Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trần danh thạo
đặc điểm ngôn ngữ thơ tố hữu trong
tập gió lộng
CHUYÊN NGàNH: NGÔN NGữ HọC
Mã số: 60.22.01
LUậN VĂN THạC Sĩ NGữ VĂN
Ngời hớng dẫn khoa học:
GS. ts. đỗ thị kim liên
Vinh - 2011
2
Lời cảm ơn
Luận văn này đợc hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân, phần lớn
là nhờ sự quan tâm giúp đỡ của nhiều ngời. Trớc hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến cô giáo GS.TS Đỗ Thị Kim Liên - ngời đã tận tình giúp đỡ
chúng tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới tập thể giáo viên Khoa Ngữ
Văn, Khoa Sau đại học Trờng Đại học Vinh.
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới BGH nhà trờng, tập thể
giáo viên trờng THCS Minh Tiến huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá đã tạo điều
kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn.
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên th
viện Trờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Thanh Hoá...đã cung cấp tài liệu để
chúng tôi hoàn thành luận văn này.
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè những ngời thân đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thiện
luận văn này.
Mục lục
Trang
Mở đầu.............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..................................................................................................2
3. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................7
4. Phơng pháp nghiên cứu....................................................................................7
5. Đóng góp của luận văn....................................................................................8
6. Cấu trúc của luận văn.......................................................................................8
Chơng 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài............9
1.1. Về khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ...............................................................9
1.1.1. Khái niệm thơ.............................................................................................9
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ..........................................................................12
1.1.3. Đặc điểm ngôn ngữ thơ............................................................................14
1.1.4. Mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa...............................................20
1.2. Tố Hữu cuộc đời và thơ văn........................................................................22
1.2.1. Cuộc đời Tố Hữu......................................................................................22
1.2.2. Quá trình sáng tác....................................................................................24
1.2.3. Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.........................................................27
1.2.4. Về tập thơ Gió lộng..................................................................................29
1.3. Tiểu kết........................................................................................................31
Chơng 2: đặc điểm về thể thơ, về ngữ âm và cách tổ
chức bài thơ trong Gió lộng.........................................................33
2.1. Đặc điểm về các thể thơ trong Gió lộng.....................................................33
2.1.1. Thể thơ là gì?............................................................................................33
2.1.2. Thể thơ 5 chữ............................................................................................34
2.1.3. Thể thơ lục bát..........................................................................................36
2.1.4. Thể thơ 7, 8 chữ.......................................................................................40
2.1.5. Thể thơ tự do............................................................................................44
2.2. Đặc điểm về ngữ âm trong Gió lộng...........................................................48
2.2.1. Âm điệu....................................................................................................48
2.2.2. Vần điệu...................................................................................................53
2.2.3. Nhịp điệu trong Gió lộng.........................................................................62
2.3. Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong Gió lộng......................................67
2.3.1. Đặc điểm về tiêu đề.................................................................................67
2.3.2. Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ trong Gió lộng.......................................68
2.3.3. Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ trong Gió lộng.......................................70
2.3.4. Một số kiểu mở đầu và kết thúc bài thơ trong tập thơ Gió lộng.................71
2.4. Tiểu kết........................................................................................................74
Chơng 3: Từ ngữ và những biện pháp tu từ nổi bật
trong gió lộng........................................................................................75
3.1. Đặc điểm về những lớp từ ngữ trong Gió lộng...........................................75
3.1.1. Thống kê các lớp từ xuất hiện với số lợng lớn và tần số cao..................75
3.1.2. Mô tả các lớp từ trong Gió lộng...............................................................75
3.2. Những biện pháp tu từ nổi bật trong Gió lộng...........................................93
3.2.1. Biện pháp nhân hoá..................................................................................93
3.2.2. Biện pháp hoán dụ....................................................................................98
3.2.3. So sánh...................................................................................................102
3.2.4. Biện pháp điệp ngữ.................................................................................111
3.3. Tiểu kết......................................................................................................117
Kết luận.....................................................................................................119
Tài liệu tham khảo.............................................................................121
5
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và nghiên cứu ngôn
ngữ thơ ca nói riêng là một trong những đề tài đợc đề cập đến từ lâu. Việc
nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, trong đó nghiên cứu ngôn ngữ của một tác giả
trong một giai đoạn nhất định là một hớng đi cần thiết trong việc nghiên cứu
ngôn ngữ học vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành. Đây chính
là lý do đầu tiên chúng tôi lựa chọn đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu
trong tập Gió lộng.
1.2. Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là đỉnh cao của thơ ca cách
mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu là những trang nhật ký ghi lại hành trình của
cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX. Tìm hiểu, nghiên cứu thơ ông luôn là
một đề tài mới mẻ, hấp dẫn đối với những ai nghiên cứu, học tập văn học và
ngôn ngữ. Tuy nhiên từ trớc tới nay hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu
lại tập trung vào khía cạnh văn học và những đặc điểm mang tính tổng thể,
khái quát. Nghiên cứu thơ Tố Hữu dới góc độ ngôn ngữ ở một giai đoạn nhất
định cha đợc quan tâm một cách thoả đáng. Đây chính là lý do để chúng tôi
lựa chọn đề tài này.
1.3.Thơ Tố Hữu kết tinh những thành tựu của thơ ca Việt Nam, ngôn
ngữ thơ Tố Hữu là biểu hiện cụ thể và sinh động sự đa dạng và phong phú và
giàu đẹp của tiếng Việt đồng thời thơ ông cũng góp phần vào sự phát triển của
tiếng Việt. Tập thơ Gió lộng là tập thơ thể hiện rõ nét phong cách thơ Tố Hữu
ở giai đoạn sau cách mạng tháng Tám. Vì vậy nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tố
Hữu ở tập thơ này không chỉ góp phần tìm hiểu phong cách thơ ông trong một
giai đoạn nhất định mà còn thấy đợc những đóng góp của nó trong việc xây
dựng nên phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
1.4. Tố Hữu là một tác gia lớn có số lợng tác phẩm lớn đợc đa vào giảng
dạy trong nhà trờng ở nhiều bậc học khác nhau. Các tác phẩm này thuộc nhiều
giai đoạn sáng tác, ở nhiều tập thơ khác nhau, trong đó có tập thơ Gió lộng. Vì
vậy, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ trong tập này là một yêu cầu cấp thiết,
có ý nghĩa lớn giúp cho quá trình dạy học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về thơ Tố Hữu
6
Từ trớc đến nay, việc tìm hiểu thơ Tố Hữu đã có nhiều công trình, các
chuyên luận, bài viết của các nhà nghiên cứu: Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Hà
Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình
Sử các luận văn, luận án tiến sĩcủa nghiên cứu sinh và học viên cao học.
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu đã có lịch sử từ rất sớm. Từ năm 1939, sau
khi thơ Tố Hữu xuất hiện không lâu, trên tờ báo Mới, một nhà phê bình văn
học có tiếng dới bút danh K và T, là ngời đầu tiên đã có những nhận định rất
nhạy cảm và sâu sắc về nhà thơ trẻ tuổi Tố Hữu: Tố Hữu đã có một căn bản
nghệ thuật vững vàng lắm. Chàng thanh niên ấy tha thiết sống và sống một
cách dồi dào. Chàng theo đuổi một lý tởng. Thơ chàng là cả một nguồn sinh
lực đem phụng sự cho lý tởng. Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách
mệnh có tài. Lần đầu tiên trong lịch sử văn hoá ta đó. Tố Hữu là nhà thơ tơng
lai.
Chỉ một tháng sau đó, cũng trên báo Mới, Trần Minh Tớc lại một lần
nữa hân hoan bày tỏ tình cảm đặc biệt của mình đối với Tố Hữu: Những lời
thơ hiên ngang của một thi nhân rất trẻ và sống nhiều là Tố Hữu.
Sau cách mạng tháng Tám, tập thơ đầu tay của Tố Hữu, tập Thơ đợc hội
Văn hoá cứu quốc ấn hành năm 1946, trong Lời giới thiệu, Trần Huy Liệu đặc
biệt nhấn mạnh sự gắn bó giữa: Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu và
trình độ giác ngộ về sức hoạt động cách mạng của Tố Hữu.
Hoà bình lập lại năm 1954, sự ra đời của hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc
đã tạo nên hai cuộc tranh luận về thơ Tố Hữu. Các ý kiến tranh luận về tập
Việt Bắc đợc phân tuyến trên các vấn đề đánh giá hiện thực, tính đảng, tính
giai cấp của tập thơ. Luồng ý kiến phủ định đợc khơi dậy từ bài viết của
Hoàng Yến và tiếp nối qua Hoàng Cầm. Đối lại là những bài viết trong sự
khẳng định giá trị cơ bản và nổi bật của tập thơ Việt Bắc của Xuân Diệu,
Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc và một số bạn đọc. Trong đó,
đáng chú ý là những ý kiến giàu sức thuyết phục của Xuân Diệu và Nguyễn
Đình Thi. Xuân Diệu đã đánh giá cao những cống hiến đầy tâm huyết của Tố
Hữu. Ông đã rất nhạy cảm để chỉ ra nét riêng của thơ Tố Hữu là: Tiếng thơ
của tình thơng mến làm nên Hơng vị của thơ Tố Hữu và là nét chủ đạo trong
phong cách nghệ thuật của ông.
Sau những sóng gió của hai cuộc tranh luận về tập Việt bắc và Từ ấy,
thơ Tố Hữu vẫn tiếp tục, đều đặn ra đời trong sự đón đợi và mến mộ của đông
7
đảo công chúng. Những bài viết về từng tập thơ của Tố Hữu khá thống nhất
trong việc đánh giá xu hớng phát triển, vận động của thơ Tố Hữu là: Tiếng thơ
của thời đại có sức bao quát những vấn đề lớn của cách mạng, dân tộc và thời
đại và mỗi tập thơ ra đời đều thể hiện một bớc tiến của thơ Tố Hữu. Trên xu hớng này phải trân trọng ghi nhận những đóng góp lớn của Hoài Thanh. Nhà
nghiên cứu đã bền bỉ, miệt mài theo dõi từng tập thơ của Tố Hữu. những bài
viết của ông không chỉ thể hiện tâm huyết của nhà phê bình với thơ Tố Hữu
mà còn hội tụ những u thế riêng của Hoài Thanh: sự tinh tế trong cảm thụ, một
nghệ thuật bình thơ độc đáo và khả năng phát hiện những cái mới.
Càng về cuối đời thơ Tố Hữu, trớc yêu cầu đánh giá, tổng kết hành trình
thơ của một nhà thơ tiêu biểu lại càng xuất hiện nhiều hơn những công trình
nghiên, tiểu luận đánh giá mang tính chất toàn diện về đời thơ ông. Đi từ
nhiều góc độ, những cách tiếp cận khác nhau, hầu nh các công trình đều gặp
gỡ nhau trong sự đánh giá thống nhất những đóng góp có giá trị đặc sắc của
một phong cách thơ lớn trong sự phát triển của văn học dân tộc. Đặc biệt là
bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên giới thiệu tuyển tập đầu tiên của Tố Hữu
(1963). Ông là ngời đầu tiên đã nhìn nhận thơ Tố Hữu một cách tổng thể, sâu
sắc. Không chỉ dừng lại ở việc đánh giá nội dung t tởng mà ông còn đi sâu
phân tích và phát hiện những nét đặc sắc về giá trị nghệ thuật trên các phơng
diện về phong cách, điệu tâm hồn vừa dân tộc vừa hiện đại, ngôn ngữ thơ,
nhạc điệu thơ, hình tợng, giọng điệu, bút pháp.
Với vốn kiến thức sâu rộng, kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm, cùng
với khả năng tổng hợp, giáo s Đặng Thai Mai với Mấy ý nghĩ giới thiệu tập thơ
Từ ấy, cùng với việc khẳng định những giá trị nội dung, t tởng nổi trội của Từ
ấy ông đã lần đầu tiên đề cập đến vấn đề sự hình thành phong cách và phơng
pháp sáng tác của Tố Hữu. Ông đặc biệt nhấn mạnh là thơ Tố Hữu: đã có xu
hớng hiện thực xã hội chủ nghĩa trên cơ sở: kết hợp chủ nghĩa lãng mạn và
chủ nghĩa hiện thực. Ông là ngời đầu tiên đề cập một cách thuyết phục, có lý
có tình về mối quan hệ giữa thơ Tố Hữu và phong trào Thơ mới. Theo ông: Là
ngời của thời đại, Tố Hữu không thể không đọc, không thởng thức Thơ mới
trong phần thành công của nó. Tố Hữu cũng đã viết Thơ Mới. Điều đó rất dễ
hiểu. Nhng nội dung cách mạng sẽ làm cho thơ Tố Hữu có một phong cách
riêng biệt. Từ đó, ông đa ra nhận định sâu sắc về Tố Hữu: Trên cơ sở nhận
thức rất biện chứng về xu thế của xã hội, Tố Hữu đã thực hiện đợc sự thống
8
nhất giữa tình cảm với lý trí, giữa nghệ thuật với hành động, giữa hình thức
với nội dung.
Về những năm sau khi nghiên cứu về thơ Tố Hữu, giới nghiên cứu ở cả
trong và ngoài nớc càng chú ý nhiều hơn đến phong cách nghệ thuật thơ Tố
Hữu. Ngoài những bài nghiên cứu riêng đã xuất hiện các công trình chuyên
khảo về thơ ông. Trong đó nổi bật nhất là ba công trình nghiên cứu sau đây:
Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình,
tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985), Thi pháp thơ Tố Hữu của
Trần Đình Sử (1987). Hai công trình đầu tiếp cận thơ Tố Hữu theo ph ơng
pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu công phu khoa học với cảm thụ nghệ
thuật tinh tế có tính chất khám phá. Trên cơ sở những nền tảng đã có, hai
nhà nghiên cứu đã lần đầu tiên nghiên cứu thơ Tố Hữu nh một chỉnh thể
toàn vẹn, có hệ thống, với nhiều phát hiện đóng góp đáng giá. Tuy nhiên
với yêu cầu khám phá và lý giải thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu một cách
sâu sắc và biện chứng, phơng pháp tiếp cận truyền thống của hai công trình
cha đáp ứng đợc.
Đến công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử, nhà nghiên cứu
đã có một cách tiếp cận thơ Tố Hữu theo lối khác, hiện đại hơn, đó là hớng
tiếp cận thi pháp học. Nhờ thế, dù đi sau, tác giả Trần Đình Sử với cách nhìn
nhận thơ Tố Hữu dới một ánh sáng khác mới mẻ hơn, đã có những phát hiện
riêng độc đáo và sâu sắc mang tính khoa học. Dù rằng cách tiếp cận này còn
có phần thiên về duy lý.
2.2. Về tập thơ Gió lộng
Từ khi mới ra đời, tập thơ Gió lộng đã nhận đợc sự đón tiếp nồng nhiệt
của đông đảo công chúng và giới phê bình văn học. Xung quanh tập thơ đã có
nhiều công trình, nhiều bài viết nh: Đọc tập thơ Gió lộng của Tố Hữu của Vũ
Cao; Mấy ý nghĩ về tập thơ Gió lộng của Bảo Định Giang; Gió lộng - Tiếng
nói đồng ý, đồng chí, đồng tình của Lê Đình Kỵ
Nhà thơ Vũ Cao khi đọc tập Gió lộng của Tố Hữu đã nhận xét: Với một
lối viết giản dị, thơ anh thờng nói đến những t tởng lớn, những tình cảm lớn
nghe dờng nh cao xa nhng lại rất gần gũi với ngời đọc, rất gần gũi với những
con ngời luôn luôn khao khát cái hay, cái đẹp cho cuộc đời. [Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, số 2 -1962]
9
Nhà phê bình Hoài Thanh trong bài giới thiệu về tập thơ Gió lộng đã
viết về những giá trị cơ bản của tập thơ: Gió lộng trớc hết là một tiếng ca vui
của nhân dân ta trên miền Bắc sau khi hoà bình lập lại. Một cái vui đầy tự
hào của ngời chiến thắng. Nhà nghiên cứu đã khái quát những giá trị nội dung
cơ bản của tập thơ. Trên cơ sở so sánh, đối chiếu, Hoài Thanh đã phát hiện ra
lối t duy thơ khá độc đáo của Tố Hữu: Trong với ngoài, xa với nay gắn bó
khăng khít với nhau. Có thể xem đó là một đặc điểm, một u điểm của lối nhìn,
lối nghĩ, lối cảm xúc của Tố Hữu trong Gió lộng.
Đặc biệt, Hoài Thanh đã có những khám phá về giá trị nghệ thuật của
tập thơ trên các phơng diện câu thơ, hình ảnh thơ, thể thơ, nhạc tính, vần trong
các bài thơ. Về hình ảnh thơ trong tập Gió lộng, ông viết: Vẫn cái phong phú
ấy khi ta nhìn vào những hình ảnh trong câu thơ. Tố hữu thờng suy nghĩ hay
đúng hơn cảm nghĩ bằng hình ảnh. Những hình ảnh ấy chắp thêm cánh cho
sức tởng tợng, cho thơ để xuyên qua hiện tợng đi sâu vào bản chấtNhững
hình ảnh trong thơ anh thờng đến rất đột ngột mà rất đúng, rất tự nhiên, rất
đẹp [Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8-1962].
Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu, Hoài Thanh bớc đầu đã có những
phát hiện, khám phá những thành tựu cơ bản về nghệ thuật của tập thơ về các
phơng diện: hình ảnh thơ, thể thơ, nhạc điệu, giọng điệu. Những khá phá bớc
đầu này đã đặt nền tảng để những ngời đi sau tiếp tục đi sâu nghiên cứu về tập
thơ.
Cũng trong những năm này còn có các bài thẩm bình, nghiên cứu về tập
thơ của các nhà thơ và các nhà nghiên cứu văn học nh: Bảo Định Giang, Hà
Xuân Trờng, Lê Đình Kỵ. Các bài viết chủ yếu đi vào khám phá, nhìn nhận,
đánh giá tập thơ về phơng diện nội dung. Về mặt nghệ thuật, các bài viết cũng
chỉ điểm qua những giá trị cơ bản của tập thơ nhng còn mang tính khái quát.
Đặc biệt, nghiên cứu ngôn ngữ của tập thơ Gió lộng nh một đối tợng một cách
toàn diện, triệt để thì cha có công trình nào làm đợc.
10
3. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn này là 25 bài thơ thuộc tập thơ Gió
lộng của Tố Hữu sáng tác trong giai đoạn (1955-1961), trong đó chúng tôi tập
trung khảo sát ở phơng diện ngôn ngữ thơ.
Ngoài ra chúng tôi có tham khảo thêm một số bài thơ của cùng tác giả
đợc sáng tác ở giai đoạn trớc và sau tập thơ Gió lộng để so sánh làm nổi bật
đặc điểm ngôn ngữ của tập thơ này.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu đặc điểm thơ Tố Hữu trong tập thơ Gió lộng ở phơng
diện hình thức: Về thể thơ, về ngữ âm, về cách tổ chức bài thơ.
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập thơ Gió lộng về
phơng diện ngữ nghĩa, ngữ pháp: Các lớp từ, một số biện pháp tu từ
nổi bật.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu tập thơ Gió lộng của Tố Hữu từ phơng diện ngôn ngữ học. Hớng tiếp cận của đề tài là từ những vấn đề lý
luận soi vào những vấn đề cụ thể; kết hợp giữa phân tích và tổng hợp để
tìm ra những điểm phổ quát và riêng biệt về đặc trng phong cách ngôn
ngữ của một tác giả.
Để thực hiện mục tiêu đó, trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã sử
dụng các phơng pháp thống kê, phân loại nguồn t liệu. Phơng pháp phân tích
tổng hợp nhằm làm sáng tỏ từng luận điểm, khái quát thành đặc điểm cơ bản.
Phơng pháp miêu tả đối chiếu, so sánh nhằm làm rõ những đặc điểm riêng về
ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng.
11
5. Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói nhận xét,
đánh giá về thơ Tố Hữu, qua đó nhằm làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ thơ
ông. Đặc biệt, luận văn đã góp thêm một công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu
ở góc độ ngôn ngữ nhằm làm phong phú thêm cho kết qủa nghiên cứu từ xa
đến nay về tác giả.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chơng
Chơng 1. Những vấn đề chung liên quan đến đề tài.
Chơng 2. Đặc điểm về ngữ âm, thể thơ và cách tổ chức bài thơ trong tập
thơ Gió lộng.
Chơng 3. Đặc điểm về từ ngữ và cỏc biện pháp tu từ nổi bật trong tập
thơ Gió lộng.
Chơng 1
Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1. Về khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1. Khái niệm thơ
Trong sự thình thành và phát triển của văn học, thơ là một trong những
hình thức sáng tác đầu tiên của loài ngời. Chính vì thế mà trong một thời gian
12
khá dài, thuật ngữ thơ đợc dùng để chỉ văn học nói chung. Nh vậy thơ là một
hình thức sáng tác văn học có từ lâu đời, nhng để đa ra một định nghĩa chính
xác và toàn diện về thơ thì thật không hề đơn giản.
Khái niệm thơ đã đợc đa ra từ rất sớm trong nền lí luận văn học cổ điển
Trung Hoa. Tác giả Lu Hiệp trong cuốn Văn tâm điêu long đã từng nói đến ba
phơng diện cơ bản cấu thành một bài thơ đó là: Tình cảm (tình văn), ngôn ngữ
(hình văn), và âm thanh (thanh văn). Đến thời nhà Đờng, nhà thơ Bạch C Dị
đã nêu lên các yếu tố cơ bản để tạo thành sự tồn tại của bài thơ: Cái cảm hoá
đợc lòng ngời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trớc đợc bằng
ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc đợc bằng ý
nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là
ý nghĩa. Quan niệm trên đây không những nêu lên mà còn chỉ ra mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành văn bản, vì vậy có thể xem đây là một quan niệm
toàn diện và sâu sắc nhất về thơ trong nền lí luận văn học cổ điển Trung Hoa.
ở phơng Tây, các nhà nghiên cứu không đặt ra câu hỏi thơ là gì mà thay
bằng câu hỏi tính thơ là gì và nó đợc biểu hiện nh thế nào? R. Jacobson cho
rằng: Nhng tính thơ đợc biểu hiện nh thế nào? Theo cái cách từ ngữ đợc cảm
nhận nh là từ ngữ chứ không phải nh vật thay thế đơn giản của đối tợng đợc
chỉ định, theo cách những từ ngữ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng,
hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô
hồn của hiện thực mà còn có trọng lợng riêng, giá trị riêng. Cũng chính
Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là
tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: Chức năng thi ca đem nguyên lý tơng đơng của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp. Nh vậy, trong quá trình
nghiên cứu, R. Jacobson đã ít nhiều chú ý tới nguyên lý tơng đơng về ý nghĩa
nhng cái ý nghĩa ở đây là ý nghĩa của đối tợng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp
nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép
kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa đợc hiểu một
cách hạn hẹp. Bởi trong thực tế, nh ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi vợt ra
ngoài giới hạn của văn bản.
ở Việt Nam, khái niệm thơ cũng đã đợc nhiều ngời đề cập với nhiều
khuynh hớng và quan niệm khác nhau. Trong thời trung đại, các nhà thơ quan
niệm thi dĩ ngôn chí và xem đó nh một chức năng cơ bản của thể loại này.
Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết về tập thơ Bạch Vân am của mình đã nói rõ nội
13
dung của chí: Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở
sự ẩn dật. Phan Phu Tiên trong Việt âm thi Tập San đã viết: Trong lòng có
điều gì tất hình thành ở lời, cho nên thơ để nói chí vậy. Có thể nói Thi ngôn
chí là nguyên tắc mĩ học đã đợc các nhà thơ trung đại vận dụng mãi đến cuối
thế kỉ XIX.
Bớc sang thế kỉ XX, cùng với sự đổi mới sâu sắc và toàn diện của đời
sống xã hội, một tầng lớp ngời mới ra đời với cuộc sống mới, tình cảm mới.
Và theo quy luật tất yếu một phong trào sáng tác thơ ca mới đợc ra đời phong trào Thơ mới với sự xuất hiện của nhiều nhà thơ tên tuổi. Chính phong
trào Thơ mới đã đem đến sự thay đổi kì diệu cho bộ mặt thơ ca Việt Nam
những năm đầu thế kỉ XX. Đồng thời với những thành tựu rực rỡ của thơ ca là
sự xuất hiện của hàng loạt những quan niệm mới mẻ về thơ đợc các nhà thơ và
các nhà nghiên cứu đa ra.
Lu Trọng L cho rằng: Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó xúc tích, gọn gàng, ít
lời mà nhiều ý và nếu cần, phải tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân không
xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh.
Hàn Mặc Tử cho rằng: Làm thơ tức là điên, còn Chế Lan Viên thì: Làm
thơ tức là làm sự phi thờng. Thi sĩ không phải là ngời, Nó là Ngời Mơ. Ngời
say, Ngời Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ. Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ
vãng, nó ôm trùm tơng lai. Ngời ta không thể hiểu đợc nó vì nó nói những cái
vô nghĩa tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý. Quan niệm của Hàn Mặc Tử và
Chế Lan Viên có phần nhấn mạnh thái quá, ít nhiều mang tính chất cực đoan.
Tuy nhiên cũng có những quan niệm nhẹ nhàng, dễ chấp nhận. Thế Lữ cho
rằng: Thơ riêng nó phải có sức gợi cảm ở bất kì trờng hợp nào.
Có thể thấy các định nghĩa về thơ ở thời kì này phần nào đó chịu ảnh hởng từ những quan niệm của trờng phái thơ tợng trng và siêu thực Pháp vào
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Họ thờng lý tởng hoá hoặc đối lập một cách
cực đoan hiện thực cuộc sống và thơ ca. Kiểu nh: Thơ là sự hiện thân cho
những gì thầm kín nhất và cho hình ảnh tơi đẹp nhất, âm thanh tơi đẹp nhất
trong thiên nhiên (La Martin).
Sau cách mạng tháng Tám, chúng ta lại có điều kiện tiếp xúc với
nhiều ý kiến, nhiều quan niệm về thơ. Trớc hết, thơ là tiếng nói tâm hồn,
là sợi dây tình cảm ràng buộc con ngời với con ngời, là hành trình ngắn
nhất đi tới con tim. Theo Tố Hữu Thơ là một điệu hồn đi tìm những con
14
tim đồng điệu, thơ là tiếng nói tri âm. Hoặc quan niệm thơ cải thiện cuộc
sống, hoàn thiện con ngời của Sóng Hồng Thơ là sự thể hiện con ngời và
thời đại một cách cao đẹp. Hay: Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt
lõi của cuộc sống (Lu Trọng L).
Định nghĩa về thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn này là định nghĩa của nhà
nghiên cứu Phan Ngọc, theo ông: Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái
đản để bắt ngời nhận biết phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này
[31, 23]. Khi nói hình thức ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là bởi vì trong giao
tiếp ngôn ngữ không ai tổ chức nh thế, ngôn ngữ hàng ngày không ai tổ chức
theo âm tiết, vần, nhịp. Định nghĩa trên của Phan Ngọc phần nào gặp gỡ với
quan niệm về thơ của tác giả Jakobson. Theo ông một định nghĩa về thơ phải
có tính phổ quát, áp dụng đợc cho mọi trờng hợp gọi là thơ trên trái đất này,
bất chấp mọi ranh giới về không gian, thời gian, ngôn ngữ, dân tộc, tập quán.
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số định nghĩa về thơ của các tác
giả tiêu biểu từ phơng Đông đến phơng Tây, từ trung đại đến hiện đại. Tiếp
theo, chúng tôi xin đa ra định nghĩa về thơ của nhóm tác giả là các nhà nghiên
cứu phê bình văn học Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: Thơ là
hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những
cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh nhất và có nhịp
điệu. [18, 254].
Định nghĩa trên đây đã đa ra những đặc trng cơ bản của thơ đó là cách
biểu hiện cảm xúc cô đọng, hàm súc, là sáng tác văn học bằng ngôn ngữ có
nhịp điệu. Đây là đặc trng cơ bản nhất để phân biệt thơ và văn xuôi.
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể rút ra những đặc trng cơ
bản cuae thơ nh sau:
- Thơ có hệ thống ngôn từ
- Thơ có cách tổ chức riêng
- Thơ thể hiện cảm xúc bằng hình ảnh
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ
Thơ là một thể loại văn học sáng tác bằng nghệ thuật ngôn từ, vì vậy
ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, điều này có nghĩa là ngôn
ngữ thơ trớc hết phải có đầy đủ những đặc trng của ngôn ngữ nghệ thuật nh:
tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm. Tuy
nhiên, không phải lúc nào các đặc trng này cũng đợc biểu hiện giống nhau mà
15
tuỳ thuộc vào môi loại tác phẩm mà chúng đợc biểu hiện bằng những sắc thái
và mức độ khác nhau. Đồng thời mỗi loại tác phẩm theo những thể loại khác
nhau lại có đặc trng ngôn ngữ riêng. So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ
có những đặc trng riêng. Đặc điểm nổi bật của thơ là chỉ dùng một số lợng
hữu hạn các đơn vị ngôn từ để biểu hiện cái vô hạn của hiện thực bao gồm các
sự kiện tự nhiên và xã hội, thế giới nội tâm phong phú của con ngời. Nh vậy
ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ đời sống hàng ngày và khác với ngôn ngữ
văn xuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhng cảm xúc và ý nghĩa hết sức đa dạng,
giàu sức gợi cảm.
Xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ đợc biểu hiện các đặc trng ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hoá, khái quát hoá hiện thực khách
quan theo một cách tổ chức riêng của thơ ca.
Từ trớc đến nay, trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, các
tác giả đã dựa vào nguyên lý của F. de Sausure về hoạt động của ngôn ngữ thơ
theo quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn để đa ra hai cơ chế hoạt động của
ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp. Tác giả Nguyễn Phan Cảnh
cho rằng cơ chế lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn từ là các đơn vị
ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tơng đồng của chúng [5,
24]. Cũng theo tác giả, nếu nh văn xuôi làm việc trớc hết bằng thao tác kết
hợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kị thì ngợc lại chính cái điều tối
kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tơng đồng của các đơn vị
ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo.
Thao tác lựa chọn giúp cho nhà thơ có thể lựa chọn một đơn vị ngôn
ngữ trong hàng loạt các đơn vị ngôn ngữ tơng đơng, có thể thay thế cho nhau
trên trục dọc, sau khi đã lựa chọn thì thao tác kết hợp lại cho phép ngời làm
thơ có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo nên những tiền đề vật chất
mà ngôn ngữ dân tộc cho phép.
Để tìm ra những đặc trng cơ bản của ngôn ngữ thơ chúng tôi dựa vào ba
bình diện cơ bản đó là: âm điệu, vần điệu và nhịp điệu.
1.1.3. Đặc điểm ngôn ngữ thơ
1.1.3.1. Bình diện ngữ âm
Hình thức ngữ âm trong thơ là yếu tố rất quan trọng. Các nhân tố nh:
âm vận, điệp âm, điệp vần, khổ thơ là những nhân tố cơ bản tạo nên nhạc tính
trong thơ. Đó cũng là phơng tiện nổi bật trên bình diện ngữ âm để phân biệt
16
thơ với văn xuôi. Sự phong phú về thanh điệu, số lợng các nguyên âm, phụ âm
trong tiếng Việt đã góp phần không nhỏ tạo nên tính nhạc trong thơ: khi trầm
khi bỗng, khi ngân nga, bay bỗng, khi dồn dập, thiết tha.
Khi tìm hiểu về tính nhạc trong thơ, chúng tôi lu ý khai thác mặt đối lập
trong hệ thống nguyên âm, hệ thống phụ âm và hệ thống thanh điệu. Trong
từng hệ thống có sự đối lập sau đây:
- Sự đối lập về trầm - bỗng, khép - mở giữa các nguyên âm
- Sự đối lập về âm vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc,
vô thanh trong các phụ âm cuối.
- Sự đối lập cao - thấp, bằng trắc của các thanh điệu
Cùng với sự đối lập, vần điệu, nhịp điệu cũng góp phần quan trọng
trong việc tạo tính nên nhạc cho thơ ca. Vì rằng các yếu tố ngữ âm này vừa là
cơ sở, vừa là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca. Vì rằng các yếu tố
ngữ âm này vừa là cơ sở vừa là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca.
Giáo s Dơng Viết á cho rằng: ngôn ngữ có trớc âm nhạc, âm nhạc từ trong
ngôn ngữ mà ra. Càng về sau chúng càng tách xa nhau để phát triển và cá
biệt hoá. Nhng dù xa nhau bao nhiêu giữa chúng vẫn có mối quan hệ rất căn
bản. [2, 25].
Nh vậy, nhạc thơ là thứ nhạc khác với âm nhạc thông thờng. Nhạc thơ
đợc tạo thành bởi ba yếu tố chính là: âm điệu, vần điệu và nhịp điệu. Tuy
nhiên, trong một tác phẩm cụ thể vai trò của ba yếu tố này không hoàn toàn
giống nhau, phụ thuộc vào từng bài thơ, từng thể thơ cụ thể mà vai trò của một
yếu tố nào đó nổi bật hơn các yếu tố còn lại. Trong bất kì bài thơ nào, vai trò
của ba yếu tố càng lớn thì nhạc điệu của bài thơ càng nổi bật, đồng thời ấn tợng ngữ nghĩa càng phụ thuộc vào ấn tợng ngữ âm.
a) Âm điệu
Khái niệm âm điệu chỉ đợc xác lập trong thế tơng quan với khái niệm
vần điệu và nhịp điệu. Hiểu một cách đơn giản, âm điệu là sự hoà âm đợc tạo
ra từ sự luân phiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh có những phẩm chất ngữ
âm tơng đồng và dị biệt trên trục tuyến tính.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập cho nên tính đối lập của
âm tiết tiếng Việt đã quy định âm điệu trong thơ cách luật tiếng Việt. Sự tổng
hoà của các yếu tố nh: cờng độ, trờng độ, cao độ, âm sắc đã tạo nên những
phẩm chất ngữ âm của tiếng Việt. Chính vì thế, sự khác nhau giữa âm tiết này
17
và âm tiết khác về trờng độ suy cho cùng là do sự chi phối của hoàn cảnh phát
ngôn hoặc do âm lợng của nguyên âm mà có. Theo đó, ta có những âm tiết kết
thúc bằng nguyên âm hay bán âm thì có độ vang và khả năng kéo dài trờng độ
lớn hơn những âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh.
Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố cơ bản chi phối phần vần của âm
tiết. Vì rằng thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung nhất phẩm chất
của thi phẩm. Chính vì thế, nói đến cách hoà âm trong thơ tiếng Việt thực chất
là nói đến cách hoà phối các thanh điệu, cách kết hợp âm thanh theo một kiểu
nhất định nào đấy. Thanh điệu là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong mọi
âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ và hình vị. Vì thế
thanh điệu là đặc trng của âm tiết trong khi ngữ điệu là đặc trng của âm, trọng
âm là đặc trng của từ. Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố siêu đoạn bao
trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt về phẩm chất
ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác, cho nên nó là yếu tố chính của âm
điệu và đợc tìm hiểu trên hai bình diện là âm vực và đờng nét vận động.
- Theo âm vực ta có: các thanh có âm vực cao bao gồm thanh không
dấu, thanh hỏi và thanh sắc các thanh âm vực thấp gồm có thanh huyền, thanh
ngã và thanh nặng.
- Theo đờng nét vận động ta có: những thanh có đờng nét bằng phẳng
bao gồm thanh huyền và thanh không dấu (còn gọi là thanh bằng) những
thanh có đờng nét không bằng phẳng là thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và
thanh nặng (còn gọi là thanh trắc).
Nh vậy, sự khác nhau về âm vực và đờng nét các thanh điệu sẽ tạo ra sự
khác nhau ở các cao độ của nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên tính nhạc
trong thơ.
b) Vần điệu
Trong sáng tác cũng nh trong nghiên cứu, vần trong thơ có một vị trí hết
sức quan trọng, mặc dù nó là một khái niệm cha có tính ổn định cao. Theo
Hêghen vần trong thơ là: do nhu cầu thực tại của tâm hồn muón nhìn thấy
mình đợc biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn [22, 18]. Thực chất vần là sự
hoà âm, cộng hởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ
hoặc là giữa hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự
ngừng nhịp [10, 12]. Có thể nói vần là chất keo để kết nối, gắn kết các dòng
thơ lại thành từng đoạn, từng bài, từng khổ hoàn chỉnh. ở các câu thơ, khổ thơ
18
có vần với chức năng tổ chức vần thơ nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại
với nhau, do đó giúp cho việcđọc thuận miệng, nghe thuận tai, và làm cho ngời đọc dễ thuộc, dễ nhớ [10, 22].
Đơn vị hiệp vần trong tiếng Việt là âm tiết, nhng theo cảm thức ngời
Việt không chấp nhận sự hiệp vần giữa một từ đa tiết với một từ đơn tiết hay
một từ đa tiết khác. Theo đó sự hiệp vần chỉ diễn ra giữa tiếng (âm tiết) này
với tiếng (âm tiết) khác mà thôi. Trong các vần thơ bao giờ cũng có sự cộng hởng, sự hoà xớng với nhau của hai âm tiết có vần. Đồng thời còn có sự hoà xớng đối lập nhau giữa các yếu tố tơng ứng trong hai âm tiết hiệp vần nhằm tạo
ra sự hoà âm cho các cặp vần. Đó là sự hoà âm giữa hai thanh điệu của hai âm
tiết hiệp vần, giữa âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối của âm tiết này với
âm tiết kia. Chính nhờ điều đó, ta nhận ra vai trò lớn của âm tiết tiếng Việt
trong việc tạo lập các vần cho thơ tiếng Việt. Chúng ta dễ ràng nhận thấy
trong thơ tiếng Việt, tất cả các yếu tố tạo ra âm tiết tiếng Việt đều tham ra vào
việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam nhằm tránh tạo lập vần. Trong
quá trình tham gia đó thanh điệu, thanh điệu, âm chính và âm cuối là những
yếu tố cơ bản tham ra vào việc tạo nên sự hoà âm cho vần thơ. Tính nhạc trong
thơ cũng nh khả năng mĩ cảm đặc biệt bắt đầu từ chính vị trí, mức độ hoà âm
và đặc điểm biến thiên cao độ của ác âm tiết mang vần.
c) Nhịp điệu
Nhịp điệu thực chất là điệu tính từ sự xuất hiện luân phiên của các ngữ
lu. F. de. Sassure cho rằng: dòng âm thanh chỉ là một đờng dài, một dải liên
tục, trong đó thính giả không thấy sự phân chia nào đầy đủ và chính xác,
muốn có sự phân chia nh vậy phải viện đến ý nghĩa nhng khi đã biết cần phải
gắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa gì và một vai trò gì thì
ta sẽ thấy một bộ phận đó tách ra, và cái dải vô hình kia sẽ phân ra thành
từng đoạn [34, 95].
Theo đó trong thơ nhịp điệu là yếu tố hết sức quan trọng, nó là kết quả
của việc hoà phối âm thanh đợc tạo ra từ ngắt nhịp. Nhịp điệu liên kết các yếu
tố ngữ âm lại với nhau để tạo nhạc tính. Bởi vì yếu tố quan trọng nhất để tạo
nên nhịp điệu chính là những chỗ ngừng, chỗ ngắt, trong sự phân bố mau, tha
hay đa dạng của chúng là độ dài ngắn khấc nhau của các quãng nghỉ hơi sau
các khổ thơ, dòng thơ. Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân thành hai
loại: ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý, hai loại nhịp này có khi tách biệt
19
có khi lại hoà quyện vào nhau tuỳ thuộc cấu trúc ngôn từ của từng dòng thơ,
khổ thơ, bài thơ và theo cảm hứng. Hơn nữa, nhịp thơ gắn liền với tình cảm,
cảm xúc, các trạng thái rung cảm xúc động. Vì vậy, nó có ảnh hởng đến việc
lựa chọn nhịp điệu cho câu thơ, bài thơ.
Nhịp trong câu thơ khác với nhịp trong văn xuôi. Nếu nhịp trong văn
xuôi luôn luôn trùng với nhịp cú pháp thì nhịp trong thơ không phải bao giờ
cũng trùng với nhịp cú pháp. Sỡ dĩ nh vậy vì việc ngắt nhịp trong thơ chịu sự
chi phối của yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu. Do đó cách ngắt nhịp, tạo nhịp
trong thơ hết sức đa dạng và mang cá tính sáng tạo của từng nhà thơ.
Trong thơ lục bát Việt Nam, việc ngắt nhịp diễn ra trớc hết dới áp lực
của vần lng và xu hớng tăng song tiết hoá trong tiếng Việt. Chính điều này dã
tạo nên một loại nhịp đặc thù cho thể thơ này đó là nhịp tâm lý. Đây là loại
nhịp xuất hiện khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ nào đó tồn tại. Cơ sở của
nhịp tâm lý chính là nhịp lẻ bị đồng hoá bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi
trong dòng thơ và giữa các cặp 6/8 với nhau. Trong thơ lục bát tiếng Việt, nhịp
chẵn 2 - 2 - 2 - 2 và tiết tấu nhịp đôi đã hình thành từ lâu. Tuy nhiên không vì
thế mà chúng ta loại trừ nhịp lẻ dù cho loại nhịp này ít thích hợp với tâm lý a
thích sự hài hoà, cân đối của ngời Việt. Vì thế, nhịp lẻ xuất hiện trớc hết là
nhịp lẻ cân đối 3/3 sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập, một loại nhịp biến cách và
không phổ biến ở thơ lúc bát. Trong khi đó, ở thơ tự do có những câu rất giống
với văn xuôi song lại có sức ngân rất lớn. Có đợc điều đó là bởi vì trong thể
thơ này các tác giả đã tạo ra nhịp thơ dài - ngắn, nhanh - chậm, mạnh - yếu
khác nhau theo cảm xúc của mình. Nh vậy: nhịp thơ là cái đợc nhận thức
thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên
theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản
nh câu thơ, khổ thơ thậm chí cả đoạn thơ.
Có thể nói vần và nhịp là hai yếu tố về mặt hình thức của thơ ca, là
những đơn vị ngữ âm không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ. Giữa vần và nhịp
luôn có mối quan hệ hữu cơ và tơng hỗ nhau. Nhịp thơ là là yếu tố cơ bản, là
xơng sống của bài thơ, là cơ sở cho việc gieo vần trong thơ.
1.1.3.2. Bình diện ngữ nghĩa
Tính nhạc là dấu hiệu đặc thù đầu tiên, quan trọng nhất của thơ, nhng
chỉ riêng tính nhạc thôi cha đủ, cha thể làm thơ. Dấu hiệu thứ hai tạo nên sức
ngân vang của thơ thuộc về bình diện ngôn từ. Cùng với ngữ âm thì ngữ
20
nghĩa cũng là một yếu tố cấu thành tác phẩm thơ ca. ngữ nghĩa trong thơ ca
khác với ngữ nghĩa trong giao tiếp thờng nhật và khác với ngữ nghĩa trong
văn xuôi. sớ dĩ có điều đó bởi vì ngôn ngữ thơ thờng cô đọng, hàm súc về
mặt ngôn từ và hình ảnh. Một từ ngữ nào đó đợc đa vào thơ đều trải qua sự
lựa chọn của tác giả vào vị trí của mình. Ngữ nghĩa trong thơ không chỉ có
giá trị biểu hiện mà còn có những giá trị khác. Khi đi vào thơ, do áp lực của
cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôpn từ không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc,
nghĩa ban đầu mà còn có những nghĩa mới, nghĩa phái sinh tinh tế, đa dạng
hơn tạo nên hiện tợng nhoè (Nguyễn Phan Cảnh) về nghĩa của thơ. Chính đặc
tính này vủa thơ đã làm cho mỗi chữ trong thơ có một sức mạnh tiềm tàng,
chứa đựng cái đẹp, tinh tế, sâu sắc. Trong thơ có những từ đợc sử dụng thông
qua các hình thức chuyển nghĩa nh: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, so sánh làm
cho ngữ nghĩa của thơ nhiều khi trở nên mơ hồ, không xác định, phải lựa
chọn, liên tởng, tởng tợng mới có thể giải mã và cảm thụ hết vẻ đẹp tinh tế
của câu thơ.
Tính nhoè về nghĩa trong thơ đã góp phần tạo ra nhiều kiểu cấu trúc hết
sức đặc biệt, nhiều khi là bất bình thờng cho thơ. Thơ cho phép sự tỉnh lợc,
thiếu vắng cả những thành phần ngữ pháp, kể cả thành phần chính của câu nh
chủ ngữ, vị ngữ dùng cả những biện pháp đảo từ, đảo ngữ, đảo trật tự cú pháp,
sự kết hợp không bình thờng, kể cả cách ngắt câu lạ mà trong văn xuôi không
đợc phép. Mục tiêu của thơ là hiệu quả diễn đạt, là ý tại ngôn ngoại. Chính
đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho thơ ca một sức hút kỳ lạ đối với độc giả. Chính
vì vậy, đến với thơ ca, chúng ta không chỉ tiếp xúc bằng mắt, bằng tai mà còn
cảm nhận bằng tình cảm, cảm xúc, bằng trí tởng tợng và liên tởng. Ngôn ngữ
thơ, vì thế, không chỉ là phơng tiện giao tiếp mà còn là thứ gì đó cha từng đợc
nói, cha từng đợc nghe.
1.1.3.3. Bình diện ngữ pháp
Bình diện ngữ pháp trong thơ đợc biểu hiện ở những điểm cụ thể sau
đây: Sự phân chia các dòng thơ, câu thơ; những kiểu câu và cách sắp xếp các
từ ngữ trong thơ.
Xét từ sự phân chia các dòng thơ, có ngời quan niệm dòng thơ tơng ứng
với câu thơ. Tuy nhiên, trong thực tế, ranh giới này không phải trùng nhau bởi
vì: có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có câu thơ bao gồm nhiều cả
đoạn thơ trong đó mỗi dòng thơ là một bộ phận của câu thơ.
21
Cách sắp xếp từ ngữ trong câu thơ cũng khác với cách sắp xếp từ ngữ
trong văn xuôi ở chỗ có khi các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo
lộn trật tự. Các từ không đợc sắp xếp theo lôgic bình thờng, nhất là ở những
câu thơ có hiện tợng vắt dòng.
Cách cấu trúc trong câu thơ cũng khác với cách cấu trúc trong văn xuôi.
Nếu câu trong văn xuôi buộc phải tuân theo những quy tắc chặt chẽ thì câu
trong thơ không hoàn toàn tuân theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ. Nhà thơ có
thể sáng tạo và sử dụng nhiều kiểu câu lạ, những câu quái đản mà vẫn không
ảnh hởng đến quá trình tiếp xúc ngữ nghĩa của văn bản. Ngợc lại, sự kết hợp
bất bình thờng đó đã mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ
trong quá trình diễn đạt cũng nh trong quá trình tạo lập những phong cách
riêng của nhà thơ.
1.1.4. Mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa
Mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa luôn là vấn đề đợc đặt lên
hàng đầu trong quá tình sáng tác của nghệ sĩ nói chung. Văn học là lĩnh vực
sáng tạo đặc biệt, tất yếu nó cũng nằm trong quy luật chung của các ngành
nghệ thuật. Nói nh vậy là trong quá trình sáng tác, các tác giả văn học cũng
hết sức coi trọng mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa trong một tác
phẩm. Bởi suy cho cùng phạm vi thể hiện giá trị t tởng và nghệ thuật của một
tác phẩm chính là hình thức và ngữ nghĩa của tác phẩm đó.
Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống đợc phản ánh trong sự cảm
nhận, suy ngẫm, đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống bao gồm nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau [18, 202]. Theo nhà
nghiên cứu Mai Thánh Du đời Tống (Trung Quốc), nội dung trong thơ không
có gì khác hơn chính là cái tác giả cảm thụ trong lòng, ngời xem hiểu ngầm
bằng ý cơ hồ rất khó nói ra bằng lời. Nh vậy, thơ phải nói ra bằng nỗi niềm
đợc cảm nhận rõ rệt nhng không dễ ràng làm sống dậy đợc, truyền đạt bằng
ngôn từ. Cùng với nội dung, hình thức là yếu tố thứ hai tạo nên chỉnh thể tác
phẩm văn học. Hình thức nghệ thuật của tác phẩm là hiện tợng độc đáo, hình
thức hoàn toàn không phải số cộng giản đơn của các thủ pháp nghệ thuật
cũng nh các phơng tiện nghệ thuật. Trong tính chỉnh thể của nó, hình thức
nghệ thuật là yếu tố đảm nhận t cách bộc lộ nội dung tác phẩm văn học.
Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì: Hình thức tác phẩm là
22
cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nội dung tác
phẩm [18, 203].
Nh vậy, giá trị một tác phẩm văn học cần phải đợc xem xét dựa trên sự
thống nhất có tính nguyên tắc của nội dung ngữ nghĩa và hình thức không có
tác phẩm văn học nào chỉ tồn tại với nội dung ngữ nghĩa mà không có sự tham
gia của hình thức. Nhà phê bình văn học Nga Biêlinxki đã từng nói rõ về mối
quan hệ này: Trong tác phẩm nghệ thuật, t tởng và hình thức phải hoà với
nhau một cách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác, nếu huỷ diệt hình thức thì có
nghĩa là huỷ diệt t tởng và ngợc lại cũng vậy [30, 256].
Theo lý luận Mác xít thì hình thức biểu hiện nội dung ngữ nghĩa, hình
thức phù hợp với nội dung. Theo đó ngữ nghĩa có vai trò quyết định còn hình
thức là yếu tố định hình, biểu hiện ngữ nghĩa. Nh vậy, ngữ nghĩa quyết định
việc lựa chọn hình thức thể loại, ngôn ngữ, chi tiết, nhân vật, cốt truyện, kết
cấu. Hình thức phù hợp với ngữ nghĩa trở thành tiêu chuẩn để đánh giá hình
thức và làm nên giá trị của tác phẩm. Về điều này, tác giả Biêlinxki đã viết:
khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức
là nó tách khỏi nội dung có nghĩa là huỷ diệt bản thân nội dung và ngợc lại
tách nội dung khỏi hình thức có nghĩa là huỷ diệt hình thức [30, 256].
Tóm lại, quan hệ giữa ngữ nghĩa và hình thức là mối quan hệ thống
nhất, ngữ nghĩa và hình thức không những gắn bó mật thiết với nhau mà còn
có sự chuyển hoá cho nhau: Nội dung chẳng phải cái gì khác mà chính là
chuyển hoá của hình thức vào nội dung và hình thức cũng chẳng phải cái gì
khác hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức [18, 257]. Thông qua
việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng, chúng ta sẽ thấy rõ hơn
mối quan hệ này.
1.2. Tố Hữu cuộc đời và thơ văn
1.2.1. Cuộc đời Tố Hữu
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920
tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên - Huế, trong một gia đình nhà nho nghèo. Từ thửa nhỏ, Tố Hữu đã đợc
cha dạy cho làm những bài thơ theo lối cổ. Mẹ ông là con một nhà nho thích
su tầm ca dao tục ngữ.
Năm ông 12 tuổi mẹ mất, cha đi làm xa. Năm 13 tuổi, Tố Hữu vào học
trờng Quốc học Huế. Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng Cộng
23
sản Đông Dơng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, trong thời kì Cách mạng
Dân chủ, Tố Hữu sớm đợc giác ngộ cách mạng. Năm 1936, ông ra nhập Đoàn
thanh niên Cộng sản và trở thành ngời lãnh đạo Đoàn thanh niên Dân chủ ở
Huế.
Năm 1937, ông bắt đầu có thơ đăng báo.
Năm 1938, Tố Hữu ra nhập Đảng Cộng sản Đông Dơng.
Tháng 4 năm 1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và bị giam ở nhiều nhà
lao ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Từ những năm 1937-1938 và suốt
những năm tháng bị giam tại các nhà lao, Tố Hữu vừa rèn luyện ý chí vừa làm
nhiều thơ cách mạng. Những bài thơ đó sau này đợc tập hợp lại trong tập Thơ
(1946) và đến năm 1959, đợc in lại dới nhan đề Từ ấy.
Tháng 3 năm 1942, Tố Hữu vợt ngục Đắc Lây, trở về gây dựng cơ sở và
hoạt động cách mạng ở tỉnh Thanh Hoá.
Tháng 8 năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Thừa ThiênHuế và sau đó là Bí th Xứ uỷ Trung Kỳ.
Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu trở lại Thanh Hoá
hoạt động và là Bí th Tỉnh uỷ Thanh Hoá.
Năm 1947, Tố Hữu đợc Trung ơng Đảng điều động ra chiến khu Việt
Bắc phụ trách công tác văn nghệ và là Trởng tiểu ban văn nghệ Trung ơng.
Năm 1948, thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, Tố Hữu tham gia Ban
chấp hành Hội.
Năm 1951, tại Đại hội Đảng lần thứ II, Tố Hữu đợc bầu là Uỷ viên
dự khuyết Trung ơng Đảng và đến năm 1955 là Uỷ viên chính thức Trung ơng Đảng.
Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, Tố Hữu đợc bầu vào Ban Bí th
Trung ơng Đảng và là Uỷ viên Ban Bí th trung ơng Đảng từ năm 1960 đến
năm 1980. Ông còn là trởng Ban Thống nhất Trung ơng giai đoạn từ năm
1974-1975.
Năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV, Tố Hữu đợc bầu là Uỷ viên dự
khuyết Bộ Chính trị và Bí th Ban chấp hành Trung ơng Đảng. Từ năm 1980,
ông là Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ơng Đảng và từ năm 1981 đợc giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng.
24
Năm 1982, tại Đại hội Đảng lần thứ V, Tố Hữu đợc bầu lại là Uỷ viên
Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ơng Đảng, Bí th Ban chấp hành Trung ơng
Đảng và giữ chức vụ này cho đến năm 1986.
Ngoài ra Tố Hữu còn đảm nhiệm nhiều cơng vị khác: Hiệu trởng Trờng
Nguyễn ái Quốc, Trởng Ban Thống nhất Trung ơng Đảng, Trởng Ban Tuyên
huấn Trung ơng, Trởng Ban Khoa giáo Trung ơng.
Tố Hữu mất ngày 9 tháng 12 năm 2002, hởng thọ 82 tuổi.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và cầm bút, dù ở cơng vị nào,
làm công tác gì, Tố Hữu vẫn bền bỉ làm thơ. Từ khi có bài thơ đầu tiên đăng
báo cho đến những ngày cuối cùng trên giờng bệnh, bút lực nhà thơ vẫn rồi
rào, vì thế ông là nhà thơ cách mạng thành công ở tất cả các chặng đờng của
cách mạng Việt Nam. Ông đợc Nhà nớc phong tặng Giải thởng Hồ Chí Minh
về văn học và nghệ thuật năm 1996.
1.1.2. Quá trình sáng tác
Trên bầu trời văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn đợc coi là một
ngôi sao sáng, là ngời mở đầu và dẫn đờng tiêu biểu của nền thơ ca cách
mạng. Hơn sáu mơi năm hoạt động cách mạng và sáng tác thơ ca, thơ ông đã
trở thành niềm đam mê trong lòng độc giả.
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng
vào những năm cuối của thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dơng, cùng với sự
đón tiếp nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao
thơ ông, coi đó là một hiện tợng mới mẻ của văn học cách mạng. Trong bài
viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu, tác giả T và K đã khẳng định: Thơ Tố
Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lý tởng [27, 12].
Ngay từ những bài thơ đầu tiên, Tố Hữu đã xác định cho mình lý tởng
cách mạng, con đờng đấu tranh cách mạng là lý tởng sống cao đẹp của ngời
thanh niên cộng sản:
Từ ấy trong tôi bừng nắng
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vờn hoa lá
Rất đậm hơng và rộn tiếng chim.
(Từ ấy) [44, 47]
25
Tập thơ Từ ấy (1937-1946) là chặng đờng đầu mời năm thơ Tố Hữu,
cũng là mời năm hoạt động say mê, sôi nổi từ giác ngộ qua thử thách đến trởng thành của ngời thanh niên cách mạng trong giai đoạn lịch sử diễn ra nhiều
biến cố lớn lao rung chuyển và thay đổi sâu sắc cả xã hội Việt Nam. Tập thơ
Từ ấy gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng. Đây là tiếng reo vui
của một tâm hồn tuổi trẻ băn khuăn đi tìm lẽ sống thì bắt gặp ánh sáng của lý
tởng của Đảng. Ngay từ những bài thơ đầu tiên, Tố Hữu đã xác định cho mình
lý tởng cách mạng, con đờng đấu tranh cách mạng chính là lý tởng sống cao
đẹp của ngời thanh niên cộng sản.
Tập thơ Việt Bắc (1947-1954) là chặng đờng thơ Tố Hữu trong những
năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc. Vào cuộc kháng chiến, thơ Tố
Hữu hớng vào thể hiện con ngời quần chúng kháng chiến. Đó là hình ảnh anh
vệ quốc quân nông dân hiền lành làm nên chiến thắng Việt Bắc (Cá nớc); là
anh bộ đội vợt lên trên gian khổ và thiếu thốn mà vẫn hào hùng trong t thế vơn
tới trên những núi đèo Tây Bắc (Lên Tây Bắc); là chị phụ nữ Bắc Giang; là
những bà mẹ nông dân hiền lành chất phác gắn bó với cách mạng, hoà làm
một tình thơng con với lòng yêu nớc (Bà mẹ Việt Bắc, Bà bủ, Bầm ơi); là em
bé liên lạc hồn nhiên, anh dũng ngã xuống cánh đồng quê hơng dới làn đạn
giặc mà linh hồn và hình ảnh của em vẫn còn mãi với quê hơng (Lợm). Trên
tất cả, tập trung và tiêu biểu cho mọi phẩm chất của dân tộc Việt Nam là hình
ảnh bác Hồ.
Việt Bắc là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp, phản ánh
những chặng đờng gian lao, anh dũng và những bớc đi của cuộc kháng chiến
cho đến ngày thắng lợi. Tập thơ kết tinh những tình cảm lớn của con ngời
Việt Nam kháng chiến mà thống nhất và bao trùm là tình yêu nớc. Việt Bắc là
một trong những thành tựu xuất sắc của văn học thời kháng chiến chống Pháp.
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam bớc vào
một giai đoạn mới với nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp
tục đấu tranh giành thống nhất tổ quốc. Thơ Tố Hữu vẫn tiếp tục bám sát
những nhiệm vụ của cách mạng. Tập thơ Gió lộng (1955-1961) khai thác
những nguồn cảm hứng lớn, cũng là những tình cảm bao trùm của con ngời
Việt Nam của con ngời Việt Nam đơng thời: niềm vui, niềm tự hào, tin tởng
vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tình cảm với miền Nam