Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

SẢN XUẤT HÀNG HOÁ KHỞI điểm RA đời của CHỦ NGHĨA tư bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (332.77 KB, 67 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

**********

GIÁO ÁN
BÀI 1: “SẢN XUẤT HÀNG HOÁ - KHỞI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN”


Giáo viên hướng dẫn : Lê Thị Thuý
Sinh viên thực hiện

: Đàm Thuỳ Dương

Lớp

: KTCT - K22

Hà Nội , Tháng 11/2005


BÀI : SẢN XUẤT HÀNG HOÁ - KHỞI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Mục đích
- Đây là bài đầu tiên trong chương trình KTCT Mác - Lênin phần
kinh tế tư bản chủ nghĩa, bài giảng có nhiều khái niệm, phạm trù, quy luật
kinh tế vừa cụ thể vừa trừu tượng nên việc giảng dạy gặp nhiều khó khăn.
Việc nghiên cứu sản xuất hàng hoá và các quy luật kinh tế của nó giữ vị trí


với tư cách vừa là lý luận sản xuất hàng hoá nói chung, vừa là lý luận xuất
phát cho sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Phần trọng tâm của bài là “ hàng hoá”, trong bài hàng hoá thì cốt
lõi là phần chất và lượng của giá trị hàng hoá. Do đó cần trang bị cho học
viên có tầm nhìn đúng đắn về vấn đề hàng hoá, vì từ phân tích hàng hoá,
C.Mác đã xây dựng nên lý luận giá trị - Đây là lý luận cơ sở cho toàn bộ
học thuyết kinh tế Mác. Nếu thoát ly khỏi lý luận giá trị thì không thể giải
thích được lý luận giá trị thặng dư, lý luận tích luỹ và các lý luận khác.
- Giúp học viên nắm chắc những vấn đề cơ bản về quy luật giá trị,
quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu và vận
dụng các quy luật đó một cách có ý thức vào các hoạt động kinh tế nhằm
đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Yêu cầu
- Hiểu được khái niệm sản xuất hàng hoá, điều kiện ra đời và tồn tại
của sản xuất hàng hoá.
- Hiểu được đặc trưng và tính ưu việt của sản xuất hàng hoá so với
sản xuất tự cấp, tự túc.

2


- Phân tích được khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của nó. Giải
thích được vì sao hàng hoá lại có hai thuộc tính : giá trị sử dụng và giá trị.
- Nắm được sự hình thành lượng giá trị hàng hoá và những nhân tố
ảnh hưởng lượng giá trị hàng hoá.
- Hiểu rõ được nguồn gốc ra đời, bản chất và các chức năng của tiền

tệ, quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát.
- Nắm vững các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, thị trường và
giá cả của thị trường, đặc biệt hiểu được yêu cầu và tác dụng của quy luật
giá trị.
- Hiểu được sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
thông qua tích luỹ nguyên thuỷ và quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá
giản đơn lên sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa.
- Thấy được sự cần thiết của sản xuất hàng hoá đối với nước ta trong
thời kỳ quá độ, nắm được đặc điểm và phương hướng của sản xuất hàng
hoá.
- Vận dụng các quy luật đó vào quá trình sản xuất hàng hoá ở nước
ta trong thời kỳ quá độ , góp phần thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước.
3. Đồ dùng dạy học
- Giáo án
- Giáo trình
4. Phương pháp sử dụng
- Thuyết trình kết hợp với đàm thoại
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp hướng dẫn người học tự nghiên cứu
- Biểu bảng, sơ đồ.

3


B. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình KTCT trong TKQĐ lên CNXH - xuất bản năm 2003
2. Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị : KTCT Mác - Lênin và một
số vấn đề về tổ chức, quản lý kinh tế ở Việt Nam ( Tập I ) của Học viện

chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị.
3. Giáo trình: KTCT Mác - Lênin, Phần kinh tế tư bản chủ nghĩa Phân viện báo chí và tuyên truyền, Khoa KTCT, Nxb chính trị quốc gia.
4. Giáo trình chuẩn quốc gia KTCT Mác - Lênin
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
6. Tài liệu học tập nghiên cứu nghị quyết hội nghị lần thứ 3, BCH
trung ương Đảng khoá IX.
7. C.Mác: Tư bản, quyển 1, tập 1; tập 3, Nxb Sự thật Hà Nội , 1973
8. C.Mác: Góp phần phê phán KTCT học , Nxb Sự thật Hà Nội,
1971, tr.23-24,48-49
9.Ph.Ăngghen: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
Nhà nước, Nxb Sự thật Hà Nội, 1972, tr.267
10. Ph.Ăngghen: Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật Hà Nội, 1971
11. V.I.Lênin: Toàn tập, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội, 1961
12. V.I.Lênin: Mác - Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Matxcơva,
1976,tr21
13. sơ đồ KTCT Mác-Lênin, tập 1, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa
14. Các tạp chí
15. Các tài liệu tham khảo khác.

4


C. KẾT CẤU BÀI GIẢNG

I. Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá
1. Sản xuất hàng hoá,điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá
a. Khái niệm SXHH
b. Điều kiện ra đời và tồn tại của SXHH
2. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

a. Lao động cụ thể
b. Lao động trừu tượng
c. Mối quan hệ của hai mặt này trong quá trình SXHH
d. ý nghĩa của tính chất hai mặt
3. Những ưu thế của sản xuất hàng hoá
II. Hàng hoá
1. Khái niệm hàng hoá
2. Hai thuộc tính của hàng hoá
a. Giá trị sử dụng
b. Giá trị
c. Mối quan hệ của hai thuộc tính này
3. Lượng giá trị của hàng hoá
a. Khái niệm
b. Thời gian lao động xã hội cần thiết
c. Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng
hoá
III. Tiền tệ
1. Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ
a. Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
b. Hình thái đầy đủ hay mở rộng
c. Hình thái chung
5


d. Hình thái tiền
2. Các chức năng của tiền
a. Thước đo giá trị
b. Phương tiện lưu thông
c. Phương tiện cất trữ
d. Phương tiện thanh toán

e. Tiền tệ thế giới
3. Quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát
a. Quy luật lưu thông tiền tệ
b. Lạm phát
IV. Quy luật giá trị, cạnh tranh và cung cầu
1. Quy luật giá trị
a. Nội dung của quy luật giá trị
b. Tác động của quy luật giá trị
2. Cạnh tranh và quan hệ cung cầu
a. Cạnh tranh
b. Quan hệ cung cầu và giá cả hàng hoá
V. Thị trường
1. Khái niệm thị trường
2. Các loại thị trường
3. Chức năng thị trường.

6


PHẦN NỘI DUNG
BÀI 1: SẢN XUẤT HÀNG HOÁ - KHỞI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
I. ĐIỀU KIỆN
RA

ĐỜI,

TỒN

TẠI CỦA SẢN

XUẤT

HÀNG

HOÁ

1. Sản xuất
hàng hoá, điều
kiện ra đời và
tồn tại của sản
xuất hàng hoá
a. Khái niệm
sản xuất hàng
hoá:
- Sản xuất
hàng hoá là:
+ Sản xuất ra sản phẩm để bán. Hay nói cách khác,
sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất, trong đó
sản phẩm làm ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua
trao đổi, mua bán.
+ Là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó
những sản phẩm được sản xuất ra nhằm mục đích để
trao đổi, mua bán trên thị trường. Toàn bộ quá trình tái
- Ví dụ:

sản xuất đều gắn với thị trường.
Sản xuất quần áo, giày dép, lương thực, thực phẩm...
7



để đem bán.
- Sơ đồ:
Phân phối

Sản xuất
Thị
trường

Tiêu dùng

Trao đổi

- Quan điểm
của

các

nhà

kinh điển trong
lịch sử về sản
xuất hàng hoá:
+ Theo Ph.Ăngghen:
“Sản xuất hàng hoá tức là sản xuất ra không phải để
tự mình tiêu dùng, mà là để trao đổi, nghĩa là sản phẩm
phải chuyển từ tay người này sang tay người khác”(1).
+ Theo V.I.Lênin:
“Sản xuất hàng hoá là một tiểu tổ chức kinh tế - xã

hội, trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cá
thể, riêng lẻ sản xuất ra, mỗi người chuyên sản xuất ra
một sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn các
nhu cầu của xã hội thì cần có mua bán sản phẩm (vì
vậy sản phẩm trở thành hàng hoá) trên thị trường”(2).
- Sản xuất
hàng hoá khác
với sản xuất tự
cấp, tự túc:
+ Sản xuất tự cấp, tự túc (kinh tế tự nhiên):
* Là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài
(1)
(2)

Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước - Nxb Sự thật, 1972, tr.190
Lênin Toàn tập, tập 1, tr.106

8


người.
* Là nền kinh tế, trong đó sản phẩm được sản xuất
ra nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất
trong nội bộ một đơn vị kinh tế nhất định, sản xuất
mang tính chất phụ thuộc vào thiên nhiên, tự túc, tự
cấp, khép kín theo từng vùng, địa phương và lãnh thổ.
* Là người sản xuất hàng hoá làm ra sản phẩm chỉ
để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân
+ Sản xuất hàng hoá (kinh tế hàng hoá):
* Ra đời từ sản xuất tự cấp, tự túc và thay thế nó

trong quá trình phát triển, tức là sản xuất tự cấp, tự túc
dần dần chuyển hoá thành sản xuất hàng hoá.
* Lúc đầu là sản xuất hàng hoá giản đơn, nhỏ sau đó
là sản xuất hàng hoá phát triển, lớn.
* Là sản xuất ra sản phẩm để bán, cho người khác,
cho xã hội để thu lợi nhuận.
- Vậy, nếu
một

người

nông dân sản
xuất

ra

thóc

được coi là sản
xuất hàng hoá
không?
=> Có hai cách hiểu:
+ Nếu người nông dân sản xuất ra thóc để cho mình
và gia đình ăn thì không được coi là sản xuất hàng hoá
mà đó là sản xuất tự cấp, tự túc.
+ Nếu người nông dân sản xuất ra thóc để bán, đem
trao đổi trên thị trường lấy sản phẩm khác thì được coi

9



là sản xuất hàng hoá.
- Sơ lược lịch
sử phát triển
của sản xuất
hàng hoá:
Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hoá
xuất hiện ngay từ thời kỳ tan rã của chế độ công xã
nguyên thuỷ (CXNT), đã trải qua thời kỳ chiếm hữu nô
lệ (CHNL) và phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ
phong kiến (CĐPK). Đến CNTB, sản xuất hàng hoá
phát triển cao nhất và mang tính chất phổ biến trong xã
hội. Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển
trong TKQĐ và CNXH - là giai đoạn thấp của CNCS.
CX
NT

C
HNL


PK

CN
TB

CN
XH

CN

CS

+ Trong các
xã hội trước
CNTB:
CXNT, CHNL, CĐPK, nền sản xuất về cơ bản là
kinh tế tự nhiên, còn sản xuất hàng hoá chủ yếu là sản
xuất hàng hoá giản đơn giữ vai trò phụ thuộc.
Sản xuất hàng hoá giản đơn là:
* Sản xuất hàng hoá của nông dân và thợ thủ công
dựa trên chế độ tư hữu nhỏ về TLSX và lao động cá
nhân của người sản xuất.
* Đã tạo ra khả năng phát triển LLSX, thiết lập các
mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó
vốn tách biệt nhau như: các công xã, các điền trang
của chủ nô, thái ấp của quý tộc...
+ Hình thức
10


điển hình của
sản xuất hàng
hoá:
Là sản xuất hàng hoá TBCN (còn gọi là sản xuất
lớn). Đó là hình thức sản xuất hàng hoá cao nhất, phổ
biến nhất trong CNTB và trở thành hình thức sản xuất
hàng hoá điển hình, nổi bật trong lịch sử. Đặc điểm của
sản xuất hàng hoá TBCN là dựa trên sự tách rời TLSX
với sức lao động, trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê
dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư.

+ Sản xuất
hàng hoá tiếp
tục tồn tại và
phát triển dưới
CNXH
Đặc điểm của sản xuất hàng hoá XHCN là không
dựa trên cơ sở chế độ người bóc lột người, nó nhằm
mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi
thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Kết luận:
Như vậy trong lịch sử, không phải ngay từ đầu khi
loài người xuất hiện đã có sản xuất hàng hoá. Sản xuất
hàng hoá chỉ tồn tại trong một số phương thức sản xuất
xã hội, gắn liền với những điều kiện lịch sử nhất định.
Sản xuất hàng hoá có nhiều ưu thế và là một phương
thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sản xuất
tự cấp, tự túc. Do vậy, sản xuất hàng hoá là một phạm
trù lịch sử.
Vậy sản xuất
hàng

hoá

ra

đời và tồn tại
11


trong


những

điều kiện nào?
Chúng

ta

nghiên

cứu

phần b.
b. Điều kiện
ra đời và tồn
tại

của

sản

xuất hàng hoá
-

Theo

C.Mác,

sản


xuất hàng hoá
ra đời và tồn
tại dựa trên hai
điều kiện sau:
+ Thứ nhất, là phân công lao động xã hội
+ Thứ hai, là chế độ tư hữu và các hình thức sở hữu
khác nhau TLSX:
b1.

Phân

công lao động


hội

(PCLĐXH):
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động
xã hội ra các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau,
tạo nên sự chuyên môn hoá lao động và theo đó là sự
chuyên hoá sản xuất thành những ngành nghề khác
nhau, sản xuất những sản phẩm khác nhau.
PCLĐXH làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành
tất yếu? Bởi vì:
+ Thứ nhất, PCLĐXH đã dẫn đến việc mỗi người,

12


mỗi cơ sở chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất

định. Nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có
nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, họ phải cần đến
sản phẩm của nhau bằng cách trao đổi với nhau.
+ Thứ hai, PCLĐXH là kết quả của sự phát triển
LLSX, biểu hiện ở sự chuyên môn hoá sản xuất làm
cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm được sản
xuất ra ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày
càng phổ biến.
Như vậy, PCLĐXH là cơ sở, là tiền đề của SXHH.
PCLĐXH càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng
hoá càng mở rộng hơn, đa dạng hơn.
- Ví dụ:
Người thợ may chuyên sản xuất ra những sản phẩm
may mặc, còn người thợ mộc thì chuyên sản xuất ra
các sản phẩm về gỗ như bàn, ghế, giường, tủ... Nhưng
do nhu cầu của cuộc sống, mỗi người lại cần đến rất
nhiều sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu đó,
buộc họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau.
Từ đó, C.Mác khẳng định: PCLĐXH một mặt làm
cho người sản xuất độc lập với nhau, mặt khác lại tạo
ra mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Cho nên PCLĐXH
là điều kiện ra đời của SXHH.
Luận điểm này của C.Mác được Ph.Ăngghen chứng
minh về mặt lịch sử trong tác phẩm: “Nguồn gốc của
gia đình của chế độ tư hữu và Nhà nước”.
+ Theo Ph.Ăngghen:

* Lúc đầu loài người chưa có PCLĐXH, mà thay
vào đó bằng sự PCLĐ tự nhiên theo tuổi tác và giới
tính: Đàn ông săn bắn, đánh cá còn đàn bà hái lượm,


13


dệt vải... Lúc này trao đổi có tính chất ngẫu nhiên,
thỉnh thoảng có sản phẩm thừa mới đem đi trao đổi.
* Khi xuất hiện PCLĐ lớn lần thứ nhất: “Chăn nuôi
tách ra khỏi trồng trọt” làm cho việc trao đổi trở nên
đều đặn hơn. Nhưng việc trao đổi này chỉ diễn ra ở một
biên thuỳ của hai bộ lạc chăn nuôi và trồng trọt, chứ
không diễn ra trong nội bộ các bộ lạc. Tuy có trao đổi
hàng hoá nhưng sản xuất hàng hoá vẫn chưa ra đời, vì
mục đích sản xuất lúc này là để tự tiêu dùng.
* Khi xuất hiện PCLĐ lớn lần thứ hai: Tiểu thủ công
nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, lúc này trao đổi hàng
hoá trở thành một tất yếu sống còn của xã hội, vì đến
đây sản xuất phần lớn là để trao đổi. Vào giai đoạn này
thì nền sản xuất hàng hoá bắt đầu ra đời.
- Dựa trên
những



tưởng

của

C.Mác




Ph.Ăngghen,
Lênin đã rút ra
kết

luận:

“PCLĐXH



cơ sở của kinh
tế hàng hoá”.
- Tuy nhiên,
nếu

chỉ



PCLĐXH

thì

chưa đủ, để sản
xuất hàng hoá

14



ra đời và tồn
tại còn phải có
một điều kiện
nữ. Chúng ta
chuyển

sang

nghiên

cứu

điều kiện thứ
hai.
b2. Chế độ
tư hữu và các
hình thức sở
hữu khác nhau
về tư liệu sản
xuất
+ Trong bộ Tư bản, C.Mác đã khẳng định: Nếu chỉ
có PCLĐXH thì sản phẩm cũng không thể trở thành
hàng hoá được. Mác đã nêu ví dụ:
Trong công xã thị tốc Ấn Độ thời cổ đã có sự PCLĐ
khá chi tiết giữa các thành viên trong công xã: Người
làm ruộng, người làm thủ công, người dạy học, người
đánh giặc... Nhưng sản phẩm lao động của họ làm ra
không phải là hàng hoá bởi vì: TLSX là của chung nên
sản phẩm của từng nhóm sản xuất chuyên môn hoá
cũng là của chung, công xã phân phối trực tiếp cho

từng thành viên để thoả mãn nhu cầu của họ.
+ Nhưng chỉ đến khi XH CHNL và các chế độ xã
hội tiếp theo khi xuất hiện chế độ tư hữu và các hình
thức sở hữu khác nhau về TLSX thì sản phẩm mới
mang hình thái hàng hoá.

15


Như vậy, muốn cho sản phẩm trở thành hàng hoá
phải có điều kiện thứ hai này. Điều kiện này do quan
hệ sở hữu khác nhau và sự phát triển xã hội hoá ở
những mức độ khác nhau của sở hữu về TLSX theo
quy định. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu
hoặc chi phối của họ, người này muốn tiêu dùng sản
phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao
đổi, mua bán hàng hoá.
Đó là điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá.
Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất
hàng hoá.
- Sơ đồ:
Phân công
lao động
xã hội

Sự tách
biệt về
kinh tế
giữa các
chủ thể

sản xuất

Các chủ
thể sản
xuất có
quan hệ
kinh tế với
nhau, phụ
thuộc nhau

Sản xuất
hàng hoá

Các chủ
thể sản
xuất độc
lập tương
đối với
nhau

2. Tính chất
hai mặt của lao
động sản xuất
hàng hoá
Lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất
hai mặt: vừa mang tính chất là lao động cụ thể, lại vừa
mang tính chất là lao động trừu tượng. C.Mác là người
đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó.
a. Lao động


16


cụ thể
- Khái niệm:

Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình
thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất

- Ví dụ:

định.
Người thợ mộc làm ra bàn, ghế, còn người thợ may

- Đặc điểm:

làm ra quần áo...
+ Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp,
công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao
động riêng. Chính 5 đặc điểm riêng này phân biệt các
loại LĐCT khác nhau.
Ví dụ: Lao động người thợ mộc khác với lao động
của người thợ may... Lao động của người thợ may thì
tạo ra quần áo, còn lao động của người thợ mộc thì tạo
ra bàn ghế... Điều đó có nghĩa là, LĐCT tạo ra giá trị
sử dụng của hàng hoá.
+ Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất
định. Trong xã hội có vô số GTSD muôn hình, muôn
vẻ do vô số LĐCT cũng muôn hình, muôn vẻ tạo ra.
+ Trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định,

hình thức của LĐCT phụ thuộc vào sự phát triển của
khoa học - kỹ thuật, của LLSX và PCLĐXH.
Ví dụ: Lao động khai thác Mỏ trước kia là lao động
thủ công, ngày nay là lao động cơ giới hoá. Khi khoa
học - kỹ thuật và PCLĐXH càng phát triển thì các hình
thức của LĐCT càng phong phú và đa dạng.
+ LĐCT là một phạm trù vĩnh viễn, không phụ
thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội nào. LĐCT được
hình thành là nhờ kết quả của sự kết hợp giữa con
người với tự nhiên, nhằm cải biến tự nhiên tạo ra

17


những giá trị sử dụng nhất định để nuôi sống con
người, không có nó con người không thể tồn tại được.
Nên LĐCT là một phạm trù vĩnh viễn.
Chúng ta đã
nghiên
xong

cứu
phần

LĐCT, còn lao
động

trừu

tượng (LĐTT)

là gì? Chúng ta
chuyển

sang

nghiên cứu tiếp
phần b.
b. Lao động
trừu tượng
- Khái niệm:

Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất
hàng hoá khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó,
hay đó chính là sự tiêu phí sức lao động nói chung
(tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất

- Ví dụ:

hàng hoá.
Nếu gạt bỏ hình thức cụ thể của người thợ mộc và
thợ may đi, với tư cách là người sản xuất hàng hoá thì

- Đặc điểm:

họ giống nhau ở chỗ đều phải hao phí sức lao động.
+ LĐTT tạo ra giá trị của hàng hoá. Giá trị của hàng
hoá là LĐXH trừu tượng của người sản xuất hàng hoá
kết tinh trong hàng hoá. Đó chính là mặt chất của giá
trị hàng hoá.
+ Không phải bất cứ sự tiêu phí sức lực nào của

người lao động cũng là LĐTT mà chỉ có sự hao phí
thần kinh, bắp thịt của người sản xuất hàng hoá mới

18


được coi là LĐTT. Vì sản xuất hàng hoá là sản xuất để
trao đổi, mua bán, nên việc trao đổi hàng hoá không
thể căn cứ vào LĐCT được mà phải quy về mọi LĐCT
khác nhau về cùng một lao động chung đồng nhất LĐTT.
+ LĐTT là một phạm trù lao động, nó gắn liền với
nền sản xuất hàng hoá.
Tóm lại, không phải lao động của của loài người nói
chung có tính chất 2 mặt, mà chỉ có lao động sản xuất
hàng hoá mới có tính chất hai mặt: LĐCT và LĐTT.
Giữa chúng có mối quan hệ với nhau, vậy chúng ta
chuyển sang nghiên cứu tiếp phần c.
c. Mối quan
hệ của hai mặt
này trong quá
trình sản xuất
hàng hoá
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao
động của người sản xuất hàng hoá.
+ Trong nền sản xuất hàng hoá: người sản xuất hàng
hoá là những người tự chủ độc lập, sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Là việc riêng của
họ. Vì vậy lao động đó mang tính chất tư nhân và
LĐCT của họ là biểu hiện của lao động tư nhân.

+ Mặt khác, lao động của người sản xuất hàng hoá là
LĐXH. Bởi vì nó là một bộ phận của LĐXH nằm
trong hệ thống PCLĐXH. Sự PCLĐXH tạo ra sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hoá cả

19


về sản xuất lẫn tiêu dùng. Họ làm việc cho nhau,
thông qua trao đổi hàng hoá. Việc trao đổi hàng hoá
không thể căn cứ vào LĐCT mà phải quy về LĐTT.
Do đó, LĐTT là biểu hiện của LĐXH.
- LĐCT và
LĐTT

vừa

thống

nhất,

vừa mâu thuẫn
với nhau.
+ Mặt thống
nhất biểu hiện
ở chỗ:
* Chúng là hai mặt của cùng một lao động sản xuất
hàng hoá (vừa là LĐCT vừa là là LĐTT).
* Lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự
thống nhất giữa hai mặt là tính chất xã hội và tính chất

tư nhân của lao động. Do vậy, LĐCT và LĐTT là hai
mặt thống nhất trong quá trình sản xuất hàng hoá, làm
tiền đề, điều kiện cho nhau. Vì bất cứ sự hao phí lao
động nào cũng nằm dưới hình thái cụ thể nhất định và
lao động trước hết phải có ích thì mới được thừa nhận
là có sự tiêu phí lao động.
Nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập, vì
vậy nó mâu thuẫn với nhau.
+ Mặt mâu
thuẫn thể hiện
ở chỗ:
* Với tư cách là LĐCT, lao động của người sản xuất
hàng hoá đã tạo ra giá trị sử dụng với số lượng và chất
lượng nhất định cho xã hội. Nhưng với tư cách là

20


LĐTT, sự hao phí sức lao động của người sản xuất
hàng hoá có thể không phù hợp (lớn hơn hoặc nhỏ
hơn) so với mức hao phí lao động của xã hội.
* Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và LĐXH còn được
thể hiện ở mâu thuẫn LĐCT và LĐTT, giữa GTSD và
giá trị của hàng hoá. Những mâu thuẫn đó thúc đẩy sản
xuất hàng hoá vừa vận động phát triển vừa tiềm ẩn khả
năng khủng hoảng kinh tế.
Lao động
xã hội

PCLĐXH

Sản xuất
hàng hoá
Sự tách
biệt về
kinh tế

Lao động
tư nhân

d. Ý nghĩa
của tính chất
hai mặt
- Một trong những nguyên nhân dẫn đến không
thành công trong việc phân tích CNTB của các thành
kinh tế trước Mác là họ không phát hiện ra tính chất
hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
- Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai
mặt này. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao
động sản xuất hàng hoá, Mác đã khắc phục được
những hạn chế về lý luận giá trị của các nhà kinh tế
trước Mác. Từ đó bổ sung, phát triển làm cho lý luận
giá trị trở thành một lý luận hoàn chỉnh và khoa học.
Dựa trên cơ sở lý luận giá trị, Mác đã thành công trong

21


việc phát hiện ra lý luận giá trị thặng dư - lý luận trung
tâm và là viên đá tảng trong học thuyết kinh tế của
Mác. Từ lý luận giá trị và giá trị thặng dư, Mác đã

khám phá ra lý luận tích luỹ, lý luận tuần hoàn và chu
chuyển của tư bản, lý luận tái sản xuất của tư bản xã
hội, lý luận lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất,
cách mạng nhất.
3.

Những

tưu thế của sản
xuất hàng hoá
So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá
- Thứ nhất:

có những ưu thế hơn hẳn. Đó là:
Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của PCLĐXH,
chuyên môn hoá sản xuất. Do đó, nó khai thác được
những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng
người, từng cơ sở cũng như của từng vùng, từng địa
phương. Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá mở rộng
giữa các quốc gia, nó còn khai thác được lợi thế của

- Thứ hai:

các quốc gia với nhau.
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất
không còn bị giới hạn mà được mở rộng, dựa trên cơ
sở nhu cầu và nguồn lực xã hội. Điều đó lại tạo điều
kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa
học - kỹ thuật vào sản xuất..., thúc đẩy sản xuất phát


- Thứ ba:

triển.
Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của những
quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hoá như
quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh..., buộc người
sản xuất phải luôn luôn năng động, nhạy bén, tín toán,
cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng

22


- Thứ tư:

suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Sản xuất hàng hoá phát triển làm cho đời sống vật
chất, văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn,
phong phú, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng
hoá cũng có những mặt trái như phân hoá giàu, nghèo,
tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi

II. HÀNG HOÁ:

trường sinh thái, xã hội...
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp
xúc với rất nhiều vật phẩm được gọi là hàng hoá. Có
thể khẳng định một điều rằng bất kỳ ai trong chúng ta
cũng đã từng ở vị trí là người mua hoặc là người bán
trên thị trường, chúng ta thường nói là đi mua hàng ở

chợ, ở siêu thị, ở cửa hàng v.v... Vậy hàng hoá là gì?
Để hiểu rõ và chính xác hơn về vấn đề này, chúng ta sẽ
đi vào từng nội dung cụ thể.

1. Khái niệm
hàng hoá
- Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nhằm thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi
mua bán
Từ khái niệm trên ta thấy rằng không phải bất kỳ
một sản phẩm nào cũng là hàng hoá. Để trở thành hàng
Thứ nhất:

hoá thì sản phẩm phải có đủ 3 nội dng sau:
Hàng hoá phải là sản phẩm của lao động
- Nếu như sản phẩm không phải do lao động tạo ra,
mặc dù nó rất cần thiết cho cuộc sống của con người

Ví dụ:

cũng không được coi là hàng hoá.
Nước tự nhiên; không khí; ánh sáng mặt trời... (Đây
là sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, không phải do lao
động tạo ra).

23


- Tuy nhiên, khi có lao động của con người, tác động
vào thì những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên cũng trở

Ví dụ:

thành hàng hoá.
Nước uống đóng chai đã qua xử lý như nước khoáng
thiên nhiên, nước tinh khiết...
Năng lượng mặt trời, (ở Pháp và Ấn Độ dùng để
luyện kim), sử dụng Pin mặt trời trong ngành công
nghiệp vũ trụ và giao thông vận tải... Ngoài ra, người
ta còn khai thác và sử dụng năng lượng gió và thủy

Như vậy:

triều - để phục vụ cho cuộc sống.
Khi có lao động của con người tác động vào thì
những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên như: ánh sáng,
nước, không khí, gió và thủy triều cũng trở thành hàng

Thứ hai:

hoá.
Hàng hoá phải thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người
- Hàng hoá phải là những sản phẩm có ích, đáp ứng
được nhu cầu của con người về vật chất (ăn, mặc, ở,
phương tiện, đi lại...) và nhu cầu về tinh thần (vui chơi,
giải trí, thẩm mỹ…).
- Một vật dù là sản phẩm của lao động nhưng nếu
không được đem tiêu dùng thì không phải là hàng hoá.
Đó là những sản phẩm sản xuất ra nhưng không đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng (tức là bị hư hỏng không

sử dụng được hoặc không được dùng vào việc gì thì
cũng trở thành vô ích và kết quả của nó không phải là
kết quả của lao động có mục đích. Tóm lại nếu nó
không thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thì sản

C.Mác:

phẩm đó không phải là hàng hoá.
“Nếu vật đó là vô dụng, thì lao động chứa đựng

24


trong vật đó cũng vô dụng”
(C.Mác - Tư bản - Q1, tr.85, Nxb Sự thật, Hà Nội,
2973).
Hàng hoá phải qua trao đổi - mua bán

Thứ ba:

- Nếu sản phẩm sản xuất ra để tự tiêu dùng như:
người nông dân sản xuất ra thóc gạo để cho bản thân
và gia đình ăn thì không được coi là hàng hoá, ngược
lại số thóc đó được đem bán thì nó là hàng hoá.
- Hoặc trong xã hội phong kiến, người nông dân sản
xuất ra thóc nhưng đem nộp tô cho địa chủ thì thóc đó
không phải là hàng hoá vì: quan hệ giữa người nông
dân và địa chủ không phải là quan hệ trao đổi.
Như


vậy,

Một sản phẩm
để trở thành
hàng hoá phải
có đủ 3 nội
dung trên.
Thay

đổi

không khí:
- Nêu câu hỏi:
- Hàng hoá gồm:?
Hàng hoá hữu hình, Hàng hoá vô hình
(Dvụ: đặc trưng của hàng hoá dịch vụ sản xuất gắn
liền với tiêu dùng, không cất trữ được...)
- Về “đất đai”
+ Quan niệm đất đai có phải hàng hoá?
+ Tại sao? nên gọi là gì?
+ Giải thích tại sao trao đổi được (trao đổi: giá trị sử
dụng của đất chứ không trao đổi giá trị)
25


×