Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Đặc sắc thơ bằng việt qua tập thơ bằng việt (tuyển 1961 2001)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (668.33 KB, 72 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA : NGỮ VĂN
**************

NGUYỄN THỊ CHI

ĐẶC SẮC THƠ BẰNG VIỆT QUA TẬP
THƠ BẰNG VIỆT ( TUYỂN 1961 - 2001)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA : NGỮ VĂN
**************

NGUYỄN THỊ CHI

ĐẶC SẮC THƠ BẰNG VIỆT QUA TẬP
THƠ BẰNG VIỆT ( TUYỂN 1961 - 2001)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
THS. DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG

HÀ NỘI – 2013




LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộ môn
cũng như các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã chỉ bảo, tạo điều kiện thuật lợi giúp chúng tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Dương Thị Thúy Hằng Thạc sĩ - Giảng viên khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận.

Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2013.
Tác giả

Nguyễn Thị Chi


LỜI CAM ĐOAN

Dưới sự hướng dẫn của cô giáo Thạc sĩ Dương Thị Thúy Hằng _ Giảng
viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tác giả khóa luận đã hoàn thành đề tài
Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt ( Tuyển 1961 – 2001). Đây là
kết quả nghiên cứu của chúng tôi, không trùng với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thực. Nếu sai tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2013.
Tác giả


Nguyễn Thị Chi


MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu.............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................ .......... 1
2. Lịch sử vấn đề........................................................................................... .......... .2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ ......... .6
4 .Mục đích nghiên cứu.......................................................................................... .6
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. ..7
6. Cấu trúc của khóa luận............................................................................ .......... .7
Phần nội dung.......................................................................................................... 8
Chương I: Thế hệ thơ chống Mỹ và những chặng đường
thơ Bằng Việt............... ........................................................................................ .8
1.1. Khái quát về thế hệ thơ chống Mỹ......................................................... ........ ..8
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và đội ngũ sáng tác.............................................. ........ ..8
1.1.2. Những thành tựu thơ trẻ kháng chiến chống Mỹ............................... ...... .11
1.2. Những chặng đường thơ Bằng Việt...................................................... ........ 14
1.2.1 Người của một thời – thơ của một thời........................................................ 14
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật......................................................................... ........ .17
1.3. Tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001)........................................ ........ 18
Chương II: Nội dung cơ bản trong Thơ Bằng Việt
(Tuyển 1961 – 2001)..................................................................................... ........ 20
2.1. Cảm hứng về đất nước và con người..................................................... ........ 20
2.1.1. Cảm hứng về đất nước và con người trong chiến tranh.................... ........ 20
2.1.1.1. Đất nước trong chiến tranh................................................................20
2.1.1.2. Con người trong chiến tranh..............................................................29
2.1.2. Cảm hứng về đất nước và con người trong hòa bình........................ ........ 34
2.1.2.1. Đất nước trong hòa bình................................................................. ......... 34

2.1.2.2. Con người trong cuộc sống đời thường................................................... 37
2.2 Cảm hứng về thế sự - đời tư................................................................... ......... 40
2.2.1. Vẻ đẹp của con người và nhân loại trong thế kỷ XX ................................ 40
2.2.2 Những suy tư chiêm nghiệm về một thế giới đầy biến động............... ........ 42


2.3. Cảm hứng về tình yêu..................................................................................... 44
2.3.1. “Tình yêu và báo động”.................................................. ............................ 44
2.3.2. “Gợi dậy tâm hồn và thức dậy tình yêu”...................................... .............. 47
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Bằng Việt
(Tuyển 1961 – 2001)............................................................. ................................ 50
3.1. Thể thơ.................................................................................................... .........50
3.1.1 Thể thơ tự do.......................................................................................... .......50
3.1.2. Các thể thơ khác............................................................................. ............. 52
3.2. Ngôn ngữ thơ....................................................................................... ........... 54
3.2.1 Sự gia tăng các yếu tố văn xuôi vào thơ.............................. .........................55
3.2.2 Ngôn ngữ giàu sắc màu gợi hình, gợi cảm ............................................... .56
3.3. Biểu tượng thơ....................................................................................... ........ .57
3.3.1.Đất và mẹ....................................................................................................... 58
3.3.2. Ngọn lửa....................................................................................................... 58
3.3.3. Ngọn gió.............................................................................................. ......... 59
3.3.4. Hoa..................................................................................................... .......... 59
3.4. Giọng điệu thơ........................................................................................ ........ 60
3.4.1. Giọng trữ tình sâu lắng....................................................................... ....... .61
3.4.2. Giọng suy tư, triết lý............................................................................. ……62
Kết luận......................................................................................................... ......... 64
Tài liệu tham khảo.


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ đã đóng góp cho thơ ca dân tộc
nhiều tên tuổi tài năng và tâm huyết. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm (1964 –
1975), chúng ta đã có một thế hệ nhà thơ xuất hiện và trưởng thành để “viết tiếp
bài thơ trên báng súng” với những gương mặt trẻ tiêu biểu như: Nguyễn Khoa
Điềm, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Lê Anh Xuân,
Hoàng Nhuận Cầm…Nhiều người trong số này tiếp tục sáng tác và có những
thành tựu nhất định trong những khoảng thời gian về sau. Trong đó có Bằng
Việt.
Xuất hiện từ khoảng giữa những 60 của cuộc kháng chiến chống Mỹ với
Hương cây – Bếp lửa (in chung Lưu Quang Vũ), Bằng Việt đã tạo được một
tiếng thơ đầy cuốn hút mang “tiếng nói sâu lắng và trong sáng của lớp thanh niên
trí thức mới”. Thơ Bằng Việt được xem là “rạo rực mà tươi mát, giản dị hồn
nhiên mà không dễ dãi. Mỗi bài thơ Bằng Việt đều có nét bút riêng”. Không chỉ
là nhà thơ có vị trí khá quan trọng trong nền thơ chống Mỹ trong “thế hệ sáu
mươi”, “thế hệ Trường Sơn” mà Bằng Việt còn là một trong những nhà thơ “có
vị trí khá ổn định và vững chắc” (Nguyễn Trọng Hoàn) với hơn 300 bài thơ đã
được công bố, hơn 10 tập thơ được nhiều độc giả yêu mến, là nhà thơ có tác
phẩm được giảng dạy trong nhà trường. Đây cũng là một tác giả đạt nhiều giải
thưởng quan trọng: Giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001), Giải
thưởng văn học ASEAN (2003), Giải thưởng thành tựu trọn đời (2005).
Tập thơ tuyển Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) với 135 bài, là sản
phẩm tinh lọc quá trình sáng tác 40 năm của Bằng Việt. Nó ghi nhận những đặc
điểm cơ bản trong sáng tác của nhà thơ này trải qua hai giai đoạn: trước và sau
1986. Khi đi tìm hiểu về tập thơ này, chúng ta sẽ có được cái nhìn mang tính
tổng quát đối với hành trình sáng tạo của tác giả Bằng Việt.

Nguyễn Thị Chi

1


Lớp K35C – Ngữ văn


2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ những ngày đầu mới cầm bút, các tác phẩm của Bằng Việt đã
được đông đảo bạn đọc đón nhận đặc biệt là giọng thơ của ông đã thu hút được
sự quan tâm của bạn đọc đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi và các nhà nghiên cứu phê
bình văn học. Cho tới hiện nay, chúng tôi nhận thấy, các tài liệu tìm hiểu nghiên
cứu về Bằng Việt thường ở hai dạng: thứ nhất, những bài viết mang tính khái
quát về nội dung nghệ thuật của các tập thơ; thứ hai, những bài viết về những bài
thơ cụ thể của Bằng Việt.
Nhóm thứ nhất là các bài giới thiệu, phê bình, đánh giá khái quát về nội
dung, nghệ thuật các tập thơ của Bằng Việt. Trong bài “Hương cây – Bếp lửa,
đất nước và đời ta về tập thơ đầu tay in chung của Bằng Việt, nhà nghiên cứu Lê
Đình Kỵ có viết: “Một tâm hồn nhiều suy nghĩ và rung động tinh tế, một chủ
nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu
thẳm… Ngay từ bài đầu (Qua Trường Sa), Bằng Việt đã tỏ ra không giống ai,
rạo rực mà tươi mát, giản dị, hồn nhiên mà không dễ dãi. Mỗi bài thơ của Bằng
Việt đều có nét bút riêng…” [12].
G.S.Nguyễn Xuân Nam cũng cho rằng: “Bằng Việt có tiếng nói sâu lắng và
trong sáng của lớp thanh niên trí thức mới …Đọc thơ anh, có lúc như gặp lại
một người bạn thân, một người anh em trong gia đình, hay gặp lại một thời hoa
niên của chính mình. Cảm giác gần gũi, thân thiết ấy là một nét hấp dẫn trong
thơ Bằng Việt” [19].
Tiếp đó G.S.Hà Minh Đức khẳng định: “Trong các lớp nhà thơ trẻ, Bằng
Việt là một tâm hồn thơ lắng đọng nhiều suy nghĩ.” [3].
Nhà thơ Anh Ngọc: “Bằng Việt xuất hiện vào khoảng giữa những năm 60,
gần như cùng lúc với Lưu Quang Vũ và tập thơ in chung của hai người “Hương
cây – Bếp lửa” có một vị trí quan trọng trong nền thơ chống Mỹ. Riêng với Bằng

Việt, giọng thơ “có học”, sang trọng của anh đã nhanh chóng thu hút được sự
chú ý của đông đảo công chúng yêu thơ vốn đã bắt đầu thấm nhuần nền học vấn
do chế độ mới mang lại.” [20].
Nguyễn Thị Chi

2

Lớp K35C – Ngữ văn


Nhà nghiên cứu văn học Thiếu Mai nhận xét: “Dễ nhận thấy qua mấy tập
thơ của Bằng Việt tấm lòng thủy chung, trung hậu của anh đối với con người,
với đất nước…Anh xúc cảm sâu và biết cách viết thế nào cho thơ mình truyền
cảm mạnh” [17].
Nhà thơ Phạm Khải: “Vào những năm đầu thập kỷ 60, Bằng Việt xuất hiện
giữa làng thơ Việt Nam như một ánh đèn nê – ông kì ảo, tỏa sáng trí tuệ, sự mát
mẻ của tuổi xuân và cái dịu dàng của hồn thơ anh. Với những câu thơ xúc cảm
tinh tế, chữ nghĩa long lánh, độc giả ấn tượng về anh như một nhà thơ trẻ lịch
lãm tài hoa. Công bằng mà nói, cho đến hôm nay, nhiều câu trong số ấy dường
như vẫn giữ được sự tươi nguyên, vẫn “nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngắt”, vẫn
“làm say”, “làm duyên”, như sắc phượng hôm xưa, cánh bướm năm nào, khơi
gợi vẻ trong trắng một thời” [8].
Nhà nghiên cứu văn học Văn Tâm: “Nhà thơ Bằng Việt…quê “Xứ Đoài
mây trắng lắm”, là một trong những thi sĩ bẩm sinh của thơ ca Việt Nam hiện
đại.” [26].
Hay nhà thơ Anh Chi viết trong Tập san Nhà văn: "Vào mùa thu này, Bằng
Việt cho ra mắt bạn đọc tập thơ Ném câu thơ vào gió, gồm 45 bài, chính là sản
phẩm của chặng đường thơ anh vừa đi qua. Và, tập thơ lại được bạn đọc và giới
quan tâm chú ý. Một giọng thơ mềm mại những tứ thơ sắc sảo, sức suy tưởng dồi
dào của một Bằng Việt quen thuộc từ ba mươi năm trước...”

Trịnh Thanh Sơn khi đọc tập “ Ném câu thơ vào gió” có viết: "Đọc tập thơ
Ném câu thơ vào gió bạn đọc sẽ gặp lại một thi sĩ Bằng Việt của ngày xưa, của
hôm nào, nhưng là Bằng Việt của hôm nay, thâm trầm hơn rất nhiều chiêm
nghiệm và từng trải" [24].
Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim viết: “Thơ Bằng Việt đậm chất hào hoa
phong nhã, có giọng điệu tinh tế, giàu tư duy trí tuệ. …Bằng Việt mở rộng lòng
anh với mọi người, đồng thời thu lại trong một cá thể sáng tạo với biết bao biến
thể của tâm trạng. Anh vừa là nhân chứng của lịch sử vừa là kẻ tình nhân mê
đắm, vừa là kẻ đồng hành, đồng cảm vui buồn với bạn đọc yêu thơ, vừa là kẻ

Nguyễn Thị Chi

3

Lớp K35C – Ngữ văn


phiêu du trong trời đất và hồn người… Nhưng trước hết, nhà thơ – anh là anh
trong chứng nghiệm” [10].
Nhà thơ và phê bình văn học Nguyễn Hoàng Sơn: “…Những trang sách
suốt đời đi vẫn nhớ / Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu…”. Nghe nói, nhờ bài
thơ này và nhiều bài thơ dịch của Ônga Bécgôn mà Bằng Việt trở thành thần
tượng của cánh sinh viên khoa Văn các Trường Đại học một thời. Những câu
thơ chấm phá rất “sương khói”, sự hiểu biết và đồng cảm về một chân trời văn
học đương có sức hấp dẫn lớn, giọng thơ lạ và mới vào thời điểm ấy (1969) là
những nguyên nhân khiến bài thơ neo được vào tâm trí bạn đọc” [23].
Nghiên cứu sinh Đỗ Thuận An (Người đã bảo về thành công Luận án Thạc
sĩ Khoa Ngữ văn “Thế giới nghệ thuật thơ Bằng Việt” chuyên ngành: Lý thuyết
và lịch sử văn học, mã số 5.04.01, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2001) có
viết: “một thế giới riêng được sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng, của chủ thể

trữ tình, thế giới nghệ thuật thơ Bằng Việt cần được nhìn nhận như một chỉnh
thể với cấu trúc logic của tổ chức bên trong, có sự thống nhất biện chứng giữa
nội dung và hình thức” Ứng với thế giới nghệ thuật ấy là một quan niệm, một
cách cắt nghĩa về con người” [1].
Bài viết của Trần Quang Quý (Bài tham dự cuộc thi viết tìm kiếm 100 nhân
vật Hà Nội do TT&VH phát động): “Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX, gồm 260 bài
của 117 tác giả, ở 35 quốc gia trên thế giới. Đây là một tập thơ có tầm vóc, một
công trình tiêu biểu về dịch thuật văn học của ông mà bạn đọc yêu thơ ghi nhận”.
Hay nhân sự kiện ra đời tập thơ dịch Thơ trữ tình thế kỷ XX, nhà thơ Phạm
Tiến Duật nhận xét hóm hỉnh rằng: “Với Bằng Việt, thơ dịch chỉ là một gác xép
nhưng với người khác thì nó là cả một lâu đài”.
Ngoài ra còn rất nhiều bài bài nghiên cứu, phê bình văn học, tiểu luận…viết
về Bằng Việt như các tác giả: Lê Quốc Hán, Nguyễn Trọng Hoàn, Dương Kiều
Minh, Hà Minh Đức, Mai Thị Thanh Hương, Nguyễn Xuân, Mai Ngọc Lệ…
Nhóm thứ hai là các bài phân tích, bình giảng về các tác phẩm cụ thể của
Bằng Việt với các bài thơ như: Bếp lửa, Trở lại trái tim mình, Mẹ, Ném câu thơ

Nguyễn Thị Chi

4

Lớp K35C – Ngữ văn


vào gió, Nghĩ lại về Pauxtôpxky... Chẳng hạn bài viết của Văn Giá về Bếp lửa:
“…Người bà trong Bếp lửa đã nuôi con nuôi cháu, đã đi qua đói khát qua đói
khát và giặc giã, đã cho con đi kháng chiến vì nước vì dân, đã âm thầm trụ lại
nhà giữ mảnh đất truyền đời tổ tiên để lại, đã âm thầm chờ đợi và hi vọng…đó
chẳng phải là biểu tượng về sự sống lớn lao và cao cả của con người đó sao? Bà
là người phụ nữ Việt Nam, như ngọn lửa cháy sáng và ấm mãi! ...”[4; 7].

Trong cuốn Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà
trường (2003) của Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý có viết về
bài thơ “Bếp lửa” như sau: “Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm
thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuộc đời gian khổ khó
khăn. Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những ngày thơ ấu, khơi gơi cho
người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của
dân tộc Việt Nam…”
Và đây là lời bình của Hoàng Đình Quang về bài Nghĩ lại về Pauxtôpxki:
“Bằng Việt, trong số những nhà thơ nửa cuối thế kỷ 20, anh là một thi sĩ, có tâm
hồn đắm đuối nhất. Bài thơ này lập tứ rõ ràng, khúc chiết, nhưng người đọc cứ bị
làm mờ đi cái ý tứ của tác giả. "Không phải thế", rồi lại "không phải thế". Làm
sao biết được cái gì là phải đây, là rõ ràng đây? Bài thơ buồn nhưng sang trọng.
Thơ Bằng Việt vốn vậy”.
Ngay cả tác giả Bằng Việt cũng viết về bài thơ Bếp lửa như sau: “…Dựng
nên trên cái nền ấy một hình ảnh xuyên suốt, hình ảnh đã được điển hình hóa và
phổ quát hóa, từ bà nội thực của mình trở thành bà nội của bao người khác,
thành biểu tượng một người Mẹ hậu phương tận tụy, hi sinh làm chỗ dựa cho
con cháu, làm điểm trụ vững chắc ở phía sau để làm yên lòng những người ra
tiền tuyến…”[28; 27].
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các tác giả như: Vũ Dương Quỹ, Vũ
Quần Phương, Nguyễn Thị Nhàn, Hồng Thọ, Chu Văn Sơn, Nguyễn Hoàng
Sơn…về các tác phẩm cụ thể của Bằng Việt.
Qua việc tìm hiểu các tài liệu, chúng tôi thấy từng bài thơ, tập thơ và từng
khía cạnh trong nội dung và nghệ thuật thơ Bằng Việt đều được các tác giả nhận
Nguyễn Thị Chi

5

Lớp K35C – Ngữ văn



định khá xác đáng. Tuy nhiên, các bài viết chưa nghiên cứu một cách tập trung và
có hệ thống về thơ Bằng Việt theo chặng đường phát triển thơ của Bằng Việt.
Cho đến hiện nay, cũng chưa có một công trình nào tìm hiểu hay nghiên cứu một
cách có hệ thống về tập Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001). Từ thực tế đó,
chúng tôi quyết định thực hiện đề tài Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng
Việt (Tuyển 1961 – 2001). Hy vọng với đề tài này, chúng tôi sẽ góp công sức nhỏ
bé của mình trong việc khám phá một số phương diện đặc sắc của thơ Bằng Việt.
Đồng thời, góp phần vào việc tìm hiểu và làm sáng tỏ những đóng góp của Bằng
Việt đối với tiến trình thơ hiện đại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt (Tuyển
1961 – 2001), chúng tôi đi sâu nghiên cứu đặc sắc thơ Bằng Việt với những biểu
hiện về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức. Cụ thể, chúng tôi sẽ tìm hiểu
những cảm hứng chính và các yếu tố nghệ thuật cơ bản làm nên sự độc đáo, sức
cuốn hút đồng thời khẳng định nhũng đóng góp của thơ Bằng Việt đối với chặng
đường phát triển của thơ hiện đại Việt Nam. Vì vậy, tư liệu chính mà chúng tôi
tìm hiểu chính là tập thơ trải dài 40 năm sáng tác của Bằng Việt với những tác
phẩm chọn lọc: Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001), Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội – 2003.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi hi vọng khóa luận sẽ giúp ích cho việc giảng dạy, học tập về tác
giả Bằng Việt và tác phẩm của ông trong nhà trường phổ thông; cũng như đem
đến một cái nhìn khái quát và đầy đủ xuyên suốt chặng đường thơ 40 năm của tác
giả, từ thời kỳ thơ chống Mỹ tiếp nối đến thời kỳ đương đại và tìm hiểu, nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về đặc sắc thơ Bằng Việt từ nội dung
đến hình thức nghệ thuật. Từ đó, khóa luận rút ra được sự vận động của thơ Bằng
Việt trong chặng đường thơ 40 năm của tác giả, những nét độc đáo của thơ ca
Bằng Việt trong “dàn đồng ca cùng thế hệ” và những đóng góp giàu giá trị của
tiếng thơ Bằng Việt đối với nền thơ hiện đại Việt Nam.


Nguyễn Thị Chi

6

Lớp K35C – Ngữ văn


5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt
(Tuyển 1961 – 2001), chúng tôi đã sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp phân tích.
Phương pháp thống kê - phân loại.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp lịch sử.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Thế hệ thơ chống Mỹ và chặng đường thơ Bằng Việt.
Chương II: Nội dung cơ bản trong thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001).
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001).

Nguyễn Thị Chi

7

Lớp K35C – Ngữ văn


PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: THẾ HỆ THƠ CHỐNG MỸ VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
THƠ BẰNG VIỆT
1.1. Khái quát về thế hệ thơ chống Mỹ
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và đội ngũ sáng tác
Có một đất nước với dáng vẻ cong cong hình chữ “S”, lưng tựa vào dãy núi
Trường Sơn, mặt hướng ra biển Đông bao la rộng lớn, đất nước ấy với tên gọi
Việt Nam. Đất nước và con người Việt Nam đã trải qua hơn bốn nghìn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước hào hùng với những cuộc kháng chiến chống quân
xâm lược. Dân tộc ấy đã đánh bại những thế lực kẻ thù hùng mạnh như: Hán,
Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… Đặc biệt với chiến thắng Điện Biên Phủ
(năm 1954) “vang dội năm châu, chấn động địa cầu”, Việt Nam đã được cả thế
giới biết đến như một dân tộc anh hùng. Sau chiến thắng ấy đất nước và con
người Việt Nam đã bước sang một trang sử mới, mọi vật như được đổi thay.
Trong tâm thế mới con người được làm chủ đất nước, được hưởng không khí của
tự do, của độc lập, niềm vui ấy lan tỏa khắp mọi nơi từ Bắc vào Nam, từ cụ già
cho đến những em nhỏ… Thế nhưng, niềm vui ấy không được trọn vẹn khi đất
nước tạm thời bị chia cắt làm hai nửa. Miền Bắc được giải phóng tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa còn miền Nam tiếp tục đấu tranh để giành lấy độc lâp
thống nhất nước nhà. Trong mối quan hệ giữa hai miền thì miền Bắc là hậu
phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn là miền Nam nhưng
miền Bắc phải luôn luôn cảnh giác đấu tranh chống lại mọi âm mưu phá hoại xâm
lược của kẻ thù. Giai đoạn lịch sử ấy, con người chỉ có hai lựa chọn: một là chịu
làm nô lệ, hai là cầm vũ khí mà vùng đứng lên để tìm lấy tự do, mà tự do lúc này
ở trong tay mỗi con người Việt Nam. Xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn và
truyền thống bốn nghìn năm lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm, con người
luôn sống trong khí thế hừng hực lên đường kháng chiến. Toàn thể dân tộc Việt
Nam đã quyết tâm vùng đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược đã làm nên chiến
thắng vĩ đại mùa xuân 1975. Cũng từ đó lịch sử dân tộc đã bước sang một trang

Nguyễn Thị Chi


8

Lớp K35C – Ngữ văn


mới, một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do, thống nhất nước nhà đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Trên bối cảnh lịch sử rộng lớn và đầy những biến đổi sâu sắc đó, nền văn
học xã hội chủ nghĩa đã phát triển hết sức mạnh mẽ, phong phú. Trong đó, thơ ca
đã ghi được những thành tựu nổi bật mang lại một giai đoạn mới trong sự phát
triển của thơ ca hiện đại Việt Nam. Thơ ca chống Mỹ (1964 – 1975) ra đời trong
hoàn cảnh đặc biệt của khói lửa chiến tranh đã phát triển phong phú về nhiều
phương diện: số lượng tác phẩm, phạm vi đề tài và chủ đề, sự phản ánh hiện thực
và sức khái quát, phong cách đa dạng…đặc biệt là đội ngũ sáng tác.
Về đội ngũ sáng tác trong giai đoạn này, chúng ta thấy sự có mặt đồng thời
bổ sung cho nhau của các thế hệ nhà thơ nối tiếp và ngày càng hùng hậu. Chưa
bao giờ, thơ ca lại có đội ngũ sáng tác vừa đông đảo vừa giàu nhân lực và tâm
huyết như vậy. Nhìn một cách tổng quát, nền thơ chống Mỹ đã ghi nhận sự góp
mặt của nhiều tiếng thơ, nhiều nhà thơ – chiến sỹ thuộc mọi thế hệ: Thế hệ nhà
thơ xuất hiện từ trước Cách mạng ( Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Tế Hanh…); thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Pháp (Chính
Hữu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi…) và thế hệ các nhà thơ trẻ ra đời
trong thời kì chống Mỹ .
Chúng ta có thể hiểu khái niệm thơ trẻ chống Mỹ cứu nước: “được dùng để
chỉ thơ của các cây bút tuổi đời và đặc biệt là tuổi nghề còn trẻ xuất hiện trong
thời kỳ chống Mỹ. Đây chính là thời kỳ mà họ có những tác phẩm gây được sự
chú ý khẳng định tài năng và dấu ấn của mình trên thi đàn” [2; 345].
Đội ngũ sáng tác thơ trẻ chống Mỹ có thể chia làm ba chặng đường. Mỗi
chặng đường có những nét riêng gắn liền với sự xuất hiện của những nhà thơ tiêu

biểu. Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì thực chất
thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một dòng thơ phát triển liên tục.
Ở chặng đường thứ nhất (Từ 1964 – 1968) đội ngũ nhà thơ bước đầu được
khẳng định với những tác giả tiêu biểu như: Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang
Vũ, Nguyễn Mỹ, Phạm Ngọc Cảnh, Vũ Quần Phương, Lê Anh Xuân, Cảnh Trà…
Họ đã mang đến cho thơ ca chống Mỹ một tiếng thơ vừa trẻ trung tươi tắn vừa
Nguyễn Thị Chi

9

Lớp K35C – Ngữ văn


bồng bột sôi nổi. Thơ ở chặng đường này là những vần thơ tràn đầy cảm xúc mê
say, chân thành đối với cuộc sống quê hương, đất nước, rưng rưng cảm xúc, đậm
đà chất trữ tình, chứa chan chất men say nồng của tuổi trẻ. Tuy cảm xúc thơ ở
giai đoạn này mang màu sắc lý tưởng, ít nhiều còn mang dấu vết sách vở, nhà
trường nhưng họ đã thổi vào thơ ca chất men say tuổi trẻ với tiếng nói khao khát
của thế hệ trẻ được cầm súng trực tiếp chiến đấu được cống hiến vì nhân dân, Tổ
quốc bằng một cảm xúc chân thành và trong sáng nhất…Điều đáng chú ý là
những năm cuối của chặng này, thơ trẻ bắt đầu giàu có thêm nhờ chất suy nghĩ và
khả năng khái quát. Mặc dù không tránh khỏi những non nớt nhưng đây là chặng
mở đầu đầy ý nghĩa, rất đáng ghi nhận, tạo tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát
triển ở giai đoạn sau.
Chặng đường thứ hai (Từ 1969 – 1972) thơ trẻ chống Mỹ phát triển đến
đỉnh cao làm thay đổi bộ mặt của cả nền thơ chống Mỹ. Cùng với sự xuất hiện
của những tác giả ở chặng đầu, đến chặng này đội ngũ được bổ sung thêm nhiều
cây bút tài năng khác như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa
Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy… Họ đã thực sự khẳng
định được tiếng nói riêng của thế hệ mới qua những vần thơ giàu chi tiết chân

thực, sinh động như còn vương bụi đất của chiến trường và mùi khét của đạn
bom, mang khí thế hừng hực chiến đấu: khỏe khoắn, trong sáng và đầy tự tin.
Thơ lúc này đã vươn tới khái quát những mảng hiện thực lớn của cuộc chiến
tranh chống Mỹ với những chi tiết chân thực được phát hiện, tìm tòi bằng chính
cặp mắt quan sát tinh tế sắc sảo của những nhà thơ – người lính, người chiến sĩ.
Không khí dữ dội, ác liệt của đời sống chiến trường sinh động, bề bộn ùa vào các
trang thơ và nó đã làm ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Họ vẫn tiếp tục
viết về đề tài quê hương đất nước nhưng với một ý thức tự giác cao hơn và tình
cảm sâu nặng hơn. Thơ giai đoạn này đã đạt đến mức độ nhất định chiều sâu của
suy nghĩ và tầm cao của sự khái quát.
Ở chặng đường cuối cùng (Từ 1973), đội ngũ sáng tác trẻ được bổ sung
thêm những nhà thơ đồng thời là những chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu.Vì
vậy, đội ngũ sáng tác càng trở nên đông đảo và thực sự bề thế hơn với nhiều cây
Nguyễn Thị Chi

10

Lớp K35C – Ngữ văn


bút mới: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê... Các nhà
thơ có cái nhìn bao quát, toàn cảnh về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, ý thức về
cái tôi - thế hệ đạt tới độ sâu sắc. Họ đã đi sâu hơn vào đề tài chiến tranh, đến với
hiện thực đời sống để khám phá, đúc kết chân lý, xây dựng nên những hình tượng
thơ giàu ý nghĩa khái quát trong thể loại trường ca.
1.1.2. Những thành tựu thơ trẻ kháng chiến chống Mỹ
Thành tựu về nội dung
Thơ kháng chiến chống Mỹ có những đặc điểm riêng như tập trung biểu
hiện những tình cảm và tư tưởng lớn, bao trùm trong đời sống tinh thần của con
người thời kỳ chống Mỹ. Thời kì này tập trung xây dựng hai loại hình tượng “cái

tôi” trữ tình là “cái tôi” sử thi và “cái tôi” thế hệ. Ngoài ra, thơ còn tăng cường
chất chính luận, chất suy tưởng triết lí, trí tuệ được nảy sinh từ hiện thực đời sống
trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt thông qua sự trải nghiệm sâu
sắc của cái tôi – thế hệ của các nhà thơ. Thơ gia tăng chất liệu hiện thực đời sống
và khuynh hướng mở rộng đào sâu hiện thực trong thơ là những xu hướng chính
trong sự vận động phát triển của thơ thời kì này.
Ở thời kỳ này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nội dung chủ yếu, là cảm
hứng chủ đạo được thơ khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái. Các nhà thơ có
một cái nhìn mới đối với chiến tranh, đối với những mất mát, hy sinh, lòng căm
thù giặc, tình đồng chí, tình yêu và lòng tin ước mơ chiến thắng, suy nghĩ về số
phận của nhân dân, của Tổ quốc. Đề tài Tổ quốc là đề tài bao quát, trung tâm của
thơ chống Mỹ cứu nước, được các nhà thơ khai thác và biểu hiện phong phú.
Hình tượng Tổ quốc trở thành hình tượng trung tâm, cao đẹp và thiêng liêng
trong các sáng tác. Các bài thơ tiêu biểu cho đề tài này gồm có: Chúng tôi chiến
đấu cho Người sáng mãi Việt Nam ơi (Nam Hà), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm),
Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) và các bài thơ của Tố Hữu như Chào Xuân
67, Thời sự hè 72, bình luận,…Và đề tài chiến đấu cũng có sức thu hút rất lớn
các cây bút, đặc biệt là các cây bút trẻ. Với đề tài này, hình ảnh người chiến sĩ nổi
bật với nhiều sáng tạo trong xây dựng hình tượng. Tiêu biểu là các tác phẩm: Bài
thơ về Tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Gửi em, cô thanh niên xung
Nguyễn Thị Chi

11

Lớp K35C – Ngữ văn


phong (Phạm Tiến Duật), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ), Tiếng hát sang
xuân (Tố Hữu), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Đường tới thành phố (Hữu
Thỉnh), ... Bên cạnh đó, đề tài tình yêu cũng được nhiều nhà thơ phản ánh trong

thơ thời kỳ này như: Những con đường tháng giêng, Viết trên đường 20 (Xuân
Quỳnh), Tiếng mùa xuân (Lâm Thị Mỹ Dạ), Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc
chiến tranh phá hoại (Bằng Việt), Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn)…và đề
tài lao động sản xuất cũng được rất nhiều nhà thơ hướng tới phản ánh. Tất cả các
đề tài đã góp phần hoàn thiện diện mạo về nội dung của thơ chống Mỹ.
Thành tựu về nghệ thuật
Bên cạnh thành tựu về mặt nội dung, về mặt nghệ thuật thì thơ trẻ thời kỳ
chống Mỹ cứu nước có những tìm tòi đáng ghi nhận về mặt hình thức nghệ thuật.
Thứ nhất, về mặt thể loại thơ trẻ chống Mỹ sử dụng thành công thể thơ lục
bát – một thể thơ truyền thống của dân tộc. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa truyền
thống dân tộc và tinh thần, sức mạnh của thời đại mới trong hình thức thơ. Các
mô típ dân gian, chất liệu thơ dân gian, thể thơ lục bát truyền thống được vận
dụng linh hoạt, khéo léo tạo nên những vần thơ tinh tế, có chiều sâu nội tâm, dễ
đi vào lòng người với các nhà thơ trẻ như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy,
Trần Đăng Khoa… Ngoài ra, họ còn sử dụng nhiều và có hiệu quả thể thơ tự do
và trường ca, nó góp phần khẳng định xu thế phát triển của các thể thơ trên. Đặc
biệt, sự phát triển của thể thơ tự do là một đòi hỏi tất yếu nhằm đáp ứng những
yêu cầu về sự phát triển của nội dung trong thơ thời đại mới. Thể thơ tự do phù
hợp với tính cách, tâm hồn trẻ trung, phóng khoáng, sôi nổi của các cây bút trẻ.
Nhiều nhà thơ đã sử dụng thể thơ tự do rất phóng túng như: tự do hiệp vần, tự do
ngắt câu, sử dụng luật bằng trắc, tự do số chữ trong câu, số câu trong đoạn, số
đoạn trong bài…Còn ở thể trường ca là do xuất phát từ nhu cầu tổng kết chiến
tranh, phản ánh những bức tranh hiện thực rộng lớn của cuộc kháng chiến. Quan
niệm nghệ thuật thay đổi, thơ chiến đấu phục vụ cách mạng và dung lượng phản
ánh của thơ được mở rộng thì điều tất yếu hình thức thơ cũng được tự do hóa hơn
trước.Thể loại trường ca ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu ấy. Chính ở thể loại có
sức ôm chứa, bao quát này, các nhà thơ có điều kiện bộc lộ, bày tỏ những suy
Nguyễn Thị Chi

12


Lớp K35C – Ngữ văn


ngẫm, trải nghiệm, chiêm nghiệm về chiến tranh…Cũng trong trường ca, các nhà
thơ trẻ đã tổ chức được những kết cấu phức tạp, phối hợp nhiều thể thơ, tạo nên
nhiều giọng điệu trong một tác phẩm.
Thứ hai, về mặt ngôn ngữ có khuynh hướng đưa ngôn ngữ thơ trở về gần
với ngôn ngữ đời thường. Để khám phá, thể hiện đời sống ở nhiều góc độ,
phương diện, đặc biệt là hiện thực phong phú, đa dạng, phức tạp nhiều chiều của
đời sống chiến trường, ngôn ngữ của các nhà thơ trẻ mở rộng cửa để cho ngôn
ngữ hàng ngày của đời sống, đời thường ùa vào. Nó như một xu hướng tất yếu,
một bằng chứng cụ thể giữa mối liên hệ mật thiết giữa thơ ca và cuộc sống và làm
cho ngôn ngữ thơ có được cái hơi thở nồng nàn của cuộc sống. Với các câu thơ
dài mang dáng dấp văn xuôi, ngôn ngữ đời thường mang tính tranh luận, khẩu
ngữ như trong thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu và đặc biệt trong các nhà thơ trẻ như
Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu,
Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh… đã đem lại cho thơ thời kỳ này giọng điệu mới:
giản dị, chân thật, tự nhiên, thoải mái, khỏe khoắn, trẻ trung và độc đáo.
Thứ ba, đó là phương thức chuyển nghĩa và sáng tạo hình ảnh thơ. Trong
thơ thời kỳ này, ta bắt gặp những thủ pháp tu từ truyền thống được sử dụng theo
kiểu tư duy hiện đạị. Với những phương thức tu từ này, các nhà thơ trẻ đã khai
thác có hiệu quả khả năng thể hiện cảm xúc, tình cảm cũng như phản ánh hiện
thực đời sống phong phú. Những trang thơ trẻ mở ra trước mắt người đọc những
liên tưởng phong phú đầy bất ngờ, thú vị như trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Trần
Đăng Khoa, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…Bằng cảm xúc trữ tình mãnh liệt và khả
năng tổng hợp, khái quát cao, các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã tạo dựng được
hệ thống hình ảnh biểu tượng phong phú nổi bật mang đậm khuynh hướng sử thi,
cảm hứng lãng mạn, đậm chất anh hùng cách mạng như các hình ảnh: Tổ quốc,
bà mẹ, người lính…đã làm hoàn thiện và đẹp thêm cho bảo tàng lịch sử văn học

thơ ca Việt Nam. Chính vì vậy, thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã góp cho một nền thơ
lớn những cây bút tiêu biểu giọng điệu riêng có bản sắc,phong phú, đa dạng và
độc đáo như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức
Mậu, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…
Nguyễn Thị Chi

13

Lớp K35C – Ngữ văn


1.2. Những chặng đường thơ Bằng Việt
1.2.1. Người của một thời - thơ của một thời
Giữa những năm 60 của thế kỷ trước, công chúng văn học đã được chứng
kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút trẻ mà chỉ ít lâu sau đã trở thành chủ lực
của thi đàn. Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ
Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Bế Kiến Quốc, Vương Anh... Vài năm sau
là sự xuất hiện của Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ,
Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc... Trong đội ngũ sáng tác đông đảo này, Bằng Việt
là một gương mặt riêng, có một chất riêng, một giọng điệu riêng không bị khuất
lẫn, mất hút trong một dàn đồng ca. Chất riêng ấy là gì? Nhiều người từng biểu
dương phần “trí tuệ”, phần suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống
của một cây bút trí thức sớm bộc lộ từ phần “Bếp lửa” trong tập thơ “Hương cây
– Bếp lửa” in chung với Lưu Quang Vũ.
Là một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ chống
Mỹ, Bằng Việt thuộc vào thế hệ Trường Sơn, thế hệ sáu mươi và là người của
một thời lịch sử đầy biến động. Bằng Việt sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941,
nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội nhưng ông
sinh tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Tri thức, kiến văn và tâm hồn thơ trữ
tình giàu tưởng tượng cùng với truyền thống gia đình đã góp phần làm nên tư

chất và phẩm cách thơ Bằng Việt. Sinh ra vào đúng thời kỳ lịch sử oai hùng của
dân tộc, tuổi thơ Bằng Việt sống trong những sự kiện vang động của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp. Giã từ chiếc khăn quàng đỏ thời niên thiếu, Bằng
Việt học xong trung học tại Hà Nội và được cử đi học Đại học Luật ở Liên Xô.
Chính trong thời gian này, việc tiếp xúc với một nền văn hóa lớn cùng nhiều tên
tuổi văn học lớn của thế giới đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách sáng
tác và con đường dịch thuật của Bằng Việt. Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lý, Đại
học Tổng hợp Kiev vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện
Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Đến tháng 12 năm 1969,
Bằng Việt chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông tham
gia công tác ở chiến trường Bình Trị Thiên, với tư cách là một phóng viên chiến
Nguyễn Thị Chi

14

Lớp K35C – Ngữ văn


trường và làm tại Bảo tàng truyền thống cho đoàn Trường Sơn. Năm 1975, Bằng
Việt công tác ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Sau chiến tranh, ông làm xuất bản
và tạp chí tại Hội Nhà văn Việt Nam, Bằng Việt hoạt động văn học và quản lý
Hội tại Hội Liên hiệp văn học – nghệ thuật Hà Nội và công tác chính trị - xã hội
trong nhiều đoàn thể quần chúng. Sau khi về Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (gọi
tắt là Hội Văn nghệ Hà Nội) năm 1983, Bằng Việt được bầu làm Tổng thư ký Hội
Văn học nghệ thuật Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người sáng lập tờ
báo văn nghệ Người Hà Nội (xuất bản từ 1985). Sau đó ông được bầu làm Uỷ
viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, làm tổng
biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (1989-1991). Năm 2001, Bằng
Việt được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được
bầu lại làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2006 - 2010. Tại Đại hội lần thứ VII Liên hiệp

các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tháng 9 năm 2005), Bằng Việt được bầu
làm một trong 5 Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Ông cũng từng làm Thư ký thường trực, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân
thành phố Hà Nội (1991-2000). Sau Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII,
Bằng Việt đã đệ đơn lên Ban Chấp hành xin từ chức sau khi đã giữ cương vị Chủ
tịch Hội đồng Thơ suốt hai nhiệm kỳ với lý do công việc.
Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi nhưng bài thơ đầu tiên được công bố là
bài Qua Trường Sa viết năm 1961. Ông đã thể nghiệm nhiều loại thơ không vần,
xuống thang rồi bắc thang, tất cả những hình thức đã có trong thơ Việt Nam và
thơ thế giới. Tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa của ông và Lưu Quang
Vũ xuất bản lần đầu năm 1968 và mới được tái bản sau 37 năm. Đồng hành cùng
với tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, nhìn một cách khái quát có thể chia thơ
Bằng Việt thành hai chặng lớn:
Chặng thứ nhất là những vần thơ ông viết ra trước thời kỳ đổi mới (trước
1986) gồm các tập thơ: Hương cây – Bếp lửa (xuất bản lần đầu 1968, in lại năm
2005) in chung với Lưu Quang Vũ (trong tập thơ này có bài Bếp lửa sau này
được đưa vào sách giáo khoa phổ thông), Những gương mặt, những khoảng trời

Nguyễn Thị Chi

15

Lớp K35C – Ngữ văn


(1973), Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời (1984), Cát sáng (1985) in
chung với Vũ Quần Phương.
Chặng thứ hai là những vần thơ Bằng Việt viết sau thời kỳ đổi mới gồm
các tập: Bếp lửa - Khoảng trời (1986), Phía nửa mặt trăng chìm (1995), Ném câu
thơ vào gió (2001), Thơ trữ tình (2002), Thơ Bằng Việt 1961 – 2001 (2003), Nheo

mắt nhìn thế giới (2008), Bằng Việt – Tác phẩm chọn lọc (2010).
Ngoài ra, Bằng Việt còn dịch thơ của các nhà thơ Yannis Ritsos (Hy Lạp),
Pablo Neruda (Chile); các nhà thơ Nga cổ điển và hiện đại như: A.Pushkin,
M.Lermontov, S.Esenin, E.Evtushenko, O.Berggoltz, M.Aliger, A.Tvardovsky,
M.Dudin, A.Akhmatova, R.Gamzatov…các nhà thơ Pháp : G.Apollinaire,
P.Eluard, J.Pressvert và tham gia biên soạn một số từ điển văn học như : Mozart,
truyện danh nhân ; Từ điển Văn học, 2 tập, NXB Khoa học xã hội, 1983-1984,
đồng tác giả; Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế Giới, 2004, đồng tác giả; Từ
điển tác gia văn học nước ngoài, đồng tác giả, Hữu Ngọc chủ biên…Và ông cũng
từng theo nghề luật cho đến khi thôi nhiệm kỳ cuối cùng ở Hội đồng Nhân dân
thành phố (năm 2000).
Với sự lao động miệt mài trong sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật của
mình, ông đã nhận được nhiều giải thưởng như: Giải nhất về thơ của Hội Văn học
nghệ thuật Hà Nội (1968), giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và giao lưu văn
hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình Liên Xô trao tặng(1982), giải thưởng Nhà nước về
Văn học Nghệ thuật (do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
trao tặng năm 2001), giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam (năm 2002), giải
thưởng văn học ASEAN cho tập thơ "Ném câu thơ vào gió" (2003), giải thành
tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) cho Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX,
với nhận xét: "Nhiều bài đã trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong
bốn thập kỷ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người
chuyển ngữ. Giải trao cho nhà thơ Bằng Việt để ghi nhận thành tựu trọn đời của
một dịch giả tài hoa có nhiều đóng góp trong hoạt động giới thiệu văn chương
nước ngoài”.

Nguyễn Thị Chi

16

Lớp K35C – Ngữ văn



1.2.2. Quan niệm nghệ thuật
Con đường đến với văn chương của Bằng Việt có ảnh hưởng trực tiếp từ bối
cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm 60. Như những nhà thơ trẻ cùng thời,
Bằng Việt có ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí, sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình –
“Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” – để từ đó, ông xác định rõ tư tưởng
nhận thức cho con đường sáng tạo thơ ca của mình.
Từ nhiều năm nay, Bằng Việt vẫn được coi là một trong những tác giả tiêu
biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ, bản thân ông cũng có quan niệm nghệ thuật rõ
ràng. Ông từng phát biểu: “Thơ viết trong thời kỳ ấy cũng là thước đo một thái độ
sống, một nhân cách sống. Không nhà thơ nào sống hèn đớn, lẩn tránh, đào ngũ
trong thời kỳ ấy mà lại thành một nhà thơ lớn được”. Khi trả lời câu hỏi của nhà
báo Huệ Thư: "Những phẩm chất nhà thơ cần có là gì?" Bằng Việt đã xác định
phẩm chất đầu tiên của người làm thơ là sự "chân thành". Do thi tứ "chân thành"
nên thơ Bằng Việt được tin yêu, từ đó tăng thêm năng lực thâm nhập tâm hồn
người đọc.
Với Bằng Việt, “thơ là phần tinh túy nhất của phương tiện thể hiện và trình
diễn bằng lời”, “càng thể hiện súc tích và sâu xa nhất bản chất và nội tâm mỗi con
người càng đặc sắc”. Từ kinh nghiệm của một nhà quản lý nghệ thuật, Bằng Việt
rất coi trọng “tính cá biệt và tính đặc thù”, “tính độc đáo trong mỗi khám phá nội
tâm của mỗi chủ thể trong thơ”. Khát khao khẳng định cái Tôi độc đáo ấy luôn
hòa quyện với những lý tưởng nhân văn cao đẹp của cái Ta. Trong bài viết thay
lời tựa của nhà thơ Bằng Việt cho tập sách “Tác phẩm chọn lọc” của ông đã khái
quát và đúc kết lại các đặc điểm về phương pháp và thế giới quan chung cho các
nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Qua đó Bằng Việt
phác họa nên những đặc trưng của các sáng tác trong thời kỳ này. Đây là câu
chuyện của cả một đời người cầm bút với hơn bốn mươi năm trăn trở, suy ngẫm,
chiêm nghiệm và sáng tạo. Nhà thơ Bằng Việt viết: “Có một điểm có lẽ là điểm
mấu chốt nhất của thế hệ văn học trưởng thành trong cuộc chiến tranh chống Mỹ,

đó là phạm trù cái tôi biết tự nguyện điều tiết thế nào trong cái ta, bản thể cá nhân
mình hoà nhập đến đâu với cả thế hệ mình và biết đặt mình vào mối quan hệ
Nguyễn Thị Chi

17

Lớp K35C – Ngữ văn


tương hỗ như thế nào, để sẵn sàng đóng góp trên ý thức xây dựng chung, cho tất
cả cộng đồng”. Bằng Việt mong “sẽ được cởi mở tấm lòng trọn vẹn với bạn đọc
cũng như thơ mình luôn luôn là nơi giãi bày, chia sẻ”, nhưng đồng thời cũng
mong muốn mỗi nhà thơ cần “luôn phấn đấu làm sao để con người luôn được
quyền đứng thẳng, được hít thở hết mình, vươn cao đến hết tầm vóc thực sự của
mình để sánh bước đồng hành cùng nhân loại”. Khát vọng cao đẹp của người
nghệ sỹ chân chính đã được Bằng Việt bộc bạch theo cách riêng trong các bài thơ
giàu chất chính luận: Hoa tường vi, Plixétcaia, Đọc lại Nuyễn Du, Ngôn ngữ và
chính trị, Ném câu thơ vào gió, Tạm bợ, Ngôi nhà, Nghĩ lại về Pauxtôpxky, Thơ
hay có cần phải chết?, Thơ còn gì hôm nay, Thực ra, Giọng hát hay - 87, Sự nhạy
cảm không có chỗ, Thời đã khác rồi,...
1.3. Tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001)
Trong “thế hệ sáu mươi”, “thế hệ Trường Sơn” trên văn đàn, Bằng Việt có
vị trí khá ổn định và vững chắc. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, với hơn 300
bài thơ và hơn 10 tập thơ đã công bố, có thể nói có được một sự nghiệp văn học
phong phú như ông không phải là điều dễ dàng. Để đánh dấu 40 năm sự nghiệp
cầm bút của mình, Bằng Việt xuất bản tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 2001). Đây chính là sản phẩm kết tinh chặng đường 40 năm cầm bút của mình, nó
chứng tỏ sự trưởng thành của một cây bút tài năng và tràn đầy nhiệt huyết. Đồng
thời, nó còn ghi lại những dấu ấn của tác giả về những đặc điểm thơ của Bằng
Việt trước và sau thời kỳ đổi mới (1986). Qua mỗi thời kỳ ấy, chúng ta thấy được
sự biến đổi và phát triển về cảm hứng, giọng điệu về nội dung, nghệ thuật trong

hành trình sáng tác của Bằng Việt.
Trong tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 - 2001) với 135 bài thơ, Bằng
Việt tự xếp thơ mình thành ba phần. Phần I có tên là Chứng tích một thời gồm 32
bài thơ, phần II là Tự bạch gồm có 56 bài thơ và cuối cùng là phần III Những trải
nghiệm gồm có 47 bài thơ. Để lý giải về sự phân chia các phần trong tuyển thơ,
Bằng Việt giải thích: "làm như thế là học cách kết cấu của một bản giao hưởng,
mở đầu là sôi nổi, cuốn hút, tiếp theo là trầm lắng, trữ tình và phần cuối là đúc
kết. Nếu cần chọn một đại diện cho phần II, có lẽ bài Nghĩ lại về Pauxtôpxky là
Nguyễn Thị Chi

18

Lớp K35C – Ngữ văn


thích hợp hơn cả". Trong tuyển thơ này, nội dung cơ bản của tập thơ không nằm
ngoài những nội dung cơ bản của thơ ca kháng chiến chống Mỹ đó là những cảm
hứng về đất nước và con người trong kháng chiến chống Mỹ. Hơn thế, một nguồn
cảm hứng bất tận muôn đời của thơ ca, nhạc, họa…đó là tình yêu, Bằng Việt
cũng đã khai thác đưa tình yêu vào trong thơ mình tạo nên sự say đắm, đắm đuối,
nồng nàn trong thơ mình. Thêm vào đó là cuộc sống muôn màu muôn vẻ với bao
gam màu nóng, lạnh khác nhau, nó đã đem đến nguồn cảm hứng mới - cảm hứng
về thế sự - đời tư, chính nguồn cảm hứng này đã tạo nên chất trí tuệ, thâm trầm,
triết lý trong các sáng tác của của chàng sinh viên Luật.
Về nghệ thuật của tuyển thơ, chúng ta nhận thấy, Bằng Việt sử dụng đa
dạng các thể thơ từ truyền thống cho tới hiện đại như lục bát, 5 chữ, 6 chũ, 7 chữ,
8 chữ và sử dụng với mới mức độ đậm đặc đó là thơ tự do. Ngôn ngữ trong thơ
Bằng Việt thì trong sáng, giản dị, dễ hiểu, giàu màu sắc gợi hình, gợi cảm,với sự
gia tăng các yếu tố văn xuôi vào trong thơ kết hợp với giọng điệu trữ tình sâu
lắng và giọng triết lý suy tư và một số biện pháp tu từ, Bằng Việt đã tạo ra một

loạt các biểu tượng thơ như: ngọn lửa, ngọn gió, hoa…Tất cả những điều trên đã
làm nên những bài thơ say đắm in đậm trong lòng mọi thế hệ độc giả.
Với gần nửa thế kỷ trăn trở trên con đường gập ghềnh của sáng tạo thi ca,
nhà thơ Bằng Việt là một trụ cột trong các trụ cột của thế hệ các nhà thơ trưởng
thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - thế hệ của những nhà biên niên sử của
một thời đại thơ hoành tráng. Nhà thơ Bằng Việt đã đóng góp một cái nhìn
bằng “ánh mắt xanh ngăn ngắt” trên nền cảm xúc “chờn vờn sương sớm” của thi
sĩ lãng mạn và trí tuệ, cùng kiến tạo lên cái toà đại bảo tháp của thi ca thế hệ
chống Mỹ cứu nước thế kỷ XX – một thế hệ trưởng thành trọn vẹn trong một thời
đại chứa đựng đậm đặc chất sử thi.

Nguyễn Thị Chi

19

Lớp K35C – Ngữ văn


×