Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

những nhấn tố phục hưng trong tsáng tác của nguyễn du

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (618.25 KB, 113 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM
T
1

T
1

T2
1

T2
1

Trịnh Thị Ngọc Thúy

NHỮNG NHẤN TỐ PHỤC HƯNG TRONG
T
2
1

SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU
T
2
1

Luận văn Thạc sỹ khoa học
Chuyên ngành: Văn họcViệt nam

Mã số : 5.04.33
Người hướng dẫn: PGS TS Mai Quốc Liên



Thành phố Hồ Chí Minh -2001
T
2


LỜI CẢM TẠ
T
2

Chúng tôi xin chân. thành cảm tạ PGS TS. Mai Quốc Liên, cùng các thầy cô Trường
T
8
1

T2
8
1

T2
8
1

Đại học Sư phạm TPHCM, Đại học Khoa Học Xã hội Và Nhân văn đã giúp đỡ chúng tôi
hoàn thành luận văn này.
Xin cám ơn gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ động viên về mọi mặt để chúng tôi
T
8
1


hoàn thành tốt luận văn này.


MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ............................................................................................................... 2
T
8
3

T
8
3

MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
T
8
3

T
8
3

PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
T
8
3

T
8
3


1. Lí do chọn đề tài: ............................................................................................................5
T
8
3

T
8
3

2. Mục đích nghiên cứu: .....................................................................................................7
T
8
3

T
8
3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ...............................................................................8
T
8
3

T
8
3

4. Mục đích nghiên cứu: .....................................................................................................8
T

8
3

T
8
3

5. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................10
T
8
3

T
8
3

PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................... 12
T
8
3

T
8
3

CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU NHÂN TỐ
PHỤC HƯNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU .................................... 12
T
8
3


T
8
3

1.1. Chủ nghĩa Phục hưng phương Tây: ........................................................................12
T
8
3

T
8
3

1.1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa Phục hưng phương Tây : ................................................12
T
8
3

T
8
3

1.1.2. Văn học Phục hưng phương Tây : ........................................................................12
T
8
3

T
8

3

1.2. VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA PHỤC HƯNG Ở PHƯƠNG ĐỔNG : .............................14
T
8
3

T
8
3

1.2.1. Có hay không có chủ nghĩa Phục hưng phương Đông ? ......................................14
T
8
3

T
8
3

1.2.2. Văn học phương Đông và vấn để Phục hưng ở phương Đông : ...........................16
T
8
3

T
8
3

1.3. CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO MANG TÍNH CHẤT PHỤC HƯNG TRONG VĂN

HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII - XIX : ......................................................................19
T
8
3

T
8
3

1.3.1. Những nhân tố mới của lịch sử xã hội Viêt Nam mang tính chất xã hội tiền tư bản
: .......................................................................................................................................19
T
8
3

T
8
3

1.3.2. Sư đổi thay của văn học thời kì Nguyễn Du : .......................................................21
T
8
3

T
8
3

CHƯƠNG 2: NHỮNG NHÂN TỐ PHỤC HƯNG TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN DU ............................................................................................................. 30

T
8
3

T
8
3

2.1. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU. .....................30
T
8
3

T
8
3

2.1.1. Cái nhìn về con người - cá nhân theo quan điểm thẩm mĩ mới : ..........................30
T
8
3

T
8
3

2.1.2. Ý thức của con người cá nhân : ............................................................................54
T
8
3


T
8
3

2.2. CON NGƯỜI QUA CÁI NHÌN MANG TÍNH CHẤT NHÂN ĐẠO PHỤC
HƯNG: ...............................................................................................................................63
T
8
3

T
8
3

2.2.1. Cái "tâm" của Nguyễn Du qua số phận con người : ............................................63
T
8
3

T
8
3

2.2.2. Cái nhìn của Nguyễn Du về giá trị của đồng tiền : ..............................................71
T
8
3

T

8
3

2.3. SỰ ĐỔI MỚI VỀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ CA TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN DU : ........................................................................................................81
T
8
3

T
8
3

2.3.1. Thể thơ : ................................................................................................................81
T
8
3

T
8
3


2.3.2. Hình tượng thơ : ....................................................................................................91
T
8
3

T
8

3

2.3.3. Ngôn ngữ : ............................................................................................................96
T
8
3

T
8
3

PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................. 105
T
8
3

T
8
3

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 111
T
8
3

T
8
3



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Từ xưa đến nay, khi nghiên cứu thơ văn Nguyễn Du, người ta thường tập trung nghiên
T
2

cứu những vấn đề thuộc chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa hiện thực, điển hình hóa, ngôn ngữ
thơ, văn học dân gian và văn học bác học trong những tác phẩm của ông,...Tất cả nhằm
khẳng định tầm vóc của một nhà thơ lớn. Có một vấn đề ít được các nhà nghiên cứu chú ý
mà nay chúng ta cần phải đặt ra và giải quyết, đó là vấn đề : những tác phẩm của Nguyễn
Du thuộc thời kì văn học Trung đại, hậu kì Trung đại hay đã bắt đầu chuyển sang thời kì
Phục hưng.
Vấn đề Phục hưng, như chúng ta đã biết, là vấn đề mang tính toàn cầu chứ không riêng
T
2

gì ở phương Tây. Konrat, Viện sĩ Hàn Lâm Liên xô (cũ), trong tác phẩm “Phương Đông và
phương Tây" đã nêu ý kiến có tính gợi mở trong việc tìm hiểu thời kì Phục hưng. Ông viết:
"Phải chăng cái mà trong lịch sử các dân tộc châu Âu có tên là Phục hưng chính là thể hiện
tính quy luật chung của quá trình phát triển lịch sử thế giới, nó tất yếu phải xuất hiện vào
một thời điểm nhất định trong sự phát triển của lịch sử các dân tộc có nền văn minh vĩ đại"
[20, 52] ∗
F
0
P
7
T3
2

Từ ý tưởng đó, chúng tôi muốn tìm hiểu ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói

T
2

riêng, vấn đề Phục hưng được đặt ra như thế nào và có ý nghĩa gì. Đặc biệt là đối với
Nguyễn Du, chúng tôi tiến hành tìm hiểu để xác định các tác phẩm của ông thuộc thời kì
văn học hậu kì Trung đại hay thời kì Phục hưng.
Phong trào Phục hưng xuất phát từ Italia (Ý), sau đó lan rộng sang các nước Tây Âu
T
2

và Trung Âu. Người Ý gọi phong trào này là "Renascita", người Pháp đặt tên là "la
Renaissanee". Cả hai từ này cùng một nghĩa, có thể dịch là "thời Phục hưng, văn hóa Phục
hưng". Bản chất của nền văn hóa Phục hưng là sự khởi đầu của cuộc đấu tranh tư tưởng với
chủ nghĩa phong kiến. Đó là thời kì mà con người đã nhận thức được rằng chính phong kiến
và nhà thờ đã kìm hãm và chà đạp lên quyền sống của con người. Hơn nữa, thời kì này cũng



Số đầu tiên của số thứ tự trong tài liệu tham khảo, số thứ 2 là số trang của tài liệu đó


muốn nói lên nhu cầu, khát vọng sống của con người mới, vạch rõ và biểu dương khả năng,
triển vọng của con người mới, xã hội mới.
Con người mới ở đây là con người xây dựng xã hội mới, con người mà thời đại đang
T
2

cần đến. Đó là con người khổng lồ, "khổng lồ về tư tưởng, về nhiệt tình và về tính cách,
khổng lồ về tài năng nhiều mặt và sự hiểu biết sâu rộng" (Anghen - Lời nói đầu trong cuốn
"Phép biện chứng của tự nhiên" - dẫn theo "Giáo trình văn học phương Tây", tr 119).

Con người khổng lồ trên thực tế chính là các nhà hoạt động văn hóa thời kì này. Đó là
T
2

các đại diện cho tầng lớp trí thức bình dân mới đã đấu tranh không khoan nhượng với tất cả
những gì mà phong kiến và Giáo hội đã áp đặt lên đời sống của con người. Họ cố gắng xây
dựng một nền văn hóa mới dựa trên nguyên tắc tự do để phát triển nhân cách con người. Họ
công khai ca ngợi niềm vui của cuộc sống thế tục bằng nhận thức mới mẻ về cuộc sống, về
thế giới của con người, về sự khao khát cuồng nhiệt tri thức nhằm vươn tới một cuộc sống
tốt đẹp hơn.
Cuộc vận động tư tưởng và văn hóa Phục hưng đã gặt hái nhiều thắng lợi. Nó đã thúc
T
2

đẩy xã hội Tây Âu tiến nhanh, tiến mạnh vào lịch sử cận đại. Chính vì vậy, văn hóa Phục
hưng đã được công nhận là một trong những nền văn hóa rực rỡ của loài người. Tác dụng
thúc đẩy của cuộc vận động tư tưởng và văn hóa Phục hưng đối với lịch sử phương Tây và
lịch sử nhân loại nói chung là điều rõ ràng. Anghen đánh giá :"Đó là bước ngoặt tiến bộ, vĩ
đại nhất mà từ trước đến bây giờ loài người chưa từng thấy".
Konrat đã đặt vấn đề khái niệm Phục hưng trong văn học phương Đông. Trong tác
T
2

phẩm "Phương Đông phương Tây", Konrat chứng minh quá trình phát triển của lịch sử thế
giới trải qua các thời kì đều có điểm tương đồng. Nói đến phương Đông, chúng ta có thể
nghĩ ngay đến một quốc gia hùng mạnh, đó là Trung Quốc. Vào nửa cuối thế kỉ VIII, đế chế
nhà Đường phát triển rực rỡ, nảy sinh một trào lưu tư tưởng xã hội lớn nhất thế kỉ mà đại
diện là các nhà hoạt động văn hóa như Hàn Dữ, Âu Dương Tu, Liễu Tôn Nguyên, Tô Đông
Pha,...Tư tưởng của họ đã làm biến đổi đời sống, triết học, mĩ học, văn học nghệ thuật, khoa
học,...Hàn Dữ là một nhà tư tưởng lớn. Trong tác phẩm "Bàn về con người", ông nêu lên

T3
2

T3
2

quan niệm về giá trị của con người, xem con người là cơ sở của đời sống xã hội, của giáo
dục và văn hóa.


Konrat cho rằng việc quay về với thời cổ đại ở Trung Quốc và châu Âu nảy sinh trong
T
2

T2
3
1

T2
3
1

một môi trường văn hóa phát triển mạnh, với sự hiện diện của các nhà tư tưởng, các nhà
văn,... Hoạt động của họ gắn bó chặt chẽ với đẳng cấp thị dân. Họ hoạt động trong môi
trường văn hóa mà điều kiện in ấn đã phát triển. Tuy nhiên, nội hàm của các phong trào
Phục hưng này tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia mà có sự khác nhau, nhưng đồng thời
giữa chúng cũng có những điểm tương đồng về lịch sử. Phong trào Phục hưng tiếp thu và
phát huy những gì có thể giúp cho sự vận động tiến về phía trước của lịch sử. Chúng ta chú
ý là văn học của các dân tộc trên thế giới bước vào những giai đoạn cơ bản có sự giống
nhau.

Từ những điểm tựa này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu văn học Việt Nam nửa cuối thế
T
2

kỉ XVIII, nửa đầu XIX với trào lưu nhân đạo chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ nói chung và
sáng tác của Nguyên Du nói riêng để khẳng định nhân tố Phục hưng trong sáng tác của
Nguyễn Du.

2. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn hướng vào những vấn đề sau :
T
2

□ Tìm hiểu một cách khái quát ý nghĩa của phong trào Phục hưng, sự phát triển của
T
2

văn hóa Phục hưng châu Âu. Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng trong quá trình khẳng định và
ca ngợi những giá trị đẹp đẽ của con người.
□ Vấn đề Phục hưng trong văn học phương Đông mà tiêu biểu là Trung Quốc.
T
2

□ Vấn đề Phục hưng trong tác phẩm của Nguyễn Du xuất phát từ sự phát triển của
T
2

thời đại, đời sống văn hóa, văn học tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, cảm quan
sáng tác của nhà thơ.
□ So sánh trên những nét lớn tác phẩm của Nguyễn Du trong hệ thống văn học Việt

T
2

Nam với tác phẩm "Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân.
□ Tìm hiểu sự tương đồng trong sáng tác của Nguyễn Du với các tác phẩm văn học
T
2

Phục hưng phương Tây.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng khoa học của chuyên luận là tìm hiểu những vấn đề Phục hưng trong sáng
T
2

tác của Nguyễn Du chủ yếu ở hai bình diện :
-

Thứ nhất, tìm hiểu một cách khái quát ý nghĩa của các phong trào Phục hưng.
T
2

Thứ hai, nghiên cứu vấn đề Phục hưng trong tác phẩm của Nguyễn Du ở hai lĩnh
T
2

vực :
a- Giá trị cách tân về tư tưởng của Nguyên Du mà trong đó chủ yếu nghiên cứu tư duy
T

2

nghệ thuật trong nội dung thơ văn của Nguyễn Du, thông qua cảm quan sáng tác thể hiện
giá trị nhân văn Phục hưng mang sắc thái dân tộc.
b- Sự đổi mới về hình thức thơ ca.
T
2

Từ đó thấy được sự đóng góp nhất định của Nguyễn Du đối với quá trình phát triển
T
2

văn học nước nhà.

4. Mục đích nghiên cứu:
Thế giới nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Du là vấn đề nghiên cứu đầy hấp dẫn, thu
T
2

hút sự chú ý, tìm hiểu, khám phá của nhiều người, nhiều thế hệ. Có thể nói gần hai thế kỉ
trôi qua, từ khi ông mất (1820) đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình về thơ
văn Nguyễn Du nhưng vấn đề vẫn còn hướng về phía trước cho những ai mong muốn khám
phá cái đẹp. Mỗi người nhìn ở một góc độ, một khía cạnh khác nhau, thậm chí còn có ý kiến
tương phản với nhau về quan niệm nhân sinh cũng như về nghệ thuật.
Lịch sử nghiên cứu, phê bình di sản văn hóa của Nguyễn Du đã có bề dày qua các thời
T
2

đại nhưng tựu trung, các nhà nghiên cứu, phê bình thường đi vào hai mảng lớn trong sáng
tác của Nguyễn Du (Truyện Kiều và thơ văn chữ Hán) là xoay quanh hai vấn đề chính yếu :

giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật trong thơ văn của Nguyễn Du.
Nhìn chung, qua lịch sử nghiên cứu, phê bình về di sản văn hóa của Nguyễn Du hơn
T
2

một thế kỉ qua chủ yếu đề cập đến những vấn đề cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Du, dù ở
góc độ nhận thức, giải trình khác nhau nhưng phần lớn đều hướng về giá trị nhân đạo, giá trị
hiện thực và phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du.


Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xin đi vào một vấn đề còn tương đối mới mẻ là
T
2

tìm hiểu những nhân tố Phục hưng trong sáng tác của Nguyễn Du.
Chúng ta biết rằng Phục hưng là một phong trào phát sinh ở Italia, là phong trào văn
T
2

hóa rộng rãi khởi đầu cho cuộc đấu tranh tư tưởng với chủ nghĩa phong kiến và tôn giáo.
Các nhà văn hóa thời kì này đấu tranh không khoan nhượng với thần học, chủ nghĩa kinh
viện, chủ nghĩa khổ hạnh, thần bí. Họ cố gắng xây dựng một nền văn hóa dựa trên cơ sở
nguyên tắc tự do và phát triển con người, giải phóng con người thoát khỏi vòng cương tỏa
của tôn giáo và xã hội. Nét nổi bật của các nhà văn hóa Phục hưng là "Sự khám phá về thế
giới và con người, sự khao khát cuồng nhiệt tri thức, vươn tới khám phá, phát minh trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống. Để làm được điều đó, thời đại cần có những con người có tư
tưởng tiến bộ, có tài năng, có tri thức sâu rộng cùng với sự nhiệt tình vươn đến cái đẹp của
cuộc sống .
Bước ngoặt mà Anghen đánh giá là vĩ đại nhất trong lịch sử loài người đã diễn ra trên
T

3
2

T3
2

mọi lĩnh vực : kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, tư tưởng, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ
thuật. Nó làm biến đổi sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Tây Âu. Nó phơi
bày tính chất trì trệ, lạc hậu, lỗi thời của những thiết chế tinh thần và vật chất của chế độ
phong kiến và nhà thờ Trung cổ. Nó tạo ra sự khác biệt mới cho các lĩnh vực nói trên khiến
cho xã hội Tây Âu thế kỉ XVI - XVII thật sự mang một bộ mặt khởi sắc đầy khí thế.
Tất cả những biến động to lớn góp phần tạo nên nhiều luồng tư tưởng, nhiều học
T
2

thuyết chi phối đời sống tinh thần của thời đại. Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn
Phục hưng là tư tưởng giải phóng nhân cách độc lập của con người đã phát triển chín muồi.
Đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học là con người trong sự năng động và biến đổi trong
cuộc sống, là con người trần thế với những nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần, xác thịt và trí
tuệ với tất cả những khát vọng chính đáng của nó, với tất cả các khả năng và triển vọng to
lớn của nó.
Konrat cho rằng, vấn đề Phục hưng không phải là một hiện tượng cá biệt mà là sự thể
T
2

hiện tính quy luật chung của quá trình lịch sử thế giới. Nó tất yếu phải xuất hiện vào một
thời điểm nhất định trong sự phát triển của các dân tộc có nền văn minh vĩ đại. Từ ý tưởng
của Konrat, chúng tôi tiến hành tìm hiểu văn học Phục hưng dựa trên cơ sở những điểm



tương đồng thuộc về bản chất lịch sử của các hiện tượng đó chứ không đồng nhất các hiện
tượng đó với nhau.
Tìm hiểu những đặc điểm giống nhau về loại hình giữa các nền văn học do đặc điểm
T
2

lịch sử xã hội giống nhau phát sinh ra, chứ không phải do ảnh hưởng giữa chúng. Vì thế,
chúng tôi không dùng "công thức" của Phương Tây để so sánh. Chủ yếu căn cứ vào đặc thù
của lịch sử xã hội Việt Nam, văn học Việt Nam và sáng tác của Nguyễn Du.
Xã hội Việt Nam vào nửa thế kỉ XVIII đến nửa đầu XIX có những chuyển biến phức
T
2

tạp về đời sống chính trị, xã hội. Ý thức hệ phong kiến không còn là lí tưởng tuyệt đối.
Trong khi đó, đời sống văn hóa và tinh thần của quần chúng đã có nhiều chuyển biến. Đó
chính là sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong đời sống văn học thời kì này, một
hiện tượng văn học độc đáo mà các nhà nghiên cứu, phê bình vẫn còn dè dặt khi gọi nó là
trào lưu nhân đạo chủ nghĩa. Bởi vì căn cứ vào những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của
Việt Nam thì chúng chưa đạt đến trình độ hoàn chỉnh về cơ sở lí luận và cũng chưa hoàn
toàn cắt đứt với tư tưởng phong kiến chính thống. Có nghĩa là ở Việt Nam chưa có đủ tiền
đề để có được một thời kì Phục hưng rực rỡ như các nước ở phương Tây. Vì thế sự e dè của
các nhà nghiên cứu phê bình không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề thiết yếu là
chúng ta dựa vào thực tiễn của lịch sử xã hội Việt Nam và văn học Việt Nam giai đoạn này
để phát hiện ra những vấn đề mới mẻ của thời đại.
Chúng tôi tiến hành khảo sát những tác phẩm của Nguyễn Du để xác định sáng tác của
T
2

ông nằm ở giai đoạn hậu kì Trung đại đã có những chuyển biến về tư tưởng và nghệ thuật
mang một nội dung mới, chứa đựng những nhân tố Phục hưng. Chủ nghĩa nhân đạo trong

sáng tác của Nguyễn Du không còn nằm trong quan điểm của phong kiến Trung đại, mang
nội dung tư tưởng Nho giáo phong kiến mà đã toát lên tinh thần nhân văn Phục hưng.

5. Phương pháp nghiên cứu:
Chúng ta biết rằng, Nguyễn Du là một hiện tượng phong phú và phức tạp của nền văn
T
2

học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX. Do đó việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch
sử xã hội thời kì Nguyễn Du sống và sáng tác, lịch sử tư tưởng xã hội giai đoạn Nguyễn Du
sống là một vấn đề rất quan trọng. Trong Luận án này, điều đó sẽ được sử dụng như một cơ
sở không thể thiếu trong việc khảo sát.


Phân tích, đánh giá đặc điểm tư tưởng, sáng tác của các tác gia cùng thời với Nguyễn
T
2

Du để tìm ra mối tương quan của đặc điểm tư tưởng ấy với cảm hứng sáng tác là một điều
cần thiết.
Kết hợp hai hướng vừa phân tích vừa khái quát, vừa giải thích, chứng minh để làm rõ
T
2

nhân tố Phục hưng trong sáng tác của Nguyễn Du.
Tìm hiểu bối cảnh lịch sử xã hội và văn hóa, văn chương của nửa cuối thế kỉ XVIII
T
2

nửa đầu XIX nhằm xác định tính chất Phục hưng trong sáng tác của Nguyễn Du.

Dùng phương pháp so sánh, đối chiếu với các tác phẩm trong văn học Phục hưng
T
2

phương Tây, hệ thống văn học Việt Nam, văn học dân gian để thấy được sự giống nhau và
khác nhau trong sáng tác của Nguyễn Du, ảnh hưởng của Nguyễn Du đối với văn học thời
kì này và giai đoạn sau.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU
NHÂN TỐ PHỤC HƯNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU
1.1. Chủ nghĩa Phục hưng phương Tây:
1.1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa Phục hưng phương Tây :
Phục hưng là một khái niệm của văn học phương Tây. Đó là một khái niệm lớn, phức
T
2

T3
2

T3
2

tạp. Ở đây, chúng tôi xin được điểm qua một vài nét về tư trào văn hóa đó để làm cơ sở cho
việc tìm hiểu vấn đề mà chúng tôi đã đặt ra.
Ở phương Tây, từ thế kỉ XIV trở về trước, con người luôn bị sự khống chế của giai cấp
T
2


phong kiến thống trị và Giáo hội (nhà thờ). Quyền sống của con người hầu như không được
tôn trọng, bởi có quan niệm cho rằng con người là hiện thân của tội lội mà cuộc sống là nơi
để trả giá cho tội lỗi đó. Vì thế, con người phải sống khổ hạnh, từ bỏ mọi nhu cầu trong
cuộc sống.
Sang thế kỉ XV, Tây Âu có sự phát triện mạnh mẽ về kinh tế, xã hội. Con đường giao
T
2

lưu giữa các châu lục dần mở rộng. Sự ra đời chủ chủ nghĩa tư bản ở Ý đã mở ra một kỉ
nguyên mới, lan dần sang các nước khác ở châu Âu, tạo ra những biến động to lớn về chính
trị, xã hội. Tư tưởng của nó hoàn toàn đối lập với hệ tư tưởng của phong kiến và Giáo hội.
Con người bắt đầu nhận thức về quyền sống của mình, quyền làm chủ vận mệnh của mình.
Chính hệ tư tưởng này đã đem đến cho họ cuộc sống tính thần phù hợp với sự phát triển của
xã hội, giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc của những tư tưởng siêu hình, thần bí, thoát khỏi sự
áp chế của những thế lực phong kiến. Bầu không khí ấy chính là mảnh đất màu mỡ giúp cho
văn học Phục hưng phát sinh và phát triển. Trong môi tương quan giữa người và người, cá
nhân và xã hội trở nên phong phú và phức tạp hơn.
1.1.2. Văn học Phục hưng phương Tây :
Tất cả những biến động trên đã tạo nên nhiều luồng tư tưởng, nhiều học thuyết khác
T
2

nhau, chi phối đời sống tinh thần và văn hóa của thời đại. Điểm nổi bật là chủ nghĩa Nhân


văn, một trào lưu tư tưởng tiến bộ đã mang lại một sắc thái mới làm nền tảng cho văn học
Phục hưng. Những người theo chủ nghĩa Nhân văn đã tìm thấy ở thời cổ đại Hy Lạp tinh
T8
2


T8
2

thần trân trọng, đề cao con người. Trong khi đó, nhân sinh quan Trung cổ đã cho rằng cuộc
sống trần thế chỉ có bóng đen và sự đau khổ, mục đích của cuộc sống là phải hướng đến
thiên đường, phải đề cao thánh Le Saint, bắt con người phải ép xác khổ hạnh để tìm đến với
đức tin. Bên cạnh đó, Giáo hội còn chủ trương diệt dục, con người phải biết kiềm chế bản
năng sinh lí, xem đó là điều tội lỗi. Thánh Ôdongơ Cluyni cho rằng : "...Nhìn một người phụ
nữ mà tởm thay ! Thử xem trong lỗ mũi, trong cuống họng, trong bụng họ chứa những gì ?
Toàn là máu mủ dơ bẩn cả ! Ôi, giá mà ta phải sờ vào đống nôn mửa thôi thì ta đủ lấy làm
ghê rồi. Vậy mà ta há lại nên ham ôm vào mình cái bọc ô uế đó ru ! ..." [6,125].
Để chống lại thứ nhân sinh quan phản tự nhiên đó, chủ nghĩa Nhân văn đã đấu tranh
T
2

đòi con người phải được hưởng quyền sống chính đáng nơi trần thế, phải được ăn, được
mặc, được hưởng thụ những thú vui vật chất cũng như tinh thần của con người. Thi sĩ
Danté, người được Mác gọi là "Thi sĩ đầu tiên của thời kì cận đại" , Petraque, thi sĩ của tình
T6
2

T6
2

yêu, Bocacio là một nhà văn,...tất cả đã dám công khai phơi bày những nhu cầu thiết thực
trong đời sống của con người,...
Các nhà văn ở châu Âu tập trung phê phán, đả kích chế độ phong kiến, Giáo hội.
T
2


Rabelais xem vua chúa như một giống bò ngu ngốc chẳng có giá trị gì, chỉ làm hại cho dân
lành, ông còn ví bọn thầy tu như loài chim chỉ biết vỗ béo. Nhà thơ Dante đã vạch trần bản
chất của bọn giáo sĩ, cho thấy chúng không phải là hình ảnh thiêng liêng đời đời bên nước
Chúa mà trái lại linh hồn của họ vĩnh viễn bị giam cầm nơi chốn địa ngục. Điều mà các nhà
Nhân văn chủ nghĩa quan tâm hơn hết là con người, họ chú trọng đề cao, ca ngợi con người.
w. Shakespeare cho rằng :"Con người là một công trình tuyệt mĩ của tạo hóa, là vàng ngọc
T2
1

T2
1

của vũ trụ". Các họa sĩ thời Phục hưng đã công khai ca ngợi vẻ đẹp tràn đầy sinh lực của
T8
2

T8
2

con người, đặc biệt là người phụ nữ. Họ bất chấp sự ngăn cấm của Giáo hội, mặc dù bước
đầu đề tài của họ còn ẩn nấp dưới bóng dáng của thần thoại.
Tự do là vấn đề được các nhà Nhân văn quan tâm trước hết, xem đó là điều quý báu
T
2

của con người. Con người phải được giáo dục và phát triển toàn diện về nhân cách, phải có
một cuộc sống thoải mái, phải tôn trọng những lạc thú ở đời. Rebelais đã bày tỏ quan điểm
T
2


T
2

của mình qua mô hình xây dựng một tu viện thoáng đãng, trong đó con người được sống
một cách tự do, được giáo dục, học tập, sống theo sở thích mà không bị bất cứ sự ràng buộc


nào của tu viện. M. Cervantes cho rằng: “Mất tự do là điều tệ hại nhất trong những điều ác
của con người". Vấn đề tình yêu và tình dục của con người cũng được đề cập đến bằng một
quan niệm hết sức táo bạo nhằm phản kháng chủ nghĩa cấm dục của Giáo hội. Bocaiso,
trong tác phẩm "Mười ngày", có nêu mỗi ngày một câu chuyện xoay quanh đề tài về tình
yêu, hạnh phúc, quyền tự do yêu đương, không phân biệt đẳng cấp sang hèn, quyền tự do
hưởng những thú vui của xác thịt cũng được đồng tình, cổ vũ. w. Shakespeare đã đặt ra cho
T
2

T
2

T
2

T
2

T2
1

T2
1


thời đại một vấn đề lớn lao qua câu nói bất hủ "To be or not to be ". Con người phải có ý
thức về cuộc sống và phải sống như thế nào cho đúng nghĩa.
Chúng ta biết rằng văn học Phục hưng đã làm nhiệm vụ truyền bá thế giới quan tiến bộ
T
2

của thời đại Phục hưng. Nó bộc lộ sự ưu việt của thời đại về con người và cuộc sống. Tuy
nhiên, khi xã hội chuyển sang chế độ tư bản thì nó lại bộc lộ những hạn chế không thể tránh
khỏi. Vì thế, chủ nghĩa Nhân văn giai đoạn này phải chấp nhận sự khủng hoảng và bế tắc.
Điều này đã để lại dấu ấn rất rõ trong văn học thế kỉ XVI - XVII (trong các tác phẩm của W.
T2
1

Shakespeare, của M. Cervantes,...). Mặt khác, trong quá trình đấu tranh cho chủ nghĩa tự do,
T2
1

Rabelais đã nêu khẩu hiệu: “ muốn làm gì thì làm". Nó cũng có tác dụng cả hai mặt tốt và
T7
2

T7
2

xấu. Mặt xấu có thể dẫn đến sự tự do quá trớn, làm ảnh hưởng xấu đến mọi mặt trong đời
sống của con người. Hơn nữa, vấn đề giải phóng đời sống tình dục của con người mang tính
chất tiến bộ đầy nhân bản nhưng nếu thực hiện quá trớn thì có thể sẽ vô tình hạ thấp giá trị
của con người. Vai trò của đồng tiền trong đời sống xã hội tư bản cũng là một vấn đề nhức
nhối đã được các nhà Nhân văn quan tâm và phê phán một cách triệt để.

Mặc dù còn một số hạn chế nhưng chủ nghĩa Nhân văn thời Phục hưng vẫn có sự cống
T
2

hiến rất lớn cho lịch sử tư tưởng của con người. Nó làm thức tỉnh ở con người tình yêu và
cuộc sống mà thời Trung cổ đã hủy hoại, đã làm cho nó khô héo và úa tàn.

1.2. Vấn đề chủ nghĩa Phục hưng ở phương Đông
1.2.1. Có hay không có chủ nghĩa Phục hưng phương Đông ?
Đất nước Trung Quốc có thể được xem là một quốc gia điển hình cho phương Đông.
T
2

Vào cuối thế kỉ VIII, thời kì cai trị của nhà Đường, xã hội Trung Quốc phồn vinh về mọi
mặt. Văn hóa Đường được xem là đỉnh cao của văn hóa Trung Quốc và cũng có thể được
coi là đỉnh cao của văn hóa nhân loại lúc bấy giờ (từ thế kỉ VII - X). Thời kì này đã nảy sinh


một trào lưu tư tưởng tiến bộ mà đại diện của nó là các nhà hoạt động văn hóa lớn như Hàn
Dữ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha,...Quan điểm của họ đã làm thay đổi
cách nhìn trong triết học, mĩ học, văn học - nghệ thuật,... Họ chủ trương phong trào "quay
về với văn hóa thời cổ", vì họ cho rằng thời đại mà họ đang sống không bằng thời cổ. Như
vậy vai trò của di sản thời cổ được tôn vinh không phải chỉ riêng ở phương Tây mà ở ngay
cả phương Đông.
Thời đại Phục hưng đời Đường có thể được bắt đầu từ thế kỉ VIII. Các nhà Nhân văn
T
2

đã chú ý đến giá trị của con người và tìm cách phát huy nó. Trong bài luận "Bàn về con
người", Hàn Dữ đã đề cập đến chữ "Nhân" của Khổng Tử và đã nâng cao giá trị của nó.

Ông cho rằng con người là "cái cao nhất trong tất cả những gì có giữa trời và đất". Ông mở
rộng khái niệm "Nhân" của Khổng Tử từ "Yêu thương con người" thanh "Yêu thương tất
cả".
Tiếp nối tư tưởng của Hàn Dữ, các triết gia thời Tống cũng bàn những vấn đề cơ bản
T
2

của con người như: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín". Quan niệm của họ tuy có khác nhau nhưng
ở họ vẫn có chỗ gặp nhau, đó là sự quan tâm về con người.
Trong việc xây dựng lịch sử trung thế kỉ (cả phương Đông và phương Tây), phải kể
T
2

đến vai trò đặc biệt của tôn giáo. Có những tôn giáo mang tính quốc tế như Phật giáo (ở
Đông Á và một phần ở Trung Á), Hồi giáo (ở Trung Á, Tiểu Á, Bắc Phi), Cơ đốc giáo (ở
nhiều nước trên thế giới),...Tất cả đều có ảnh hưởng đến tư tưởng của thời đại.
Các cuộc khởi nghĩa nông dân cũng có tác dụng không nhỏ trong việc hình thành nên
T
2

lịch sử của nhiều nước. Ở Trung Quốc, các cuộc khởi nghĩa này diễn ra trên quy mô lớn như
cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (ở thế kỉ thứ II - SCN), Hoàng Sào (ở thế kỉ thứ XI),... Điều
quan trọng không phải là các cuộc khởi nghĩa đó diễn ra như thế nào mà là vai trò lịch sử
của nó.
Sự giao lưu quốc tế giữa Âu - Á đã làm thay đổi lịch sử nhiều nước trên thế giới. Sự
T
2

giao lưu này bắt nguồn từ việc buôn bán giữa các nước phương Đông và phương Tây qua
các con đường giao thương ở phía Bắc các nước vùng Tiểu Á, Trung Á và ở phía Nam từ

vịnh Ba Tư đến Đông Dương. Sự đan bện vào nhau của đời sống, lịch sử các dân tộc Đông
T3
2

T3
2

và Tây thời Trung đại là có thật. Và sự xác lập chế độ phong kiến ở các nước tùy theo điều


kiện lịch sử của mỗi quốc gia, nhưng ở phương Đông thì phát sinh sớm hơn ở phương Tây,
ngay cả mầm chồi của tư bản chủ nghĩa cũng phát sinh sớm hơn ở phương Tây.
T7
2

T7
2

Bên cạnh đó, phương Đông lại xuất hiện những điều kiện thường xuyên kìm hãm quá
T
2

trình phát triển của lịch sử, làm chậm phát triển những yếu tố tư bản chủ nghĩa. Có thể nói
phương Đông đi trước nhưng lại về sau.
Từ những điều kiện lịch sử đó, ta có thể khẳng định phương Đông trải qua thời kì Phục
T
2

hưng nhưng với những sắc thái khác so với các nước phương Tây.
1.2.2. Văn học phương Đông và vấn để Phục hưng ở phương Đông :

Vấn đề này phản ánh rõ nét trong văn học thời nhà Đường. Nếu Petraque là nhà thơ
T
2

đầu tiên của phong trào Phục hưng phương Tây thì Lý Bạch được xem là nhà thơ đầu tiên
của phong trào Phục hưng Trung Quốc. Nhưng mở đầu cho kỉ nguyên này phải kể đến
Vương Duy và Đỗ Phủ, những người khởi xướng thực sự cho nền thơ ca thời kì Phục hưng
ở Trung Quốc. Cả ba nhà thơ đều có phong cách riêng, mỗi người một góc độ, nhưng họ
gặp nhau ở chỗ khám phá cái mới, mở đầu cho thơ ca tự do đầy hứng khởi. Họ sống vào
thời kì mà xã hội Trung Quốc có những mặt mạnh và các mặt yếu, là sự khủng hoảng trong
đời sống trước yêu cầu to lớn của thời đại là phải thiết lập cho được một trật tự mới. Thơ ca
của họ đã làm được điều đó, đã thể hiện được cái mới trong đời sống tâm hồn, trí tuệ của đất
nước theo sát sự chuyển biến của lịch sử.
Lý Bạch là nhà thơ đầu tiên đã cảm nhận được sâu sắc điều đó. Ông thể hiện quan
T
2

điểm của mình về cái mới đó, nói lên sứ mệnh của mình trong việc tìm kiếm cái đẹp của
thời cổ. Ông nói về mình :"Từ Lương, Trần lại đây, (thơ) trở nên cực kì diêm dúa và nông
cạn. Thẩm Hưu văn lại tôn sùng thanh luật. Người phục hồi lại con đường cổ không phải là
ta thì còn ai nữa ?" (Mạnh Khởi, Bản sự thi - cao vật đệ tam, tr.416, Lịch sử văn học Trung
Quốc). Sự phục sinh thơ ca chân chính được nhà thơ thể hiện một cách hình tượng chính là
lòng khát khao chờ đợi sự xuất hiện cửa "Lân", một hình tượng tượng trưng cho đức nhân
của con người. Nhà thơ thể hiện lòng khát khao giải phóng con người thoát khỏi chủ nghĩa
giáo điều của thời Trung đại.
Bản thân Lý Bạch, Vương Duy, Đỗ Phủ đều tượng trưng cho cái mới. Lý Bạch tự
T
2

xưng mình là một cư sĩ, một đấng trích tiên, là hiện thân của Phật Vimana kinh. Tất cả



những điều đó không ngoài việc thể hiện tinh thần tự do của con người sống giữa trần thế,
ôm ấp một tình yêu thiết tha đối với quê hương đất nước, con người và cuộc sống. Tiếng thơ
khiến cho lòng người cảm thấy tâm hồn bay bổng, lòng tràn đầy một sức mạnh tinh thần đột
phá mọi trói buộc. Tinh thần ấy được thể hiện qua hình ảnh đất nước tươi đẹp hữu tình, tràn
đầy cảm xúc của nhà thơ :
"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thương lai
T
2

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi".
T
2

(Há chẳng thấy nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống, chảy nhanh ra biển chẳng quay về).
T
8
2

(Tương Tiến Tửu)
T
0
1

Bài tứ tuyệt "Tĩnh dạ tư" thể hiện lòng nhớ quê hương tha thiết:
T
2

"Sàng tiền minh nguyệt quang

T
2

Nghi thị địa thượng sương
T
2

Cử đầu vọng minh nguyệt
T
2

Đê đầu tư cố hương".
T
2

(Đầu giường ánh trăng rọi
T
8
2

Ngỡ mặt đất phủ sương
T
8
2

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
T
8
2


Cúi đầu nhớ cố hương)
T
8
2

Lý Bạch còn ôm ấp một lí tưởng là đem tài năng và trí lực giúp đời, làm cho thiên hạ
T
2

yên ổn, bốn bể thanh bình. Nhưng trước thực trạng xã hội ngày càng đen tối, giai cấp thống
trị bộc lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa, chỉ biết đến quyền lợi của cá nhân mình, nhà thơ đã hát
lên bài ca phẫn nộ, bộc lộ sự bất mãn của mình :
"Ngô quan tự cổ hiền đạt nhân
T
2

Công thành bất thoái giai vẫn thân".
T
2

(Ta thấy những kẻ hiền đạt tự xưa công thành mà thân không thoái đều bỏ mạng).
T
8
2

T9
8
2

T9

8
2


(Hành lộ nan - 2 . Đáp lại bài "Cảm khái nhân uống rượu một mình trong đêm lạnh"
T
0
1

T2
0
1

T2
0
1

của Vương Thập Nhị).
Quan điểm sống của Lý Bạch có mâu thuẫn : một bên là tinh thần hăm hở với khát
T
2

vọng nhập thế để tạo lập công danh, sự nghiệp, một bên là tinh thần bảo mạng, ý muốn ẩn
dật giữa xã hội đầy ngang trái, bất công.
Trong nhân dân, phụ nữ là đối tượng được nhà thơ chú ý nhiều nhất. Hầu hết các tầng
T
2

lớp phụ nữ đều được nhà thơ đề cập đến. Ông khắc họa thành công hình ảnh, tâm tư của họ
với cách nhìn mới mẻ của một trái tim giàu lòng nhân hậu qua những bài thơ nổi tiếng, được

nhiều người ca ngợi xưa nay, như : Xuân tứ, Ô dạ đề, Bắc phong hành, Đáo ý thiên xuân
oằn, Thiếp bạc mệnh, Bạch đầu ngâm,...
Tiếp nối con đường thơ ca đầy sáng tạo của Lý Bạch là Vương Duy và Đỗ Phủ. Đỗ
T
2

Phủ là một trong những nhà thơ lớn trong văn học Phục hưng Trung Quốc. Nếu Lý Bạch
được mệnh danh là “ thi tiên” thì Đỗ Phủ được người đời phong tặng là “ thi thánh”, một
T8
2

T8
2

T8
2

T8
2

nhà thơ bậc thầy về tư tưởng và nghệ thuật thơ ca, người mà các nhà thơ lớn của Việt Nam
như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,... đều chịu ảnh hưởng khá rõ nét và đồng cảm sâu sắc.
Cuộc đời của Đỗ Phủ nằm gọn trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Trung
T
2

Quốc. Bản thân ông cũng như gia đình ông phải sống một cuộc đời trôi nổi, tha hương. Lúc
cuối đời, ông phải gửi thây nơi đất lạ quê người. Ông vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng
của một giai đoạn lịch sử đầy biến động và đen tối của Trung Quốc lúc bấy giờ.
Hoàn cảnh sống đã khiến cho các sáng tác của Đỗ Phủ sát với hiện thực đau xót, khổ

T
2

cực của quần chúng nhân dân. Nó tương phản với cảnh sống xa hoa, quyền quý của quý tộc
phong kiến. Trung tâm chú ý của ông chính là con người. Ông đứng về phía "dân đen", coi
nỗi đau của họ như chính nỗi đau của mình. Hiện thực đó được phản ánh trong sáng tác của
ông, qua con người của thời đại mình, đất nước mình.
Ông trở thành nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, theo nghĩa cao quý nhất. Nhà thơ đã nhiều
T
2

lần vạch trần sự đối lập gay gắt trong xã hội phong kiến :
"Quan lớn trong triều ngấy rượu thịt
T
2

Bọn dân mảnh vải tấm tranh không"
T
2


(Tuế án hành)
T
0
1

"Chu môn tửu nhục xú
T
2


Lộ hữu đống tử cốt"
T
2

(Cửa son rượu thịt ôi. Ngoài đường xương chết rét).
T
8
2

Xuất phát từ lòng yêu mến nhân dân, Đỗ Phủ không ngần ngại vạch trần tội ác của giai
T
2

cấp thống trị. Ngòi bút của ông đã vạch trần bản chất của bọn quý tộc có địa vị cao nhất
(trong : Lê nhân hành, Khiển ngô, Khô tòng, Cam lam, Tống vi phúng,...). Ông đặc biệt
quan tâm đến đời sống của nhân dân, ông cảm nhận sâu sắc về nỗi đau của họ - phần lớn là
do cuộc nội chiến gây ra. Thơ ông chủ yếu nói về chiến tranh và thảm họa của nó.
Điều tỏa sáng của nhà thơ là tấm lòng ưu quốc thương đời. Cho cuộc sống trong cảnh
T
2

ngộ đói rét cơ hàn, nhưng tấm lòng bao la, chan chứa tình người của ông vẫn không hề thay
đổi, không hề bi quan.
Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo thời phong kiến.
T
2

Thơ ca của ông có sự đổi mới, tạo được những thành quả văn học phong phú và có ích đối
với đời sau.


1.3. Chủ nghĩa nhân đạo mang tính chất Phục hưng trong văn học Việt Nam thế
kỷ XVIII - XIX :
1.3.1. Những nhân tố mới của lịch sử xã hội Việt Nam mang tính chất xã hội tiền tư
bản :
Chúng ta biết rằng chủ nghĩa nhân đạo Phục hưng ở phương Tây và Trung Quốc được
T
2

thể hiện rõ dựa trên sự phát triển có tính quy luật của lịch sử qua các thời đại.
Ở Việt Nam, vấn đề này cần căn cứ vào đặc thù của lịch sử xã hội Việt Nam và văn
T
2

học Việt Nam thời hậu kì Trung đại. Các nhà nghiên cứu cho rằng ở Việt Nam, thế kỉ XVIII
và đầu thế kỉ XIX là thời kì mà "các tác phẩm văn học thấm nhuần tư tưởng nhân đạo chủ
nghĩa" [32, 114]
Vào thời kì này, xã hội Việt Nam có những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị, xã hội,...
T
2

Đó là nhân tố thuận lợi cho sự phát triển các khuynh hướng mới trong văn học.


Xã hội Việt Nam từ thế kỉ XVIII đã diễn ra sự khủng hoảng trong toàn bộ cơ cấu xã
T
2

hội phong kiến, một sự khủng hoảng được báo hiệu từ trước. Thời kì này có sự phân chia
lãnh thổ do hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn tiến hành: chúa Trịnh ở miền Bắc
(Đàng Ngoài), chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong).

Trong đời sống kinh tế, xã hội cũng có những thay đổi đáng kể. Sự hứng khởi của các
T
2

đô thị lớn như Kẻ chợ (còn gọi là kinh kì Thăng Long), Phố Hiến, Thanh Hà (Thừa Thiên),
Hội An,... đã tạo sự thay đổi cho bộ mặt xã hội. Các trung tâm buôn bán lớn, các làng mạc
có các nghề thủ công được tổ chức lại thành phường hội để sản xuất chuyên nghiệp về một
mặt hàng nào đó, như : nghề làm đồ gốm, nghề dệt, nghề in, nghề khắc tranh, nghề mộc,...
Các ngành khai thác khoáng sản bước đầu gây được sự chú ý và có dấu hiệu phát triển rộng
rãi. Chính quyền phong kiến còn cho mở những xưởng đóng tàu, xưởng chế tạo súng.
Những đổi thay mới mẻ này sẽ tạo một tiền đề tươi sáng cho dân tộc, cho đất nước.
Nhưng thật đáng tiếc ! Chính quyền phong kiến bảo thủ đã ngăn cản sự phát triển của
T
2
3

đất nước. Triều đình nhà Nguyễn đã áp dụng chính sách "đàn áp thương nhân", hạn chế sự
giao thương với các nước, làm chậm tốc độ phát triển của xã hội. Hơn nữa, trong hàng ngũ
của giai cấp thống trị lại có sự phân hóa thành hai thành phần : Nho sĩ quan liêu và Nho sĩ
bình dân.
Tầng lớp địa chủ cũng ngày càng lớn mạnh, khiến cho đời sống của người nông dân
T
2
3

phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề, làm cho cuộc sống của họ càng ngày càng cơ cực hơn.
Điều đó đã làm cho nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên mạnh mẽ suốt mấy thế kỉ liền.
Các cuộc khỏi nghĩa này đã làm cho chính quyền phong kiến hết sức lúng túng. Vì thế,
chúng không ngừng thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân. Phong trào này bị
dập tắt thì ít lâu sau phong trào khác nổi lên. Chính quyền phong kiến không thể làm lắng

dịu các cuộc đấu tranh của quần chúng, ngược lại các cuộc đấu tranh ấy càng lúc càng mạnh
thêm, mà đỉnh cao của nó là phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Điều đó chứng tỏ xã
hội phong kiến suy thoái đến cùng cực. Những cuộc khởi nghĩa này dù thành công hay thất
bại cũng góp phần thúc đẩy xã hội tiến về phía trước, tạo những đổi thay mới mẻ trong đời
sống con người, nhất là về phương diện tư tưởng.
Một nhân tố quan trọng góp phần làm đổi thay diện mạo của đất nước là sự xuất hiện
T
2
3

của các nhà tư tưởng tiên tiến như Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Phan Huy


Chú, Ngô Thì Nhậm,... Họ chính là những con người "khổng lồ của thời đại". Với nhận thức
mới mẻ về cuộc sống, với niềm khát khao khám phá chân lí, đào sâu tri thức khoa học, họ
đã đề xuất những dự án cải cách xã hội, chú ý việc làm trong sạch hóa hệ thống thi cử, quy
hoạch lại đất đai, tạo điều kiện cho người cày có ruộng để làm ăn sinh sống, chú trọng việc
phát triển thương nghiệp - một yếu tố không thể thiếu được trong sự phát triển của đất nước.
1.3.2. Sư đổi thay của văn học thời kì Nguyễn Du :
Về văn học, phải kể đến sự xuất hiện của tiêu chí hiện thực trong quan niệm về cái đẹp
T
2

của văn chương, góp phần thúc đẩy văn học phát triển theo hướng hiện thực. Không phải
ngẫu nhiên mà hàng loạt các tác phẩm có tính chất ghi chép, mô tả thực tế thuộc các thể loại
truyện kí, tùy bút xuất hiện hầu như cùng thời, như "Thượng kinh kí sự" của Lê Hữu Trác,
"Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, "Công dư tiệp kí" của Vũ Phương Đề và đặc biệt là
tác phẩm"Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô gia văn phái.
Ngọn gió mới trong sự phát triển xã hội và tinh thần của xã hội Việt Nam được phản
T

2

ánh rõ nét qua văn học. Quần chúng nhân dân bước đầu đã có ý thức. Họ công khai nhạo
báng các nhà sư mất phẩm chất đạo đức, bọn thầy đồ, nho sĩ thiếu tư cách và sự mê tín dị
T3
2

T3
2

T3
2

T3
2

đoan trong tầng lớp nhân dân,...
Vào thời kì này, tính chất phản phong trỗi dậy mạnh mẽ, phơi bày bộ mặt xấu xa của
T
2

giai cấp thống trị. Dân gian đã dựng lên hình tượng nhân vật Trạng Quỳnh, một con người
thông minh, mưu trí, dũng cảm, ứng xử tài tình, đã đột phá vào thành trì của giai cấp thống
trị, vạch trần bản chất xấu xa, dâm dật của chúng làm cho chúng thất điên bát đảo. Nhân vật
Trạng Quỳnh đã hè mở cho chúng ta thấy dấu ấn con người cá nhân dù còn nép mình trong
khuôn khổ của lòng trung thành tuyệt đối với trật tự của xã hội phong kiến.
T3
2

T3

2

Tính chất phản phong còn được biểu hiện rõ nét trong những vở chèo dân gian. Nhân
T
2

dân đã bày tỏ thái độ sống của mình qua hình tượng nhân vật Thị Mầu, một con người có cả
hai yếu tố thuộc bản chất người : cái tốt và cái xấu. Chúng ta thấy rõ hành động phê phán
của quần chúng qua cách sống buông thả, thiếu tinh thần trách nhiệm của Thị Mầu. Ở một
góc độ khác, nó bộc lộ khát vọng sống của con người mong muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của
đạo đức và lễ giáo phong kiến khắc nghiệt. Con người phải có quyền sống, quyền được yêu
và hành động theo suy nghĩ của mình. Cái hoang thai của Thị Mầu là sự thách thức đối với
xã hội phong kiến trước những lỡ lầm của người phụ nữ. Dân gian cũng từng phản ứng qua
câu ca dao :


"Không chồng mà chửa mới ngoan
T
2

Có chồng mà chửa thế gian sự thường"
T
2

Chính vì thế mà nhân vật có sức hấp dẫn đối với công chúng. Nó phù hợp với khát
T
2

vọng được sống tự do của con người.
Nét đặc trưng của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX là sự quan tâm đến số phận

T
2

con người, thế giới nội tâm của con người, điều mà trước đây văn học không đề cập đến
hoặc ít dám đề cập đến. Thường thì cảm xúc của nhà văn chưa thoát khỏi khuôn khổ của
quy phạm trong văn học Trung đại. Họ thường tuân thủ theo quy tắc của Nho giáo, theo
nguyên tắc của chữ "Lễ": trên dưới phải có tôn ti, trật tự, thần dân phải quy phục vua chúa,
con cái phải phục tùng cha mẹ, vợ chồng đối xử với nhau phải tương kính như khách, ...
Nguyên tắc này được phản ánh khá rõ nét trong văn học sơ kì Trung đại. Do đó, con người
trong văn học không có cá tính rõ, mọi hành vi ứng xử đều phải tuân theo nguyên tắc về
nghĩa vụ đối với đất nước, gia đình, cộng đồng,... Con người phải lẩn tránh cái tôi cá nhân
của mình. Họ phải khoác lên mình bộ mặt đạo đức, một chiếc "mặt nạ" để che dấu cái riêng
tư của mình. Nhưng trong đời sống tâm hồn của con người, tình cảm giống như một mạch
nước ngầm len lỏi trong lòng đất chờ dịp tuôn chảy. Bài thơ tình của Nguyễn Trãi là một
minh chứng cho tình cảm cá nhân của con người, những cảm xúc rất riêng của con người:
"Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng
T
2

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng
T
2

Ngoài ấy dầu còn áo lẻ
T
2

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng"
T
2


(Nguyễn Trãi - Quốc âm thi tập)
T
2

Cảm xúc của Nguyên Trãi rất gần với tâm trạng của Tự Đức (?) sau này trong bài thơ
T
2

"Khóc Bằng Phi" :
"Đập vỡ kính ra tìm lấy bóng
T
2

Xếp tàn y lại để dành hơi".
T
2

Một thứ tình cảm hết sức riêng tư của con người cá nhân.
T
2


Tác phẩm "Hương miết hành" là một bài ca về tình yêu vượt ra ngoài khuôn khổ của
T
2

T3
2


T3
2

Nho giáo, "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ cũng hé mở một quan niệm mới mẻ về tình
yêu và tình dục của con người. Tất cả những vấn đề trên dù chỉ mới là một dự báo cho "cái
tôi" của con người nhưng phần nào nó cũng giúp chúng ta nhận thức được sự chuyển mình
sẽ phát triển hơn ở giai đoạn sau.
Nếu ở phương Tây, sự ra đời của con người mới gắn liền với sự hình thành và phát
T
2

triển của chế độ tư bản chủ nghĩa thì ở Việt Nam sự biến đổi của con người thời đại gắn liền
với thực tiễn xã hội đầy phức tạp của Việt Nam trong giai đoạn này. Sự khác nhau cơ bản
của con người thời đại chính là cách nhận thức đúng với bản chất thực của con người.
Ở những giai đoạn trước, khi nói đến con người, ta có thể hình dung ngay đến hai loại
T
2

người trong xã hội. Đó là là người quân tử và kẻ tiểu nhân. Cảm xúc của người sáng tác
cũng mang tính chất lí tưởng. Đến giai đoạn này, con người trong xã hội không phải chỉ có
hai kiểu hình đó mà nó hết sức phức tạp, đa dạng. Nó có thể tùy lúc, tùy thời, tùy cảnh ngộ
cụ thể, có thể suy nghĩ về những điều phức tạp trong cuộc sống, thậm chí đó chỉ là những
vấn đề có tính vụn vặt, tầm thường trong cuộc sống. Con người của thời đại này còn có
những nhu cầu giao tiếp, trao đổi tâm tình, bàn luận văn chương thơ phú bằng quan hệ tri
âm, tri kỉ, trong môi trường văn hóa đô thị, dần dần hình thành một quan điểm thẩm mĩ khác
trước.
Con người bắt đầu ý thức về cái đẹp theo quan điểm nhân sinh trong môi trường văn
T
2


hóa phi cổ truyền. Ý thức về cá nhân cũng bắt đầu nảy sinh.
Một nét nổi bật, rất quan trọng là sự hình thành một đội ngũ sáng tác có vốn sống
T
2

phong phú. Phần lớn họ thuộc tầng lớp trí thức bình dân, có điều kiện tiếp xúc với văn hóa
đô thị, chịu ảnh hưởng của tư tưởng thị dân, có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với cuộc sống
của quần chúng nhân dân lao động, thấu hiểu được cuộc đời của họ, thông cảm với những
tâm tư, tình cảm đầy khao khát, ước mơ của họ. Vì thế, nguồn cảm hứng của nhà văn, nhà
thơ bắt đầu từ những bi kịch nhức nhối của xã hội, xoay quanh số phận con người. Nó cũng
chính là khuynh hướng chủ đạo trong sáng tác của nghệ sĩ đương thời.
Vấn đề văn học đặt ra cho thời kì này hết sức phong phú. Nó theo sát những vấn đề
T
2

của cuộc sống, nó không còn ép mình trong khuôn khổ ước lệ như trong văn học ở giai đoạn
trước.


Hòa cùng nỗi đau của thời đại, "tiếng khóc" trở thành âm điệu chủ đạo của văn học
T
2

thời kì này - tiếng khóc của người chinh phụ khắc khoải chờ chồng chinh chiến tận miền xa,
tiếng khóc nghẹn ngào, uất nghẹn của nàng cung nữ chăn đơn gối lẻ, khao khát một hạnh
phúc đời thường, tiếng khóc chồng của Lê Ngọc Hân, tiếng khóc chị của Nguyễn Hữu
Chỉnh, tiếng khóc vợ của Phạm Nguyễn Du và hơn hết là những âm thanh vang vọng đến
buốt lòng của Nguyễn Du khóc đời, khóc cho số phận con người và cho chính bản thân
mình ở giữa đời.
Đến đây, cái tôi cá nhân đã ý thức về nỗi đau, về quyền tự do của con người trong tình

T
2

yêu và hạnh phúc, trong chừng mực nào đó đã xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Gia
Thiều, Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Phạm Thái, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá
Quát, Nguyễn Công Trứ,... Mặc dù chưa thật sắc nét và còn ít ỏi nhưng "cái tôi" này vẫn có
ý nghĩa nhân bản chống phong kiến, ít nhiều mang chất hiện đại, bởi nó thuận theo quy luật
phát triển sự sống của con người.
Sự thay da đổi thịt của văn học thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học
T
2

nước ngoài trong quá trình giao lưu giữa các dân tộc trên thế giới. Ảnh hưởng đầu tiên, rõ
nét nhất là ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, cụ thể là thơ ca trong văn học đời Đường và
tiểu thuyết Minh - Thanh, với chủ đề tình yêu nam nữ gắn liền với đề tài xã hội. Tác phẩm
"Hồng lâu mộng", "Kim Vân Kiều",... thể hiện một quan niệm mới mẻ về tình yêu nam nữ.
Tiếng nói của trái tim được đặt ra mặc dù chưa được sự chấp nhận dễ dàng khi mà cội rễ
phong kiến vẫn còn bền chặt. Nhưng tiếng nói ấy đã tạo được sự đồng cảm với các tác giả
Việt Nam, bởi nó là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người
trần thế.
Bên cạnh đó, văn hóa phương Tây cũng bắt đầu du nhập Việt Nam, xâm nhập đời sống
T
2

tinh thần của người Việt Nam từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta thì một thứ tôn
giáo mới bắt đầu len lỏi vào đời sống tinh thần của một số người Việt. Sự du nhập của
Thiên chúa giáo đã mang theo những tri thức mới về khoa học. Nó được một số nhà tư
tưởng tiến bộ đón nhận để làm đổi thay dần những tri thức cổ hủ của phong kiến. Dù lực cản
của phong kiến và tư tưởng tam giáo vẫn còn nặng nề nhưng cuộc sống đích thực đã giúp
nhà văn có cái nhìn mới mẻ hơn, nhất là đối với số phận của người phụ nữ, một hiện tượng

mới và lạ trong văn học. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người phụ nữ được nói đến
với vị trí trung tâm của tác phẩm.


Có một sự đột phá trong văn học khi nhà văn đặt vấn đề tài - sắc - tình trong cuộc đời
T
2

người phụ nữ, một hiện tượng hết sức xa lạ trong văn học trước kia. Người phụ nữ không
còn là một "công cụ", một kẻ nô lệ ép xác khổ hạnh theo giáo điều phong kiến mà họ được
đặt vào môi trường sống đích thực với những nhu cầu chính đáng của con người trong đời
sống tình cảm, tình yêu, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả trong vấn đề tình dục của con
người cũng được hè mở. Nó giống như quy luật hòa hợp của âm dương, của đất trời, của vũ
trụ. Nó không thể thiếu được.
Trong tác phẩm "Lan trì kiến văn lục" của Vũ Trinh, "Tháp báo ân" là câu chuyên tình
T
2

yêu ở sắc độ táo bạo nhất của nhục cảm. "Chinh phụ ngâm khúc", "Cung oán ngâm khúc"
cũng công khai bộc lộ những điều thầm kín nhất bằng sự liên tưởng độc đáo:
"Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh
T
2

Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
T
2

Liễu sen là thức cỏ cây
T

2

Đôi hoa cũng dính đôi cây cùng liền".
T
2

(Chinh phụ ngâm)
T
0
1

Người cung nữ trong "Cung oán ngâm" đã nuối tiếc ái ân bằng thái độ khao khát :
T
2

"Cái đêm hôm ấy hôm gì
T
2

Bóng dương lồng bóng trà mi chập chùng"
T
2

(Cung oán ngâm)
T
0
1

Những dự báo này về sau cũng được Hồ Xuân Hương công khai bày tỏ trong thơ của
T

2

mình, một vấn đề có tính chất nhân đạo mà văn học giai đoạn trước né tránh, không dám đề
cập đến, xem đó là điều xấu hổ của con người.
Sự nhận thức về giá trị con người sâu sắc nhất trong trào lưu nhân đạo chủ nghĩa phải
T
2

kể đến Nguyễn Du. sáng tác của Nguyễn Du so với các nhà văn ở thế hệ trước như Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,... và các tác gia trên thế giới thì cũng chưa phải là đồ sộ lắm
nhưng cái đáng nói là ông đã để lại cho đời bài ca bất diệt về tình nhân ái của con người.
Tác phẩm của ông toát lên tinh thần nhân đạo sâu sắc, một chủ nghĩa nhân đạo mang nội
dung mới, hoàn toàn khác với chủ nghĩa nhân đạo trong văn học tiền kì Trung đại.


×