MẠN
VIỆT NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
1.1. Vị trí của Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945
1.1.1. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, con người và văn chương Nguyễn Tuân
luôn là một đề tài gây được sự chú ý và hấp dẫn đối với người đọc nói chung và các
nhà văn, các nhà nghiên cứu nói riêng. Là một người tài hoa, uyên bác, giàu cá tính,
Nguyễn Tuân hoạt động trên nhiều lĩnh vực: viết văn, làm báo, diễn kịch…ở lĩnh vực
nào ông cũng say sưa, thể hiện hết cái “tôi” của mình.
Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Tuân được chia làm hai giai đoạn
chính: trước và sau Cách mạng tháng tháng Tám. “Tác phẩm của Nguyễn Tuân trước


12


Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh các đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp
“Vang bóng một thời”, đời sống trụy lạc và “Yêu ngôn”[71,166].
Bước vào nghề văn, Nguyễn Tuân đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí,
truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực trào phúng lên án bọn thống trị đế quốc, tay
sai và đã để lại ít nhiều dấu ấn. Từ 1938 -1940 trở đi, ông mới định hình được sở
trường của mình và thành công xuất sắc với hàng loạt truyện ngắn và tuỳ bút: Một
chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng
mắt cua (1941)…
Vườn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn, đăng lần đầu trên Tiểu thuyết thứ bảy, 1935)
đánh dấu sự xuất hiện một Nguyễn Tuân giàu tiềm năng trong lựa chọn đề tài, nghệ
thuật dựng cảnh, tạo không khí ở thể loại truyện ngắn và những quan niệm về cái đẹp.
Lấy cảm hứng từ “chủ nghĩa xê dịch” (một lí thuyết vay mượn của phương tây),
Nguyễn Tuân đã viết một loạt tác phẩm: Một chuyến đi, Cửa Đại, Chiếc va li mới,
Thèm đi, Lại đi nữa, Những ngày Thanh Hoá,…thậm chí ông còn viết cả một cuốn tiểu
thuyết có tính chất tự truyện và giàu chất tuỳ bút là Thiếu quê hương (1940) về đề tài
này. Một chuyến đi (1938) được xem như khúc dạo đầu của một cây bút tài hoa không
gặp nhiều may mắn. Tập du kí tập hợp những bài viết của Nguyễn Tuân trong những
ngày ông sống và đóng phim ở Hương Cảng, ghi lại một cách sống động, tài hoa phong
cảnh, phong tục và tâm trạng kẻ xa quê khi năm hết tết đến nơi quê người. Tác phẩm
chất chứa những hoài vọng và thất vọng của một cái “tôi” tài hoa, tài tử bị ám ảnh bởi
cái sự “đi”. Ông lấy sự “xê dịch” làm cảm hứng cho sáng tác của mình, lấy cái “tôi” cá
nhân mình làm nhân vật trung tâm để phô bày tất cả những cảm nhận, suy nghĩ của
mình về những gì mà ông được gặp trên đường xê dịch. Đối với Nguyễn Tuân hồi ấy,
sống là đi, đi không mục đích, chỉ cốt thay đổi để tìm cảm giác mới lạ, để thoát li thực
tại đau buồn: “cái va li đẹp nhất cuộc đời này vẫn là cái va li chứa toàn bản thảo của
những năm tháng đi làm ở phương xa trở về” và “chỉ có cuộc đời rộng rãi, chỉ có con
đường đời vô định mới cho người ta biết được những câu đẹp đẽ một cách quái dị như

thế thôi” [75,268-283]. Bạch - nhân vật chính của Thiếu quê hương có cái thú đi đây đi
đó, dù “đi để mà đau khổ cả trong lúc đi lẫn lúc nghỉ”. Bạch lấy quan niệm xê dịch làm
tiêu chuẩn gốc để đánh giá con người. Bạch dị ứng với những thói quẩn quanh xó nhà
13


ở những người bình thường. Tâm trạng luôn cảm thấy “Thiếu quê hương” của Bạch
xuất phát từ sự chứng kiến cuộc sống tù túng, tăm tối của chế độ thực dân phong kiến,
mà bản thân không lại không có khả năng chống trả. Thành ra, “xê dịch” là một cách
chống trả, vùng vẫy để thể hiện sự bất mãn, bất lực của Vi Bạch. Mặc dù cái tôi “xê
dịch” có lúc rơi vào khủng hoảng, song chính trong những lần “đi” ấy, “Nguyễn Tuân
có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết với cảnh sắc và hương vị của đất nước mà ông
đã ghi lại bằng một ngọn bút đầy trìu mến và tài hoa” [71,166]. Con người ấy…nhiều
khi muốn tỏ thái độ khinh thế ngạo vật, đã cố tình ném ra những điều trái tai, gai mắt,
do đó đã có lúc nói những lời bạc bẽo với quê hương mình, nhưng thực ra thì “vẫn là
một tấm lòng An Nam hoàn toàn”. Thiếu quê hương phần nào phác họa chân dung tinh
thần những thanh niên trí thức những năm trước 1945.
Trong loạt sáng tác trước Cách mạng, Vang bóng một thời (1940) là tập truyện
ngắn được đánh giá cao nhất về tư tưởng và nghệ thuật. Lần đầu tiên, quá khứ xã hội
Việt Nam được xem xét và ghi chép từ một cái nhìn hiện đại. Ấy là thời phong kiến đã
qua nhưng dư âm còn vang vọng lại. Nguyễn Tuân không viết về trật tự xã hội, về tư
tưởng, đạo đức cũ, mà thiên về mô tả vẻ đẹp riêng của một thời xưa: những phong tục
đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh, tao nhã… Đối tượng mà Nguyễn Tuân
quan tâm là những trí thức phong kiến cuối mùa. Họ là những ông Cử, ông Nghè, ông
Tú, những hưu quan như cụ Kép, cụ Ấm, cụ Thượng… có nhân cách, tài hoa nhưng bất
đắc chí. Họ chơi ngông với đời bằng lối sống ẩn mình, bỏ ngoài danh lợi, chỉ biết vui
thú, hưởng lạc một cách tao nhã, đài các, cầu kì như: uống trà, nhắm rượu, chơi hoa,
chơi chữ, đánh thơ, thả thơ. Tất cả cung cách sống của họ đều toát lên sự cầu kì, lịch
lãm, tài hoa, đầy nghi lễ nhịp nhàng và rất đỗi thiêng liêng (Những chiếc ấm đất, Chén
trà sương, Hương cuội, Đánh thơ, Thả thơ, Đèn đêm thu…). Và, Nguyễn Tuân đã nâng

tất cả những vẻ đẹp đó lên hàng “nghệ thuật”. Qua những câu chuyện ấy, “Nguyễn
Tuân đã khơi lại đống tro tàn dĩ vãng, cái dĩ vãng đầy “những nét rầu rầu, những màu
xam xám” đã gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc về một “thời
vàng son” đã qua, hướng người ta muốn quay về quá khứ” [49,30]. Theo Nguyễn Đăng
Mạnh, “Vang bóng một thời cũng như nhiều tuỳ bút của ông, còn thấy những mĩ tục
nói lên cái thái độ sống giản dị mà sâu sắc, thanh đạm mà tinh tế, tài hoa của dân tộc
14


mình” [49,117]. Đó là tài hoa, là tấm lòng tha thiết của Nguyễn Tuân dành cho văn hóa
dân tộc.
Có ý kiến cho rằng, do nhu cầu khẳng định cái tôi tài hoa, uyên bác, độc đáo
khiến ngòi bút Nguyễn Tuân đôi chỗ hơi cực đoan, chỉ quan tâm đến cái đẹp thuần tuý,
mang tính hình thức, xuất hiện trong những tình huống oái oăm. Vì thế người đọc có
cảm giác vừa thú vị, vừa rờn rợn khi ông miêu tả tuyệt vời cái đẹp nghệ thuật “chém
treo ngành” của Bát Lê (Bữa rượu máu); cái đẹp của nghệ thuật “ném bút chì” của đám
cướp tài hoa Cai Xanh, Lí Văn, Phó Kình (Một đám bất đắc chí); hay cái đẹp của
những dòng chữ của một tử tù; cái “thanh âm trong trẻo” trong tâm hồn Quản ngục
(Chữ người tử tù). Tuy nhiên, ẩn sau những gì ông miêu tả không phải không mang
một ý nghĩa xã hội tích cực, một quan niệm sâu sắc về cái đẹp, về lẽ sống.
Tóm lại, sự độc đáo về đề tài và quan niệm nghệ thuật, thái độ tha thiết trân
trọng vẻ đẹp một thời, cách kể chuyện chậm rãi, trang trọng, tài hoa khi tả cảnh, dựng
không khí, miêu tả tâm lí tinh tế, vốn ngôn ngữ giàu có phù hợp với đề tài phản ánh…
đã làm cho tập truyện không chỉ là “Vang bóng một thời” mà còn tiếp tục “vang bóng”
cùng thời gian.
Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân hay viết về đề tài đời sống trụy lạc.
Các phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941), tùy bút Chiếc lư đồng
mắt cua (1941) đưa người đọc đến với đời sống hiện tại trong không gian của những
nhà chứa, xóm hút, tiệm hút, tiệm rượu. Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc phản ánh
tâm trạng, tình cảnh những con người trẻ tuổi hoang mang, bế tắc đã tìm cách thoát li,

đắm mình trong khói thuốc phiện, đàn ngọt, phách hay. Mặc dù bị chính quyền Pháp
kiểm duyệt gắt gao, nhưng hai phóng sự vẫn còn quyến rũ, bởi nó mở vào thế giới
Nguyễn Tuân, thế giới của những hoài nghi, coi thường tất cả những giá tri được coi là
truyền thống, lật mặt trái của đạo đức núp bóng cửa thiền, để trình bày một không khí
cảm bẫy phù dung mà âm dương không khác biệt, tu tục nằm chung, thiện ác lẫn lộn,
tù mù dưới ánh đèn dầu lạc. Miêu tả tài tình, giọng điệu khinh bạc, hoài nghi là những
nét nổi bật trong hai thiên phóng sự này.
Nếu trong phóng sự, Nguyễn Tuân chỉ là người ngoài cuộc, tỉnh táo viết về
người khác, thì với Chiếc lư đồng mắt cua, ông hướng ống kính vào bên trong, chiếu
15


cả ngoại cảnh lẫn nội tâm của chính mình. Trong tuỳ bút này, Nguyễn Tuân đã sử dụng
một lối tự thuật đặc biệt, khi phóng bút, khi kể, khi luận, khi bình để ghi lại khá đầy đủ
và chân thực những đam mê sa đoạ của nhân vật xưng tôi, là Nguyễn (cũng là chính
mình) sau khi đi tù về. Đó là quãng thời gian Nguyễn Tuân khủng hoảng, bế tắc, bất
mãn với xã hội nhưng không có lí tưởng nên đành bất lực. Hoá thân vào những ông
Thông Phu, Bảo, Đào Tâm, những tay chơi khét tiếng hào hoa, lao vào hành lạc để tiêu
sầu, lấy cái ồn ào của những cuộc truy hoan để khuấy động một cách giả tạo những
ngày tháng trống rỗng của mình. Cuối cùng, Nguyễn cảm thấy cô đơn, trống rỗng: “hiu
quạnh sống trong người mình và xung quanh mình, cái gì cũng chỉ gợi đến những ý xa
vắng, lạnh và cũ và mòn mỏi và ngừng hết… tôi có cái cảm tưởng gở dại là mình đã
trở nên một người goá bụa, hoàn toàn goá bụa. Goá vợ con, thân thích, anh em bạn,
goá nhân loại, goá hết cả” [75,175-267]. Vũ Ngọc Phan cho rằng Chiếc lư đồng mắt
cua chính là "lời tự thú", là "thiên sám hối của một thanh niên khinh bạc và sa ngã vì
đã sống không lí tưởng"[49,32] (Dẫn theo Nguyễn Tuân tác gia và tác phẩm)
Bên cạnh những hạn chế, người đọc vẫn bắt gặp những trang viết sắc sảo khi
Nguyễn Tuân dùng ngòi bút tài hoa, giọng khinh bạc của mình để ném vào bọn trưởng
giả hãnh tiến, vào cuộc đời đen bạc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần, đôi khi
người ta vẫn thấy những cá tính tài hoa muốn vươn lên trên cuộc đời nhem nhuốc,

phàm tục, khát khao một thế giới tinh khiết, thanh cao được nâng đỡ trên đôi cánh của
nghệ thuật.
Khoảng những năm cuối của chế độ thuộc địa Pháp (1943-1945), trong tâm
trạng hoang mang, bế tắc cực độ, Nguyễn Tuân viết một loạt tác phẩm: Tóc chị Hoài
(1943), tập Nguyễn (1945) và một loạt truyện có màu sắc hư ảo và kinh dị mà ông gọi
là Yêu ngôn (Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Đới - Roi, Lửa nến trong tranh, Loạn âm).
Những sáng tác này cho ta thấy một chân dung tương đối toàn diện về con người
Nguyễn Tuân trong thời kì có nhiều khủng hoảng, bế tắc về tư tưởng. Tóc chị Hoài thể
hiện khá đậm nét cái tôi Nguyễn Tuân - người đam mê, khao khát cái đẹp, thích đi tìm
cái lạ, cái đẹp, ông ngợi ca cái đẹp lãng mạn của mái tóc một người đàn bà và cho rằng
“cái người nào trong suốt đời người mà không được ngắm một mớ tóc cho tử tế thì cái
thẩm mĩ quan của người ấy còn lung lay lắm” [75,331]. Quan niệm rất chủ quan này
16


cho người đọc nhận ra Nguyễn Tuân hồi ấy, “sống hay viết, đối với ông nhiều khi chỉ
là để tìm mình, để thực hiện cái cá nhân mình cho đến kì cùng. Thế giới khách quan
không đáng kể, giá trị của ngòi bút là ở bản ngã người nghệ sĩ có độc đáo hay không”
[49,109]. Nguyễn Tuân còn tự hoạ mình như một con người cô độc mà kiêu ngạo: “Rồi
tôi vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách không có quê hương nhất định, cái gì
cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái kho cái vốn tình cảm và cảm giác của mình”
[75,330].
Yêu ngôn là mảng sáng tác đặc biệt của Nguyễn Tuân. Khoảng 1943, Nguyễn
Tuân đã cho đăng trên tờ Thanh Nghị và Trung Bắc Chủ nhật một số truyện ngắn
hoang đường viết theo lối Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Ông dự định in Yêu ngôn, một
tuyển tập gồm những tác phẩm có tính cách hư ảo, huyền bí nhưng chưa kịp làm thì
Cách mạng tháng Tám nổ ra. Về sau, năm 1998, Nguyễn Đăng Mạnh dựa trên ý định
Nguyễn Tuân mà biên soạn và cho xuất bản Yêu ngôn gồm: Đới - Roi, Rượu bệnh, Xác
ngọc lam, Lửa nến trong tranh và Loạn âm. Nhà biên soạn còn đưa vào tập sách hai
truyện đã in trong Vang bóng một thời là Trên đỉnh non Tản và Khoa thi cuối cùng

cùng phần cốt lõi của Chùa Đàn, tựa đề Tâm sự của nước độc viết trước 1945 (Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, 2000). Với Yêu ngôn người đọc có thêm một tác phẩm mới mà
tư tưởng và thi pháp độc đáo đã tạo sự cân bằng với Vang bóng một thời. Có thể xem
Yêu ngôn là một cuộc săn tìm cảm giác mới lạ, mãnh liệt. Ở đề tài này, đã bộc lộ tất cả
sức mạnh của trí tưởng tượng để diễn tả niềm khao khát cảm giác khác thường, mãnh
liệt, điều mà ông không tìm thấy trong cuộc sống thực tại. Không hướng đến đề cao
những ông nghè, ông cử tài hoa, bất đắc chí, lấy ẩm thực làm vui để chơi ngông với
thiên hạ, Yêu ngôn hướng đến một thế giới nửa thực, nửa hư, nửa người nửa ma. Ông
sinh sự với đời bằng một thứ ngôn ngữ tài hoa, phong phú, với những cách diễn đạt cầu
kì khác lạ. Ngay cách đặt tên truyện đã gây được những ấn tượng về cái kì lạ, khác
thường: Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối cùng, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Đới - Roi,
Lửa nến trong tranh, Loạn âm…Nguyễn Tuân đề cập nhiều đến mối liên hệ siêu hình
giữa sống - chết, tình yêu và nghệ thuật, về thân phận cái đẹp, về người nghệ sĩ để đưa
ra quan niệm “Tài, Tử tương đố”. Tài tử nào rồi cũng chuốc lấy cái chết, như một sự
tiền định.
17


Khoa thi cuối cùng kể về câu chuyện hai anh em ông đầu xứ, nổi tiếng học giỏi
nhất vùng Nam, lều chõng đi thi với bao hoài bão, nhưng âm hồn người đàn bà xoã tóc,
ẵm con hiện lên trong lều giữa trường thi để báo oán, không cho hai ông Đầu Xứ làm
bài vì chuyện người cha hai ông xưa kia đã thất đức với nàng: đời cha ăn mặn, đời con
khát nước. Đới - Roi viết về cái chết của một nghệ sĩ cùng đường. Cậu ấm Đái, con cụ
Bố Nam, quất roi chầu lừng danh một thời trong chốn ăn chơi tài tử. Nhưng khi thất
vận, không thể sống nhờ lòng thương hại của một giáo phường, chàng đã tự tử. Xác
ngọc lam là cái chết của vị thần nữ gỗ dó thường được gọi là cô Dó, linh hồn của nghệ
thuật làm giấy. Cô Dó quê ở thượng ngàn, trót yêu cậu Năm, người họ Chu có nghề
làm giấy dó nổi tiếng. Nàng theo chồng xuống dưới Kinh châu, ẩn thân trong phiến đá
giúp chồng, nàng thổi cho giấy dó một linh hồn. Khi chồng chết, nàng giúp con cháu
được năm đời, rồi bị lưu lạc vào tay phàm tục. Thần Dó chết, di hài nàng và phiến đá

biến thành “Xác ngọc lam”. Lửa nến trong tranh viết về sự cháy của ngọn nến thần bí
trong một bức hoạ cổ. Loạn âm là cuộc hàn huyên giữa hai người bạn cũ: một ông quan
Kinh Trịnh trên trần và một ông Quan Ôn dưới cõi âm được Diêm Vương cử về trần
mộ phu xuống âm phủ.
“Yêu ngôn” không được phổ biến rộng rãi như Vang bóng một thời, nhưng sự
độc đáo của chủ đề tư tưởng và thi pháp đặc biệt đã tạo nên một Nguyễn Tuân một
mình một cõi, không thể trộn lẫn. Sử dụng nhiều chi tiết huyền ảo để tạo nên một thế
giới huyền ảo kiểu Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh nhưng thế giới nghệ thuật của
Nguyễn Tuân vẫn rất riêng: ma chính là người, là trạng thái tẩu hoả nhập ma trong tâm
hồn người, người đôi lúc hoá ma mà không biết. Thần thánh trong tác phẩm Nguyễn
Tuân ăn ở với người như người. Ma, thần, tiên cũng là thứ ma tài hoa rất Nguyễn Tuân.
Điều này khác hẳn với thần thánh Hi Lạp, Trung Quốc. Tất cả những điều ấy làm nên
một “Yêu ngôn” biến ảo, có sức hấp dẫn kì lạ. Mặc dù viết truyện ma nhưng Nguyễn
Tuân không chỉ để hướng người đọc đến sự sợ hãi. “Qua Yêu ngôn, vượt qua lớp
sương khói huyền ảo của cái không thực, Nguyễn Tuân vẫn muốn hướng con người
đến với cái đẹp, cái thiện”[9,67].
Tập tự truyện Nguyễn (1945) gồm sáu truyện ngắn (Nhà Nguyễn, Đôi tri kỉ
gượng, Chuyến xe tình, Cái cà vát đen, Một người cha về quê ăn tét, Lửa trại), là hình
18


ảnh cái “tôi” Nguyễn Tuân tài năng, ôm ấp khát vọng khẳng định mình bằng sự nghiệp
văn chương và luôn mang một bầu tâm sự bất hoà trước Cách mạng: “Nguyễn đã dùng
một quyển sách in để tỏ rõ cá tính mình. Cuốn sách đã đánh dấu sự có mặt của chàng ở
cuộc sống này - một cuộc sống đầy bất mãn và uất kết của người trong cuộc, phản lại
nỗi lèm nhèm, lẹt đẹt, lờ mờ, luộm thuộm và bằng lòng của tất cả xung quanh”
[74,400]. Nguyễn châm biếm, khinh bạc bọn bất tài, bọn trọc phú, đã giàu lên một cách
hỗn láo, bất lương nhưng lại cứ tự xưng là tài hoa, rồi cũng bắt chước mọi người khinh
thế ngạo vật, bỉ báng đồng tiền. Kiêu ngạo, bất cần nhưng rồi có lúc lại tự mình chán
chính mình, cảm thấy trống rỗng, vô nghĩa: “À, cái đời tiềm tàng của riêng mỗi người,

Nguyễn chán lắm rồi, không thể chán hơn được thế này nữa. Chàng đã mất hết cả tin
tưởng trong cái lối sống riêng biệt mà trước kia chàng cho là màu nhiệm kì thú
lắm”[74,436]. Nguyễn thắt một cái cà vát đen để tự để tang mình (Cái cà vạt đen).
Chán chường, trống rỗng, vô nghĩa là tâm trạng chàng Nguyễn trong hầu hết tập
Nguyễn. Để giải toả bức bối, Nguyễn phải ra đi, bất cần gia đình, vợ con (Nhà
Nguyễn). Tuy nhiên cũng có lúc, Nguyễn sám hối, cảm thấy mình là “một đứa ích kỉ
quá và không xứng đáng tí nào đối với cái độ lượng xung quanh”[74,443]. Có lúc
Nguyễn muốn đem nửa đời tội lỗi của mình với bao nhiêu năm tháng hoài nghi cũ để
“đánh đổi lấy một đêm đốt lửa thiêng liêng của cái nhân loại Sói con ấm sáng trong
trẻo kia”[74,451]. Dù băn khoăn day dứt nhưng Nguyễn vẫn không đủ dũng cảm để từ
bỏ lối sống giang hồ, phóng túng.
Nhìn lại những sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, đa số
các nhà nghiên cứu cho Nguyễn Tuân là một hiện tượng phức tạp về quan điểm tư
tưởng và nghệ thuật. Nhưng không thể phủ nhận các sáng tác của ông đều thể hiện
một phong cách nghệ thuật độc đáo từ đề tài, lối kể chuyện, xây dựng nhân vật, dựng
không khí, ngôn ngữ giàu có, tài hoa, uyên bác... Theo cách nói của Vũ Ngọc Phan,
Nguyễn Tuân “là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về tư
tưởng” [58,426].
Cách mạng tháng Tám đã giúp lớp nhà văn tiền chiến như Nguyễn Tuân đổi đời,
thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống và trong nghệ thuật, nó làm hồi sinh một trái
tim vốn sẵn tình yêu quê hương đất nước. Một cuộc đời mới, một quan niệm nghệ thuật
19


mới, một hướng đi mới mở ra với Nguyễn Tuân. Từ 1945 đến 1975, ông nhiệt thành
đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của
đất nước.
Trong niềm vui đổi thay ấy, Nguyễn Tuân viết Vô đề (sau đổi thành Lột
xác,1945) gần như là một tuyên ngôn của ông trước sự đổi thay của đất nước và bản
thân. Nếu trước đó, chàng Nguyễn lãng tử, kiêu ngạo, bất cần, chán chường, muốn từ

bỏ tất cả, nay Nguyễn “bằng lòng ở lại giữa cuộc đời này”. Nguyễn Tuân bây giờ chỉ
còn niềm tin yêu đối với cuộc sống. Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng Nguyễn Tuân quan
niệm cuộc “Lột xác” đơn giản, dễ dàng quá. Một Nguyễn Tuân phức tạp, nhiều mâu
thuẫn trước cách mạng chắc không dễ gì thay đổi trong chốc lát nhân sinh quan của
mình. Dẫu sao, Lột xác cũng đã ghi nhận một bước chuyển về tư tưởng của người trí
thức yêu nước.
Chùa Đàn (1945) tiếp tục mạch văn “sám hối”trong những ngày đầu sau Cách
mạng tháng Tám. Chỉ khác Lột xác, Nguyễn Tuân phải mượn những yếu tố có tính chất
hoang đường, thậm chí kinh dị ma quái để diễn tả tư tưởng của mình. Chùa Đàn vẫn
tiếp mạch truyện viết về mối liên hệ siêu hình giữa sống, chết của những người tài tử,
những người nghệ sĩ trong một không gian huyền hoặc, phi thực mà Nguyễn Tuân đã
viết trước Cách mạng. Hành trình thác sinh trong nghệ thuật là một hành trình bí mật
chứa chất những u uẩn luân hồi. Chùa Đàn cho thấy hình như cái con người nghệ sĩ
trong Nguyễn Tuân không dễ gì trút bỏ những quan niệm cũ, cuộc sống cũ để hoà nhập
ngay với một thời mới. Về mặt tài hoa văn chương, Chùa Đàn (gồm: Dựng, “Tâm sự
của nước độc”, Mưỡu cuối), trong đó phần cốt lõi là Tâm sự của nước độc được đánh
giá khá cao. GS Hoàng Như Mai cho rằng: “Chùa Đàn ấy là tất cả nhà văn Nguyễn
Tuân, một Nguyễn Tuân toàn vẹn, tinh hoa tư tưởng, tài hoa văn chương” [49,313].
Có thể khẳng định, Lột xác, nhất là Chùa Đàn là những phương diện khác nhau
của tâm hồn Nguyễn Tuân ở một thời điểm đang chuyển biến dữ dội về tư tưởng của
Nguyễn Tuân để quyết từ bỏ con người cũ, cuộc sống cũ sau Cách mạng tháng Tám.
Từ Đường vui (1949) đến Tình chiến dịch (1950)…trở đi, ngòi bút Nguyễn Tuân thực
sự chuyển biến. Trước Cách mạng, ông đi một mình, lang thang cô độc, không mục
đích, không phương hướng. Nay ông đi cùng nhân dân, bộ đội và nhận ra “sức mạnh
20


của đất nước luôn luôn hiện hình trên từng tấc gang đường xa” (Đường vui). Sự gần
gũi, hoà nhập với cuộc đời mới cho Nguyễn Tuân niềm vui, tình cảm mới, chất lãng
mạn công dân khoẻ khoắn để tạo nên những trang tuỳ bút thật hồn nhiên, xúc động: cái

“tôi” Nguyễn Tuân “trở nên thân mật với người ở bản xóm như là đã quen biết từ lâu
lắm…những lúc đơn vị chuyển sang địa điểm khác mình thấy nhớ tiếc”. “Nhiều đồng
bào đã nhớ tên tôi và cả người tôi đã thấm sâu vào cảnh và người mộc mạc đáng yêu
nhất vùng này…” [75,408]. Không còn một chàng Nguyễn khinh bạc, bất cần thuở
nào, chỉ có Nguyễn Tuân hôm nay đã thực sự sống trong lòng quần chúng.
Nguyễn Tuân vốn là người say “đi”, say khám phá và sáng tạo. Nhiệt tình cách
mạng, tình cảm tha thiết đối với quê hương đất nước và những hiểu biết sâu sâu rộng
về cảnh sắc và con người Việt Nam đã giúp Nguyễn Tuân sáng tạo nhiều thiên tuỳ bút
đặc sắc. Tiêu biểu cho những sáng tác sau hoà bình (1954) là tập tuỳ bút Sông Đà
(1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Kí (1976) cùng rất nhiều bài tuỳ bút nổi tiếng
viết về cảnh sắc và hương vị đất nước. Trong Sông Đà Nguyễn Tuân say sưa khám phá
sự giàu có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền Tây Tổ Quốc. Gặp Sông
Đà, ngòi bút Nguyễn Tuân “bung nở” chất tài hoa, uyên bác và cái hứng thú đặc biệt
trước thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ và thơ mộng. Sông Đà còn tạo nên một phong cách
mới, một sự thay đổi trong tư tưởng của Nguyễn Tuân. Không chỉ tìm đến với vẻ đẹp
thiên nhiên, Nguyễn Tuân còn tìm đến khám phá vẻ đẹp con người Tây Bắc. Ông dựng
lại những tấm gương anh hùng của các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Sơn La, những cán
bộ hoạt động hồi Tây Bắc bị giặc chiếm, những bộ đội, dân công trong chiến dịch Điện
Biên…Và đặc biệt, Nguyễn Tuân dành sự trân trọng, ngợi ca những lớp người đi mở
đường xây dựng Tây Bắc, những cán bộ địa chính, những người lái đò Sông Đà dũng
cảm mà tài hoa, nghệ sĩ trong vượt thác Sông Đà…Nguyễn Tuân gọi đó là “chất vàng
mười” của tâm hồn con người Tây Bắc. Sông Đà mang đậm cảm hứng lãng mạn cách
mạng, là sự kế thừa và phát triển phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau cách mạng.
Tuỳ bút Người lái đò Sông Đà là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông
Đà (1960).
Thời chống Mĩ, trong niềm say sưa với cuộc đời mới, Nguyễn Tuân tiếp tục đến
với nhiều vùng đất mới để khám phá, ngợi ca. Ông lên “mỏm Lũng Cú tột Bắc”, ra đảo
21



Cô Tô, vào đất lửa Quảng trị…để viết những trang kí đặc sắc ngợi ca vẻ đẹp của thiên
nhiên đất nước và nhân dân anh hùng. Nguyễn Tuân có một loạt bài tuỳ bút, kí sự dựa
trên tài liệu và trí tưởng tưởng tài hoa về đề tài thống nhất Bắc – Nam: Cầu ma, Đò
tuyến, Cắm cột mốc giới tuyến, Vẫn tiếng dội ấy của huyện biển Cà Mau…
Trong những ngày Hà Nội đánh Mĩ, Nguyễn Tuân bám trụ cùng Hà Nội để viết
tập kí Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972). Trong tập kí này, Nguyễn Tuân cung cấp cho
người đọc một lượng thông tin sống động về truyền thống lịch sử, cảnh quan Hà Nội,
nhất là con người Hà Nội dũng cảm, kiên cường, hào hoa, lịch lãm, sang trọng ngay
trong những ngày ác liệt nhất. Ngoài ra, Nguyễn Tuân có dịp tung giọng điệu khinh
bạc, đả kích sở trường của mình giáng vào bọn giặc Hoa Kì là đánh vào bọn giặc lái
máy bay bị bắt sống trên bầu trời Miền Bắc. Bài Hà Nội giải tù Mĩ qua phố Hà Nội là
một thành công in đậm cá tính, phong cách Nguyễn Tuân. Nhà văn sử dụng con mắt
của điển ảnh để quay những thước phim thời sự lột tả chân dung những “sĩ diện Huê
Kì”: “Chà! Cái ngày Hà Nội giải tù Mĩ thật là một ngày không quên được! Một không
khí trang nghiêm lịch sử, một khí thế bừng bừng của thủ đô căm hờn như bốc dựng lên
với sự kiện nước sông Hồng trong những ngày cao trào cách mạng, được nhắc đến từ
nhà bảo tàng lịch sử: Hà Nội trị thuỷ và trị Mĩ! Hà Nội cũng là lớp thuỷ triều, bao đời
nay từng dồn Pháp, đuổi Nhật, giờ đây lại đùng đùng như những “con sóng dữ” muốn
cuốn phăng đi “những rơm rác Hoa Kì”.
Tập tuỳ bút Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988) nổi bật với các bài tùy bút
Phở, Cốm, Giò lụa,… thể hiện những cảm nhận tinh tế và tài hoa về vẻ đẹp những món
ăn, thức quà dân dã mà tinh tế, sang trọng của người Hà Nội. Đó chính là sự bày tỏ tình
yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước của Nguyễn Tuân.
Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, trong nhiều thể loại mà ông đã
thử bút, đọng lại với thời gian có lẽ là truyện ngắn và tuỳ bút. Trước Cách mạng, tập
Vang bóng một thời, Yêu ngôn đã khẳng định văn nghiệp Nguyễn Tuân bằng một
phong cách trần thuật riêng cùng những chủ đề thách đố mà ít nhà văn khác dám bước
vào. Yêu ngôn độc đáo về bút pháp nghệ thuật nhưng chưa được quan tâm nhiều. Sau
Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân dường như chỉ viết tuỳ bút, và với tuỳ bút tên
tuổi nhà văn lớn Nguyễn Tuân ngày càng nổi bật. Nguyễn Tuân được coi là một hiện

22


tượng văn học phức tạp, độc đáo bậc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Dù viết về
đề tài gì, Nguyễn Tuân cũng đều muốn chứng tỏ một phong cách nghệ thuật nhất quán:
độc đáo, tài hoa, uyên bác, thường nhìn nhận, miêu tả, đánh giá thế giới theo tiêu chuẩn
của cái đẹp, của nghệ thuật, của văn hóa. Mỗi nhân vật dù thuộc loại người nào cũng
đều phải là những nghệ sĩ xuất chúng trong nghề nghiệp của mình. Phong cách tự do
phóng túng và ý thức cá nhân sâu sắc đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể văn tuỳ bút
như là một tất yếu. Tuỳ bút vốn là thể loại lỏng lẻo về phép tắc, nhân vật chính là “cái
tôi” của chính người cầm bút. Sự hấp dẫn của tuỳ bút phụ thuộc ở cái tôi người viết có
thực sự độc đáo, phong phú, tài hoa hay không. Với tuỳ bút, cái tôi Nguyễn Tuân thực
sự là chính mình. Một gia tài tuỳ bút cả trước và sau Cách mạng tháng Tám đã đưa ông
lên hàng “nhà tuỳ bút số một của văn học Việt Nam hiện đại”[49,168]. Đây là một
đóng góp của Nguyễn Tuân về mặt thể loại đối với lịch sử văn học. Theo Vương Trí
Nhàn: “nhìn lại văn học Việt Nam trong thế kỉ XX, người viết có tài thì nhiều, trong đó
có những ngòi bút tạo ra được một thế giới rộng lớn hơn…có một cái nhìn nhân bản
sâu sắc hơn so với Nguyễn Tuân, song đã mấy ai có được cái thể tài riêng của mình,
như ông Nguyễn và thể tuỳ bút”[49,176].
Trong văn học Việt Nam hiện đại, danh tiếng Nguyễn Tuân còn gắn liền với
những đóng góp không nhỏ về phương diện hiện đại hoá ngôn ngữ văn xuôi tự sự. Ông
có kho từ vựng phong phú, nhiều tìm tòi, sáng tạo về từ ngữ và trong cách tổ chức lời
văn nghệ thuật. Khác với thứ ngôn ngữ được trau chuốt công phu bóng bẩy nhưng lại
nhanh chóng trở nên xưa cũ của văn xuôi Tự lực văn đoàn, ngôn ngữ văn xuôi tự sự
trong truyện ngắn Nguyễn Tuân vừa cổ kính, trang trọng vừa mới mẻ, giàu sức biểu
hiện và hấp dẫn. Mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều cho thấy sự kì công của lao động
ngôn ngữ. Lúc nào ông cũng cố gắng làm mới ngôn ngữ của chính mình. Ý thức và và
thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc ấy thật đẹp, đáng trân trọng .
Đánh giá về sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân không phải bao giờ cũng có sự
thống nhất. Bởi Nguyễn Tuân vốn là một hiện tượng văn học phức tạp. Trong toàn bộ

sáng tác của ông, dù ở giai đoạn sáng tác nào, đề tài nào đều thấy nổi bật một phong
cách nhất quán: nhìn nhận, đánh giá thế giới theo tiêu chuẩn của cái đẹp, của nghệ
thuật và một cái tôi tài hoa, uyên bác. Với phong cách độc đáo ấy, Nguyễn Tuân đã có
23


nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi là người đánh
giá rất cao sự nghiệp văn chương Nguyễn Tuân. “Nguyễn Tuân là một trong mấy nhà
văn lớn mở đường và đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX. Cùng với những bạn
cùng thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam
Cao, Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng
Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng mà tôi tin là sẽ chắc bền trong
thời gian” [49,606]. Niềm tin đó của nhà thơ đã được khẳng định qua năm tháng.
1.1.2. Vị trí truyện ngắn Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam
1930 -1945
Nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến “lối chơi độc tấu” của ông
trong thể văn tuỳ bút. Nhưng đó là Nguyễn Tuân ở giai đoạn sáng tác sau Cách mạng
tháng Tám. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân đã khẳng định tài năng đặc biệt của mình
bằng sự đột phá ở đề tài, cảm hứng và thi pháp sáng tác trong thể loại truyện ngắn.
Khởi đi từ truyện ngắn Vườn xuân lan tạ chủ (1935), nhất là tập Vang bóng một thời,
và một loạt truyện “Yêu ngôn” viết theo lối Liêu Trai…Nguyễn Tuân đã “mang vào
một thứ chất lạ trong văn học” (Vương Trí Nhàn), và tự vạch cho mình một lối đi
riêng, không thể trộn lẫn với bất cứ nhà văn nào khác. Từ đây, văn học lãng mạn Việt
Nam có thêm một khuôn mặt mới, một phong cách truyện ngắn mới.
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn
Tuân bao giờ cũng được khẳng định là một tác gia lớn. Nói đến trào lưu văn học lãng
mạn, không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân. Bởi, Nguyễn Tuân rất tiêu biểu cho trào
lưu văn học lãng mạn những năm 1939-1945. Phan Cự Đệ khẳng định: “Từ năm 19391940 trong văn học lãng mạn Việt Nam xuất hiện một cây bút truyện ngắn với phong
cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Nguyễn Tuân. Suốt đời đi tìm cái Đẹp, thờ cái Đẹp
như tôn giáo của mình” [13,333].

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời là tác phẩm được đánh
giá nhiều nhất bởi sự hấp dẫn của văn chương. Song còn một lí do khác nữa, nói như
Nguyễn Đình Thi, khi Vang bóng một thời xuất hiện, “Người ta thấy khác nào thêm
một ngôi sao vừa hiện lên ở một góc riêng trên bầu trời văn học tối sầm”[49,602].
Thạch Lam đánh giá rất cao sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân trong tác phẩm này về
24


nội dung cảm hứng, về lối viết: “Trong cái vội vàng, cái cẩu thả của những tác phẩm
xuất bản gần đây, những sản phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mực giá trị của một
sự đua đòi, người ta lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn kính trọng và yêu cái
đẹp, coi công việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng”. Vang bóng một thời
đánh dấu bước đường trở lại tìm những vẻ đẹp xưa mà các nhà văn ta thường sao
nhãng”[49,268]. Các nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Phan Cự Đệ,
Nguyễn Đăng Mạnh…đều nhấn mạnh phong cách nghệ thuật độc đáo, vị trí không thể
thay thế, và những đóng góp lớn của nhà văn Nguyễn Tuân trong tiến trình phát triển
truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Vì sao Nguyễn Tuân lại được coi trọng như thế? Trước
hết, Nguyễn Tuân là nhà văn độc đáo ở cách nhìn nhận, đánh giá thế giới theo tiêu
chuẩn của cái đẹp, của nghệ thuật. Thế giới nhân vật của ông là thế giới của những con
người có cốt cách tài hoa, tài tử, những kẻ hào hoa, phong nhã, đi tìm cái đẹp trong các
thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, ẩm thực…nhìn chung là cái đẹp trong văn hoá
dân tộc đã bị mai một nay chỉ còn vang bóng. Chỉ mình ông “yêu mến dĩ vãng, tiếc
thương và muốn vớt lại những vẻ đẹp đã qua, mới có thể làm sống lại cả một thời xưa
được” trong khi nhiều nhà văn khác sao nhãng quá khứ. Tình yêu tha thiết quê hương,
đất nước, thái độ trân trọng những giá trị văn hoá của dân tộc đã giúp nhà văn chắt lọc,
tinh luyện nên những trang văn để đời mà “về sau ông không bao giờ đạt tới nữa”
[58,426-450]. Xuất phát từ nhu cầu khẳng định cá tính độc đáo đã đẩy Nguyễn Tuân
tìm đến một lẽ sống khác người, vô thần, coi thường đạo lí thường tình của nhân thế,
chỉ có nghệ thuật là bá chủ. Nguyễn Tuân quan niệm, nhà văn không có nhiệm vụ xét
xử của một quan toà, cũng không có nhiệm vụ giáo huấn tinh thần của một linh mục.

Nhà văn chỉ có nhiệm vụ tìm kiếm và khai phá cái đẹp. Mà nghệ thuật không chỉ ngự
trị ở những nơi trong sạch, thanh cao, nó tiềm ẩn khắp mọi nơi, kể cả những chỗ tăm
tối, mê lạc, tội lỗi của những kẻ vong thân, vong mạng; ở những kẻ tử tù, những người
coi ngục; ở những tay anh chị giang hồ lẫn tên chuyên nghề đao phủ; ở trong tâm hồn
đứa trẻ lên bảy, trong gan ruột ông lão gần đất xa trời; ở trong ngọn than hồng, trong
ấm nước đang sôi; trong chiếc đèn kéo quân; trong những câu thơ thả ra đánh bạc…Tất
cả những cái đẹp ấy được Nguyễn Tuân nâng niu, trân trọng, miêu tả một cách tài hoa,

25


×