Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

Báo cáo ngành điện tử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (94.33 KB, 7 trang )

Lĩnh vực Điện tử
Từ những năm 1990, dưới “tán cây bảo hộ”, ngành điện tử Việt Nam có
những bước tiến được khá nhiều người tung hô là… phát triển vượt bậc. Theo Hiệp
hội Các doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), ngành điện tử Việt Nam khi đó có
tốc độ tăng trưởng 20% - 30%/năm; xuất khẩu sang 35 nước; kim ngạch xuất khẩu
luôn tăng: năm 1996 đạt 90 triệu USD, năm 2005 đạt 1,5 tỷ USD. Trong 9 tháng
2006, doanh thu nội địa của ngành điện tử Việt Nam đã đạt được 1,3 tỷ USD…
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam với đa số ở quy mô nhỏ
và vừa nên gặp nhiều hạn chế trong hoạt động. Công suất lắp ráp vài ngàn sản
phẩm/năm, với số lượng nhân công không quá 500 người/doanh nghiệp và cũng
không xác định sản phẩm chủ lực nên… cái gì cũng làm nhưng không làm ra cái gì
xứng đáng để rốt cuộc không cái gì ra cái gì.
Song song đó, ngành công nghiệp phụ trợ sản xuất phụ tùng linh kiện cũng
phát triển chậm, không đáp ứng được nhu cầu lắp ráp trong nước, nên hàm lượng lao
động Việt Nam trong các sản phẩm điện tử bình quân chỉ khoảng 5% - 10% giá trị
sản phẩm… và như thế cũng dễ hiểu khi chúng ta không có sản phẩm “Made in
Vietnam” đúng nghĩa.
Tổng mức đầu tư cho toàn ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từ trước đến
nay chưa đầy hai tỷ USD. Tính đến hết năm 2003, mức đầu tư là 1,6 tỷ USD, trong
đó 85% là đầu tư nước ngoài (FDI). Con số này còn thấp hơn mức đầu tư cho một
dây chuyền sản xuất chip của Intel (vòng đời của con chíp khoảng sáu tháng). Thậm
chí, còn thấp hơn các mức đầu tư cho ngành... mía đường trong nước!
Chính vì vậy, giá trị gia tăng của ngành điện tử không lớn và hoạt động không
đồng đều. Nếu như năm 1994 giá trị xuất khẩu bằng 0 thì đến năm 2000, xuất khẩu
đạt 782 triệu USD. Giá trị xuất khẩu năm 2003 đạt hơn 500 triệu USD và sáu tháng
5


đầu năm nay là 405 triệu USD. Trong 600 triệu USD giá trị xuất khẩu của
Fujitsu, có hơn 500 triệu USD là nhập khẩu. Chỉ riêng hai công ty Fujitsu và Orion
Hanel đã chiếm tới 95% kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.


Đầu tư cho ngành công nghiệp điện tử đã nhỏ và manh mún, lại cộng thêm với
việc chưa có định hướng chiến lược nào được thông qua, khiến các doanh nghiệp
điện tử càng gặp nhiều khó khăn. Không có chiến lược, các doanh nghiệp điện tử
buộc phải phát triển tự phát. Nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do công nghệ quá
lạc hậu, sản phẩm không đủ sức cạnh tranh đã phải chuyển hướng sang sản xuất,
kinh doanh các mặt hàng khác.
Nhờ có những bước đi thích hợp, một số doanh nghiệp cũng đã trụ lại được
trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp điện tử và dần dần xây dựng được uy tín thương
hiệu. Tuy nhiên, chỉ nửa năm nữa thôi, dự báo các doanh nghiệp này sẽ phải đối mặt
với những thách thức khi Việt Nam chính thức hội nhập AFTA và gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO).
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam với đa số ở quy mô nhỏ
và vừa nên gặp nhiều hạn chế trong hoạt động. Công suất lắp ráp vài ngàn sản
phẩm/năm, số lượng nhân công không quá 500 người/doanh nghiệp nên muốn tồn
tại thì cần phải có sản phẩm chủ lực
Bốn đại gia điện tử JVC, Toshiba, Panasonic và Sony đầu tư 60 triệu USD
cho Tổng công ty Điện tử-Tin học Việt Nam (VEIC) chủ yếu là lắp ráp các thiết bị
điện tử dân dụng bằng các linh kiện ngoại nhập, chiếm gần 80% giá thành sản phẩm.
VEIC đã từng đầu tư sản xuất linh kiện máy tính là vỏ máy (case) với mức giá 22
USD nhưng không thể bán được, vì sản phẩm cùng loại sản xuất ở Đài Loan có giá...
12 USD!

5


Song song đó, ngành công nghiệp phụ trợ sản xuất phụ tùng linh kiện cũng
phát triển chậm, không đáp ứng được nhu cầu lắp ráp trong nước, nên hàm lượng lao
động Việt Nam trong các sản phẩm điện tử bình quân chỉ khoảng 5% - 10% giá trị
sản phẩm… và như thế cũng dễ hiểu khi chúng ta không có sản phẩm “Made in
Vietnam” đúng nghĩa.

Một doanh nghiệp cho rằng sản xuất các chi tiết như vỏ máy, bộ nguồn, chuột,
bàn phím thì được nhưng sẽ có giá thành cao do sản lượng quá ít; tức một khuôn vỏ
máy, sản xuất trong nước chỉ vài chục ngàn chiếc, trong khi Trung Quốc sản xuất
hàng chục triệu chiếc nên doanh nghiệp máy tính thương hiệu Việt thường chọn giải
pháp “nhập khẩu cho nhanh”, vừa rẻ lại đa dạng.
Chính vì thế, Việt Nam cũng chẳng thể nào sinh ra ngành công nghiệp phụ
trợ. Thực tế đáng buồn hơn, Thái Lan có khoảng 50 - 60 doanh nghiệp lắp ráp hàng
điện – điện tử, nhưng họ có tới 1.800 doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm,
công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp kia.
Trong khi đó, nước ta cũng có khoảng 50 - 60 doanh nghiệp lắp ráp, nhưng
chỉ có khoảng 100 doanh nghiệp cung cấp linh kiện, sản phẩm phụ trợ song lại chủ
yếu là nhập khẩu hoặc “copy” của người khác về làm…
Nếu đánh giá các doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất và lắp ráp phần cứng với các
yếu tố kết quả kinh doanh, khả năng tài chính, trình độ tổ chức quản lý, nguồn nhân
lực và công nghệ, có thể kể đến:
-

Công ty Điện tử Samsung Vina: sản xuất phần cứng CNTT

(doanh thu sản xuất phần cứng không kề phần điện tử dân dụng tăng 8% so
với năm trước).

5


-

Công ty TNHH máy tính CMS (Hà Nội): sản phẩm máy tính

thương hiệu Việt Nam

-

Công ty CP Sản xuất kinh doanh Mekong Xanh (Mekong Green

Group) (Tp HCM): máy vi tính thương hiệu Việt Nam "Mekong Green” (liên
tiếp 04 năm liền đạt giải "THE BEST PRODUCT - Máy tính thương hiệu Việt
Nam - Sản Phẩm CNTT Ðược Ưa Chuộng Nhất Trong Năm)
-

Công ty cổ phần điện tử Tân Bình (Tp HCM): sản phẩm máy

tính thương hiệu Việt Nam (VTB), TV chất lựong cao
-

Công ty CP đầu tư Phát triển công nghệ ROBO (Tp HCM): máy

tính thương hiệu Việt Nam (Top 5 ICT Thương Hiệu Máy tính VN Hàng Đầu
2002- 2007)
Đối với lĩnh vực sản xuất và lắp ráp phần cứng, có sự mất cân đối rõ rệt giữa
các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong
những năm gần đây, đã có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,
trong đó chủ yếu là các hãng nổi tiếng trên thế giới; với chính sách nhập toàn bộ dây
chuyền sản xuất của chính hãng, vì vậy đã có một số sản phẩm với hàm lượng khoa
học công nghệ cao như: Công ty Canon, Bắc Ninh, sản phẩm là các lọai máy in
laser; Công ty Fujitsu, Đồng Nai, sản phẩm là máy tính và bo mạch điện tử; Hãng
Intel đầu tư vào TP. Hồ Chí Minh là 1tỷ đô la Mỹ để xây dựng nhà máy chế tạo bán
dẫn hoàn chỉnh; Công ty liên doanh thiết bị viễn thông Alcatel, Hà Nội, sản phẩm
thiết bị viễn thông. Ngoài ra còn một số hãng nổi tiếng của Nhật cũng đầu tư vào
Việt Nam như: Mitshubishi, Sumitomo, Sanyo ... Về tổng thể, có thể nhận thấy các
doanh nghiệp này chủ yếu là nhập linh kiện nước ngoài về lắp ráp (chiếm 90%),

trình độ công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu, hoạt động nghiên cứu, phát
triển, đổi mới công nghệ còn chậm; hàm lượng công nghệ trong sản phẩm là khá
nhỏ.
5


Các doanh nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông: hầu hết đều thuộc tập đoàn
BCVT Việt Nam (VNPT) với tổng số khoảng 20 nhà máy, xí nghiệp, gồm 3 loại
hình doanh nghiệp là khối doanh nghiệp nhà nước, khối công ty cổ phẩn và khối liên
doanh. 17 đơn vị đã có chứng chỉ hệ thống đảm bảo chất lượng ISO-9000. Các đơn
vị công nghiệp bao gồm 5 công ty liên doanh với các hãng nước ngoài, 14 công ty cổ
phần và 01 công ty TNHH 1 thành viên hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất và
cung cấp các sản phẩm chủ yếu như thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, cáp quang,
cáp đồng, nguồn viễn thông, thẻ viễn thông, máy điện thoại, sản phẩm in ấn và các
trang thiết bị khác phục vụ cho ngành viễn thông và đáp ứng một phần cho nền kinh
tế đất nước.
Một số sản phẩm mới được phát triển và đưa ra thị trường tiêu thụ, tiêu biểu là
điện thoại 1717, điện thoại dùng tiền xu, nguồn máy tính,thiết bị cắt lọc sét, điện
thoại hiển thị số có màn hình LCD, cáp quang truy nhập ít sợi, cáp PCM tần số cao
và thiết bị truyền dẫn quang, BTS và BSC, thẻ cào và thẻ SIM và các sản phẩm phụ
trợ khác cho mạng ngoại vi. Công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông đang tập trung
đầu tư chiều sâu và phát triển các sản phẩm công nghệ cao, tiêu biểu là các dự án sản
xuất card thuê bao, card phòng vệ tổng đài vệ tinh CSNMM của liên doanh ANSV,
thiết bị thông tin di động công nghệ CDMA của VKX, cáp LAN của SACOM, thẻ
cào và thẻ SIM của công ty In Bưu điện và công ty VTC.
Tại những liên doanh sản xuất thiết bị chuyển mạch và thiết bị truyền dẫn
ANSV, VKX, TELEQ, VFT, VINECO phía Việt nam đã làm chủ được khâu lắp ráp
CKD, SKD một số chủng loại card trong tổng đài, thiết bị truyền dẫn, công suất thiết
kế của các dây chuyền sản xuất nhỏ, chỉ đáp ứng với nhu cầu của Tập đoàn là chính,
không có khả năng tự nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới mà chỉ sản xuất được

các sản phẩm do đối tác chuyển giao.

5


Đối với việc sản xuất thiết bị đầu cuối, các liên doanh, cổ phần VITECO,
POSTEF, VKX, CT-IN, ANSV đã chủ động đầu tư trang bị các dây chuyền tương
đối đồng bộ, có máy hàn dán linh kiện bề mặt SMT hiện đại, máy hàn 2 sóng, máy
cắm chân linh kiện tự động, buồng kiểm tra hệ thống thiết bị trong điều kiện nhiệt
độ, môi trường và độ ẩm khác nhau với mức độ tự động hóa cao. Các cán bộ Việt
nam đã nắm bắt, khai thác được một số phần mềm điều khiển thiết bị, công nghệ lắp
đặt, khai thác bảo dưỡng và hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng. Sản phẩm được đánh
giá là tương đối phong phú, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển mạng viễn thông,
chất lượng tương đương thiết bị công nghệ cao của khu vực.
Tại các liên doanh, cổ phần sản xuất cáp quang, cáp đồng VINA-OFC,
FOCAL, LTC, VINA-CAP, PMC, POSTEF, kỹ sư công nghân Việt Nam làm chủ
hoàn toàn về công nghệ trong sản xuất. Thông qua chuyển giao công nghệ các cán
bộ Việt Nam tự nghiên cứu phát triển một số sản phẩm cáp quang, cáp đồng mới với
sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài.
Việc sản xuất thẻ viễn thông do các công ty VTC, IN Bưu điện thực hiện, hiện
tại mới chỉ lắp ráp gồm các công đoạn đục lỗ, gắn chíp và nạp phần mềm, in quảng
cáo trên thẻ. Tuy nhiên, do đầu tư còn nhỏ, sản lượng thấp nên khả năng cạnh tranh
với các hãng nước ngoài để chiếm lĩnh thị trờng nội địa và xuất khẩu còn gặp khó
khăn.
Tuy nhiên, về mặt tổng thể cho thấy năng lực công nghệ của Việt Nam trong
lĩnh vực sản xuất các sản phẩm điện tử, tin học, viễn thông còn hạn chế với loại hình
lắp ráp vẫn đang chiếm ưu thế cho đến nay:
-

Phần lớn hoạt động chế tác được thực hiện trên cơ sở hợp đồng


dưới dạng mua bản quyền của đối tác nước ngoài bao gồm thiết kế nguyên
bản sản phẩm, cách trang bị và tổ chức dây chuyền sản xuất. Đến nay, Việt
Nam mới có thiết kế gốc và chế tác mang tính thương mại trên hai loại sản
5


phẩm là máy thu hình màu 21 inch và máy tính cá nhân. Đó lỡ hai sản phẩm
thuộc chương trình sản phẩm công nghiệp trọng điểm đã được Chính phủ phê
duyệt và hỗ trợ đã đi vào sản xuất từ năm 2001. Đứng đầu trong lĩnh vực lắp
ráp sản phẩm là lắp ráp bảng mạch vi mạch cho hãng điện tử dân dụng.
-

Trình độ công nghệ lắp ráp điện tử phổ biến ở mức độ trung bình.

Dây chuyền công nghệ đã có trang bị một số thiết bị cơ khí hoá, bán tự động
nhưng phần lớn vẫn thao tác thủ công. Một số doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư
công nghệ tiến tiến. Phần lớn các doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao à
các doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoỡi như LD DaewooHanel, LD Alcatel, Fujisu.
-

Với các doanh nghiệp cơ khí điện tử, trình độ công nghệ thuộc

loại thấp. Một vài doanh nghiệp đã có đổi mới, nhưng ở giai đoạn đầu nên
không đủ làm thay đổi trình độ chung.
Hiện nay vai trò đầu tàu của ngành này vẫn đang thuộc về các doanh nghiệp
FDI định hướng xuất khẩu, các doanh nghiệp này thường hoạt động trên quy mô lớn,
sử dụng hầu hết các nguyên vật liệu, phụ tùng linh kiện nhập khẩu và ảnh hưởng lớn
đến tổng sản lượng ngành hàng cũng như kim ngạch xuất khẩu của công nghiệp điện
tử Việt Nam. Cơ cấu sản phẩm đang có sự mất cân đối, trong khi giá trị sản phẩm

điện tử tiêu dùng lên tới 80% thì các sản phẩm chuyên dùng chỉ chiếm 20% tổng giá
trị toàn ngành. Số lượng, chủng loại các sản phẩm điện tử chuyên dụng được sản
xuất tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó đáng kể nhất là sản xuất các trang thiết bị
điện tử viễn thông.

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×