Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

đặc điểm bút ký nguyễn bắc sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (617.74 KB, 94 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Hòa

ĐẶC ĐIỂM BÚT KÝ
NGUYỄN BẮC SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Hòa

ĐẶC ĐIỂM BÚT KÝ
NGUYỄN BẮC SƠN
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013



LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:
PGS.TS Phùng Quý Nhâm – người đã gợi ý và hướng dẫn, góp ý cho tôi
hoàn thành luận văn.
Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học và thực hiện luận
văn.
Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa
học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh giúp đỡ tôi về mặt tài liệu .
Gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và quan tâm trong suốt thời gian qua.
Trân trọng cảm ơn!
Người viết
Nguyễn Văn Hòa

1


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................4
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .............................................................................................5
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài ...............................................8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................................8
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn ..............................................................................9

CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI BÚT KÝ VÀ BÚT KÝ TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG

TÁC CỦA NGUYỄN BẮC SƠN .............................................................................. 10
1.1. Thể loại bút ký ...........................................................................................................10
1.1.1. Khái niệm .............................................................................................................10
1.1.2. Phân loại bút ký ....................................................................................................11
1.1.3. Sơ lược sự phát triển của bút ký trong nền văn học Việt Nam ............................12
1.2. Bút ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn ..........................................15
1.2.1. Vài nét con người nhà văn Nguyễn Bắc Sơn .......................................................15
1.2.2. Văn nghiệp của Nguyễn Bắc Sơn .........................................................................16
1.2.3. Khái quát bút ký Nguyễn Bắc Sơn .......................................................................20
1.2.4. Hình tượng tác giả trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn ...............................................21

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRONG BÚT KÝ NGUYỄN BẮC SƠN
..................................................................................................................................... 26
2.1. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn........26
2.1.1. Thiên nhiên trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn là sự khám phá sinh động độc đáo ..26
2.1.2. Thiên nhiên đặt trong mối quan hệ với con người ...............................................31
2.2. Hiện thực đời sống và con người trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn..........................38
2.2.1. Hiện thực đời sống trong chiến tranh và trong hòa bình ......................................38
2.2.2. Khắc họa chân dung các nhân vật anh hùng và những con người thời đại mới...45
2.3. Truyền thống văn hóa, giáo dục, lịch sử, địa lí trong và ngoài nước ...................54

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT NỔI BẬT TRONG BÚT KÝ
NGUYỄN BẮC SƠN ................................................................................................. 61
3.1. Giọng điệu nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn ...........................................61
3.1.1. Khái niệm về giọng điệu nghệ thuật .....................................................................61
2


3.1.2. Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn ..........................62
3.2. Ngôn từ nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn ................................................71

3.2.1. Khái niệm ngôn từ nghệ thuật ..............................................................................71
3.2.2. Đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn...............................73
3.3. Chi tiết nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn .................................................80
3.3.1. Khái niệm chi tiết nghệ thuật ...............................................................................80
3.3.2. Đặc điểm chi tiết nghệ thuật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn ................................82

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 90

3


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngay từ những thông tin đầu tiên về nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, chúng tôi đã thật
sự bị lôi cuốn bởi một tài năng “chín muộn”, với một khả năng quan sát, dự đoán. Theo
nhà thơ Vũ Duy Thông nhận xét: “Bằng trực cảm tiên tri, nhà văn dự báo những gì chưa
tới nhưng sẽ tới”. Xuất thân là một thầy giáo dạy Văn, cán bộ quản lý báo chí xuất bản,
Nguyễn Bắc Sơn từng trải trong từng trang văn trang báo. Sự thành công của bộ tiểu
thuyết hai tập Luật đời và cha con, và mới đây nhất tiểu thuyết Lửa Đắng của ông được
đánh giá là tiểu thuyết luận đề chính trị đầu tiên đề cập trực tiếp, trực diện về thể chế, cơ
chế chính trị. Với hơn năm mươi bài giới thiệu trao đổi trên báo in, báo hình, báo điện tử
và luận văn, phần nào cũng nói lên thành công của ông trong lĩnh vực này. Tiếng vang
ấy không chỉ dừng ở nội dung đề cập thẳng thắng trực diện mà còn được đánh giá cao ở
phương diện nghệ thuật thể hiện và giọng điệu cá tính của nhà văn.
Bút ký được xem là một bộ phận của ký văn học, một thể ký có độ nhòe khá cao
về ranh giới thể loại. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng viết: “Cùng với cảm xúc văn học,
bút ký còn chứa đựng tất cả sức nặng vật chất của các sự kiện được giữ lại”. Sức hấp dẫn
và thuyết phục của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu khả năng
biểu đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề cập nhằm phát hiện những khía cạnh nổi

bật, những ý tưởng mới mẻ và sâu sắc trong các mối quan hệ giữa tích cách và hoàn
cảnh, cá nhân và môi trường. Như vậy, bút ký chính là mảnh đất màu mỡ, để nhà văn
được thể hiện cái tôi trữ tình cá tính, Nguyễn Bắc Sơn cũng không nằm ngoài dòng chảy
đó. Bút ký của ông thể hiện sự từng trải, chiêm nghiệm với đời, đi nhiều hiểu nhiều, sự
ghi chép với những phát hiện đầy thú vị. Thiết nghĩ, đây là tiền đề quan trọng để khẳng
định sự thành công của Nguyễn Bắc Sơn ở thể loại này.
Nói như Bakhtin: “Một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ,
nhìn nhận, giải minh thế giới và con người”. Bút ký của nhà văn đã tạo nên một mảng
sinh động của đời sống văn học. Lật từng trang bút ký, với tôi là sự ám ảnh, ấn tượng bởi
những lời văn lập luận đầy sức thuyết phục được xuất phát bởi một người nhiều trải
nghiệm, nặng lời ghét đời nhưng cũng rất nặng lòng với nó. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài:

4


“Đặc điểm bút ký Nguyễn Bắc Sơn”, với hy vọng có sự nhìn nhận cụ thể hơn về con
người và phong cách của ông.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bút ký Nguyễn Bắc Sơn – lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ trong thời gian gần
đây. Vì vậy, việc tìm kiếm tư liệu vẫn còn hạn chế, gồm một luận văn, một số bài viết
trên báo mạng. Cụ thể như sau:
Trần Thúy Hằng với cuốn luận văn “Đặc điểm bút ký Nguyễn Bắc Sơn” đã
nghiên cứu về hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong bút ký. Có thể nói, đây là
công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về bút ký của ông. Tác giả luận văn đã cung cấp
cho chúng ta một cái nhìn khái quát hiện thực đời sống và những điểm nổi bật trong
nghệ thuật biểu hiện của tác phẩm.
Về nội dung, luận văn đã khai thác từ góc nhìn về đời sống như: hình ảnh thiên
nhiên, quê hương đất nước và những suy tư và trăn trở của con người trước cuộc sống
hiện tại, qua đó thể hiện cái tôi trần thuật của nhà văn. Người viết đã nhận định: “Những

trang bút ký Nguyễn Bắc Sơn đã mang đến cho người đọc một cái nhìn chân thực, toàn
diện, đa chiều và sâu sắc về đời sống và con người. Ở đề tài viết về thiên nhiên, tác giả
chú ý đến tính hai chiều trái ngược của nó. Một bên là những hình ảnh thiên nhiên tươi
đẹp, đặc biệt là hình ảnh con sông Mã chở nặng phù sa …Nguyễn Bắc Sơn đã viết nhiều
về quê hương, đất nước trong quá khứ, hiện tại và tương lai bằng tất cả tình yêu chân
thành, tha thiết của mình…Con người trong sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn rất đa dạng,
muôn màu muôn vẻ với những cách nghĩ, cách sống khác nhau…Mỗi con người đi qua
đều để lại cho tác giả một ấn tượng không thể phai. Ấn tượng xuất phát bởi chính tình
yêu, niềm tin và sự quan tâm đối với con người tác giả”[24; 97].
Về nghệ thuật, luận văn được triển khai trên các mặt: lựa chọn chi tiết, giọng điệu,
ngôn ngữ và kết cấu. Tác giả đưa ra ý kiến: “Bút ký không phải là mảnh đất mà bất kỳ ai
cũng thành công khi bước vào nhưng đó lại thực sự là một nơi ươm mầm cho Nguyễn
Bắc Sơn. Nhà văn quan tâm đặc biệt đến việc lựa chọn những chi tiết độc đáo, đặc sắc,
xây dựng những dạng kết cấu phù hợp cho bút ký (kết cấu theo dòng sự kiện, kết cấu hồi
tưởng), thể hiện sắc thái giọng điệu đa dạng và đặc biệt là với vốn ngôn ngữ phong phú,
giàu chất trí tuệ. Ngôn ngữ bút ký Nguyễn Bắc Sơn đã kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ
5


nghệ thuật với ngôn ngữ báo chí thể hiện những suy nghĩ, cách nhìn của mình về muôn
mặt đời sống. Cũng chính vì thế mà dấu ấn cá nhân thêm đậm nét”[23; 98].
Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Bút ký là thể loại được Nguyễn Bắc Sơn viết
nhiều nhất và góp phần đem lại thành công làm nên tên tuổi của Nguyễn Bắc Sơn. Đọc
bút ký của ông, ta dễ dàng nhận ra một ngòi bút nhiều suy tư trăn trở với cuộc đời, với
những vấn đề của hiện tại. Đọc bút ký của ông, người ta cũng thấy lối viết đầy sáng
tạo, ấn tượng, có những độc đáo riêng. Không quá khi khẳng định rằng Nguyễn Bắc
Sơn là một trong những cây bút viết bút ký thành công của văn học thời kỳ đổi mới”[3;
99].
Tuy nhiên, với sự trùng lặp về đề tài nghiên cứu“Đặc điểm bút ký Nguyễn Bắc
Sơn”, chúng tôi vẫn tìm thấy được những khía cạnh mà tác giả Trần Thúy Hằng chưa

khai thác hay chuyên sâu. Chẳng hạn, về nội dung, người viết vẫn bỏ ngỏ vấn đề mối
quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người trong xã hội ngày nay
(nhìn từ bức chân dung các nhân vật được đề cập). Về nghệ thuật, chưa đi sâu về giọng
điệu chủ đạo và nghệ thuật ngôn từ. Về phương pháp, chúng tôi nhận thấy tác giả không
sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ chất riêng trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn so với
nhà văn khác. Thiết nghĩ, cùng một đề tài nhưng chúng tôi tin rằng sẽ có những hướng
khai thác mới hơn từ nội dung và nghệ thuật biểu hiện.
Ngoài ra, còn có một số bài báo, những ý kiến nhận xét, phê bình:
Trên tạp chí Cửa Biển (nguồn trang web: cuabien.vn), Nguyễn Long với bài viết
“Người lữ hành không mỏi qua những trang bút ký” đã có cái nhìn tương đối bao quát
về những đề tài, nội dung mà Nguyễn Bắc Sơn đã viết. Có thể nói, tác giả đã cung cấp
cho bạn đọc tất cả những cái hay nhất, cảm động nhất trong từng trang bút ký. Ông chia
bút ký theo từng mảng đề tài như: bút ký về đất, bút ký về chiến tranh và những trang
cảm động về con người và đời sống của họ.
Ông viết: “Có đọc bút ký Nguyễn Bắc Sơn mới biết vốn sống, sự đọc của ông thế
nào. Cứ như ông đã từng lần mò từ cửa Ba Lạt (Nam Định) ngược sông Hồng đi mãi lên
qua 556km trên đất Việt Nam, lại vượt 609km trên đất Trung Quốc đến tận dãy Nguy
Sơn (1776m) ở cao nguyên Vân Nam. Ông miêu tả những cuộc úp cá chép vật đẻ trên
mạn ngược đến việc vớt cá bột dưới xuôi ngay trên đất Hà Nội, cảnh những người phụ
6


nữ cứ đuồn đưỡn cái lưng, ngay người ra, lấy hết gân cốt lừng lững, lầm lũi đi trên
những tấm ngoèo trên thân đê. Ông tả những “bà Nữ Oa” ngày ngày đội cát ấy đến nỗi
bàn chân cứ bạnh ra, ngón chân cứ tòe ra, người thẳng đơ như cái cột nhà, mất hết cả cái
dáng thon thả thắt đáy lưng ong…ông gọi sông Hồng là sông đời của lam lũ vất vả nhọc
nhằn”[57].
Ngoài ra, ông còn đánh giá: “Bút ký về đất, về việc của Nguyễn Bắc Sơn khiến tôi
kinh ngạc về vốn hiểu biết về lịch sử và đời sống nhưng vẫn thấm đẫm tính nhân văn về
những thân phận con người. Nó hấp dẫn lôi cuốn làm tôi đọc say sưa như khám phá

những miền đất lạ, tưởng đã rất quen mà vẫn chưa biết đến tận cùng…Bút ký của ông
tràn đầy những trang tươi rói sống động, đằm thắm tình đất, tình người cho ta thấy một
người lữ hành mải miết đi, mải miết khám phá, mải miết viết làm tôi thẹn vì sự lười
biếng của mình”[83].
Cuối cùng, ông khẳng định: “Nguyễn Bắc Sơn người lữ hành không mỏi mang
trái tim Đanko rực cháy nặng tình trọn nghĩa với nhân dân, đất nước bằng những trang
bút ký sâu sắc tuyệt vời của mình …”[157].
Trang baomoi.com, tác giả Phạm Hà với bài viết “Người trong tôi – Bút ký
Nguyễn Bắc Sơn” nhận xét: “Đọc bút ký “Người trong tôi” của nhà văn Nguyễn Bắc
Sơn, như đi vào một vườn hoa đẹp. Có những bông hoa đẹp, ta đã biết rồi, nghe nhiều
rồi, thế nhưng vẫn phát hiện ra những điều hay, cái mới. Vẻ đẹp ở đây không phải từ
hình thức bên ngoài. Nó ngát hương từ nhân cách, đức độ của những con người”[42].
Trang baotienphong.vn, bài viết “Nguyễn Bắc Sơn sinh ba”, tác giả Trần Mạnh
Thử nhận xét: “Sao lại là Gót thời gian? Nghề viết là nghề đi. Thời gian để lại gót chân
mình trong trang đời, trang văn của ông chăng? Ông đi nhiều. Càng có tuổi càng đi khỏe,
hệt một gã trai lúc nào cũng say mê miền đất lạ, nhìn ngắm và liên tưởng bằng con mắt
nhà văn. Khám phá bằng thói quen tò mò. Quan sát bằng mắt điều tra viên phá án. Đọc
bằng đức tính người nghiên cứu. Nhờ vậy, những nơi in gót chân ông trong ngoài nước
đều hấp dẫn, xui ta tìm đến, tự mình cảm nhận”[5]. Còn với Người trong tôi là: “Sự giầu
có trong quan hệ sống của tác giả. Cô sinh viên trẻ -“nhà ngoại giao nhân dân”. Chị vận
động viên khuyết tật huy chương vàng bóng bàn Đông Nam Á. Thầy giáo ngoài biên chế
duy nhất được giải thưởng toán học Lê Văn Thêm. Vị tướng già một đời coi súng là vợ,
đạn là con kể chuyện bị làm tù binh ở Điện Biên Phủ…”[10]. Và đưa ra kết luận: “Quan
7


trọng là đọc vào. Ấn tượng. Ám ảnh. Văn ông trang nhã và không kém phần sang trọng,
ngồn ngộn cái thật đời sống đã được chưng cất bởi một người nhiều trải nghiệm, nặng
lời ghét đời, nhưng cũng rất nặng lòng với nó”[3].
Tóm lại, đây chỉ dừng lại ở phần giới thiệu sơ lược về nội dung , định hướng bước

đầu cho người đọc tiếp nhận, chưa đi sâu vào tìm hiểu hay đưa ra đánh giá về thể loại
này. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu về đặc điểm bút ký của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn từ đặc
điểm nội dung và nghệ thuật theo đặc trưng thể loại sẽ có đóng góp nhất định .

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng luận văn nghiên cứu chính là đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong
bút ký Nguyễn Bắc Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tài liệu nghiên cứu hai tập bút ký “Gót thời gian” và “Người trong tôi”, Nxb
Văn học - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2010.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc khảo sát các văn bản trên chúng tôi tập trung vào các vấn đề:
4.1. Đặc điểm nội dung trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn:
Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người
Hiện thực đời sống và con người
Truyền thống văn hóa, giáo dục, địa lí trong và ngoài nước

4.2. Đặc điểm nghệ thuật bút ký Nguyễn Bắc Sơn theo đặc trưng thể loại.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài luận văn: “Đặc điểm bút ký Nguyễn Bắc Sơn“, chúng tôi sử
dụng các phương pháp:
5.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp

8


Trên cơ sở phân loại tìm hiểu các bài bút ký, sau đó phân tích theo từng nội dung

chủ đề. Cuối cùng là tổng hợp vấn đề nhằm làm sáng tỏ hơn những luận điểm đã được
trình bày.
5.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Trong quá trình phân tích, chúng tôi có sử dụng so sánh – đồng đại những tác
phẩm cùng thời, qua đó thấy được đóng góp và chất riêng của nhà văn.
5.3. Phương pháp cấu trúc –hệ thống
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng nhằm nhìn nhận lại tác phẩm của ông
trong từng giai đoạn, cụ thể vị trí của bút ký so với các thể loại như tiểu thuyết và truyện
ngắn mà ông đã sáng tác.

6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1. Đóng góp
Với đề tài luận văn đang được triển khai, chúng tôi phân tích về nội dung và nghệ
thuật biểu hiện trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn. Thông qua đó, luận văn góp phần khẳng
định giá trị của bút ký Nguyễn Bắc Sơn, tạo nên diện mạo hoàn thiện về một con người
nặng nợ với đời.
Với kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ một nguồn tư liệu tham khảo cho những
công trình nghiên cứu sau này về bút ký Nguyễn Bắc Sơn nói riêng và sự phát triển của
thể loại ký nói chung.
6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Thể loại bút ký và bút ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bắc
Sơn.
Chương 2: Đặc điểm nội dung trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn.
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn.
Tài liệu tham khảo

9



CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI BÚT KÝ VÀ BÚT KÝ TRONG SỰ
NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN BẮC SƠN
1.1. Thể loại bút ký
1.1.1. Khái niệm

Quan niệm về thể ký nói chung, bút ký nói riêng đã có những ý kiến khác nhau
nhưng nhìn chung các tác giả đều tập trung vào đặc điểm nổi bật của thể loại này.
Theo Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học) thì bút ký: “Thể ký ghi lại những
điều tai nghe mắt thấy, những nhận xét, cảm xúc của người viết trước các hiện tượng
cuộc sống”[28; 92]. “Bút ký là thể ký trung gian giữa ký sự và tùy bút”[29; 92].
Sơn Tùng viết: “Bút ký cũng là một thể ký miêu tả người thật việc thật như phóng
sự, ký sự nhưng trong bút ký nhà văn có thể phát biểu ý kiến, biểu hiện cảm xúc cá nhân
nhiều hơn và không bị gò bó vào một vấn đề một câu chuyện nhất định ... Cần phân biệt
loại bút ký có tính chất nghệ thuật với loại bút ký học thuật ghi lại những nhận thức, thu
hoạch, phát hiện về mặt khoa học” [88].
Trần Đình Sử thì cho rằng: “Bút ký là một thể loại phóng khoáng , tự do mà cái
tính nghệ sĩ trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại”.
Nhà thơ Phạm Hổ từng quan niệm: “Bút ký có thể xem như một thể loại nằm giữa
hai thể loại truyện ngắn và thơ. Cái dễ và cái khó của bút ký có lẽ là ở đó. Dễ ở chỗ bút
ký không đòi hỏi nhất thiết xây dựng cho được nhân vật. Khó là ở chỗ nếu không có cốt
truyện để lôi cuốn người đọc thì phải quyến rũ họ bằng cái gì chứ. Nói cách khác, bút ký
đứng được phải dựa vào đâu. Theo tôi nghĩ thì đó là những cảm xúc thơ, những suy nghĩ
thơ” [41;13].
Từ các ý kiến trên, có thể thấy bút ký là loại văn tự sự nhằm trần thuật người thật
việc thật. Nổi trội trong đó chính là giọng điệu trữ tình, xúc cảm, suy nghĩ bằng ngôn
ngữ cá nhân nhà văn và nó cũng thường bắt nguồn từ một sự kiện nào đó không bị gò bó
trong một khuôn khổ, một quy tắc nào đó tùy theo sự liên tưởng, tưởng tượng của tác giả
để thể hiện được ý đồ cũng như mạch xúc cảm người viết muốn hướng tới.
Thiết nghĩ, bút ký là mảnh đất màu mỡ đi cùng với sự thăng hoa trong cảm xúc và
thể hiện cái tôi tác giả một cách rõ ràng nhất. Đồng hành cùng với sự phát triển của các

10


thể loại văn học, bút ký cũng phát triển theo chiều hướng ngày càng đa dạng hơn. Tuy
nhiên, dù ở phương diện nào thì sự thể hiện của tác giả vẫn là trực tiếp và tuôn tràn theo
dòng cảm xúc, liên tưởng với các sự vật đã diễn ra .
1.1.2. Phân loại bút ký

Từ điển văn học (bộ mới) đã phân bút ký thành ba loại :
Bút ký báo chí: “Chủ yếu nhằm thông tin – lượng thông tin là linh hồn của nó. Do
đó, nó yêu cầu vừa phải rất xác thực, vừa có tính thời sự thường đề cập đến những vấn
đề cấp bách có khi hằng ngày, hằng giờ với một số suy nghĩ ban đầu”[29; 173].
Bút ký chính luận: “Một thể văn quen thuộc của báo chí trong đó thành phần nghị
luận (về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa …) là quan trọng, có khi là chủ yếu. Giá trị
của bút ký chính luận là ở tư tưởng chủ đạo, ở tính logic của lập luận. ở sức thuyết phục
của những dẫn chứng . Nó mang tính tranh luận rõ rệt, ứng chiến kịp thời có tác dụng
tuyên truyền cho một quan điểm nào đó”[ 29; 173].
Bút ký văn học: “Những tác phẩm bút ký có giá trị văn học khi: “ngôn ngữ giàu
hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng tác động đến tâm hồn người” [ 29; 173]. So với bút
ký báo chí, bút ký văn học không đòi hỏi tính xác thực ở mức tuyệt đối, tính cấp bách về
thời sự. Nó đi sâu vào trong thế giới nội tâm của con người, chú ý đến sự khắc họa tính
cách thông qua một cốt truyện và những biện pháp tưởng tượng, liên tưởng, trữ tình với
tất cả những nét riêng tư đặc sắc: “Nói cách khác bút ký văn học chú trọng hơn chất
nhân văn và chất thẩm mĩ”[ 29; 173].
Rõ ràng, sự phân chia này không thể rạch ròi tuyệt đối. Bất kì thể loại nào cũng
đều có sự giao thoa lẫn nhau và toàn bộ thể ký đều do sự thâm nhập, kết hợp ở những
mức độ khác nhau, trong nội bộ một thể loại cũng có tình trạng đó. Bút ký có thể thiên
về khái quát các hiện tượng đời sống có vấn đề hoặc thiên về chính luận. Nếu thiên về
khái quát các hiện tượng đời sống thì tác giả chú ý nhiều đến việc điển hình hóa những
tính chất bằng các biện pháp nghệ thuật như: xây dựng cốt truyện, sử dụng các yếu tố

liên tưởng, trữ tình …Nếu thiên về chính luận thì thường nổi lên những hình ảnh của đời
sống xã hội mà tác giả nắm bắt được cái thực chất bên trong của chúng mà mô tả nó một
cách chính xác, sinh động có kèm theo những nhận xét riêng của mình hoặc của nhà văn,

11


phân tích đánh giá cuộc sống được miêu tả. Ở đây yếu tố chính luận, châm biếm hài
hước thường được sử dụng nhiều hơn.
Như vậy, có thể thấy sức hấp dẫn thuyết phục của bút ký tùy thuộc vào tài năng,
trình độ quan sát, nghiên cứu của tác giả, khám phá các khía cạnh “có vấn đề”, những ý
nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong các quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi
trường. Quan trọng nhất là cảm xúc, giọng điệu trữ tình, ngôn từ và dấu ấn cá nhân
đọng lại trong từng trang bút ký.
Trên đây, chúng tôi giới thiệu sơ lược về thể loại bút ký, một lần nữa khẳng định
đặc trưng cũng như đưa ra hướng nghiên cứu chính xác nhất khi tìm hiểu bút ký Nguyễn
Bắc Sơn.
1.1.3. Sơ lược sự phát triển của bút ký trong nền văn học Việt Nam

Trải qua ngần ấy thời gian, đồng hành với sự đấu tranh, xây dựng đất nước, đồng
hành với văn học cách mạng, bút ký đã có những đóng góp nhất định trong việc đáp ứng
yêu cầu của Đảng về văn học nghệ thuật và có dấu ấn riêng về mặt nghệ thuật trên chặng
đường phát triển của thể loại này. Điều này cũng góp phần làm phong phú diện mạo nền
văn học nước nhà. Có thể nói rằng, bút ký từ cách tiếp cận hiện thực, hệ thống đề tài,
cảm hứng sáng tạo, tư tưởng nghệ thuật, đến những thủ pháp nghệ thuật, những bút ký
đã cùng với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết …định hình một thi pháp thống nhất của cả
thời đại văn học. Qua đó, khẳng định được vị trí xứng đáng trong dòng chảy của văn học
Việt Nam. Các tác phẩm đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản đối với một tác phẩm
văn học theo yêu cầu phát triển của cuộc sống hiện đại đó là bám sát hiện thưc đất nước,
phản ánh đời sống chính trị, con người trong cuộc sống đổi mới. Cùng với truyện ngắn

và tiểu thuyết, bút ký thể hiện đầy đủ sự thay đổi của con người, cảnh vật …tất cả trở
nên tươi sáng, rộng mở hơn, đó là âm vang của những thắng lợi của đất nước. Trong quá
trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có hai vấn đề lớn: đề tài chiến tranh và xây dựng đất
nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bút ký viết về chiến tranh cách mạng chiếm số lượng lớn và cũng đạt được những
chất lượng nghệ thuật đáng kể hòa mình vào nhiệm vụ của cả dân tộc kháng chiến chống
giặc ngoại xâm. Đó là: “Hiện thực vĩ đại của cuộc kháng chiến với những kì tích, những
chiến công rực rỡ ở cả hai miền, những điển hình tuyệt đẹp về người anh hùng, những
12


câu chuyện kể sinh động, hấp dẫn trong chiến đấu và sản xuất… tất cả như đón chờ,
như“dâng sẵn”cho những sáng tạo về nghệ thuật” [16;144]. Hoàn cảnh đó góp phần làm
cho nội dung của bút ký vô cùng phong phú về tổ chức, bám sát, bám chắc vào hiện thực
và cất lên tiếng nói hùng hồn của quần chúng cách mạng. Đấy là: Bùi Hiển, Thép Mới,
Chế Lan Viên, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi …với bút lực dồi dào và khả năng
nhạy bén đã kịp thời đáp ứng cho sứ mệnh của văn học. Bên cạnh đó, các tác giả này còn
được thừa nhận bởi những người trong nghề.
Với tác giả Anh Đức, Phạm Văn Sĩ cho rằng: “Bút ký của Anh Đức giàu tính chất
hiện thực và viết khá duyên dáng”[68;253].
Với Nguyễn Trung Thành, Phan Nhân viết: “Nguyễn Trung Thành suy nghĩ, lí
luận và kể chuyện toàn bằng hình ảnh rút ra từ cuộc sống nên vừa chân thật đầy sức
thuyết phục. Anh chứng minh bằng những mẫu chuyện, đúng hơn là bằng những tính
cách, những nét tiêu biểu có tính chất điển hình trong cuộc sống, nên nội dung càng
phong phú, tư tưởng càng cao đẹp”[62].
Với Nguyễn Thi, Phan Nhân cho rằng : “Nguyễn Thi một cây bút giàu chất thơ,
trước cảnh quê hương bị tàn phá, đã truyền cho ta tất cả những rung cảm đậm đà tình
thương và lòng tự hào bằng những hình ảnh quen thuộc của đất nước rất nên thơ”[62].
Bút ký Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh cũng được Phạm Văn Sĩ đánh
giá: “Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh đã ghi lại được một khí thế cách mạng

chưa từng thấy trong mỗi con người và từng thôn xóm ở mảnh đất Bến Tre”[80].
Bút ký Bùi Hiển tập hợp trong hai tập Đường lớn và Trong gió cát đã được
Nguyễn Cương viết : “Ấn tượng sâu nhất còn để lại sau khi đọc tập bút ký này là những
bài viết về tội ác đẫm máu của giặc Mĩ. Những bài viết dó tuy chiếm số ít nhưng gây
được nhiều xúc động ở người đọc. Đó là nợ máu và đặc biệt: “Chúng nó là một lũ đê
hèn”[8].
Với bút ký Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Hoàng Như Mai cho rằng:
“Tôi thấy trong long mình bình tĩnh và tôi chắc rằng đó cũng là cảm tưởng của nhiều
người”. Và khẳng định: “Tập bút ký của Chế Lan Viên những điều anh nói, cái cách anh
nói đều toát lên điều đó – đánh giặc Mĩ, đánh thắng”. Phan Hồng Giang thì lại suy nghĩ:
“Đọc xong Những ngày nổi giận, ấn tượng sâu sắc để lại trong lòng người đọc là những
13


trang sách của Chế Lan Viên đã bám sát được thời sự và cuộc sống của chúng
ta”[20;47].
Các tác giả này ít nhiều cũng đã khẳng định mình ở thể loại bút ký, tuy còn có
những hạn chế nhất định, nhưng họ góp phần hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong
từng giai đoạn, đi theo đúng đắn đường lối cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Qua
đó, bút ký có vị trí xứng đáng trong sự phát triển của văn học nước nhà, góp phần sinh
động tiếng nói của người nghệ sĩ với quê hương đất nước. Tiếp bước chặng đường đó,
bút ký luôn đồng hành nhiệm vụ đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Những sáng tác luôn gắn với ca ngợi quê hương, là cái nhìn về quá khứ với sự biết ơn và
trân trọng nhất, là những trang viết của cả tấm lòng về con người anh hùng thời đại mới,
là bước chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau chiến tranh.
Đóng góp ở mảng đề tài này, chúng ta không thể không nhắc đến những cái tên:
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đỗ Chu, Nguyễn Bắc Sơn …Mỗi nhà văn luôn tìm cho mình
nét riêng, một hướng đi tạo nên tính cách người nghệ sĩ của thời đại. Qua bao thăng
trầm, cuộc đời nhiều thay đổi nhưng dấu ấn của họ luôn tạo nên những trang bút ký sống
động, tuôn tràn cảm xúc, thông tin đầy khoa học.

Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều
ánh lửa”[3]. Nguyên Ngọc chia sẻ: “Trong một cuốn sách gần đây của anh và in ngay
giữa những ngày anh đang vật lộn với cơn bệnh nặng – chứng tỏ ở anh một đức tính
dũng cảm và một nghị lực phi thường của một người nghệ thuật – anh tự cho mình là
“người ham chơi”. Quả thật, anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để
được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ
…”[4]. Nhà thơ Hoàng Cát: “Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký
văn học của riêng mình. Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, sâu và rộng, gần
như ông đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành
thoải mái ngòi bút được …”[5].
Bút ký còn là mảnh đất màu mỡ trong sáng tác của Tô Hoài, Trần Hữu Tá đưa ra
nhận xét: “Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả sinh động. Người,
vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt …tất cả lung linh, sống động, nói rõ với cái tinh thần của
đối tượng và thường bàn bạc một chất thơ”[27;19].
14


Góp cùng dòng chảy của bút ký trong văn học đương đại, một tài năng “chín
muộn” – Nguyễn Bắc Sơn. Với hai tập bút ký “Gót thời gian” và “Người trong tôi” đã
mang lại hơi thở mới cho thể loại này, đó là những lập luận sắc bén, cái nhìn chân thật
trong từng chi tiết, thể hiện phong cách và con người của ông. Đây cũng là lí do mà
người viết chọn đề tài nghiên cứu về bút ký Nguyễn Bắc Sơn .
Tóm lại, qua từng trang viết đã góp phần tạo nên bức tranh văn học sinh động,
muôn màu muôn vẻ, mà ở đó bút ký một lần nữa chứng minh là thành phần không thể
thiếu trong nền văn học nước nhà. Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn với cách nhìn
mới, sự khám phá và học hỏi, những đặc trưng về thể loại này nói chung và bút ký
Nguyễn Bắc Sơn nói riêng sẽ được làm sáng tỏ hơn, khẳng định giá trị sáng tạo của
người nghệ sĩ.

1.2. Bút ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn

1.2.1. Vài nét con người nhà văn Nguyễn Bắc Sơn

Nguyễn Bắc Sơn đã từng viết: “Nghề báo chí xuất bản, gắn với sách vở chữ nghĩa
là niềm đam mê”. Có lẽ, ông sinh ra là để viết, để nói lên những cay đắng trong cái “luật
đời” lẩn quẩn nhưng mấy ai sẽ giữ được mình trong sạch. Chính ông đã đi tìm cho câu
trả lời ấy với những tác phẩm xuất sắc và nó cũng đã đưa tên tuổi của ông đến gần hơn
với tất cả mọi người. Một phần trong đó cũng đã thể hiện con người và phong cách của
nhà văn.
Con người sống bình dị, nhân ái. Là một nhà văn nổi tiếng và được đánh giá cao
trong văn học đương đại, nhưng Nguyễn Bắc Sơn sống rất bình dị, nhân ái, có thể nói
đọc văn ông là thấy con người ông, nhất là trong mảng truyện ngắn và bút ký. Ông đã
đến với thực tế đời sống, cọ xát và va đập đến tận cùng với cuộc đời của một anh công
chức ngành văn hóa, chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình đổi mới của
đất nước, cơ chế thị trường đang xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn, đời sống con người,
tư duy và bản lĩnh cũng phải thay đổi chóng mặt đến thích ứng với thời cuộc, vì thế có
biết bao bi kịch đau đớn trong cái đời sống phức tạp ấy. Chúng ta thấy một “Lửa đắng”
với những vấn đề nóng bỏng gai góc mà hấp dẫn, hay “Luật đời và cha con” là sự phô
bày các vấn đề xã hội thông qua hình tượng nghệ thuật để nêu lên những bất cập của cơ
chế, nêu độ vênh giữa lý luận và thực tiễn đời sống. Sự bình dị còn làm không ít lần mọi
15


người phải “dị ứng” khi ông đưa vào trang văn xuôi của mình những lời nói thô tục,
những lời mà nhiều khi bản thân tác giả cũng chỉ dám để nó sau dấu ba chấm kiểu ngôn
ngữ giọng chửi của mấy bà quen thói chợ búa mắng mấy cô gái chưa quen thói chợ búa
mắng nhau. Nhưng trên hết, sự chuyển tải nội dung tư tưởng tác phẩm thì đấy chính là
một biểu hiện quan trọng của sự gần gũi, xích lại phía đời sống đang sinh thành, biến đổi
không ngừng. Một phần đó là con người nhà văn sống giản dị hòa đồng nên tác phẩm
của ông lúc nào cũng hừng hực khí thế của thời đại, cuộc sống nhân dân.
Một con người thông minh, hài hước và hiền lành tốt bụng. Sự thông minh thể

hiện khả năng phát hiện, cách lập luận và cách giải quyết vấn đề rất trọn vẹn. Chúng ta
khám phá lối hành văn của ông bằng tất cả sự bất ngờ, bởi bút pháp tài hoa, hấp dẫn lôi
cuốn được tái hiện sinh động. Qua sự thành công của hai tập tiểu thuyết nhà văn Nguyễn
Bắc Sơn tâm sự: “Điều tâm đắc của người viết là chủ đề ấy, tư tưởng ấy đã được thể hiện
bằng tư duy tiểu thuyết, bằng hình tượng ngôn ngữ tiểu thuyết, bằng hình tượng ngôn
ngữ tiểu thuyết có thể đọc liền mạch”. Có thể thấy, ông luôn nắm vững con đường phía
trước, dù ở khía cạnh nào, vẫn thể hiện sự sắc sảo pha chút hài hước của mình. Còn bút
ký của ông là những trang viết đầy tiếng cười, đôi khi là sự tự hào, vỡ òa hạnh phúc,
nhưng có khi lại là tiếng cười chua chát, nghiệt ngã trước những sự việc trớ trêu đã xảy
ra.
Chúng ta vừa sơ lược về Nguyễn Bắc Sơn – người con ưu tú của đất Hà thành.
Ông tên thật là Nguyễn Công Bác, từng là giáo viên dạy Văn tại trường Trung học phổ
thông Hoàn Kiếm trong 10 năm, sau đó là trưởng phòng quản lý báo chí xuất bản của Sở
Văn hóa Thông tin Hà Nội. Xuất thân này cũng đã ít nhiều góp phần làm nên tính cách
một người nặng nợ, trăn trở với cuộc đời.
1.2.2. Văn nghiệp của Nguyễn Bắc Sơn

Trong quá trình sáng tác của mình, Nguyễn Bắc Sơn tập trung vào thể loại bút ký,
truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và những bài báo. Các tác phẩm đã được xuất bản như
sau:
Thực hư – truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, 1998.
Người dẫn đường trời – ký, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999.

16


Tản mạn với văn hóa thông tin – tiểu luận và những bài báo, Nxb Văn hóa
Thông tin, 1999.
Hoa lộc vừng – ký và tùy bút, Nxb Hội nhà văn, 1999.
Hồng Hà ơi!- ký và tùy bút, Nxb Hội nhà văn, 2000 .

Quyền được không yêu – truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, 2000.
Người đàn ông quỳ - truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, 2000.
Nghề đi mây về gió – ký, Nxb Hội nhà văn, 2001
Luật đời – truyện vừa và ngắn, Nxb Thanh niên – 2003, tái bản 2004.
Đá dậy thì – tập ký, Nxb Hội nhà văn, 2004.
Luật đời và cha con – tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn , 8/2005 .
Lửa đắng – tiểu thuyết, Nxb Lao động, 2008.
Nguyễn Bắc Sơn – truyện ngắn, Nxb Văn học, 2010.
Gót thời gian – bút ký, Nxb Văn học, 2010.
Người trong tôi – bút ký, Nxb Văn học, 2010.
Sau hơn bốn mươi năm say mê với nghiệp văn chương, Nguyễn Bắc Sơn mới
thực sự bừng sáng với tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con. Báo chí viết bài bình
luận, phỏng vấn, mà điểm nhấn là hãng phim truyện truyền hình Việt Nam dựng thành
phim “Luật đời” được khán giả nhiệt tình đón nhận và bình chọn là phim truyền hình
hay nhất năm 2007. Tác phẩm còn được đánh giá cao từ giới chuyên môn. Nhà thơ Hữu
Thỉnh viết: “Các nhà tiểu thuyết cần xông thẳng vào những vấn đề nóng bỏng, thậm chí
có thể là mạo hiểm của cuộc sống hiện đại. Luật đời và cha con đã thành công về mặt thể
loại”. Còn Lê Quang Trang nhận định: “Thành công đáng chú ý nhất của Luật đời và
cha con là tác giả dũng cảm và sắc sảo trong việc phô bày các vấn đề xã hội thông qua
hình tượng nghệ thuật để nêu những bất cập của cơ chế, nêu độ vênh giữa lý luận và
thực tiễn đời sống…”
Có lẽ, con người khi tìm được đúng phương hướng thì tất nhiên họ sẽ biết mình
phải làm gì và đó còn là con đường đi đến thành công. Nguyễn Bắc Sơn là một người
như thế, bao nhiêu trải nghiệm hòa cùng hơi thở hiện đại, là cuộc sống phải tìm đến
những cái văn minh hơn, là sự ra đời của “Lửa đắng” – mang lại hiệu ứng cao hơn cả
17


tác phẩm ra đời trước nó. Vốn sống của một nhà báo lâu năm, của một người đã qua
quản lý trong lĩnh vực báo chí văn nghệ đã đưa lại cho nhà văn nhiều kinh nghiệm thực

tiễn, nhiều đúc kết bài học và nhất là nhiều sự kiện, hiện tượng được ghi nhận và lý giải
từ nhiều góc độ khác nhau. Đó là phản ánh hàng loạt những vấn đề gai góc, nóng bỏng
nổi cộm lên trong công cuộc cải tổ bộ máy hành chánh Nhà nước giai đoạn đổi mới cơ
cấu kinh tế. Nó biểu hiện rõ xu hướng gia tăng tính đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kì hội nhập. Nhà văn không còn là kẻ chỉ biểu phát ngôn, đề xuất những chân lí lớn
mà giữ vai trò một người nêu vấn đề, gợi nhiều khoảng trống cho hết thảy độc giả cùng
suy ngẫm, phán xét, tìm hướng giải quyết.
Sự thành công của Nguyễn Bắc Sơn là đã không biến nhân vật thành cái loa phát
ngôn cho những tư tưởng của mình. Đó là những tính cách sống động. Mỗi nhân vật là
một thế giới riêng và đã hợp thành những thế giới khác lớn hơn trong tổng thể xã hội đa
diện. Tiểu thuyết của nhà văn thể hiện một cái nhìn hiện thực về con người và thế giới
bằng tâm huyết của một công dân, một Đảng viên, bằng sự trải nghiệm của một người đi
qua nhiều quãng dốc cuộc đời nhiều thăng trầm sóng gió.
Tiếp nối mạch sáng tác, Nguyễn Bắc Sơn lại sinh ba với hai tập bút ký và truyện
ngắn. Ở đây, chúng tôi muốn nói hai tác phẩm “Gót thời gian”và “Người trong tôi”, bởi
vì nó ra đời khi tên tuổi ông đã trở thành hiện tượng trên văn đàn. Một lần nữa khẳng
định bút lực dồi dào, khả năng sáng tạo, sự dày dặn kinh nghiệm của một người từng
trải, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Nội dung của hai tập bút ký được đánh giá là
dày đặc về lượng thông tin khoa học, cung cấp cho độc giả những sự kiện, con người
như những đóa hoa ngan ngát giữa đời thường. Chất chứa trong đó bởi ngồn ngộn cái
thật của cuộc sống, nhịp thở văn minh thời đại, lời lẽ trong đó thể hiện sự nặng lời ghét
đời nhưng ông cũng rất nặng lòng với nó.
Với Người trong tôi, tác giả đã khắc họa chân dung hàng loạt những nhân vật rất
đời thường nhưng những gì mà họ đã làm thì đáng để chúng ta suy nghĩ. Nếu có một câu
hỏi : Người trong bạn là ai? Hẳn sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau. Người trong tôi là
mẹ, là cha, là vợ, là chồng, là thầy, là cô, là diễn viên hay huyền thoại nào đó… Thế
nhưng với nhà văn, người trong tôi không phải một, mà là rất nhiều người. Từ vị đại
tướng Võ Nguyên Giáp, ông lính già, thầy cô giáo, đại sứ ngoại giao, bác sĩ…Tất cả là
những con người tuyệt vời, xã hội đương đại đang rất cần những tấm lòng như thế. Đó là
18



câu chuyện về đời về người, về tất cả sự thật mà chúng ta muốn biết. Nhìn chung, đề tài
mà bút ký đề cập đến chủ yếu là: người lính trong cuộc chiến tranh vĩ đại của nhân dân
ta, những tấm gương trong giáo dục và các lĩnh vực nghệ thuật. Sự hấp dẫn của bút ký
được thể hiện ngay từ cách đặt tên của tác giả - những cái tựa bài đầy chất triết lí và tình
cảm. Chẳng hạn, ngay trang đầu tiên, ông đã viết về đại tướng huyền thoại của quân đội
nhân dân ta. Có lẽ, sự huyền thoại và không phải là huyền thoại tạo nguồn khám phá
thêm về cuộc đời của vị đại tướng đáng kính này. Chúng ta đều cho rằng, vị đại tướng đã
tạo nên những huyền thoại trong hai cuộc chiến thần thánh của dân tộc nhưng mấy ai
ngờ bên trong đó còn là sự thông minh, quyết đoán, bản lĩnh của người cầm quân, là sự
đấu trí với lãnh đạo, với đồng đội để có được sự chính xác kịp thời và mang đến thắng
lợi. Bên cạnh đó, sự hiểu biết rộng rãi đã mang đến cho người đọc nhiều thi vị của hơi
thở thời đại, cuộc sống bộn bề nhưng xung quanh vẫn ngan ngát hương thơm, là những
đóa hoa giữa đời thường. Mỗi bài bút ký là một câu chuyện về cuộc đời, sự việc mà
không phải ai cũng biết cũng hiểu.
Với Gót thời gian, tác giả một lần nữa thể hiện tài năng hiểu biết của mình. Mỗi
vùng đất là nơi in dấu bước chân của con người suốt đời nặng nghĩa tình. Nó thể hiện sự
tinh tế, liên tưởng, quan sát của người nghiên cứu, bởi từng trang bút ký là những cảm
nhận, tư liệu số liệu được đề cập một cách chính xác. Ông đi như một lữ khách giang hồ
tìm đến vùng đất lạ. Dù cuộc đời đã làm mái tóc phai màu, nhưng hình như ông càng
viết khỏe viết nhiều hơn trước. Cũng với giọng điệu ấy, Nguyễn Bắc Sơn tạo nên điều
kích thích nơi độc giả và đương nhiên nó cũng xui người ta đến để chia sẻ và khám phá
nó.
Có ai đó đã từng nói: “Chúng ta tồn tại chỉ một lần duy nhất trên cõi đời này, vậy
phải sống hết với tất cả niềm đam mê”. Thật vậy, Nguyễn Bắc Sơn đã sống và sống rất
mạnh mẽ với sự nghiệp sáng tác của mình. Tác phẩm của ông ra đời ào ạt như tuôn dòng
chảy bất tận, ẩn chứa bên trong là chất nghệ sĩ cá tính, là những hiện thực phơi bày. Bức
tranh ấy không phải lúc nào cũng đẹp, cũng ca ngợi mà đôi khi là sự thật khiến chúng ta
phải suy nghĩ, nhìn lại cuộc sống đang trôi vội vã.


19


1.2.3. Khái quát bút ký Nguyễn Bắc Sơn

Không phải là áng văn chương bất hũ, lại càng không phải là sự thơ mộng, bút ký
Nguyễn Bắc Sơn là sự trải nghiệm, bất chấp mọi thứ để lẽ phải cần được lên tiếng, với
tình người bao la, lòng biết ơn và hơn hết sự ngưỡng mộ cảm phục những con người
luôn cố gắng vượt qua thử thách. Đi từ ngọn nguồn của cảm xúc văn học, nhưng ông
khai thác đối tượng của mình một cách rất riêng, tình cảm có thể tuôn tràn nhưng lúc nào
chúng ta cũng thấy sự lạnh lùng và có đôi lúc khó tính trước sự việc. Ông khám phá, tìm
hiểu đưa vào tác phẩm của mình những thông tin dày đặc, chi tiết rất “đắt” phải nói rất
hiếm. Chẳng hạn, trong bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã đưa vào cuộc
tranh luận căng thẳng giữa đai tướng với đồng chí Lê Trọng Tấn về chiến dịch ở mặt
trận Quảng – Đà: “Đại tướng phân tích. Lập luận và lên phương án đánh địch theo tình
huống ba ngày. Đồng chí Lê Trọng Tấn vẫn giữ ý kiến của mình vì cho rằng không thể
chuẩn bị kịp. Đến lúc ấy, ông buộc phải dung quyền lực và quyết định: “Đánh Đà Nẵng
theo phương án ba ngày [6;24]”.
Cái được lớn nhất bút ký Nguyễn Bắc Sơn chính là cá tính của nghệ sĩ luôn thể
hiện quan điểm, thái độ thẳng thắn. Ông chọn đề tài phong phú đa dạng, không liền
mạch giữa các bài bút ký, bởi mỗi trang sách là những cuộc đời, vùng đất và nét văn hóa
khác nhau. Nhưng không vì vậy mà mất đi tính hấp dẫn, nó thể hiện khả năng sáng tạo,
sinh động của con người luôn hướng tới cái mới, cái đẹp.“Cây bút chín muộn” – cách
mà người ta thường gọi khi nhắc đến ông, những thành công hôm nay chứng minh khả
năng viết ào ạt, sức thuyết phục bởi những lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thế và chan
chứa tình cảm của “một cuộc đời” luôn trăn trở trước cuộc đời.
Nhìn từ phương diện nội dung, Nguyễn Bắc Sơn đóng vai trò của một thầy giáo,
một người đi trước truyền đạt lại những điều mắt thấy tai nghe. Mỗi bài bút ký là thông
điệp tác giả hướng đến, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, sứ mệnh của thế hệ hôm

nay phải suy ngẫm và giữ gìn. Suy cho cùng, giá trị từng trang sách ở góc độ truyền
thống lịch sử, văn hóa, giáo dục của dân tộc và các nước láng giềng. Đối tượng của ông
là những con người đã cống hiến cho xã hội và có tầm quan trọng với cuộc sống chúng
ta, có khi là những vùng đất mà ông lên rừng xuống biển, ở nơi mà luôn in dấu bước
chân ông là bức tranh hiện lên muôn vàn sinh động. Qua từng trang bút ký, chúng tôi
cảm giác như lạc vào rừng vàng biển bạc, non nước hữu tình và ấm lòng với những tấm
20


chân tình, sự hi sinh của con người đất Việt. Nhưng cũng không ít lần, ngưỡng mộ về
văn hóa con người các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc…và cúi đầu thán phục sự
hiểu biết của tác giả.
Về nghệ thuật, bút ký Nguyễn Bắc Sơn tiếp tục phát huy giọng điệu triết lí kết
hợp với giọng điệu trữ tình. Bởi theo ông, bút ký trước hết phải đảm bảo được tính hiện
thực và tính thông tấn của nó, bên cạnh yếu tố tình cảm được chia sẽ. Văn phong trang
nhã, nhẹ nhàng dung dị và giàu cảm xúc như chính con người thực của ông. Nó là nền
tảng tạo nên thành công của ông ở nhiều thể loại khác. Những thiên bút ký đầy tính sáng
tạo, cá tính mạnh mẽ đã tạo nên phong cách và con người luôn trăn trở với thế sự, cuộc
đời.
Nhìn từ đặc điểm của thể loại bút ký nói chung, bút ký Nguyễn Bắc Sơn nói riêng,
chúng tôi nhận thấy rằng thể loại này có vị trí quan trọng và chiếm phần lớn trong sáng
tác của ông. Vì vậy, nghiên cứu bút ký Nguyễn Bắc Sơn là cần thiết làm sáng tỏ về mặt
nội dung và nghệ thuật ẩn chứa trong từng trang bút ký.
1.2.4. Hình tượng tác giả trong bút ký Nguyễn Bắc Sơn

Goethe đã viết:“Mỗi nhà văn, dù muốn hay không điều miêu tả chính mình trong
các tác phẩm một cách đặc biệt”. Đối với mỗi thể loại hình tượng tác giả sẽ được thể
hiện khác nhau, mà trong đó, tác phẩm bút ký, hình tượng xuất hiện một cách trực tiếp
bằng sự lựa chọn chi tiết để ghi lại người thật, việc thật. Do đó, hình tượng tác giả chính
là dấu ấn cá nhân của người sáng tác và phong cách sử dụng ngôn từ, giọng điệu và sự tự

thể hiện mình thành hình tượng. Đây là mảnh đất màu mỡ để tài năng của cái tôi hoặc
cái ta rõ nhất. Bên trong đó, chính là tư tưởng và tình cảm tác giả.
Hòa cùng dòng chảy dạt dào của nền văn học đương đại, bút ký Nguyễn Bắc Sơn
đã góp phần tạo nên phong cách riêng cho ông. Từng trang văn chính là sự quan sát, tìm
tòi, đi nhiều, hiểu nhiều và bên trong nó chan chứa cả một tấm lòng ngồn ngộn với cuộc
đời, với thời cuộc, với con người. Ở đó, khắc họa chân dung của họ qua cảm nhận con
người hôm nay bằng sự thán phục và trân trọng. Đó còn là sự tinh tế tài năng trong từng
chi tiết nhỏ nhất, tạo nên sức hút mạnh mẽ của thể loại này. Đất Hà thành đã sinh ra một
con người như thế. Nguyễn Bắc Sơn năng động trong từng trang viết, đến với thực tế đời

21


sống, cọ xát và va đập tận cùng với cuộc đời một anh công chức ngành văn hóa, chứng
kiến nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình đổi mới của đất nước.
1.2.4.1. Con người tinh tế, sâu sắc, đầy trải nghiệm
Trên phương diện này, con người thể hiện sự tinh tế trong từng sự việc, thắm đậm
sâu sắc những tình cảm và sự từng trải với cuộc đời. Cùng với những giọng điệu được sử
dụng, cái tôi ấy được từng trải mang bản sắc riêng của nhà văn.
Nguyễn Bắc Sơn đã đưa chúng ta đến bất ngờ này đến bất ngờ khác, bởi sự tinh tế
và tỉ mỉ của ông. Khai thác vấn đề ở nhiều khía cạnh, đi đến tận cùng của sự việc và giải
quyết rất chính xác. Có khi bút pháp của ông lại trở nên rất sắc sảo, mượn lời của người
khác để làm nổi bật hơn cá tính của nhân vật, có khi là sự chu đáo trong cách thể hiện.
Tôi vẫn còn nhớ một chi tiết khi ông gặp phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Mặt tôi
từ tái mét chuyển sang đỏ rừ. Giá như đất nứt ra mà chui xuống được. Trời đất ạ, tôi vốn
là sinh viên của bà hồi học Đại học sư phạm Hà Nội. Thầy quên trò là chuyện thường.
Nhưng trò quên thầy thì quá tệ. Tại thời gian đã đi qua hơn bốn mươi năm? Tại tôi
không quan sát kĩ bà? Tôi cứ đinh ninh…Đành ấp úng xin lỗi bà, rằng , em là học trò cô
năm ấy, lớp ấy…Bà độ lượng hỏi chuyện tôi, rồi lấy tờ giấy mời của ban tổ chức ghi số
nhà, điện thoại, hẹn đến chơi”[14; 6]. Chi tiết này còn thể hiện con người rất chân thật

của ông, phải chăng mình có lỗi thì phải nhận lỗi.
Viết về cuộc sống, chân dung giữa đời thường, làm cho nhân vật, sự việc trở nên
gần gũi và gắn bó với nhịp sống hiện đại. Nguyễn Bắc Sơn viết về họ bằng giọng điệu và
ngôn từ đầy màu sắc triết lí, suy tưởng. Điều này có được là do con người đã trải qua
biết bao câu chuyện, chứng kiến biết bao sự ngang trái của cuộc đời. Hầu hết, các sự lựa
chọn của ông, ít nhiều cũng mang màu sắc triết luận, suy tư. Chẳng hạn, nói về nạn rác
thải ở Hà Nội: “Con người thải ra rác thải. Con người có mặt ở đâu thì rác thải có ở đó:
cả trên đỉnh Evơ rét hơn 8000m, cả dưới đáy đại dương lẫn vụ trụ bao la. Càng công
nghiệp, hiện đại hóa , mức sống càng cao thì rác thải càng nhiều, thành phần rác thải
càng phức tạp. Rác thải là một phần cuộc sống con người. Thái độ của mỗi người, mỗi
cộng đồng với rác thải là biểu hiện trình độ văn minh, văn hóa người đó, cộng đồng đó.
Năng lực xử lý rác thải phần nào nói lên năng lực điều hành của chính quyền”[1; 56]. Có
thể nói, đọc văn ông thấy được con người ông, ngồn ngộn cái chất của hơi thở cuộc
22


sống, là sự thăng trầm của đời người biết cống hiến, biết vượt lên chính bản thân mình
không trở thành gánh nặng cho xã hội.
Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, Bắc Sơn trở nên già dặn về kinh nghiệm, về
sự hiểu biết. Từng trang bút ký, có thể như một hoài bão, một ước mơ về xã hội luôn tốt
đẹp. Với cách sử dụng lấy giọng chính luận làm chủ đạo đã minh chứng con người đầy
sức nặng về tinh thần, tư tưởng để nhìn nhận, đánh giá sự việc. Chúng tôi thấy rằng, câu
chuyện mà ông mang vào bút ký chính là những mảng nhỏ của cuộc sống hiện đại, hệ
lụy của chính sách và sự phát triển kinh tế. Dù đặt chân ở Hà Nội, Tuyên Quang, Tây
Bắc Hay sông nước miền Tây…thì đôi mắt ấy vẫn nhìn nhận sự việc bằng tất cả sự nhiệt
tình, đi đến từng ngõ ngách của sự việc, như một vị giám sát theo dõi từng bước đi của
nó. Chẳng hạn, trong đoạn văn sau: “Một bên thì gánh nặng gia đình không thể nào
kham nổi nữa. Một bên thì niềm say mê giải toán, cứ ám ảnh thường trực như một thôi
thúc của tình yêu lứa đôi, ngày vợ chồng mới quen nhau. Sau bao nhiêu tính toán dằn
vặt, Tấn quyết định rời quê cha đất tổ, bỏ hai suất lương còn biên chế giáo viên, với một

niềm tin mãnh liệt vào sức mình. Dù có chút mạo hiểm thì vợ chồng con cái vẫn bìu ríu
ra đi. Phía trước là miền đất hứa: thành phố Hồ Chí Minh”[8; 143]. Sự phân tích rất chân
tình, cụ thể đi vào hoàn cảnh của gia đình Nguyễn Đức Tấn. Điều này, cho thấy sự quan
tâm tỉ mỉ thậm chí khá cặn kẽ của tác giả, con người thật sự chu toàn và đầy trải nghiệm
trong mọi việc.
Con người ấy, dù viết về chiến tranh hay hòa bình, khắc nghiệt, oan trái hay yên
bình ấm áp đều đón nhận một cách chân thành, bằng triết lí của cuộc sống, nghĩ về nó
bằng tất cả trái tim. Bởi ông đã trót nợ với đời áng văn chương, nợ nhân dân trong
nghiệp công chức, vì lời Bác dạy: “Phải là người đầy tớ trung thành của dân”. Con người
mẫu mực đã tiếp nên sức mạnh cho ngòi bút được tung tẩy khắp mọi miền quê hương,
dạt dào tình cảm bằng sự trải nghiệm sâu sắc của thời cuộc. Hiếm khi ông bộc bạch về
bản thân: “Tôi vốn không uống rượu bia, chè tầu, thuốc lá. Cà phê khoái khẩu cũng
không nốt”[9; 272]. Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy một cái tôi rất thẳng thắn, đánh giá
vấn đề theo cách có lợi cho đất nước, cho nhân dân. Con người này như trong tiểu thuyết
của ông, xông vào trực diện của vấn đề, va chạm và nói lên tiếng nói của người có trách
nhiệm. Khi chính quyền chưa lo trọn vẹn cuộc sống các em học sinh trường Nguyễn
Đình Chiểu, ông đã lên tiếng: “Càng đau xót hơn vì rất nhiều người còn thờ ơ với các
23


×