Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

MAKETING TRONG GIÁO DỤC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (431.55 KB, 47 trang )

NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

1

Marketing Trong Gi¸o Dôc

TS. Phan V¨n Nh©n
PGS.TS.NguyÔn Léc

PHẦN I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Chúng ta đều biết rằng quan hệ giữa GD, ĐT và kinh tế là quan hệ biện
chứng, có tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Do đó, khi xem xét những vấn đề
của GD, ÐT không thể tách riêng GD, ÐT, càng không thể chỉ có GD, ÐT, mà
phải trên nhiều góc độ, trong sự tác động của các nhân tố, đặc biệt là kinh tế.
Hơn nữa, nghiên cứu marketing trong giáo dục trong điều kiện nền kinh tế nước
ta đang chuyển sang kinh tế thị trường, nên điều trước hết là phải hiểu thị trường
là gì?, cơ chế thị trường là gì?, cơ chế thị trường khác với cơ chế kế hoạch hoá
tập trung ra sao? v.v... Một số khái niệm và vấn đề kinh tế sau đây sẽ được xem
xét:
 Hàng hoá
 Thị trường
 Cơ chế thị trường
 Dịch vụ giáo dục
 ...
1.1. Hàng hóa.
Người ta đã định nghĩa “ Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn
nhu cầu nào đó của con người và dùng để trao đổi với nhau”1
Từ định nghĩa trên ta thấy, một sản phẩm, để trở thành hàng hoá cần có 2 điều
kiện:
a). Nó là sản phẩm lao động của con người, được làm ra nhằm thoả mãn


một nhu cầu nào đó
b). Nó được làm ra để trao đổi (để bán).
1

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –Lê Nin. NXB Chính trị Quốc gia. HN, 2005. Tr 59.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

2

Để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống, con người cần phải sản xuất ra
những loại vật phẩm khác nhau để tự tiêu dùng và để trao đổi
Như vậy, sản xuất hàng hóa - Sản xuất để trao đổi hoặc nói một cách chính xác,
sản xuất hàng hóa nhằm mục đích trao đổi hàng hóa. Trao đổi hàng hóa từng
bước ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của sức sản xuất. Nền kinh tế
hàng hoá đã có một lịch sử lâu đời, ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ, mặc dù thời kỳ
đó chỉ là sơ khai. Giữa các cộng đồng nguyên thủy trao đổi với nhau những vật
phẩm dư thừa. Tỷ lệ trao đổi lúc đầu được xác định một cách ngẫu nhiên, dần
dần tỷ lệ trao đổi hàng hóa được quyết định bởí sức lao động bỏ ra nhiều hay ít
để có được sản phẩm trao đổi. Quy mô sản xuất hàng hóa phát triển cùng với
quy mô trao đổi hàng hóa. Trong xã hội nô lệ, phong kiến, sản xuất hàng hóa
phát triển một cách chậm chạp. Đến xã hội tư bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hoá
mới trở thành hình thức sản xuất chiếm địa vị thống trị. Trong giai đoạn đầu của
chủ nghĩa xã hội, sản xuất hàng hóa không những tồn tại, mà còn cần phát triển
mạnh mẽ.
Về hình thức trao đổi, thời kỳ đầu, sự trao đổi được thực hiện bằng hiện vật.
Người ta mang sản phẩm dư thừa đổi lấy các vật phẩm khác mà mình không có.
Đến khi tiền trở thành vật ngang giá, tiền là vật trung gian của quá trình trao đổi
giữa người mua và người bán.

Kinh tế hàng hoá phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động xã
hội. Trong xã hội hiện đại, người ta chia thành 3 nhóm ngành hoạt động kinh tế
như sau:
(1). Nhóm ngành sản xuất vật chất
(2). Nhóm ngành sản xuất ra sản phẩm tinh thần
(3). Nhóm ngành dịch vụ (dịch vụ lao động).
1.2. Thị trường và cơ chế thị trường
1.2.1. Thị trường
“Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa được sản xuất ra và hình thành trong qúa
trình sản xuất và trao đổi hàng hóa cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người và
người liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá. Vì vậy, thị trường theo
nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và
lưu thông hàng hoá, cùng quan hệ kinh tế và mối liên hệ kinh tế giữa người với
người, do đó mà liên kết lại. Nghĩa hẹp của thị trường là chỉ khu vực và không
gian trao đổi hàng hóa”2.
2

Đại từ điển kinh tế thị trường. Viện NC và Phổ biến tri thức bách khoa. Hà Nội, 1998. Tr
114. Sách dịch cña Trung Quốc.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

3

Thị trường phát triển cùng với sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá. Sản xuất
hàng hoá và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào thì thị trường cũng
phát triển đến trình độ đó.
Thị trường bao gồm 3 yếu tố sau đây:
(1). Chủ thể thị trường: Là chủ thể pháp nhân kinh tế có lợi ích kinh tế

độc lập và có quyền tự chủ quyết định các hoạt động kinh tế của mình
hoặc cơ sở kinh tế của mình. Các chủ thể thị trường bao gồm các doanh
nghiệp, cá nhân và các tổ chức xã hội khác.
(2). Khách thể thị trường là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được trao
đổi trên thị trường, sản phẩm đã có trên thực tế hoặc sản phẩm sẽ có
trong tương lai.
(3). Giới trung gian thị trường, là cầu nối hữu hình hoặc vô hình liên kết
giữa các chủ thể thị trường. Giới trung gian thị trường bao gồm hệ thống
môi giới liên hệ giữa những người sản xuất, giữa những người tiêu dùng,
giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa người sản xuất cùng loại và
người sản xuất khác loại, giữa người tiêu dùng cùng loại và người tiêu
dùng khác loại. Trong kinh tế thị trường, giá cả, cạnh tranh, thông tin,
thông tin thị trường, người trung gian giao dịch, trọng tài giao dịch và cơ
quan trọng tài,...đều là giới trung gian thị trường.
1.2.2. Cơ chế thị trường.
“ Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, điều tiết lẫn
nhau, tự điều hoà, tự tổ chức của các yếu tố như giá cả, cạnh tranh, cung cầu,
v..v..., trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường, của nền kinh tế thị trường”3
Cơ chế thị trường là cơ chế bên trong của hệ thống kinh tế thị trường, là tất yếu
khách quan của sự liên hệ hữu cơ giữa các chủ thể thị trường và các yếu tố thị
trường trong nền kinh tế thị trường. Sự liên hệ lẫn nhau bên trong của các chủ
thể thị trường và các yếu tố thị trường, về mặt khách quan đã hình thành cơ chế
điều tiết của thị trường đối với hoạt động kinh tế. Vì vậy, cơ chế thị trường còn
được gọi là cơ chế điều tiết của thị trường. Hoạt động mà thị trường phát huy tác
dụng điều tiết diễn ra như sau: Các chủ thể kinh tế tham gia thị trường hình
thành hai bên cung và cầu, các hành vi kinh tế cùng với giá cả hình thành quan
hệ hai bên giữa cung và cầu trên thị trường. Tình hình tổng cung và tình hình
tổng cầu trên thị trường tạo nên sự cạnh tranh trong nội bộ từng bên các chủ thể
cung và các chủ thể cầu trên thị trường. Cùng với giá cả, các hành vi kinh tế
hình thành sự thống nhất tren thị trường. Do khác biệt về lợi ích của các chủ thể

kinh tế khiến họ lại căn cứ vào tình hình cụ thể trên thị trường để điều tiết hoạt
3

Đại từ điển kinh tế thị trường. Viện NC và Phổ biến tri thức bách khoa. Hà Nội, 1998. Tr
118. Sách dịch cña Trung Quốc.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

4

động kinh tế của bản thân, rồi trở lại đi vào thị trường. Chu trình tuần hoàn như
vậy sẽ hình thành chủ thể thị trường, hình thành tình hình thị trường. Ngược lại,
tình hình thị trường lại ảnh hưởng đến hành vi của chủ thể thị trường, rồi lại
hình thành tình hình thị trường mới. Chu trình trên hoạt động là phương thức tác
đông của cơ chế thị trường.
Cơ chế thị trường tập trung thể hiện ở hai yếu tố cạnh tranh và cơ chế giá cả trên
thị trường để thực hiện chức năng phân phối.
1. 2.3. Các loại thị trường
Trong lịch sử phát triển đã có 3 cấp độ phát triển của thị trường: Thị trường sơ
khai/cổ điển; thị trường tự do/phát triển; thị trường hiện đại.
Nếu gắn với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá, ta có kinh tế thị
trường của xã hội phong kiến, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, ở đây cần lưu ý rằng, khi nói đến thị trường hay kinh tế thị trường, thì
điều đó không chỉ là thị trường của xã hội tư bản. Nói cách khác, lý luận về thị
trường là sản phẩm chung của nhân loại.
1.2.4. Vai trò của nhà nước.
Với cơ chế hoạt động trên, tình hình cung cầu, giá cả, ... do thị trường tự điều
tiết. Tuy nhiên, vai trò của nhà nước là rất quan trọng trong việc định hướng,

điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô và đặc biệt là đối với những lĩnh vực mà “thị
trường thất bại”.
1.3. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
1.3.1. Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Như đã biết, sự ra đời và tồn tại kinh tế hàng hoá gắn liền với 2 điều kiện: i)
Phân công lao động xã hội - cơ sở của trao đổi; ii) Tính độc lập tương đối về
mặt kinh tế giữa các chủ thể dựa trên sự xuất hiện trong lịch sử chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, để lý giải sự tồn tại tính độc lập tương đối về kinh tế
không chỉ dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, mà còn lý giải bởi sự
tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Và ngay trong cùng
một hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, giữa các doanh nghiệp vẫn còn có sự
khác nhau về lợi ích kinh tế, về trình độ phát triển lực lượng sản xuất, về quy mô
các nguồn lực, về trình độ quản lý và theo đó là sự khác nhau về hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
Từ những khái niệm về thị trường và các loại thị trường đã nêu trên, ta thấy:
Kinh tế thị trường tồn tại ở nước ta vì nó không phải là cái riêng có của chủ
nghĩa tư bản, mà là thành quả chung của văn minh nhân loại tồn tại qua nhiều
phương thức sản xuất xã hội khác nhau. Điều đó, đúng như Đảng ta đã nhận
định: "Sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

5

phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng"4.
Cần nhẫn mạnh rằng bên cạnh những phạm trù kinh tế và quy luật kinh tế chung,
kinh tế thị trường còn chịu sự chi phối của tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất; sự chi phối bởi bản chất chế độ xã hội trong đó nó tồn tại

qua mỗi giai đoạn lịch sử, nên nó có những tính chất và đặc trưng riêng. Đúng
là kinh tế thị trường đã đạt tới đỉnh cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng không vì
thế mà đồng nhất kinh tế thị trường là kinh tế tư bản chủ nghĩa hay kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa.
Hơn nữa, kinh tế thị trường không phải hoàn toàn là tiêu cực,"xấu xa" như đã
lầm tưởng trước đây, mà nó có những yếu tố tiến bộ và tích cực không thể phủ
nhận. Kinh tế thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, đẩy
nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất, làm thay đổi cung cầu theo hướng có lợi
cho sản xuất và cải thiện đời sống. Cần nhấn mạnh rằng chỉ có kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng XHCN mới có sự khác nhau
về mục đích, tính chất phân phối và vai trò của Nhà nước trong vận hành nền
kinh tế thị trường.
Những kiến giải nói trên cho thấy kết luận sau đây là điều có thể hiểu được:
Nếu trong xã hội tư bản giai cấp tư sản có thể lợi dụng kinh tế thị trường để
phát triển chủ nghĩa tư bản, thì không có lý do gì dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp
công nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng cộng sản không thể vận dụng kinh
tế thị trường để thực hiện định hướng XHCN đã chọn. Hơn nữa, quá trình phát
triển kinh tế thị trường dù dưới chủ nghĩa tư bản hay dưới chủ nghĩa xã hội đều
lấy trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất làm trục để xây dựng
kinh tế thị trường. Vì vậy, ý kiến coi kinh tế thị trường với định hướng XHCN
như "nước với lửa", không thể kết hợp với nhau được, theo chúng tôi chỉ có giá
trị như lời nhắc nhở, phải quan tâm giữ vững định hướng XHCN khi xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường ở nước ta; và càng không thể coi chúng là những
mặt hoàn toàn "đối lập".
Tổng kết việc thực hiện công cuộc đổi mới mô hình kinh tế, trong đó có tổng kết
tư duy lý luận về kinh tế hàng hoá từ đại hội lần thứ VI, VII và VIII, Đại hội
Đảng lần thứ IX đã chính thức sử dụng thuật ngữ kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN, xét về nội hàm là "Nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của


4

Văn kiện đại hội VIII-NXB Chính trị Quốc gia. HN, 1998, trang 97.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

6

Nhà nước theo định hướng XHCN", nhưng được diễn đạt gọn hơn, nói rõ được
mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Nếu tiếp cận mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN như một thể chế
được kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù, trong đó lấy cái đặc thù làm chủ
đạo, theo chúng tôi có thể hiểu kinh tế thị trường định hướng XHCN là: Kiểu tổ
chức kinh tế phản ảnh sự kết hợp giữa cái chung là kinh tế thị trường với cái
đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy trình độ xã hội hoá lực lượng sản
xuất làm trục và dựa trên nguyên tắc lấy cái đặc thù - định hướng XHCN, làm
chủ đạo.
Từ khái niệm trên có thể thấy:
Kinh tế thị trường định hướng XHCN, với tính cách là cái chung - kinh tế thị
trường, tất yếu phải tuân theo: i) Các phạm trù kinh tế như hàng hóa, tiền tệ,
canh tranh, cung cầu, thị trường, giá cả thị trường và lợi nhuận; ii) Các quy luật
kinh tế như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh và quy
luật cung-cầu; iii) Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN, với tính cách là cái đặc thù- định hướng
XHCN, nó phải chịu sự chi phối của: i) Mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ. văn minh; ii) Những nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội;
iii) Dưới sự chủ đạo của sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu và kinh
tế nhà nước; iiii) Tính chất của Nhà nước XHCN - Nhà nước của dân, do dân và

vì dân.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều đặc trưng, song dưới góc độ nhờ
đó phân biệt được kinh tế thị trường định hướng XHCN với các mô hình kinh tế
thị trường khác, nhất là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa bao gồm các đặc
trưng sau đây:
Đặc trưng về mục đích: Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động xã hội, phát trỉển kinh tế, thực hiện dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đặc trưng về cơ sở kinh tế : Lấy chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất
chủ yếu làm nền tảng kinh tế, dựa trên cơ sở tồn tại nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế nhà nước làm chủ đạo.
Đặc trưng về phân phối: Dựa trên chế độ phân phối đa dạng vừa có nguyên tắc
phân phối theo kiểu kinh tế thị trường- phân phối theo vốn, theo giá trị sức lao
động có tính đến cung cầu sức lao động, vừa có nguyên tắc phân phối theo kiểu
chủ nghĩa xã hội - phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối thông
qua phúc lợi xã hội, trong đó lâý phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội làm
chủ đạo.
Đặc trưng về cơ chế vận hành, đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước XHCN.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

7

1.3.2. Quan niệm về cơ chế vận hành trong kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta.
Trong lịch sử, kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển từ thấp đến cao trải qua
3 nấc thang gắn với 3 mô hình kinh tế, và theo đó có các cơ chế vận hành tương
ứng. Từ kinh tế tự nhiên, nhân loại đã bước lên nền văn minh mới- văn minh
kinh tế hàng hóa. Sự xuất hiện nền văn minh này mà nấc thang đầu tiên của nó

gắn với mô hình kinh tế hàng hóa giản đơn và cơ chế vận hành tương ứng với
mô hình này là cơ chế thị trường ở trình độ sơ khai. Nấc thang thứ hai gắn với
mô hình kinh tế thị trường tự do, một mô hình mà ở đó hàng hóa mang tính phổ
biến, và cơ chế thị trường lúc này đã đạt trình độ cao, tự nó điều chỉnh lấy nó mà
không cần có sự quản lý của nhà nước. Và nấc thang thứ ba gắn với mô hình
kinh tế thị truờng hiện đại, hay nền kinh tế thị trường hỗn hợp, một mô hình
kinh tế mà ở đó cơ chế vận hành không chỉ dựa vào cơ chế thị trường tự điều
chỉnh, mà đã có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Nói cách khác, cơ chế vận hành
của nền kinh tế thị trường hiện đại là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.
Ở nước ta, cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhưng nhà nước ở đây là nhà nước
XHCN, một nhà nước mà tính chất của nó là nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Có thể hiểu nội dung cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN như sau:
- Trước hết, đó là cơ chế thị trường, là tổng thể các yếu tố tác
ðộng vào thị trường, chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế vốn có của
kinh tế thị trường, ðảm bảo cho nền kinh tế thị trường có thể vận ðộng và
tái vận ðộng ðược.
Trong quá trình vận động, cơ chế thị trường có vai trò kích thích khoa học kỹ
thuật và công nghệ, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, năng suất và hiệu quả
tăng lên, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế và góp phần làm thoả mãn nhu
cầu của người tiêu dùng.
Tuy vậy, bên cạnh vai trò tích cực, cơ chế thị trường vẫn có những tiêu cục nhất
định như do chạy theo lợi nhuận một cách tự phát, mù quáng đã làm cho môi
trường sinh thái mất cân bằng, phân hóa giàu nghèo cùng các tiêu cực xã hội
khác nảy sinh cần được tính đến khi vận dụng.
- Có vai trò quản lý của nhà nước XHCN
Để phát huy vai trò tích cực và giảm thiểu những tiêu cực của cơ chế thị trường,
đòi hỏi Nhà nước phải thực thi vai trò quản lý kinh tế của mình thông qua việc

thực hiện các chức năng như :


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

8

(1) Định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có định hướng phát triển
GD, ÐT bằng hệ thống chỉ tiêu vĩ mô gắn với công cụ kế hoạch hoá
(2) Vạch hành lang pháp lý - "sân chơi” bình đẳng để các chủ thể dựa vào đó
hoạt động và quản lý vĩ mô các hoạt động của các ngành trong nền kinh tế quốc
dân. Chức năng này thực hiện thông qua công cụ luật pháp và các cơ quan thanh
tra và xử lý việc thực thi pháp luật;
(3) Tạo môi trường kinh tế, chính trị và xã hội thuận lợi. Chức năng này gắn
liền với việc ban hành các chủ trương, cơ chế và chính sách kinh tế, khoa học và
công nghệ, GD, ÐT và các chính sách xã hội khác;
(4) Đảm bảo công bằng xã hội. Đây là một chức năng quan trọng của nhà nước
dùng để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường và giữ vững định hướng
XHCN.
Như vậy, ở nước ta hiện nay, nói vận dụng kinh tế thị trường hay vận dụng cơ
chế thị truờng trong điều kiện hiện đại, là nói vận dụng cơ chế vận hành hỗn
hợp - cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN.
1.4. Dịch vụ GD,ĐT là hàng hoá.
Hiện nay ở nước ta, việc coi GD, ÐT có phải là hàng hoá hay không, và do đó
nó có thể được “thương mại hoá” như mọi thứ hàng hoá khác hay không, là vấn
đề đang được tranh cãi sôi nổi.
Có thể chia ra thành 3 loại quan điểm:
Loại ý kiến thứ nhất: Cho rằng Giáo dục không thể là hàng hoá và không thể có
thị trường trong GD ĐT. Ví dụ: Trong một bài trả lời phỏng vấn, GS. Viện sỹ
Phạm Minh Hạc cho rằng “ Ở nước ta..., làm kinh tế thị trường nhưng không thể

biến nhà trường thành thị trường được. Trường là trường chứ không thể là chợ”;
Khi trả lời câu hỏi của phóng viên “ Nếu nhà trường không thể là thị trường thì
GD cũng không thể là hàng hoá. Trong khi đó, nhiều ý kiến phát biểu trên các
phương tiện thông tin lại cho rằng nên coi GD là hàng hoá?”, Ông khẳng định: “
Khoa học, công nghệ có thể là hàng hoá, nhưng GD thì không bao giờ có thể là
hàng hoá”. Ngay cả với thuật ngữ “Dịch vụ công”, theo Ông “Dịch vụ công là
một khái niệm phức tạp ta không nên dùng máy móc vào GD”5.
Loại ý kiến thứ hai: Theo GS. Hoàng Xuân Sính, “GD phải là một phúc lợi xã
hội....”, và “ Đã là phúc lợi xã hội thì không thể coi đó là thương mại hay
không thương mại được” 6.
Những ý kiến nêu ra trên đây đều có mặt đúng, nếu chỉ đứng trên góc độ giáo
dục. Tuy nhiên, để có thể nghiên cứu vận dụng cơ chế thị trường vào GD, ĐT,
cùng với cách xem xét dưới góc độ giáo dục, cần phải xem xét vấn đề cả ở dưới
5
6

Xem Tài liệu số 21- TLTK.
Xem Tài liệu số 5- TLTK.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

9

góc độ kinh tế. Đây cũng là cách làm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và
quốc tế.
1.4.1. Dưới góc độ kinh tế: Sản phẩm GD là hàng hoá.
Như đã biết, giáo dục, với nghĩa rộng đó là “Những hoạt động nhằm thực hiện
chương trình kế thừa xã hội, do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kiến
thức, kinh nghiệm lao động và những thái độ ứng xử trong cuộc sống của từng

thành viên cũng như của cả cộng đồng”. Theo nghĩa hẹp, “Giáo dục là một quá
trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có
kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người
được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của
loài người”7.
Như vậy, giáo dục nhằm phát triển con người, hoàn thiện nhân cách của các cá
nhân tiếp nhận giáo dục, đáp ứng những nhu cầu phát triển của bản thân, giúp
cho con người có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội bằng năng
lực lao động được đào tạo, thông qua hoạt động lao động của mình trong xã hội.
Từ định nghĩa của giáo dục, ta thấy: Việc xác định tính chất hàng hóa của họat
động GD, ÐT là một việc rất khó khăn. Bởi: Là một dạng của hoạt động xã hội,
các hoạt động GD vừa mang tinh “tự nhiên”, vừa mang tính kinh tế; nó diễn ra ở
khắp mọi nơi (gia đình, nhà trường, xã hội); nó có thể được nhận biết rõ ràng ở
các trường/ lớp học, nhưng đồng thời nó ẩn chứa ở tất cả các hoạt động khác của
con người.
Vì việc nhận diện một loại hoạt động GD, ÐT nào đó có là hàng hoá hay không
là rất quan trọng, bởi lẽ, nếu là hàng hoá thì thị trường/cơ chế thị trường mới
hoạt động, nên ở đây, xin nêu ra một cách nhận diện GD, ÐT dưới góc độ kinh
tế, thông qua định nghĩa hàng hoá.
Trước hết, chúng ta nhớ lại định nghĩa hàng hoá.
Như đã nêu định nghĩa hàng hoá ở mục 1.1, một sản phẩm chỉ trở thành hàng
hoá khi có đủ 2 điều kiện: a). Nó là sản phẩm của lao động; và b). Nó được làm
ra để trao đổi (để bán).
Với hoạt động GD, ĐT (theo nghĩa hẹp), sản phẩm của nó là sản phẩm của lao
động sư pham. Điều này là rõ ràng. Nhưng còn việc nó được làm ra có để trao
đổi hay không thì còn tuỳ từng trường hợp.
GD, ÐT đã có một lịch sử hình thành từ khi có xã hội loài người, nhưng chỉ khi
có sự phân công lao động với sự chuyên môn hoá đối với nghề dạy học, và sau
đó nhà trường tổ chức dạy cho học trò, cho người học, và khi việc tiến hành GD,
ÐT là nhằm mục đích trao đổi (có thu tiền), thì sản phẩm GD, ĐT mới trở thành

hàng hoá. Ví dụ: Thời xưa, các thầy đồ trong làng dạy chữ cho trẻ, nếu thầy chỉ
7

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: Giáo dục học; Nhà xuất bản giáo dục; 1987.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

10

dạy từ thiện, không lấy công, thì hoạt động GD, ÐT không là hàng hoá; Ngược
lại, người học phải đóng học phí (khoản tiền/hiện vật mà người học phải đóng
mới được phép học tập), lúc đó, GD, ÐT là hàng hoá. Ngày nay, ở các cơ sở
GD, ÐT được tổ chức chỉ vì mục đích nhân đạo, từ thiện, người học không phải
đóng học phí, khi đó GD, ÐT không phải là hàng hoá. Ngược lại, ở các cơ sở
GD, ÐT có thu học phí của người học, dù mức phí là rất thấp so với chi phí cho
việc giáo dục, nhưng đó là khoản người học bắt buộc phải trả, thì về nguyên tắc,
hoạt động GD, ÐT đó là hàng hoá.
Cần lưu ý rằng, cùng với GD, ÐT ở nhà trường, các hoạt động GD, ÐT thường
xuyên diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, ở trong gia đình, ở ngoài xã hội (cha dạy con,
một người trao đổi với bạn mình về một kinh nghiêm nào đó,...), không phải là
hàng hoá, vì nó không nhằm mục đích trao đổi. Vì vậy, dưới góc độ kinh tế,
khi nói hàng hoá GD, ÐT là nói đến các hoạt động GD, ÐT được tiến hành
tại những cơ sở GD, ÐT nhằm mục đích trao đổi. Trong lý thuyết kinh tế, các
hoạt động GD, ĐT do các cơ sở thực hiện với mục đích trao đổi trên được biểu
đạt bởi thuật ngữ dịch vụ GD,ĐT .Khái niệm này sẽ được nói rõ hơn ở mục sau.
(Trong bài “Luận về hàng hoá giáo dục, GS. Phạm Phụ có nhấn mạnh rằng Dịch
vụ giáo dục mới là hàng hoá, còn bản thân giáo dục không phải là hàng hoá.
Theo chúng tôi, Tác giả cũng muốn nhấn mạnh là phải xem mục đích của hoạt
động giáo dục là để trao đổi hay không.)8.

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng, GD, ÐT có 2 thuộc tính: Thuộc tính ý thức
xã hội và thuộc tính hàng hoá. “Thuộc tính hình thái ý thức xã hội thể hiện khi
coi GD, ÐT như là một mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,
nó mang tính nhân văn mà xã hội nào cũng muốn vươn tới. Với thuộc tính này,
GD, ÐT không coi là hàng hoá, và vì thế quan hệ thị trường trong trường hợp
này cũng không tồn tại,.... Thuộc tính thứ hai thể hiện khi coi GD, ÐT như là
một phương tiện để có kiến thức và kỹ năng, mà những kiến thức và kỹ năng
này là một thứ tư bản đem lại cho con người vị trí cao hơn và thu nhập nhiều
hơn. Nói cách khác, sản phẩm GD, ÐT là hàng hoá khi và chỉ khi mục đích tìm
kiếm sản phẩm đó là để sử dụng vào thị trường lao động một cách trực tiếp hay
gián tiếp”9. Cách quan niệm dịch vụ GD, ÐT vừa nêu trên là đúng, nhưng chưa
đủ. Bởi nếu chỉ trong trường hợp “ Sản phẩm GD&ÐT là hàng hoá khi và chỉ
khi mục đích tìm kiếm sản phẩm đó là để sử dụng vào thị trường lao động một
cách trực tiếp hay gián tiếp”, thì một số trường hợp, với quan niệm này, không
giải thích được sản phẩm đó có là dịch vụ (hàng hoá) GD, ÐT hay không. Ví dụ:
Với các lớp mẫu giáo tư nhân, hoặc tiểu học nội trú có thu tiền ở một số hoạt
8
9

Xem tài liệu số 19- TLTK

Nguyễn Công Giáp. Kỷ yếu Hội thảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về GD&ÐT trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Ngày 25/11/2004. Tr 22


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

11

động dạy ngoại ngữ, tin học, ở đây khó có thể nói rằng việc học của các trẻ em

này (học nói, học tập viết/ học ngoại ngữ, tin học...) là gắn với mục đích “ Để sử
dụng vào thị trường lao động một cách trực tiếp hay gián tiếp”. Và do đó, các
hoạt động GD này có thể không là hàng hoá (dịch vụ). Tuy nhiên, trong thực tế,
các hoạt động này là dịch vụ. Bởi vì chúng được “ sản xuất “ ra để trao đổi;
Người tiêu dùng phải trả tiền. Và hiện ở một số nơi, nhất là ở các đô thị lớn của
nước ta, thị trường này hoạt động khá sôi động.
Từ sư phân tích trên có thể thấy (cũng như các hàng hoá vật chất khác), sản
phẩm GD, ÐT có là hàng hoá hay không là tuỳ ở mục đích người sản xuất - cơ
sở GD, ÐT, là sản xuất ra để bán/trao đổi hay để tự tiêu dùng/cho không. Dĩ
nhiên, xin nhắc lại rằng, chúng ta đang xem xét sản phẩm GD, ÐT dưới góc độ
kinh tế.
1.4.2. Dịch vụ GD, ĐT
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu về giáo dục của xã hội ngày càng
nâng cao không ngừng. Xã hội càng phát triển thì GD, ÐT cũng được phát triển
theo. Và ngày nay, GD, ÐT đã được chuyên môn hoá cao, dần dần được hiện đại
hoá và đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng- một ngành nằm trong nhóm
ngành dịch vụ.
Từ những phân tích trên ta có thể đưa định nghĩa về dịch vụ GD, ÐT như sau:
Dịch vụ GD, ÐT là các hoạt động GD, ÐT do một cơ sở/ một cá nhân thực
hiện đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người với mục tiêu trao đổi.
Để rõ hơn khái niệm dịch vụ, xin dẫn ra định nghĩa của T.P. Hill (1977) như
sau: "dịch vụ là sự tác động của một chủ thể (A) tới một chủ thể (B) hoặc đồ vật
của một chủ thể (B), với sự chấp thuận của chủ thể đó, tạo nên sự thay đổi về
điều kiện hay trạng thái của chủ thể (B) hay đồ vật thuộc sở hữu của chủ thể
(B)".
Với cách hiểu này, hoạt động giáo dục là một hoạt động mang tính dịch vụ. Và
trên thực tế, trong bảng phân loại hoạt động kinh tế-xã hội của nước ta, GD, ÐT
cũng được xếp vào khối các ngành dịch vụ.
Trong danh mục 12 loại dịch vụ của GATS (General Agreement on Trade in
Service)- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, một tổ chức của WTO, cũng

bao gồm cả dịch vụ GD, ÐT10. Trong Hiệp định này, dịch vụ GD, ÐT bao gồm:
10

Danh mục 12 ngành dịch vụ trong GATS: Dịch vụ kinh doanh, bao gồm dịch vụ nghề
nghiệp, dịch vụ máy tính và các lĩnh vực liên quan, dịch vụ nghiên cứu và triển khai, dịch vụ
cho thuê bất đọng sản, dịch vụ kinh doanh khác. Dịch vụ thông tin, bao gồm: dịch vụ bưu
điện, dịch vụ chuển phát nhanh, dịch vụ viễn thông, dịch vụ nghe nhìn, dịch vụ khác. dịch vụ
xây dựng và kỹ thuật, bao gồm: dịch vụ xây dựng nhà cửa, dịch vụ xây dựng dân dụng, dịch
vụ lắp đặt máy móc, dịch vụ hoàn thiẹn các cong trình, dịch vụ khác. dịch vụ kinh tiêu, bao
gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ đại lý độc quyền,
dịch vụ khác. dịch vụ GD&ÐT, bao gồm: dịch vụ đào tạo tiểu học, dịch vụ đào tạo trung
học, dịch vụ đào tạo đại học dịch vụ đào tạo trung học cho người lớn, dịch vụ đào tạo


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

12

dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ GD, ĐT trung học, dịch vụ đào tạo ĐH, dịch
vụ đào tạo trung học cho người lớn, dịch vụ đào tạo các loại trung học khác.
Cũng như các loại dịch vụ khác (như hớt tóc, vận tải, ngân hàng,...), dịch vụ GD,
ĐT cũng là hoạt động phục vụ không phải bằng hình thức hiện vật mà bằng
hình thức lao động sống để thỏa mãn yêu cầu nào đó của người khác. Dịch vụ
GD, ĐT là kết quả lao động xã hội đã được phân công. Nó cũng sáng tạo ra giá
trị và giá trị sử dụng, nhưng không sáng tạo được sản phẩm vật chất mà thông
qua lao động sư phạm để phục vụ mọi người có nhu cầu.
Ở đây, “sản xuất” và “tiêu dùng” đồng thời tiến hành11.
Giá trị của dịch vụ GD, ĐT là sự tiêu hao lao động của người dạy trong quá
trình giảng dạy. Giá trị của dịch vụ GD, ĐT cũng chỉ được thực hiện thông qua
trao đổi và được biểu hiện bởi giá cả (tiền công). Sản phẩm của GD, ĐT là

những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học lĩnh hội được sau một quá trình
học tập.
1.4.3. Cơ cấu khách hàng của dịch vụ GD ĐT.
Là một loại dịch vụ xã hội, dịch vụ GD, ĐT có khách hàng trực tiếp là người
học. Tuy nhiên, dưới góc độ thị trường, trong nhiều trường hợp, người đặt ra yêu
cầu học cái gì và học thể nào, từ đó quyết định việc thanh toán chi phí lại là
những người khác. Ví dụ: Với học sinh nhỏ tuổi, việc đi học của các em là do
các bậc phụ huynh quyết định và chi trả; Một lớp đào tạo nghề do một doanh
nghiệp tổ chức và chi trả, người học không phải trả tiền,...
Có thể mô tả cơ cấu khách hàng của GD, ĐT băng bảng sau
Bảng 1 : Cơ cấu khách hàng của GD, ĐT
Bên cầu – Khách hàng
Bên cung - cơ sở GD, ĐT

Người học- Khách hàng tầng thứ
nhất
Cha mẹ HS, người sử dụng lao
động- Khách hàng tầng thứ 2

trung học khác. dịch vụ môi trường, bao gồm: dịch vụ thoát nước, dịch vụ xử lý chất thải,
dịch vụ vệ sinh và các hoạt động tương tự, dịch vụ khác. dịch vụ tài chính, bao gồm: dịch vụ
bảo hiểm và các lĩnh vực liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính
khác (trừ bải hiểm), dịch vụ khác. dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội, bao gồm: dịch
vụ chữa bệnh, dịch vụ bệnh viện, dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khỏe và xã hội khác. dịch vụ
du lịch và liên quan bao gồm: dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý và điều hành du
lịch, dịch vụ hướng dẫn du lịch, dịch vụ khác. dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao, bao gồm
dịch vụ giải trí (nhà hát, ca nhạc, xiếc, ...), báo chí, tin tức, thư viện, kiến trúc, bảo tàng, thể
thao và các dịch vụ khác. dịch vụ vận tải, bao gồm: vận tải biển, vận tải hàng không, vận tải
đường sắt, vận tải đường ống, ... các dịch vụ khác
11 Xem thêm Đại từ điển Kinh tế thị trường. SĐD. Trang 1015.



NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

13

Chính quyền/ tổ chức XH- Khách
hàng tầng thứ 3
Bảng trên cho thấy khách hàng của GD, ĐT là rất đa dạng và có nhiều cấp độ
khác nhau. Chính quyền (Nhà nước) hay một tổ chức xã hội nào đó cũng có thể
là khách hàng của GD, ĐT khi có yêu cầu và chi trả cho các cơ sở GD, ĐT
thông qua một “hợp đồng”.
Thông thường, các loại “khách hàng” khác nhau có những mối quan tâm và yêu
cầu khác nhau.
Ví dụ:
• Vói người học, mối quan tâm và cũng là yêu cầu của họ là khả năng tìm
kiếm việc làm và vị thế xã hội tương lai của họ.v.v...
• Với cha mẹ học sinh, môi quan tâm của họ cũng là khả năng tìm kiếm
việc làm, vị thế xã hội tương lai của con em minh, yêu cầu về tài chính họ
phải đóng góp cho con em mình trong quá trình theo học.v.v...
• Người sử dụng lao động lại có những yêu cầu về kỹ năng, kiến thức, đạo
đức,... của những người mà họ sẽ tuyển dụng trong tương lai.v.v...
• Với tư cách là là đại diện cho xã hội, chính quyền/ các tổ chức xã hội có
những yêu cầu về phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị và pháp luật của
người học, những công dân tương lai của xã hội, những đóng góp của họ
cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi họ tốt nghiệp v.v...
Các cơ sở GD, ÐT dù hoạt động với mục tiêu nào thì cũng luôn phải đảm bảo
chất lượng cho "sản phẩm" của mình, nghĩa là phải cố găng để có thể thỏa mãn
tối đa các yêu cầu của 'khách hàng'. Điều này là cần thiết để duy trì và phát triển
"thị phần" của cơ sở mình.

1.5. Dịch vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý
Như trên đã thấy, GD, ÐT là một hoạt động mang tính dịch vụ và hơn nữa, dịch
vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý.
Trước hết chúng ta làm quen với các khái niệm “ Hàng hoá công cộng thuần
tuý” và “Hàng hoá cá nhân thuần tuý”.
Cùng với khái niệm “Hàng hoá” đã trình bày, trong lý thuyết môn “Kinh tế học
công cộng”12, đã đưa ra những định nghĩa về hàng hoá công cộng (HHCC) thuần
tuý, và hàng hoá cá nhân (HHCN) thuần tuý. Tuy nhiên, để tránh những phức

12

Xem Kinh tế học công cộng của Joseph E. Stiglitz. NXB Khoa học kỹ thuật, Trường ĐH
Kinh tế Quốc dân. Hà Nội, 1995- Sách dịch. Tr 166-180


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

14

tạp không cần thiết, ở đây chúng tôi xin được trình bầy theo cách trình bày của
GS Phạm Phụ, mà với cách trình bày này, có lẽ là dễ hiểu hơn.
+ Hàng hoá cá nhân (HHCN) thuần túy là loại hàng hoá khi sự tiêu dùng của
người này sẽ loại trừ sự tiêu dùng của những người khác. Ví dụ: như chiếc áo sơ
mi, ổ bánh mì,..., nếu tôi đã tiêu dùng sẽ loại trừ sự tiêu dùng của bạn.
+Hàng hoá công cộng (HHCC) thuần tuý là loại hàng hoá khi có sự tiêu dùng
của người này không loại trừ sự tiêu dùng của những người khác. Ví dụ như:
Cây đèn biển, tên lửa bảo vệ an ninh tổ quốc, ....là loại hàng hoá mà ánh sáng
của cây đèn hoặc sự bình yên không loại trừ sự hưởng thụ của một ai.
+ HHCN và HHCC gắn liền với 2 đặc trưng: Đặc trưng về “Mức độ công cộng”
và đặc trưng về “ Mức độ thị trường”

(xem hình vẽ 1).

Mứcđộthị trường

HH tập thể/nhà nươc

Cây đèn biển.
tên lửa,...
GD ĐH
Ổ bánh mỳ, áo sơ mi, .....

Mức độ công cộng
HH thị trường
HHtư nhân

HH công cộng

Hình 1: Đặc trưng về mức độ công cộng và mức độ thị trường của
hàng hoá.
Trục hoành biểu diễn đặc trưng về mức độ công cộng của hàng hoá. Ở cực bên
trái (A) là HHCN thuần tuý. Ở cực bên phải (B) là HHCC thuần tuý. Nhiều hàng
hoá có mức độ công cộng giữa 2 cực đó.
Trục tung biểu diễn đặc trưng về mức độ thị trường của hàng hoá. Đặc trưng này
liên quan đến ai là người quyết định sản xuất và cung cấp cho thị trường. Ở cực
dưới cùng (A) là “ Thị trường thuần tuý”, do thị trường tự do quyết định sản
xuất và cung cấp. Ở cực trên cùng (D) là “ Nhà nước/ tập thể thuần tuý”, nghĩa
là hàng hoá do nhà nước/ tập thể quyết định sản xuất và cung cấp. Nhiều hàng
hoá có “Mức độ thị trường “ nằm trung gian giữa 2 cực đó.
Thông thường, hàng hoá có “Mức độ công cộng “ càng cao thì trọng số Nhà
nước(xã hội) phải sản xuất và cung cấp càng lớn (Cũng cần lưu ý rằng, đối với

hàng hoá công cộng, Nhà nước có thể tự đứng ra sản xuất nhưng cũng có thể


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

15

thuê khoán tư nhân sản xuất rồi mua lại). Sở dĩ như vậy là vì hàng hoá có “Mức
độ công cộng” càng cao thì “chi phí bỏ ra để bổ sung cho một người khác để
được hưởng lợi ích của hàng hoá này càng gần bằng không, và đồng thời chi phí
để ngăn không cho người đó hưởng lợi từ hàng hoá đó lại rất lớn”, nghĩa là sự
tiêu dùng càng gần tới mức không cạnh tranh - sự tiêu thụ là “không loại trừ”.
Ví dụ như với cây đèn biển, một hàng hoá công cộng thuần tuý, người dùng
không bỏ thêm một chi phí nào, hoàn toàn không có cạnh tranh và cũng không/
hoặc rất tốn kém trong việc ngăn cản người khác sử dụng nó.
Từ những khái niệm và lý luận trên, các nhà kinh tế cho rằng “ Giáo dục là hàng
hoá công không thuần tuy”13. Bởi vì “Chi phí cận biên của việc giáo dục thêm
một đứa trẻ (chi phí để thêm 1 đứa trẻ được giáo dục) chưa thể bằng 0 và không
có khó khăn lớn trong việc bắt cá nhân phải trả tiền cho việc sử dụng giáo dục
đó”. Trong hình vẽ trên, dịch vụ GD nằm ở khu vực nào đó gần điểm (A).
Do đó, với dịch vụ giáo dục, vì nó là hàng hoá công không tuần tuý nên Nhà
nước cần “sản xuất” và cung cấp một phần, người dân “sản xuất” và cung cấp
một phần.
Từ đặc tính không phải là hàng hoá công thuần tuý của dịch vụ giáo dục đã phân
tích trên, ta thấy trong lĩnh vực GD, ĐT, sản phẩm GD có thể là công cộng hoàn
toàn (phúc lợi cho không - dịch vụ xã hội trả phí hoàn toàn) ở một số bộ phận
hoặc toàn bộ hoạt động GD này, nhưng cũng có thể thu phí ở một số bộ phận
hoặc toàn bộ hoạt động GD khác. Nói cách khác, thị trường vẫn có thể hoạt
động trong một bộ phận của GD, ĐT.
Đặc tính dịch vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý giải thích cho hiện

tượng phổ biến trong các nền GD hiện nay là hình thành hai nhóm lớn trong
dịch vụ GD:
+ Thứ nhất, các dịch vụ GD nghĩa vụ (phổ cập): Đó là các hoạt động GD nhằm
cung cấp những kiến thức tối thiểu cần thiết, giúp cho con người phát triển, hoà
nhập xã hội trong những điều kiện xã hội nhất định. Trong nhom này, Nhà nước
đầu tư gần như toàn bộ
+ Thứ hai, các loại dịch vụ GD khác. Với nhóm này, thị trường có thể hoạt động
mạnh hơn. Vai trò của Nhà nước chủ yếu tập trung ở vị trí quản lý. Tuy nhiên,
Nhà nước cũng phải cung cấp trực tiếp dịch vụ GD ở những lĩnh vực mà “Thị
trường bị thất bại”.
1.6. Một số đặc điểm (thuộc tính) của dịch vụ GD, ĐT.
Để vận dụng có hiệu quả thị trường vào GD, ĐT, cần lưu ý một số đặc điểm
quan trọng sau của dịch vụ GD, ĐT:

13

Xem Kinh tế công cộng- SĐD. Tr 440- 441


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

16

1.6.1. Thuộc tính hình thái ý thức xã hội (tính ý thức xã hội)
Cùng với việc đáp ứng nhu cầu học, một nhu cầu cơ bản của con người ở góc độ
từng cá nhân, thì giáo dục còn phải đáp ứng nhu cầu hình thành và nâng cao ý
thức hệ của cộng đồng, của xã hội. Từ nhu cầu này, chức năng hình thành nhân
cách cho mỗi thành viên của xã hội như là một trong những chức năng cơ bản
nhất của GD.
Thật vậy, giáo dục, ngoài việc cung cấp cho cá nhân khả năng suy luận và kỹ

năng cơ bản để đáp ứng với đòi hỏi của thị trường lao động có tính cá nhân, nó
phải cung cấp cho từng cá nhẩn trong xã hội những giá trị chung về đạo đức cá
nhân, gia đình và xã hội, về nghĩa vụ và quyền công dân, về mức học vấn tối
thiểu, nhằm đảm bảo một xã hội ổn định, nhân bản và dân chủ. Ngày nay, trong
bất kỳ xã hội nào, chức năng cơ bản này của GD cũng được coi trọng, được
nhấn mạnh, vì để tiến bộ, phát triển, mỗi người dân đều phải được giáo dục14.
1.6.2. Tính tác động chậm (lâu dài).
Cũng như các dịch vụ khác, như hớt tóc, vận tải,..., dịch vụ GD tác động trực
tiếp tới người được phục vụ, nhưng kết quả của sự tác động này lại khác. Trong
khi các dịch vụ khác có thể thấy ngay được kết quả (tóc được hớt đẹp, người đi
xe đến được nơi cần đến,...), thì nói chung, kết quả của giáo dục phải sau một
thời gian, có khi rất dài mới thấy rõ kết quả. Để đào tạo một công nhân có nghề
bậc 2, cần 11 năm (9 năm học PTCS + 2 năm học nghề); Nếu để đào tạo một kỹ
sư giỏi, một bác sĩ có tay nghề cao, chắc chắn thời gian học tập it nhất cũng là
17-20 năm mới có thể hành nghề. Và lúc đó, người học mới thu hồi lại được chi
phí đã bỏ ra cho quá trình học tập trước đây của mình.
Ngay đối với giáo dục cơ bản, để học xong tiểu học, trẻ em cũng phải học 5
năm, nhưng giá trị của việc học, phải sau một thời gian, khi lớn lên, các thanh
niên này mới thấy hết được15.
1.7. Vùng thị trường bị thất bại
Cũng như các thị trường hàng hoá công cộng khác, thị trường GD, ĐT cũng có
vùng mà ở đó các nhà kinh tế gọi là “Vùng không hoàn hảo”, hay “Vùng có sự
thất bại của thị trường”. Chẳng hạn trong GD ĐH, trong khi các ngành đào tạo
như kinh doanh, điện tử, tin học, ...được rất đông người học lựa chọn, thì một số
14

Một số nhà nghiên cứu gọi đặc điểm này là “Thuộc tính ảnh hưởng ngoại biên thuận”,
nghĩa là khi tiêu dùng sản phẩm GD, lợi ích của xã hội thu được lớn hơn lợi ích cá nhân
người tiêu dùng. Xem Vũ Quang Việt. Tài liệu 25- TLTK
15


Theo Vũ Quang Việt, sản phẩm GD ĐT còn có tính chất không bị tác dụng bởi năng suất
lao động. Tính chất này thể hiện ở không thể tăng năng suất của người thầy như tăng năng
suất một cái máy (trên cùng một đơn vị thời gian sản xuất được nhiều sản phẩm hơn), và
càng không thể mở rộng thị trường theo nghĩa tăng số học sinh trên một thầy giáo, nếu
không muốn giảm chất lượng. Thậm chí phải là ngược lại, muốn tăng chất lượng giảng dạy,
nhất là trong điều kiện hiện nay, phải giảm số học sinh trên một thầy giáo


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

17

ngành học như Mỏ địa chất, Dự báo thuỷ văn,... có rất ít người lựa chọn. Bởi vì,
đối với những ngành mỏ địa chất, dự báo thuỷ văn, sau khi học xong sẽ khó
kiếm việc làm. Vì vậy, đối với những ngành học này, các nhà đầu tư tư nhân
không muốn đầu tư vào. Do đó, đối với những ngành học này, Nhà nước là
người đứng ra đầu tư và cung cấp dịch vụ GD, ĐT. Đặc biệt đối với những
ngành học mà người học ít lựa chọn, nhưng rất cần cho sự phát triển lâu dài của
đất nước như các ngành khoa học cơ bản, các ngành liên quan đến an ninh xã
hội, bảo vệ tổ quốc,...thì vai trò của Nhà nước lại đặc biệt quan trọng. Ở đây, nói
chung, Nhà nước đầu tư hoàn toàn.
1.8. Cạnh tranh/ cạnh tranh không hoàn hảo
Cạnh tranh trong nền kinh tế hàng hoá là sự ganh đua giữa những người sản
xuất, giữa các nhà kinh doanh nhằm giành những điều kiện sản xuất, tiêu thụ và
thị trường có lợi nhất để đạt mục đích lợi nhuận tối đa.
Cạnh tranh buộc những người sản xuất, buôn bán phải cải tiến công nghệ, tổ
chức quản lý, để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay
đổi mẫu mã phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; giảm
giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán.

Trong nền kinh tế hàng hoá, cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của
sự phát triển. Nhưng đồng thời, trong quá trình cạnh tranh, do động lực lợi
nhuận tối đa thúc đẩy, có thể nảy sinh các hành vi tiêu cực như lừa đảo, làm
hàng giả, trốn thuế, khai thác cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường,...
Trong GD, ĐT, khi cơ chế thị trường được áp dụng rộng rãi, quy luật cạnh tranh
cũng sẽ phát huy tác dụng. Sẽ diễn ra sự cạnh tranh giữa các nhóm đối tượng:
+ Giữa các cơ sở GD, ĐT, nhằm tăng khả năng thu hút người học, và từ đó có
doanh thu nhiều, lợi nhuận cao.
+ Giữa những người dạy để có nơi làm việc có thu nhập cao
+ Giữa những người học/ gia đình học sinh để có nơi học có chất lượng cao hơn,
thuận tiện hơn
Các phương tiện cạnh tranh cũng rất đa dạng. Qua thực tế nước ta, ở ĐH và GD
chuyên nghiệp đã có các phương tiện cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo như:
Mức học phí thấp; đội ngũ giáo viên giỏi, có uy tín; chương trình đào tạo hấp
dẫn; nền nếp quản lý chặt chẽ; có sự liên kết giữa đào tạo và nơi làm việc....
1.9. Hoạt động dịch vụ GD, ĐT trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Để làm rõ hơn dịch vụ GD, ĐT được tổ chức và quản lý trong điều kiện của cơ
chế thị trường, chúng ta so sánh nó với cơ chế kế hoach hoá tập trung.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

18

1.9.1 Đặc trưng chính của cơ chế quản lý GD trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung.
So sánh với cơ chế quản lý GD, ĐT theo kiểu thị trường, cơ chế kế hoạch hoá
tâp trung trong GD, ĐT ở nước ta hiện nay có những đặc trưng khác biệt nổi bật
sau:

Tính chỉ huy tập trung cao thể hiện ở các măt:
+ Kế hoạch GD, ĐT được xây dựng và quản lý chặt chẽ và nói chung do cấp
trung ương quyết định. Các cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện theo kế hoạch trên
giao. Mặc dù một số trường phổ thông có hệ B (mở rộng), nhưng cho đến nay,
hệ này cũng phải được trên chấp nhận. Tương tự, ở các trường ĐH, CĐ, THCN,
hệ tại chức, các lớp đào tạo với các hình thức khác nhau,... đều phải được trung
ương / tỉnh cho phép. Đặc biệt là chỉ tiêu tuyển sinh được quản lý chặt chẽ, bởi
các trường, nhất là đối với số được thu học phí, đều muốn chỉ tiêu cao hơn so
với quy định của trên. Việc tăng chỉ tiêu học sinh/ sinh viên khi chưa được phép
là một lỗi lớn của cơ sở.
+ Về chương trình đào tạo: Ở phổ thông, sách giáo khoa do Bộ GD&ĐT ban
hành; chương trình ở phổ thông được quy định chặt chẽ tới từng môn, từng bài,
từng tiết học. Ở CĐ, ĐH, Bộ có chương trình khung. Nhà trường được tự chọn
một số môn.
+ Cơ chế quản lý giáo viên/ giảng viên chặt chẽ. Hiện nay đang thí điểm khoán
quỹ lương ở trường phổ thông và một số trường ĐH, nhưng nói chung, việc
tuyển mới giáo viên/ giảng viên là do cấp trên quyết định. Do đó, cơ chế sàng
lọc, cơ chế khuyến khích người giỏi rất ít tác dụng.
+ Vai trò của hiệu trưởng và của giáo viên là chấp hành, là làm đúng như trên
yêu cầu, với những gì đã được vạch sẵn theo kế hoạch. Đối với giáo viên phổ
thông, việc chuẩn bị bài, việc giảng ở lớp ( kể cả mở bài, thân bài, kết luận...)
như thế nào... cần theo đúng sách hướng dẫn. Nếu khác đi được coi là sự vi
phạm.
Tính bao cấp nặng nề.
Tính bao cấp nặng nề thể hiện ở:
+ Về nguồn thu: Kinh phí do nhà nước trả toàn bộ hoặc phần lớn
+ Không có hạch toán chi phí GD, ĐT
Ưu điểm, nhược điểm và hệ quả
a). Với cơ chế chỉ huy tập trung nêu trên có những ưu điểm nhất định. Đó là:
+ Tạo sự thống nhất trong các hoạt động giáo dục. Một số hoạt động thống nhất

này đã có tác dụng cổ vũ rất lớn. Ví dụ: Ngày 5/ 9 hàng năm là ngày tất cả các
trường phổ thông trong toàn quốc khai giảng. Điều này tạo sự quan tâm chung
của xã hội đối với giáo dục.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

19

+ Đáp ứng yêu cầu công bằng về nội dung kiến thức truyền tải đến tất cả học
sinh các vùng miền, các đối tượng khác nhau;
+ Việc điều chuyển cán bộ quản lý và giáo viên từ nơi này đến nơi khác nhanh
chóng, dễ dàng, thông qua các biện pháp hành chính. Đặc biệt với cán bộ lãnh
đạo các trường, việc làm hiệu trưởng/ hiệu phó không đòi hỏi nhiều tài năng,
không cần trải qua thử thách nhiều. Vấn đề là trên có đặt vào chỗ đó không
thôi. .
b). Nhược điểm:
+ Nhược điểm lớn nhất là hạn chế tính năng động, sáng tạo của các cơ sở đào
tạo, của giáo viên.
+ Vì nhà nước bao cấp nhiều trong khi ngân sách có hạn, nên đời sống giáo viên
vẫn thấp, mặc dù đã được ưu tiên đưa vào ngạch lương cao nhất và giáo viên
được tính tới 30% phụ cấp đứng lớp
+ Cũng do ngân sách hạn hẹp nên hầu hết các trường không phải là trọng điểm
đầu tư, có cơ sở vật chất thiếu thốn, phương tiện nghèo nàn. Mặc dù tỷ lệ ngân
sách dành cho GD đều tăng hàng năm, nhưng tình hình trên vẫn diễn ra nhiều
năm, không khắc phục được.
+ Bộ máy quản lý ngày trở nên cồng kềnh, phình nhiều biên chế, bởi nhu cầu
cần người chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, viết tài liệu hướng dẫn, nắm thông tin,
+ Tình hình trên đã góp phần làm nảy sinh nhiều tiêu cực như đã biết.
c). Các hệ quả là

- Không đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng nhiều và càng cao của xã hội.
- Chất lượng GD, ĐT thấp.
- Nội dung chương trình chậm đổi mới, phương pháp giáo dục lạc hậu
- Hiệu quả giáo dục, đào tạo kém
Tóm lại, cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp là một cơ chế quản lý có tính lý
tưởng. Nhưng trong nó lại tiềm tàng căn bệnh quan liêu đối với cấp trên và ỷ lại
đối với cấp dưới. Trong điều kiện kinh tế xã hội ta hiện nay, những căn bệnh này
là nguyên nhân làm cho GD, ĐT trì trệ, kém hiệu quả.
1.9.2. Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN
Đặc trưng chinh của cơ chế này là:
- Các chủ thể GD, ĐT tự quyết định và chịu trách nhiệm về quá trình GD, ĐT
của mình, trên cơ sở hướng tới thị trường sức lao động, thị trường khoa học và
công nghệ, nhu cầu học tập của xã hội, trên cơ sở pháp luật
-Người học có nhiều cơ hội lựa chọn nơi học, chương trình học, phương thức
học,...
- Các quy luật của kinh tế thị trường phát huy tác dụng.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

20

- Nhà nước là người điều khiển ở tầm vĩ mô, vạch hướng đi và hành lang pháp
lý để “con tầu GD” tự vận hành với các quy luật vốn có, khách quan của kinh tế
thị trường.
- Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp chi phí GD, ĐT
nhưng có trọng điểm, không cào bằng, nhất là đối với những nơi “thị trường bị
thất bại” và đảm bảo tính công bằng trong GD, ĐT.
Điều được nhấn mạnh là: Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
quản lý thị trường này tập trung vào chất lượng và chủ yếu bằng các công cụ

quản lý. Nếu nhà nước quản lý tốt sẽ tạo động lực để GD, ĐT phát triển. Ngược
lại, nếu không thừa nhận nó hoặc quản lý không tốt sẽ dẫn tới những nguy cơ
xấu trong quan hệ giữa các chủ thể, giữa thày và trò, người “có tiền là mua được
tất cả” ….
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG GD, ÐT Ở
NƯỚC TA
Trong GD, ĐT ở nước ta hiện nay đã có thị trường hay không? Nếu có, biểu
hiện của thị trường này như thế nào? Đây là những vấn đề cần phải giải đáp để
từ đó có thái độ và nhận thức đúng về thực tế GD, ĐT nước ta.
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, những nội dung trong mục này là những tìm hiểu
bước đầu, chủ yếu nhằm mô tả các biểu hiện của cơ chế thị trường diễn ra trong
lĩnh vực GD, ĐT nước ta hiện nay.
Nội dung mục 2 này gồm các vấn đề:
(1). Khung phân tích
(2). Các hoạt động GD, ĐT không thu phí
(3). Các hoạt động GD,ĐT có thu phí không vụ lợi
(4). Các hoạt động GD, ĐT có thu phí vụ lợi
(5). Tác động của thị trường GD, ĐT.
2.1. Khung phân tích
Trong mục1 ta đã xét định nghĩa hàng hoá/ thị trường/ cơ chế thị trường/ dịch vụ
giáo dục và qua đó ta thấy để hình thành thị trường/ cơ chế thị trường cần có các
yếu tố:
1) Các chủ thể thị trường và tính độc lập về lợi ích, và theo đó là tính độc lập
trong các quyết định về tổ chức sản xuất, kinh doanh giữa các chủ thể
2) Quá trình trao đổi giữa cung và cầu diễn ra thông qua giá cả, cạnh tranh
và lợi nhuận.
2.1.1. Các loại dịch vụ GD, ĐT
Như chúng ta đều biết, tuỳ theo thể chế xã hội, người ta chia dịch vụ GD, ĐT
thành các loại:



NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

21

1. Dịch vụ GD công ích không thu phí (phúc lợi xã hội cho không). Nói
như vậy không có nghĩa là dịch vụ công không cần nguồn tài chính để
duy trì và phát triển, mà lúc này có thể hiểu rằng khách hàng của dịch
vụ là nhà nước, nguồn tài chính chi trả để chủ thể cung cấp dịch vụ
duy trì và phát triển được lấy từ quĩ công - từ ngân sách nhà nước.
2. Dịch vụ GD thu phí không vụ lợi - không lấy mục tiêu lợi nhuận làm
mục đích của hoạt động. Phí do người sử dụng dịch vụ phải trả chỉ
nhằm để chi cho việc duy trì và phát triển dịch vụ đó.
3. Dịch vụ GD thu phí vụ lợi - dịch vụ có mục tiêu lợi nhuận - dịch vụ
mang tính thương mại, nghĩa là, trong hoạt động cung cấp dịch vụ
GD, chủ thể cung cấp, bên cạnh việc thu các khoản phí nhằm duy trì
và phát triển hoạt động dịch vụ còn đưa thêm cả phần lợi nhuận (lãi)
vào trong giá phí phải trả của các khách hàng tiếp nhận dịch vụ.
Hiện nay, trong GD, ĐT ở nước ta cũng có tồn tại tất cả các loại dịch vụ trên.
2.1.2. Các chức năng của các cơ sở GD, ÐT
Khi xem xét các hoạt động dịch vụ GD, ĐT, một điều quan trọng là phải hiểu rõ
chủ thể cung cấp dịch vụ và các chức năng của chủ thể đó.
Trong GD, ĐT, chủ thể cung cấp dịch vụ là các cơ sở GD, ÐT. Các cơ sở GD,
ÐT khác nhau có các chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Cụ thể là:
1. Các cơ sở nhà trẻ, GD tiền học đường: Bên cạnh chức năng GD các
cơ sở này còn có chức năng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
2. Các cơ sở GD phổ thông: Ngoài nhiệm vụ dạy dỗ, giáo dục học sinh
theo nhiệm vụ được giao, còn có những nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh
giỏi, bổ túc giúp đỡ học sinh kém; hỗ trợ giáo viên cho các cơ sở khác
thiếu giáo viên, ...

3. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ngoài nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp
cho học sinh còn có các chức năng lao động sản xuất trong trường,
cung cấp các dịch vụ khi có yêu cầu, ...
4. Các cơ sở đào tạo CĐ và ĐH: Ngoài nhiệm vụ đào tạo nhân lực có
trình độ CĐ, ĐH, các cơ sở này còn có các chức năng nghiên cứu
khoa học, dịch vụ khoa học và các dịch vụ khác.
Trong các chức năng và nhiệm vụ của mỗi cơ sở GD, ÐT nêu trên, tùy theo mục
tiêu mà mỗi cơ sở lại có những mục tiêu hoạt động khác nhau cho mỗi chức
năng của mình. Có chức năng hoạt động theo kiểu thị trường nhưng với mục
tiêu không vụ lợi, lại có những chức năng hoạt động theo kiểu thị trường với
mục tiêu vụ lợi. Thậm chí, ngay trong cùng một bộ phận của cơ sở cũng có


22

NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

những hoạt động nhằm vụ lợi, bên cạnh những hoạt động khác lại không vì mục
đích vụ lợi. Vì vậy, trong lĩnh vực GD, ĐT, việc phân định các loại hoạt động
dịch vụ có vụ lợi hay không là vấn đề rất phức tạp nhưng cũng rất cần thiết, để
từ đó có cách thức quản lý phù hợp.
2.1.3. Khung nghiên cứu
Việc nghiên cứu tìm hiểu về biểu hiện của cơ chế thị trường trong GD, ÐT sẽ
được tiến hành theo từng loại sau: :
1. Dịch vụ công ích không thu phí
2. Dịch vụ có thu phí không vụ lợi
3. Dịch vụ có thu phí có tính đến lợi nhuận
Ở mỗi loại trên, các khía cạnh sau sẽ được xem xét:
(1). Khung pháp lý: là những văn bản pháp quy của các cấp liên quan
đến việc quản lý GD, ÐT. Những văn bản này mang tính chất tạo tiền đề

cho cơ chế thị trường hoạt động.
(2). Các yếu tố mang tính đặc trưng của hoạt động thị trường biểu hiện
thông qua học phí (giá cả), cạnh tranh, cung cầu, lợi nhuận.
(3). Biểu hiện của cơ chế thị trường trong hoạt động thực hiện các chức
năng của cơ sở GD, ĐT.
Bảng 2 Khung nghiên cứu
Khung
pháp lý

Các yếu tố đặc
trưng của hoạt
động thị trường
biểu hiện trong
hoạt động giáo
dục.

Biểu hiện của cơ chế
thị trường trong hoạt
động của các chức
năng khác của nhà
trường.

Dịch vụ công ích
không thu phí
Dịch vụ có thu phí
không vụ lợi
Dịch vụ có thu phí
có tính đến lợi nhuận
2.2. Bối cảnh hình thành thị trường trong GD, ĐT nước ta
2.2.1. Những tiền đề đổi mới- cơ sở hình thành thị trường GD, ĐT.

Giai đoạn cuối những năm 70, đầu những năm 80, kinh tế Việt Nam ở vào
một hoàn cảnh rất khó khăn. Sản xuất phát triển chậm, thu nhập bình quân trên
đầu người chỉ khoảng 20-25 USD. Ngân sách nhà nước thâm hụt, dân số gia
tăng mạnh sau chiến tranh (2.5%), lạm phát tăng cao mà đỉnh điểm của nó vào


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

23

năm 1986 tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% làm cho đời sống người dân vô cùng
khó khăn. Điều này đã ảnh hưởng không ít tới giáo GD, ĐT, gây ra sự suy giảm
nghiêm trọng về số lượng, suy thoái về chất lượng.
Trước tình hình đó, ngay trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, trong “Hội
nghị hiệu trưởng các trường đại học toàn quốc năm 1987” lãnh đạo ngành giáo
dục-đào tạo đã đưa ra 4 tiền đề đổi mới cho giáo dục ĐH, và sau này trở thành
những tiền đề đổi mới chung cho cả lĩnh vực GD, ĐT. Đó là:
(1). Đào tạo đại học (GD, ĐT) không chỉ đào tạo cán bộ cho biên chế Nhà
nước, kinh tế quốc doanh, mà còn phải đào tạo cho tất cả các thành phần kinh
tế khác, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của tất cả mọi người
muốn có học vấn đại học ở những mức độ khác nhau.
(2). Đào tạo đại học (GD, ĐT) không chỉ dựa vào ngân sách Nhà nước mà
còn phải dựa vào tất cả các nguồn lực khác nhau có thể huy động được như
học phí, hợp đồng đào tạo, đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội, thông
qua các hợp đồng nghiên cứu, triển khai, phục vụ ký với các trường đại học,
những dự án quốc gia và quốc tế, sự hỗ trợ của các Hội, các cá nhân có hảo
tâm cho học bổng, giúp đỡ sinh viên nghèo, giúp đỡ nhà trường.
(3). Đào tạo ĐH (GD, ĐT) không chỉ thực hiện kế hoạch nhà nước về đào tạo
và bồi dưỡng mà còn phải tự thăm dò nhu cầu xã hội.
(4). Sinh viên tốt nghiệp ĐH, ngoài một bộ phận được nhà nước phân công

công tác, còn phần lớn tự tìm việc làm, thích ứng với thị trường lao động.
Rõ ràng, các tiền đề trên đã đặt những cơ sở đầu tiên cho việc đưa cơ chế thị
trường vào trong GD, ĐT.
Từ chủ trương đổi mới trên đây, các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng cơ chế thị
trường vào trong GD, ĐT ở nước ta cũng dần được hình thành, và liên tục được
điều chỉnh để đảm bảo tính định hướng XHCN của nó.
• Đầu tiên là những qui định trong Hiến pháp 1992, Điều 36 của Hiến
pháp có nêu: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục" đồng thời
khuyến khích các nguồn đầu tư khác”. Điều này cho phép giáo dụcđào tạo có thể huy động mọi nguồn vốn trong xã hội để phát triển.
Cũng trong điều 36 của hiến pháp 1992, cho phép “phát triển các hình
thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục-đào tạo
khác”. Nghĩa là trong giáo dục-đào tạo bên cạnh các trường công
thuộc quyến sở hữu nhà nước cũng cho phép tồn tại các loại sở hữu
khác, tính độc quyền của nhà nước trong giáo dục-đào tạo đã được
nới lỏng..
• Trong hiến pháp 1992 cũng đã chỉ rõ ‘bậc tiểu học là bắt buộc và
không phải trả học phí …Nhà nước có chính sách học phí, học bổng”


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures

24

(điều 59). Vậy giáo dục-đào tạo không còn là lĩnh vực phúc lợi nhà
nước cho không nữa, ở một mức độ nào đó đã xuất hiện phạm trù giá
cả đối với giáo dục-đào tạo. (xem khung 1)
• Trên cơ sở các điều luật trong Hiến pháp 1992, những năm tiếp theo
trong hệ thống GD&ÐT ở Việt Nam đã có một sự phát triển rầm rộ
của các loại hình trường thuộc các thành phần sở hữu khác nhau và
được gọi chung là các cơ sở đào tạo ngoài công lập (Bao gồm bán

công, dân lập, tư thục). Đi liền với điều này một loạt các văn bản
pháp qui được ban hành để quản lý các cơ sở GD&ĐT này. Các năm
tiếp theo, một loạt các văn bản khác của Nhà nước nhằm cụ thể hoá
các chủ trương phát triển các trường ngoài công lập. Năm 1993 Thủ
tướng CP đã ra Quyết định số 240/TTG ban hành “Qui chế đại học
tư”; năm 1994 Chính phủ ban hành Nghị định 115/CP về “Qui chế
hoạt động của các trường dạy nghề của nước ngoài tại Cộng hòa
XHCN Việt nam”, và rất nhiều văn bản khác nữa. Việc xuất hiện các
cơ sở GD&ĐT với nhiều loại hình sở hữu khác nhau là tiền đề cho
việc xuất hiện yếu tố cạnh tranh trong môi trường giáo dục.
Khung 1: Một số điều trong hiến pháp 1992 về GD,ĐT
Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992
Điều 36
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục
tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên,
quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.
Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại
học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình
thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn
đầu tư khác.
Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo
dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.
Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà
trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.


NIESAC - Dr. Phan v¨n Nh©n- Lectures


25

Điều 59
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.
Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.
Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học
tập để phát triển tài năng.
Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.
Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn
hoá và học nghề phù hợp
Như vậy là trong Hiến pháp1992 cũng đã khẳng định trong GD, ÐT có hai loại
dịch vụ khác nhau:
(a) Loại dịch vụ GD, ÐT công ích không thu phí. Loại này chỉ áp dụng cho các
cơ sở GD ở bậc tiểu học, bậc học mang tính nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi công
dân trong độ tuổi (Trên thực tế, chế độ không thu học phí còn được áp dụng đối
với các trường sư phạm và trường quân đội, an ninh, nhưng ở đây chưa xét khối
các trường này).
(b) Loại dịch vụ GD, ÐT có thu phí. Loại này bao gồm tất cả các loại hình, cấp
bậc GD, ÐT khác.
2.2.2. Chủ trương xã hội hóa giáo dục
Trong Nghị quyết BCH TW 4 khoá VII (1/1993) của Đảng, một chủ trương lớn
đã được đưa ra để phát triển sự nghiệp GD, ĐT, đó là chủ trương xã hội hóa
GD,ÐT. Theo tinh thần của Nghị quyết này khái niệm xã hội hóa giáo dục được
hiểu là: "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân
góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”.
Khái niệm xã hội hóa GD được làm rõ hơn, cụ thể hơn trong Nghị quyết 90-CP
ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các
hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. Xã hội hóa giáo dục được xác định bao gồm

các nội dung chủ yếu sau:
• Huy động xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho GD;
Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội với nhiều hình
thức khác nhau;
• Huy động xã hội tham gia vào quá trình GD; Vận động toàn dân
chăm sóc thế hệ trẻ, tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành
đối với sự nghiệp GD;


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×