Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

những biện pháp cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý hành chính hải quan việt nam giai đoạn 20012006

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (408.95 KB, 55 trang )

B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

TR N ÌNH TH

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2001


1

MỞ ĐẦU
Đơn giản hóa, công khai hóa thủ tục hải quan, tạo thuận lợi, nhanh chóng
cho xuất nhập khẩu phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, quản lý
chặt chẽ đúng chính sách, pháp luật là mục tiêu, yêu cầu và là nội dung chủ yếu
của cải cách và hiện đại hóa trong lónh vực quản lý nhà nước về hải quan.
Từ khi ra đời đến nay, Hải quan Việt Nam với vai trò “Là một binh chủng
đặc biệt trên mặt trận kinh tế, chính trò, an ninh đối ngoại”(Tổng bí thư Lê Khả
Phiêu), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất
nhập khẩu, phương tiên vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh và đấu tranh chống
buôn lậu , chống gian lận thương mại
Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thông qua thủ tục Hải quan không phải chỉ để tăng thu cho ngân sách nhà nước


mà còn nhằm bảo vệ và hỗ trợ sản xuất trong nước phát triển, góp phần thúc đẩy
giao lưu kinh tế, văn hóa với nước ngoài phát triển đúng đường lối, chủ trương
của Đảng và Nhà nước.
Hơn 10 năm qua, quá trình đổi mới ở nước ta đã diễn ra theo chiều hướng
tích cực với nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội. Cùng với nó là sự lớn
mạnh và tự khẳng đònh mình của Ngành Hải quan Việt Nam cả về lượng và
chất. Đến nay, Ngành Hải quan đã có gần 8.000 cán bộ. Với cơ sở vật chất và
trang thiết bò dù chưa nhiều song đã là bước tiến rất dài của Ngành trong việc
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hải quan. Nhìn chung công tác Hải
quan trong những năm gần đây phát triển nhanh chóng và đi vào nề nếp. Các
quy trình nghiệp vụ của từng Đơn vò công tác trực thuộc được nghiên cứu xây
dựng chặt chẽ hơn do tích lũy từ thực tế công tác và từ sự thay đổi của cơ chế
kinh tế.
Tuy nhiên, với lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tăng, đối tượng quản
lý đa dạng, loại hình kinh doanh phong phú… đòi hỏi những cố gắng vượt bậc của
Ngành trong việc quản lý đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, xứng đáng là
lực lượng nòng cốt trong việc gác cửa nền kinh tế của đất nước.
Trong tình hình hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, xu hướng tích cực chủ
động tham gia ngày càng nhiều vào kinh tế khu vực và thế giới nhằm mở rộng
và nâng cao hiệu quả hoạt động trong lónh vực này tiến tới hình thành những khu
vực tự do mậu dòch, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); tham gia khu vực mậu dòch tự do


2

Châu Á (AFTA); tham gia diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC);
tích cực chuẩn bò tham gia tổ chức Thương mại thế giới (WTO); thực hiện
chương trình giảm thuế có hiệu lực chung (CEPT); tích cực tham gia ký kết
nhiều Công ước quốc tế khác về hải quan… đã đặt Ngành hải quan Việt Nam

trước những câu hỏi sau :
-

Cơ chế quản lý hiện nay của Hải quan Việt Nam có phù hợp với yêu
cầu chung của khu vực ?

-

Sự hội nhập vào các tổ chức hải quan là cần thiết ?

-

Những thách thức của tương lai đối với ngành là gì?

-

Bằng cách nào môi trường hải quan phát triển? và bằng cách nào sự
quản lý và chế ngự những thay đổi có thể giúp cho những nhà quản lý
đối phó tốt hơn với những thách thức phía trước ?

Sau khi thực hiện viêc nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi chọn tên đề tài là”
Những biện pháp cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý hành chính Hải
quan Việt Nam trong giai đoạn 2001-2006” để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề
cải cách và hiện đại hóa trong xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa. Cũng
như những yêu cầu, đòi hỏi đơn giản hóa, công khai hóa thủ tục hải quan, tạo
thuận lợi, nhanh chóng cho xuất nhập khẩu phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam, quản lý chặt chẽ đúng chính sách, pháp luật. Đó chính là những
nội dung chủ yếu mà chúng tôi muốn đề cập trong phạm vi đề tài.



3

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HẢI QUAN

1.1 Khái niệm chung về công tác hải quan và hành chính hải quan :
1.1.1 Khái niệm về công tác hải quan :
“Hải quan” là cụm từ được phiên dòch từ chữ hán (Trung Quốc). Theo
khái niệm này, Hải quan là cơ quan nhà nước phụ trách việc kiểm tra, giám sát
hàng hóa, vật phẩm và phương tiện vận tải được phép đưa vào đưa ra khỏi lãnh
thổ quốc gia, và thu thuế quan các loại động sản này.
Xét về lòch sử phát triển, từ hải quan có nguồn gốc từ từ “Douane” (thu
quốc gia) của người Ai Cập ngay từ khi nhà nước của quốc gia này hình thành.
Sau đó, La Mã đã la tinh hóa, rồi Pháp cũng sử dung từ này. Còn Hy Lạp và Đức
gọi là “Zull” (thu quốc gia), Anh và các nước nói tiếng Anh gọi là “Custom”
(tập quán).
Theo tập quán và thông lệ quốc tế, Hải quan là công cụ hành pháp mà bất
cứ một nhà nước có chủ quyền nào cũng phải tổ chức ra để bảo vệ lợi ích, chủ
quyền an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
Tùy theo tình hình chính trò, hoàn cảnh lòch sử, điều kiện kinh tế – xã hội
và mối quan hệ quốc tế đặc thù tại từng quốc gia, từng khu vực và trong từng
thời kỳ lòch sử mà chức năng, nhiệm vụ, hình thức tổ chức, tên gọi, phạm vi đòa
bàn hoạt động, vò trí trong hệ thống bộ máy nhà nước có thể khác nhau, nhưng
xét về tính chất cơ bản, Hải quan các quốc gia đều nắm giữ vai trò quan trọng
như nhau: Đó là binh chủng đặc biệt gác cửa đất nước về kinh tế, gắn liền với
hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia.
Hải quan Việt Nam ra đời ngay từ sau cách mạng tháng tám 1945, được
gọi là “Sở Thuế quan và thuế gián thu”, đặt trong Bộ Tài chính (Sắc lệnh số
27/SL, ngày 10-09-1945 của Chủ tòch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa), sau đó gọi là ngành “thuế xuất nhập khẩu”(Nghò đònh số 63/NĐ,

ngày 17-07-1951 của Bộ Tài chính), rồi đổi thành Sở Hải quan (Nghò đònh 508 –
TTg ngày 06-04-1955 của Chính phủ) và năm 1962, được đổi tên thành Cục Hải
quan Trung ương, thuộc Bộ Ngoại thương (Quyết đònh 490/NTg-QĐ/TCCB ngày
17-06-1962 của Bộ Ngoại thương).
Ngày 20-10-1984, theo Nghò đònh 139/HĐBT, Tổng cục Hải quan, cơ quan
thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được thành lập. Theo nghò đònh đó


4

và sau này là Pháp lệnh Hải quan công bố ngày 24-02-1990, công tác hải quan
nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam
và đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối,
tiền Việt Nam qua biên giới.
1.1.2 Khái niệm về hành chính hải quan :
Hải quan là công cụ quan trọng của mỗi quốc gia, nằm trong hệ thống
hành pháp của nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, vì
vậy nó là một bộ phận của nền hành chính quốc gia bao gồm hệ thống thực thi
quyền hành pháp, là công cụ hành pháp, quản lý một lónh vực xã hội – lónh vực
hải quan, trên cơ sở thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước về hải quan.
Hành chính hải quan được thể hiện trên các phương diện:
+ Thể chế hành chính hải quan, mà nội dung của nó là hệ thống qui phạm
pháp luật hải quan về chính sách, chế độ, thủ tục, qui chế, qui trình nghiệp vụ
hải quan đối với các đối tượng quản lý nhà nước về hải quan là hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam.
Đó chính là đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đối
ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia được thể chế hóa nhằm đảm bảo
thực hiện quyền lực quản lý nhà nước trong lónh vực hải quan, thông qua công cụ

hành pháp là hải quan. Mặt khác, công tác hải quan vừa phải tuân thủ pháp luật
quốc gia, vừa tuân theo các điều ước quốc tế liên quan và các thông lệ, tập quán
quốc tế về hải quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Vì vậy, thể chế hành
chính hải quan còn bao hàm việc thể chế hóa những điều ước, thông lệ và tập
quán quốc tế về hải quan trong thủ tục hải quan và các chế độ hải quan như vấn
đế ưu đãi hải quan, về các biện pháp phối hợp và phòng ngừa trong quan hệ
buôn bán giữa các nước…
+ Hệ thống thiết chế bộ máy hải quan được tổ chức từ trung ương đến cơ
sở. Hệ thống thiết chế này tương ứng với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
được giao, đồng thời phải đủ khả năng hành động để đảm bảo cho chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của hải quan được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả trong
phục vụ và quản lý, thực thi quyền hành pháp của công cụ hành pháp nhà nước.
Nói cách khác, hệ thống thiết chế bộ máy hải quan phải phù hợp với hệ thống
thể chế hành chính hải quan. Chỉ có như vậy, hệ thống thiết chế bộ máy hải
quan mới phát huy được hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan.
+ Hệ thống nhân sự hải quan gồm đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội
ngũ công chức hải quan. Hệ thống này thuộc yếu tố con người, gắn liền với hệ


5

thống công sở đặt dưới quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan hải quan các cấp,
có ý nghóa quyết đònh đến việc thực thi quyền hành pháp trong lónh vực quản lý
nhà nước về hải quan, đến hiệu lực, hiệu quả của quyền lực quản lý.
nước ta hiện nay, hệ thống hành chính hải quan bao gồm từ hệ thống
thể chế hành chính, đến hệ thống thiết chế bộ máy và hệ thống nhân sự, là công
cụ đắc lực trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật và của
Nhà nước, nghò quyết của Quốc hội và hệ thống văn bản pháp qui của Chính phủ
nhằm quản lý và phát triển kinh tế - xã hội nói chung, về kinh tế đối ngoại và an
ninh quốc gia nói riêng, đem lại lợi ích cho đất nước và cho nhân dân, đóng góp

ngày càng quan trọng trong việc đem lại lợi ích cho cả cộng đồng quốc tế.
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức của Hải
quan Việt Nam :
Chức năng, nhiệm vụ, hệ thống tổ chức, bộ máy và đội ngũ công chức Hải
quan Việt Nam được xác đònh trong Pháp lệnh Hải quan năm 1990.
1.2.1 Chức năng Hải quan Việt Nam :
Pháp lệnh Hải quan 1990 (Điều 3) đã xác đònh “Trong phạm vi nhiệm vụ
quyền hạn do Pháp lệnh này qui đònh, Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh,
nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam ; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối hoặc tiền Việt Nam qua biên giới”.
Chức năng của Hải quan Việt Nam cần được hiểu đúng, đủ và thống nhất
là chức năng quản lý nhà nước về hải quan và chức năng chống buôn lậu hoặc
vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới. Vì đây
là hai mặt của vấn đề thuộc quyền lực nhà nước về hải quan để bảo đảm lợi ích,
chủ quyền và an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
Hai chức năng đó có mối quan hệ tương hỗ và tạo nên sức mạnh tổng hợp thuộc
quyền lực của Hải quan Việt Nam, được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Hiểu một cách đơn giản, xem nhẹ hoặc tước bỏ một chức năng nào, tức là vô
hình trung làm giảm quyền lực của Hải quan Việt Nam đã được pháp luật của
Nhà nước CHXHCN Việt Nam qui đònh.
Nói đến chức năng “Quản lý nhà nước về hải quan” đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam
là nói đến việc sử dụng quyền lực nhà nước được thể chế hóa thành các qui
phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các
quan hệ pháp luật hải quan, tức là các hành vi của các tổ chức hoặc cá nhân thực
hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, vật phẩm và phương tiện vận tải ra,
vào lãnh thổ Việt Nam; áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát và tiến hành



6

thủ tục hải quan đối với các hoạt động đó; hoặc áp dụng hàng rào thuế quan và
các biện pháp bảo vệ, phòng ngừa trong quan hệ buôn bán giữa các nước với
Việt Nam, nhằm bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam.
Chức năng “Đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới” là việc cơ quan Hải quan Việt Nam
sử dụng quyền lực nhà nước, được xác đònh tại các Bộ luật hình sự (Điều 97), Bộ
luật tố tụng hình sự (Điều 93), Pháp lệnh Hải quan (Điều 46, 47), Pháp lệnh tổ
chức điều tra hình sự (Điều 28)… về khởi tố, điều tra ban đầu đối với hai tội xâm
phạm an ninh đối nội và đối ngoại của Việt Nam là tội buôn lậu và tội vận
chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới. Để thực hiện
chức năng này, Hải quan Việt Nam được tiến hành các biện pháp nghiệp vụ
công khai và bí mật nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều tra và xử lý các hành vi
buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua
biên giới, các hành vi vi phạm qui đònh khác của Nhà nước về hải quan trong
phạm vi thẩm quyền do pháp luật qui đònh và những điều ước quốc tế mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia.
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan Việt Nam :
Theo Điều 6 của Pháp lệnh Hải quan 1990 quy đònh : Hải quan Việt Nam
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau :


Tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát
Hải quan theo quy đònh của Pháp lệnh Hải quan.



Bảo đảm thực hiện quy đònh của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu,
về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các nghóa vụ khác trong phạm

vi thẩm quyền do pháp luật quy đònh.



Tiến hành những biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, điều tra và xử lý
hành vi buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt
Nam qua biên giới, hành vi vi phạm các quy đònh khác của Nhà nước
về Hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy đònh.



Thực hiện thống kê Nhà nước về Hải quan.



Kiến nghò chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, mượn đường Việt Nam;
hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện quy đònh của Nhà nước về Hải
quan.



Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân viên Hải quan.



Hợp tác quốc tế với Hải quan các nước.


7


Trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hải quan Việt Nam
phối hợp chặt chẽ với chính quyền đòa phương các cấp, các lực lượng vũ trang,
cơ quan nhà nước khác, tổ chức xã hội, dựa vào nhân dân và chòu sự giám sát
của nhân dân.
Trong tình hình hiện nay, ngành Hải quan Việt Nam tập trung thực hiện 4
nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động nghiệp vụ của mình là :
• Kiểm tra, giám sát, quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương
tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
• Kiểm tra thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các loại thuế khác
theo qui đònh chung là “thuế hải quan”.
• Điều tra chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại
hối, tiền Việt Nam qua biên giới.
• Thống kê nhà nước về hải quan.
Như vậy, vai trò, vò trí, chức năng của Hải quan Việt Nam được khẳng
đònh trong từng giai đoạn cách mạng, còn nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam lại
phát triển theo sự phát triển của tình hình kinh tế, xã hội của đất nước. Do đó,
đòi hỏi đội ngũ chỉ huy, quản lý phải nắm bắt được qui luật khách quan để điều
chỉnh cho phủ hợp, như xác đònh nhiệm vụ chủ yếu, hoặc nhấn mạnh nhiệm vụ
này, hay nhiệm vụ khác, nhưng không thể vượt ra khỏi phạm vi chức năng đã
được pháp luật qui đònh. Có như vậy mới phát huy được hiệu lực, hiệu quả công
tác, đồng thời khắc phục được những sai phạm đáng tiếc có thể xảy ra.
1.2.3 Hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam :
Điều 5 – Pháp lệnh hải quan xác đònh: Hải quan Việt Nam tổ chức theo
nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hội Đồng Bộ
Trưởng (nay là Chính phủ).
Ngày 07/3/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghò đònh 16/CP xác đònh
Hải quan Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ. Bộ máy tổ chức Hải quan Việt
Nam được qui đònh như sau:
- Tổng Cục Hải quan là cơ quan thuộc chính phủ thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực hiện chế độ quản lý nhà nước về
hải quan trên phạm vi cả nước.
- Tổ chức Hải quan Việt Nam bao gồm Tổng Cục Hải quan; Hải quan
Tỉnh hoặc Liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; Hải
quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan.


8

- Cơ cấu tổ chức của khối cơ quan Tổng cục Hải quan bao gồm: bộ máy
giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước là cục Giám sát
quản lý về hải quan, cục Kiểm tra thu thuế XNK, cục Điều tra chống buôn lậu,
vụ Pháp chế, vụ Quan hệ quốc tế, vụ Kế hoạch – tài vụ, vụ Tổ chức cán bộ và
đào tạo, Thanh tra, Văn phòng; và các đơn vò sự nghiệp trực thuộc là Trung tâm
tin học thống kê, Viện nghiên cứu khoa học, Trường cao đẳng Hải quan, Báo
Hải quan.
1.2.4 Hệ thống chức danh công chức hải quan:
Các chức danh lãnh đạo trong ngành Hải quan gồm có:
+ Tổng cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng.
+ Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng và các Phó Cục trưởng, Phó Vụ
trưởng, Phó Viện trưởng và chức vụ tương đương tại cơ quan Tổng cục Hải quan;
Cục trưởng, Phó cục trưởng cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
và các chức vụ tương đương.
+ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng nghiệp vụ thuộc các vụ,
cục đơn vò trực thuộc Tổng cục, hoặc cục Hải quan Tỉnh, thành phố; Trưởng Hải
quan cửa khẩu, Phó Trưởng hải quan cửa khẩu và chức vụ tương đương; Đội
trưởng, Phó Đội trưởng đội kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu.
+ Đội trưởng, Phó Đội trưởng đội nghiệp vụ thuộc phòng hoặc cửa khẩu.
Ngành Hải quan còn được săp xếp theo ngạch công chức Hải quan qui
đònh tại quyết đònh số 427/TCCP-VC ngày 02-06-1993 của Bộ trưởng – trưởng

ban tổ chức Cán bộ Chính phủ trong đó có có các ngạch:
+ Kiểm tra viên cao cấp hải quan.
+ Kiểm tra viên chính hải quan.
+ Kiểm tra viên hải quan.
+ Kiểm tra viên trung cấp hải quan.
+ Nhân viên hải quan.
Lực lượng Hải quan là công cụ hành pháp của Nhà nước, Tổng cục Hải
quan là cơ quan thuộc Chính phủ Trung ương. Do vậy, các đơn vò Hải quan (Cục
Hải quan tỉnh, thành phố, Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan ) được bố
trí làm nhiệm vụ tại các đòa bàn, lãnh thổ có cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu quốc
tế, hoặc những nơi có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh,
quá cảnh… là lực lượng của trung ương đứng chân trên lãnh thổ theo đòa giới
hành chính đòa phương (tỉnh, thành phố…) để thực hiện chức năng quản lý nhà


9

nước về Hải quan đối với các hoạt động nói trên. Các lực lượng này do Tổng cục
Hải quan quản lý trực tiếp và toàn diện, đồng thời chòu sự kiểm tra cấp ủy, chính
quyền đòa phương về việc chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước Trung ương tại đòa phương. Đó là mối quan hệ dọc – ngang của các lực
lượng Trung ương đóng tại đòa phương đã được pháp luật qui đònh. Cần đề phòng
khuynh hướng: các lực lượng Hải quan thiếu sự tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và
sự kiểm tra của cấp ủy, chính quyền đòa phương về những nội dung đã được
pháp luật qui đònh, hoặc ngược lại, chính quyền đòa phương can thiệp quá sâu
vào lónh vực hoạt động công tác thuộc chính sách, luật pháp của Nhà nước về
hải quan và các chế độ qui đònh về nghiệp vụ hải quan do ngành Hải quan chỉ
đạo.
1.3 Nguyên tắc phạm vi đòa bàn hoạt động, khu vực kiểm soát, thủ tục Hải
quan :

1.3.1 Nguyên tắc phạm vi đòa bàn hoạt động, khu vực kiểm soát Hải
quan :
Trong hoạt động của mình, Hải quan Việt Nam tuân theo pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà CHXHCN Việt
Nam ký kết hoặc công nhận (Pháp lệnh Hải quan – Điều 3). Điểm 2, Điều 5
Pháp lệnh này còn qui đònh: Đòa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam bao
gồm: khu vực cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế,Cảng hàng không dân
dụng quốc tế, bưu điện quốc tế; khu vực kiểm soát Hải quan dọc theo biên giới,
bờ biển, hải đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải, và những đòa điểm khác ở nội đòa do
pháp lệnh này qui đònh. Nghò đònh 128/HĐBT (19-04-1991) qui đònh cụ thể các
nội dung này.
Gần đây do tình hình buôn lậu tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng
gia tăng ở nhiều nơi về tính chất cũng như số lượng. Trước tình hình đó, Thủ
tướng Chính phủ đã giao cho ngành Hải quan :
+ Chủ trì cùng Bộ quốc phòng, Bộ Công An, Bộ Thương mại xây dựng kế
hoạch chung, tổ chức việc phối hợp giữa các lực lượng trong công tác chỉ đạo
đấu tranh chống buôn lậu mạnh mẽ, toàn diện trên toàn tuyến biển. Tổng cục
Hải quan chòu trách nhiệm chính về công tác chống buông lậu trên biển và cửa
khẩu.
+ Phải tổ chức lực lượng đủ mạnh để điều tra những đường dây buôn lậu
móc nối từ biên giới vào nội đòa, được phép chủ động phối hợp với các lực lượng
khác (quản lý thò trường, nội vụ, thuế vụ…) phát hiện và xử lý kòp thời những ổ
nhóm thuộc đường dây buôn lậu từ biên giới nằm ngay tại các đòa điểm trong nội
đòa.


10

1.3.2 Thủ tục Hải quan:
Thủ tục Hải quan là trình tự những việc làm giữa cơ quan Hải quan và

người khai Hải quan để đảm bảo cho các đối tượng kiểm tra hải quan (hàng hóa,
vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh…) được tiến hành kiểm tra, giám sát và xử lý trong khuôn khổ pháp luật hải
quan.
a. Nguyên tắc chung:
-

Đối tượng kiểm tra hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh,
nhập cảnh hoặc quá cảnh đều phải làm thủ tục hải quan.

-

Thủ tục hải quan phải công khai, nhanh chóng, thuận tiện và chặt chẽ.

-

Đối tượng kiểm tra hải quan đã hoàn thành thủ tục hải quan được xuất
ra nước ngoài, hoặc nhập vào Việt Nam .

b. Trình tự tiến hành:
Theo Điều 12 Pháp lệnh Hải quan quy đònh thủ tục Hải quan bao gồm:
-

Khai báo và nộp tờ khai Hải quan, nộp hoặc xuất trình giấy phép và
các giấy tờ cần thiết khác theo quy đònh của pháp luật ( Nghò đònh
171/ HĐBT ngày 27/5/1991 quy đònh cụ thể những loại giấy tờ phải
nộp cho Hải quan khi thực hiện việc làm thủ tục xuất, nhập qua biên
giới cho từng loại đối tượng cụ thể).

-


Đưa các đối tượng kiểm tra Hải quan đến đòa điểm quy đònh để kiểm
tra.

-

Làm nghóa vụ nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các nghóa vụ khác theo
quy đònh của pháp luật và nộp lệ phí Hải quan.

Sau khi làm thủ tục Hải quan, nhân viên Hải quan xác nhận việc hoàn
thành thủ tục Hải quan vào tờ khai Hải quan. Thủ tục Hải quan phải được công
khai và thực hiện nhanh chóng thuận tiện. Mọi nhân viên Hải quan phải có thái
độ văn minh, lòch sự và phải hướng dẫn tổ chức, cá nhân làm thủ tục Hải quan.
Những đối tượng kiểm tra Hải quan đã hoàn thành thủ tục Hải quan được
phép xuất ra nước ngoài hoặc được nhập vào lưu thông nội đòa.
Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thông qua thủ tục Hải quan không phải chỉ để tăng thu cho ngân sách nhà nước
mà còn nhằm bảo vệ và hỗ trợ sản xuất trong nước phát triển, góp phần thúc đẩy
giao lưu kinh tế, văn hóa với nước ngoài và phát triển đúng đường lối, chủ
trương của Đảng, của Nhà nước.


11

Chương 2
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CỘNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
HẢI QUAN HIỆN NAY , NHỮNG XU HƯỚNG VỀ CẢI CÁCH
VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH HẢI
QUAN CỦA WCO (WORLD CUSTOMS ORGANIZATION)
A. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CỘNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH HẢI

QUAN HIỆN NAY
2.1 Quá trình hình thành phát triển:
Để bảo vệ chủ quyền kinh tế của đất nước, bảo đảm nguồn thu ngân sách
và bảo vệ an ninh quốc gia. Trong những ngày đầu giành chính quyền, chỉ 8
ngày sau khi chủ tòch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập (2-9-45), Bộ trưởng
Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thừa ủy nhiệm Chủ tòch Chính phủ lâm thời Việt
Nam Dân chủ Công hòa đã ký sắc lệnh số 27/SL ngày 10-09-1945 thành lập “Sở
Thuế quan và thuế gián thu” khai sinh Hải quan Việt Nam. Trải qua trên 55 năm
hình thành và phát triển, nhiều lần thay đổi tên gọi, mô hình tổ chức, đồng thời
chức năng nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam cũng được bổ sung hoàn chỉnh cho
phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng của đất nước trong từng giai đoạn.
2.1.1 Thời kỳ xây dựng chính quyền nhân dân, kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1945-1954):
Nhiệm vụ chủ yếu của Hải quan Việt Nam trong thời kỳ này là đấu tranh
kinh tế với đòch, kiểm soát và thu thuế quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra
giữa vùng tự do và vùng đòch tạm chiếm, chống buôn lậu giữa hai vùng, và thu
thuế gián thu đánh vào thuốc lá, thuốc lào… lưu thông ở vùng tự do. Quá trình
trên Hải quan Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính.
2.1.2 Thời kỳ xây dựng và bảo vệ chủ nghóa xã hội ở miền Bắc, chống
đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (19541975):
Thời kỳ này, cơ quan Hải quan hoạt động với chức năng, nhiệm vụ và
nhiều quyền hạn (khám người, nhà ở…; tạm giữ người phạm pháp…) được qui
đònh tại “Điều lệ hải quan” ban hành kèm theo Nghò đònh số 03/CP ngày 27-021960 của Chính phủ, để bảo vệ chính sách Nhà nước độc quyền ngoại thương,
kiểm tra, giám sát, quản lý hàng hóa XNK mậu dòch (theo nghò đònh thư) và phi
mậu dòch, kiểm soát chống buôn lậu và vận chuyển hàng quốc cấm (thuốc
phiện, vũ khí) và thu thuế XNK đối với hàng phi mâïu dòch. Để phù hợp với tình


12


hình nhiệm vụ mới, “Cơ quan thuế xuất nhập khẩu “ từ Bộ Tài chính chuyển
sang Bộ Công thương.
2.1.3 Thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghóa xã hội bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghóa (1975- 1986):
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-04-1975), thống nhất đất
nước, cả nước bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng chủ nghóa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc XHCN”, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, có không ít
khó khăn. Bọn phản cách mạng và các thế lực thù đòch tiến hành kiểu chiến
tranh phá hoại nhiều mặt đối với nước ta, tập trung phá hoại nền kinh tế và
chính trò còn non trẻ. Trước tình hình đó, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trên
lónh vực công tác này, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết đònh nhiều biện pháp cấp
bách, trong đó có việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác của
nhân dân, đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền đòa phương,
tăng cường kiểm soát ở cửa khẩu biên giới, tổ chức lại việc phối hợp các lực
lượng kiểm soát ở vùng biên giới… thành lập Tổng cục Hải quan thuộc Hội đồng
Bộ trưởng để giúp Chính phủ quản lý công tác hải quan.
Bộ máy Hải quan Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất
từ Trung ương xuống cơ sở. Cán bộ, nhân viên hải quan được Nhà nước cấp
trang chế phục thống nhất, có phù hiệu, chứng minh hải quan… là công cụ
chuyên chính bán vũ trang của Đảng và Nhà nước. Hải quan Việt Nam có thang
lương riêng, được hưởng thâm niên công tác và các chế độ khác… như Công an
Nhân dân.
Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết đònh chuyển sự theo dõi, quản lý Tổng
cục Hải quan từ Khối Kinh tế sang khối Nội chính, do Ban Nội chính Trung ương
phụ trách
2.1.4 Thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập (1986 đến nay):
Trong sự nghiệp đổi mới, để đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước
về phát triển kinh tế- xã hội, giao lưu hợp tác văn hóa với nước ngoài, góp phần
tăng cường sự giao lưu hợp tác quốc tế bảo vệ lợi ích chủ quyền an ninh quốc
gia, Hội đồng Nhà nước ban hành “Pháp lệnh Hải quan” theo lệnh số

32/LCT/HĐNN8 ngày 24-02-1990, nhằm khẳng đònh vai trò, vò trí, chức năng
nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội
bảo vệ tổ quốc giữ vững an ninh quốc gia, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
trong thời kỳ mới.
Chính phủ, bằng Nghò đònh số 16/CP ngày 07-03-1994, qui đònh cụ thể về
chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy của Hải quan Việt Nam với 4 nhiệm vụ
chủ yếu; xác đònh tên gọi là Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Chính phủ, có hệ


13

thống tổ chức dọc 3 cấp: Trung ương (Tổng cục Hải quan), tỉnh, liên tỉnh, thành
phố (cục Hải quan) và cấp cơ sở (Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan).
Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phân tích và khẳng đònh tính cách mạng,
tính chiến đấu và tính quần chúng của công tác hải quan trong thời kỳ mới của
đất nước, đồng thới giao nhiệm vụ cho Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Tổng cục
Hải quan phát triển nghiên cứu đề xuất với Đảng và Nhà nước về chủ trương,
phương hướng và đề án cụ thể về tổ chức ngành Hải quan, bao gồm cả việc tổ
chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng Hải quan, để đảm bảo cho
Hải quan Việt Nam thực sự là người: “Chiến só cách mạng, gác cửa nền kinh tế
đất nước”
2.2 Công tác quản lý hải quan:
2.2.1 Một số thành tựu đạt được:
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nghò quyết Ban Chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ 8 (khóa VII) ngày 16-01-1995 và nghò quyết 38/CP ngày 0405-1994 của Chính phủ, về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà Nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghóa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính,
“cải cách thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc của
công dân và tổ chức”; căn cứ thực tiễn hoạt động hải quan thời gian qua cũng
như yêu cầu mới đặt ra cho công tác hải quan trong thời gian tới, ngành Hải quan
đã xây dựng đề án, đề ra các giải pháp đồng bộ và xác đònh mục tiêu, yêu cầu

cải cách thủ tục hành chính trong lónh vực quản lý nhà nước về hải quan. Quá
trình thực hiện được sự phối hợp chặt chẽ của Văn phòng Chính phủ, các Bộ
ngành hữu quan, cùng với sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, toàn ngành Hải quan
đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đat nhiều thành tích mới trên các
mặt công tác chủ yếu sau:
Công tác thống kê nhà nước về hải quan được tiến hành tích cực, nhưng
chủ yếu tác nghiệp bằng phương pháp thủ công nên năng suất, chất lượng công
tác có phần hạn chế.
Công tác kiểm tra thu thuế XNK được triển khai thực hiện ráo riết, từ thu
thuế XNK phi mậu dòch đến thuế XNK hàng mậu dòch theo Luật thuế XK, thuế
NK. Qua hơn 7 năm (1992 - 1998) thi hành luật thuế XK, thuế NK, nhất là qua
hơn 6 năm (1994 - 2000) thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế
XK, thuế NK đã thu được kết quả đáng khích lệ.
̶ Thông qua công tác giám sát, quản lý, kiểm tra thu thuế XNK và kiểm
soát hải quan đã thực hiện được sự quản lý, kiểm soát của nhà nước đối với hoạt
động XNK, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng
của người sản xuất – kinh doanh XNK.


14

̶ Biểu thuế, biểu giá tính thuế được xây dựng trên cơ sở vận dụng danh
mục hàng hóa sắp xếp theo hệ thống hài hòa trong mô tả và mã hóa (HS) của tổ
chức hải quan thế giới (WCO) và giá tính thuế vận dụng theo một số nguyên tắc
về giá trò của GATT/WTO góp phần đảm bảo thu đúng, thu đủ, chống thất thu,
tạo điều kiện trao đổi thông tin thương mại, tiến tới mở rộng hợp tác quốc tế về
thuế quan và mậu dòch.
Bảng 2.1: Kết quả thống kê về kim ngạch và khoản thuế xuất nhập khẩu
thu nộp ngân sách của Hải quan Việt Nam từ 1995 - 2000:
Năm

1995
1996
1997
1998
1999
2000

Kim ngạch XNK
Số thu từ XNK
Kim ngạch
% tăng so với
Số thu
% tăng so với
năm trươc
năm trươc
(tỷ USD)
(Tỷ VNĐ)
13.500
40%
71%
13,40
12,6%
15.200
37,3%
18,40
-11,2%
13.500
8,1%
19,89
22,9%

16.600
4,6%
20,81
40,4%
23.307
11,3%
23,16
4,8%
24,4%
24.428
28,80
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)

Công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại
hối, tiền Việt Nam qua biên giới được đẩy mạnh, tăng cường kiểm tra, kiểm soát
trên các tuyến biên giới và đòa bàn trọng điểm, kết quả từ 12-1994 đến 12-2000
lực lượng Hải quan đã phát hiện 66.854 vụ buôn lậu,vi phạm pháp luật hải quan,
tòch thu rất nhiều tang vật, trò giá hàng lậu bò xử lý tòch thu ước tính khoảng
1.694.600.000.000 VNĐ; bắt giữ 47,21 kg Heroin, 144,2 kg thuốc phiện, 6.670
kg cần sa và rất nhiều loại vũ khí, tài liệu phản động, ấn phẩm đồi trụy…
Công tác giám sát quản lý về hải quan đã tiến hành thủ tục thuận lợi,
nhanh chóng, đúng chính sách, pháp luật cho hàng hóa XNK, góp phần tăng
nhanh tốc độ phát triển trao đổi thương mại với các quốc gia trên toàn thế giới,
tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.
Bảng 2.2: Kết quả tiến hành thủ tục hải quan (1998 – 2000):
Chỉ tiêu
Phương tiên vận tải
Hành khách XNC
Hàng hóa XNK


ĐVT
1998
1999
2000
Tổng
103.883 131.932 147.764 383.579
Lượt
23,05
7,01
4,9
4,1
triệu lượt
202,4
88,9
63,5
50
triệu tấn
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)


15

Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng bình quân:
Chỉ tiêu
Phương tiên vận tải
Hành khách XNC
Hàng hóa XNK

1998
1999

2000
Bình quân
17%
12%
27%
12%
40%
43%
20%
55%
27%
40%
27%
15%
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)

Đồng thời nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách, cơ chế quản lý
XNK, XNC phù hợp với cơ chế mới như:
2.2.1.1 Cải tiến việc cấp giấy phép hải quan:
Nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục giấy tờ,
giảm bớt sự vụ ở tổng hành dinh, tăng cường vai trò quản lý của Cục Hải quan
tỉnh, thành phố và Hải quan cửa khẩu, Tổng cuc Hải quan đã bãi bỏ việc cấp
giấy phép hải quan đối với hàng hóa XNK đã có giấy phép của cơ quan quản lý
chuyên ngành (văn hóa, y tế, lâm nghiệp…) và đối với các trường hợp xuất nhập
khẩu hàng mẫu, vât phẩm quảng cáo, hàng tiếp tế, quà biếu, hành lý vượt tiêu
chuẩn miễn thuế; bỏ giấy phép miễn thủ tục hải quan các đối tượng được hưởng
quyền ưu đãi miễn trừ.
Quá trình thực hiện chủ trương trên đã góp phần giảm phiền hà, tạo thông
thoáng, thuận tiện cho hoạt động XNK, XNC, nâng cao hiệu lực quản lý hải
quan, tạo ra phong cách làm việc mới, có hiệu quả hơn, được đông đảo khách

hàng trong và ngoài nước, cũng như nội bộ ngành Hải quan đồng tình, ủng hộ.
Thực tế trên cho thấy việc bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép XNK hàng hóa thuộc
thẩm quyền Tổng cục Hải quan không đơn thuần về thủ tục hành chính. Nó găn
kết với nhiều khâu, đòi hỏi cần tiến hành đồng bộ với các biện pháp nghiệp vụ
khác, đi liền với công tác tổ chức, trang bò phương tiện kỹ thuật hiện đại, dưới sự
chỉ đạo thống nhất của Tổng cục, mới có thể hoàn thiện và đem lại hiệu quả
thiết thực hơn.
2.2.1.2 Thành lập mới các đơn vò hải quan quản lý các đòa bàn và loại
hình XNK mới.
Trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập, hoạt động XNK ở nước ta
trong những năm qua phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại hình mới, đòi hỏi
ngành Hải quan phải đổi mới phương thức tổ chức hoạt động và quản lý cho phù
hợp.
Những loại hình XNK mơí có xu hướng phát triển ra phạm vi cả nước
trong đó tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm kinh tế – thương
mại ở nội đòa, thuận tiện về giao thông và đã hình thành các khu công nghiệp


16

tâïp trung, khu chế xuất, cơ sở sản xuất, gia công hàng xuất khẩu, dòch vụ xuất
nhập khẩu.
Trước tình hình đó, từ cuối năm 1994 lại đây, để đáp ứng với sự phát triển
của tình hình, để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình, bộ máy
thiết chế hành chiùnh hải quan được chính phủ cho phép thành lập thêm nhiều
đơn vò hải quan từ cơ quan tham mưu giúp việc đến các đơn vò cơ sở, nhằm bám
sát phục vụ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, đồng thời nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước về hải quan.
a. Thành lập các đơn vò hải quan quản lý hoạt động XNK ở nội đòa.
Trong chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, hầu hết các tỉnh

nội đòa đều tổ chức và đẩy mạnh hoạt động XNK và đều có nhu cầu thành lập
tổ chức hải quan để tạo thuận tiện, nhanh chóng trong việc làm thủ tục hải quan
cho hàng hóa XNK, giảm phiền hà, bớt tốn kém tiền của và thời gian đi lại của
các doanh nghiệp phải đến các tỉnh khác có tổ chức hải quan để làm thủ tục.
Nhằm đáp ứng nhu cầu đó, ngành Hải quan đã thành lập các tổ chức hải quan
nội đòa trực thuộc Cục Hải quan các tỉnh, thành phố gần đó, để phục vụ trực tiếp
cho hoạt động XNK của đòa phương tỉnh, thành đó hoặc để quản lý các loại hình
XNK mới, vừa tinh giảm bộ máy, vừa đảm bảo chỉ đạo, chi huy tập trung, thống
nhất của ngành, cụ thể là đã thành lập các đơn vò Hải quan Sơn La (thuộc Cục
Hải quan Lai Châu), Yên Bái, Việt Trì, Hà Đông, Bắc Ninh, Vónh Phúc (thuộc
Cục Hải quan thành phố Hà Nội), Diêm Điền, Hải Dương, Hưng Yên (thuộc Cục
Hải quan Thanh Hóa), Hồng Lónh (thuộc Cục Hải quan Hà Tónh), Đà Lạt (thuộc
Cục Hải quan Đắc Lắc), Tuy Hòa, Sa Kỳ (thuộc Cục Hải quan Bình Đònh). Như
vậy đến hết năm 1998 cả nước đã có 45/61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
đã có tổ chức hải quan.
b. Thành lập hải quan đòa điểm thông quan nội đòa (ICD).
Đòa điểm thông quan nội đòa (Inland Clearance Depot – ICD) là một loại
hình giao nhận hàng hóa XNK và thông quan phổ biến trên thế giới. Thực chất
đây là điểm “nối dài” của cảng biển quốc tế vào sâu nội đòa (còn gọi là “cảng
khô”) để tiếp nhận và giải phóng hàng hóa do các công ty vận chuyển hàng hóa
đường biển thực hiện theo phương thức container, đối với hàng nhập khẩu là
container có cảng đích là ICD, đối với hàng hóa XK từ đó ra đi, nhằm đáp ứng
yêu cầu phát triển thương mại và giao lưu quốc tế. Kết quả cho thấy, ICD là loại
hình hoạt động phù hợp với điều kiện ở nước ta và có hiệu quả.
Hai năm 1999 – 2000 ICD Gia Thụy và ICD Thủ Đức đã làm thủ tục
thông quan cho lượng hàng hóa đạt tổng kim ngạch XNK 1.14 tỷ USD, thu


17


1175.38 tỷ VNĐ tiền thuế XNK, phát hiện 881 vụ vi phạm pháp luật hải quan.
Trò giá hàng hóa vi phạm 23.14 tỷ VNĐ.
Kết quả trên đã góp phần khẳng đònh chủ trương trong việc mở đòa điểm
thông quan nội đòa (ICD) là phù hợp với điều kiện nước ta, góp phần thiết thực
vào việc nâng cao khả năng tiếp nhận và giải phóng nhanh hàng hóa thông qua
các cảng biển quốc tế vừa tạo thuận tiện, giảm phiền hà và tốn kém cho chủ
hàng, vừa giảm bớt ùn tắc ở cửa khẩu, đảm bảo quản lý chặt chẽ của hải quan.
c. Thành lập hải quan kho ngoại quan.
Kho ngoại quan là một hình thức dòch vụ XNK tạm thời lưu giữ, bảo quản
hàng hóa từ nước ngoài, hoặc từ trong nước đưa vào kho để chờ xử XK, NK. Sau
một thời gian thí điểm, kho ngoại quan ở nước ta đã chính thức đi vào hoạt động
và đã đạt hiệu quả khả quan. Ngày 31.01.1992 Chủ Tòch Hội Đồng Bộ Trưởng
(nay là Thủ Tướng Chính Phủ) ra quyết đònh số 43/CT vể thí điểm thành lập và
quản lý kho ngoại quan. Sau 2 năm (1992 – 1993) hoạt động có hiệu quả, Thủ
tướng chính phủ ra quyết đònh số 104 – TTG ngày 16.03.1994 ban hành quy chế
kho ngoại quan và cho phép kho ngoại quan chính thức đi vào hoạt đôïng. Tổng
kết hoạt động 2 năm 1999 – 2000, 14 kho ngoại quan đã ký được 2.520 hợp đồng
và tổng trò giá hàng qua kho là1.88 tỷ USD, thu 4.21 triệu USD và 15.7 tỷ đồng
dòch vụ phí.
Đến nay, có 14 Hải quan kho ngoại quan thuộc 5 Cục Hải quan tỉnh, thành
phố. Trong đó thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh (2), Cục Hải quan Đà Nẳng
(2), Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh (4), Cục Hải quan Bà Ròa – Vũng Tàu (2).
d. Thành lập hải quan khu chế xuất.
Khu chế xuất theo khái niệm của các nhà kinh tế học, tuy còn nhiều ý
kiến khác nhau nhưng có thể chia thành hai loại:
̶ Loại thứ nhất (theo nghóa hẹp): khu chế xuất là một lãnh đòa công
nghiệp chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, tách rời khỏi chế
độ thương mại và thuế quan của một nước và áp dụng chế độ thương mại tự do.
̶ Loại thứ hai (theo nghóa rộng): các cảng tự do, khu mậu dòch tự do, liên
hiệp hải quan, khu quá cảng, kho quá cảng, khu công nghiệp tự do, đặc khu kinh

tế là những thiết chế có đặc trưng bản chất tương đồng vơi khu chế xuất.
Mầm móng khu chế xuất xuất hiện ở Châu Á – Thái Bình Dương từ hồi
đầu thế kỷ XIX, với các “hải cảng tự do”, khu chế xuất (theo nghóa hẹp) được
thành lập đầu tiên ở Đài Loan vào cuối năm 1996. Đầu năm 1984 đã có 29 khu
chế xuất được xây dựng ở nước 7 nước trong khu vực.


18

Việt Nam, khu chế xuất được xác đònh là khu công nghiệp tập trung
chuyên sản xuất hàng XK và thực hiện các dòch vụ sản xuất hàng XK và NK.
Khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung tại TP. Hồ Chí Minh được thành lập đầu
tiên vào năm 1991. Tiếp đó là các khu chế xuất và công nghiệp Đồ Sơn (Hải
Phòng), Quảng Nam – Đà Nẳng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu.
Đến nay cả nước đã có 4 KCX và 60 khu công nghiệp tập trung và một khu công
nghiệp cao được thành lập.
Tuy nhiên, trên thực tế mới có một khu chế xuất và khu công nghiệp đi
vào hoạt động chính thức. Tổng cục Hải quan đã thành lâïp Hải quan khu chế
xuất thuộc Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Hải quan các khu công
nghiệp Hòa Khánh – Tiên Châu (Đà Nẳng), Sóng Thần, Việt Hưng (Bình
Dương), Nhơn Trạch, Song Mây (Đồng Nai) để quản lý các hoạt động này.
e. Thành lập hải quan đướng sắt liên vận quốc tế.
Đường sắt là phương tiện vận tải kinh tế nhất, với giá thành thấp hơn
nhiều so với các loại phương tiện vận tải khác, nên hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều đầu tư xây dựng và khai thác triệt để loại phương tiện vận tải này.
nước ta, cách đây hơn 43 năm, ngày 01.08.1955 đã khánh thành đướng
sắt liên vận đầu tiên Việt Nam – Trung Quốc, nối liền hệ thống đường xe lửa
của ta với hệ thống đường xe lửa của các nước XHCN, phục vụ việc đi lại và
vận tải hàng hóa giữa các nước trong cộng đồng.
Sau khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc,

chính phủ ta và chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã ký hiệp đònh
thương mại và hiệp đònh tạm thời giải quyết công việc trên vùng biên giới hai
nước (07.11.1991) và một số các hiệp đònh khác liên quan đến thương mại.
Ngày 12.02.1996 tuyến đường sắt liên vận Việt Nam – Trung Quốc chính
thức được khôi phục hoạt động trở lại.
g. Thành lập thêm một số đơn vò chống buôn lậu và nghiệp vụ khác để
nâng cao khả năng công tác và quản lý ở cơ sở.
Cùng với chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa XNK,
phương tiện vận tải XNC, công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới là chức năng và là một
trong bốn nhiệm vụ chủ yếu của Hải quan Việt Nam.
Do đó, để nâng cao năng lực quản lý và nâng cao hiệu quả đấu tranh
chống buôn lậu, ngành Hải quan đặc biệt chú trọng tăng cường lực lượng,
phương tiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở cơ sở.


19

Trong những năm qua, Tổng cục Hải quan đã thành lập các Phòng Điều
tra chống buôn lậu, Phòng Kiểm tra thu thuế XNK tại hầu hết các Cục Hải quan
tỉnh, thành phố, thành lập 3 đội chống buôn lậu ma túy và 4 đội tàu tuần tra cao
tốc thuộc cục điều tra chống buôn lậu (Tổng Cục Hải quan). Các đơn vò này đã
thực sự là những mũi nhọn thọc sâu, đánh trúng một số vụ vận chuyển ma túy
lớn và thực sự là phương tiện răn đe có hiệu quả, góp phần xóa bỏ các tụ điểm
buôn lậu trên biển. Đầu năm 1999, ngành hải quan đã tổ chức các hải đội tàu
cao tốc để tăng cường lực lượng chống buôn lậu trên biển. Lực lượng điều tra
chống buôn lậu đã và đang ngày càng tăng lên trong biên chế toàn ngành Hải
quan.
h. Thành lập thêm các đơn vò tham mưu giúp việc và các đơn vò nghiệp vụ
trực thuộc tổng cục trưởng để nâng cao khả năng nghiên cứu, chỉ đạo, chỉ huy và

quản lý của ngành.
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo có ý nghóa quyết
đònh đến thắng lợi chung của toàn ngành, Tổng cục Hải quan đã đề nghò và được
chính phủ cho phép thành lập thêm một số đơn vò tham mưu giúp việc thực hiện
chức năng quản lý nhà nước như: Cục Kiểm tra thu thuế XNK, Vụ Pháp chế, Vụ
Quan hệ quốc tế và các đơn vò sự nghiệp phục vụ công tác chỉ đạo, chỉ huy như
Trung tâm tin học – thống kê, Viện Nghiên cứu khoa học Hải quan, Trường Cao
đẳng Hải quan, Tạp chí Hải quan, công ty Nam Hải và Báo Hải quan.
Như vậy, đến nay toàn ngành Hải quan có 14 vụ, cục, đơn vò trực thuộc
Tổng cục, 30 Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 151 đơn vò Hải
quan cơ sở, trong đó có 102 đơn vò Hải quan cửa khẩu, 49 Đội kiểm soát chống
buôn lậu (thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố).
i. Quy đònh chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của hải quan các
cấp nhằm xây dựng nề nếp chính quy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác.
Để đạt mục tiêu, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cùng với việc cải
tiến quy chế, quy trình thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan đã tập trung chỉ đạo
xây dựng chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng đơn vò trong toàn
ngành, nhằm xây dựng nề nếp chính quy, nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ
chính trò trong thời kỳ mới.
Đến nay, hầu hết các đơn vò Hải quan trong toàn ngành đã đi vào hoạt
động theo chức năng nhiệm vụ được quy đònh thống nhất cho từng cấp.
̶ Cấp vụ, cục, viện, nhà trường và đơn vò tương đương.
̶ Cấp Phòng và tương đương.
̶ Cấp Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát và tương đương.


20

Quá trình thực hiện các quy đònh trên, những việc làm chồng chéo, thụ
động, ỷ lại, dựa dẫm nhau đã giảm nhiều, tính chủ động, tinh thần phối kết hợp,

hỗ trợ lẫn nhau trong công việc hàng ngày được đề cao và nâng lên từng bước.
Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả công tác ở từng đơn vò, cá nhân có chuyển biến,
tiến bộ nhiều so với trước.
2.2.1.3 Phân luồng hàng hóa, hành lý, làm thủ tục hải quan đảm bảo
kiểm tra trọng điểm, thông quan nhanh chóng.
2.2.1.3.1 Áp dụng phân luồng “xanh”, “đỏ” đối với khách nhập cảnh tại
ga nhập ở cửa khẩu sân bay quốc tế.
- Bố trí lực lượng, mặt bằng làm việc của hải quan.
Quá trình theo dõi cho thấy trong lưu lượng khách nhập cảnh có khoảng
70 – 80% không có ngoại hối, hàng hóa phải khai báo, còn lại khoảng 20 – 30%
có ngoại hối, hàng hóa phải khai báo. Do đó, việc bố trí lực lượng, mặt bằng làm
việc để thực hiện phân luồng “xanh”, “đỏ” đã được áp dụng theo công thức 3/1
hoặc 4/1 (yêu cầu bố trí lực lượng, mặt bằng làm việc cho luồng “xanh” là 3
hoặc 4, luồng “đỏ” là 1).
- Xây dựng quy trình thủ tục liên hoàn và trang bò kỹ thuật hỗ trợ.
Để tạo thuận tiện cho khách, hợp lý hóa thao tác nghiệp vụ, giảm bớt sự
di chuyển không cần thiết cho cán bộ, nhân viên hải quan, kiểm tra quản lý được
chặt chẽ, đã nghiên cứu bố trí liên hoàn từ khâu tiếp nhận tờ khai, kiểm tra bằng
máy soi, xác nhận kết quả kiểm hóa tại máy đến khâu “kiểm tra kỹ”.
- Phối hợp các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu.
Tại khu vực làm thủ tục hải quan, ngoài lực lượng kiểm tra, giám sát công
khai, còn bố trí lực lượng trinh sát bí mật, giám sát và tiếp cận đối tượng. Các
lực lượng này tiếp nhận thông tin và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trưởng
Hải quan cửa khẩu. Những dấu hiệu nghi vấn hoặc những hành vi vi phạm được
phát hiện từ bàn đăng ký, tiếp nhận tờ khai qua máy soi hành lý, hệ thống
camera, hoặc qua các lực lượng giám sát máy bay, sân đỗ, nhà ga đều được báo
cáo về trung tâm chỉ huy, đảm bảo ngăn chặn, hạn chế kòp thời những hành vi
phạm pháp luật.
- Kết quả thực hiện phân luồng “xanh”,”đỏ”.
Sau 6 năm (1994 – 2000) thực hiện phân luồng “xanh”, “đỏ” đối với

khách nhập cảnh tại sân bay quốc tế đem lại hiệu quả thiết thực trên nhiều mặt.
Tạo được thông thoáng, văn minh, lòch sự ở cửa khẩu, giảm được phiền hà, tiêu
cực. Đảm bảo kiểm tra, quản lý chặt chẽ, phát hiện, ngăn chặn kòp thời các hành
vi vi phạm chính sách, pháp luật vể hải quan.


21

Thủ tục hải quan đơn giản, thuận tiện từ việc khai báo đến việc kiểm tra
hành lý theo một trình tự hợp lý. Trung bình khoảng 70 – 80% khách nhập cảnh
đi luồng “xanh”, giảm được 2/3 số thời gian khách phải chờ đợi làm thủ tục cho
một chuyến bay (250 khách, từ 90 –120 phút, còn 30 – 40 phút). Nếu khách khai
đúng và không phát hiện nghi vấn thì chỉ sau vài phút hành khách có thể ra khỏi
nhà ga. Không còn cảnh chen chúc, chờ đợi lâu, tạo cảm giác văn minh, dễ chòu
cho khách.
Nhờ tinh thần cảnh giác, ý thức, trách nhiệm, kinh nghiệm công tác và
phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp nghiệp vụ nêu trên, hải quan cửa
khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất đã phát hiện, ngăn chặn kòp thời
những hành vi lợi dụng đi luồng “xanh” để mang hàng cấm, hàng vượt tiêu
chuẩn hành lý miễm thuế, hoặc đi luồng “đỏ” nhưng không khai báo hải quan
bằng nhiều thủ đoạn tinh vi.
2.2.1.3.2 Phân luồng “xanh”, “vàng”, “đỏ” đối với hàng hóa kinh doanh
XNK tại các đòa điểm thông quan mới theo đề án cải cách thủ tục hải quan đã
được chính phủ phê duyệt.
Để thực hiện đề án “cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu” đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, tổng cục hải quan đã cho phát hành sách và tờ
hướng dẫn thủ tục hải quan đối với các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quy
đònh việc thực hiện quy trình nghiệp vụ hải quan, cải cách hành chính trong thủ
tục hải quan.
Nội dung các văn bản chỉ đạo của tổng cục hải quan tập trung vào những

vấn đề chủ yếu sau:
- Tờ hướng dẫn thủ tục hải quan đối với các loại hàng hóa XNK gồm 6 loại
mẫu được niêm yết công khai tại đòa điểm làm thủ tục hải quan.
Trong nội dung các mẫu trên đều thông báo rõ việc khai báo, đăng ký tờ
khai hải quan, danh mục hồ sơ chủ hàng phải nộp hoặc xuất trình cho hải quan,
trình tự kiểm tra hàng hóa, tính thuế, thu thuế và kết thúc thủ tục. Tiền mua tờ
khai, mua seal để niêm phong container, và số điện thoại của lãnh đạo hải quan
các cấp để tiện việc liên lạc, giải đáp thắc mắc hoặc tiếp nhận các hành vi
nhũng nhiễu của nhân viên hải quan để có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kòp thời.
- Phân luồng hàng hóa, ấn đònh thời gian làm thủ tục được nhanh chóng,
thuận tiện.
Loại hàng hóa”cửa xanh”: là hàng không có thuế (thuế suất 0 %), hàng
đầu tư liên doanh và hàng xuất khẩu, thời gian làm thủ tục tối đa 4 tiếng.


22

Loại hàng qua “cửa vàng”: là hàng có thuế, thời gian làm thủ tục tối đa 8
tiếng.
Loại hàng qua “cửa đỏ”: là hàng vướng mắc về chính sách, thủ tục giấy tờ
của các bộ, ngành chức năng hoặc chủ hàng hay vi phạm, gian lận, trốn thuế,
phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phải hoàn tất mọi thủ tục mới được giải
phóng hàng.
- Thành lập đội đặc nhiệm để đảm nhiệm việc kiểm tra có trọng điểm và xử
lý sai phạm kòp thời, tại chồ.
Tổng cục hải quan thành lập 2 đội đặc nhiệm, thường xuyên có mặt tại 2
khu vực cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý
kòp thời, nghiêm minh các sai phạm của tổ chức, cá nhân, nhằm ngăn ngừa, hạn
chế những biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực hoặc làm chậm trễ việc giải phóng
hàng hóa gây khó khăn phiền phức cho các doanh nghiệp XNK và đầu tư.

Nhờ áp dụng các biện pháp trên, qua 4 tháng (từ tháng 03 – 06.1998) thí
điểm cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn, đã
đạt được kết quả bước đầu như sau:
̶ Khoảng 45 – 50% lượng hàng hóa đăng ký làm thủ tục qua “cửa xanh”.
Thời gian giải phóng 1 lô hàng mất khoảng 1 – 3 giờ (qui đònh 4 giờ) .
̶ Khoảng 35 – 40% lượng hàng hóa đăng ký làm thủ tục qua “cửa vàng”.
Thời gian hoàn thành thủ tục giải phóng 1 lô hàng mất khoảng 4 –5 giờ (qui
đònh 8 giờ).
̶ Khoảng 5 –10% lượng hàng hóa đăng ký thủ tục qua “cửa đỏ”. Thời
gian hoàn thành thủ tục giải phóng 1 lô hàng phụ thuộc vào kết quả kiểm tra,
giải quyết các vướng mắc đối với từng trường hợp cụ thể.
Kết quả chung ở 2 cảng biển quốc tế lớn nói trên số hàng hóa được giải
phóng ngay trong ngày chiếm khoảng 95 – 97% số tờ khai đã đăng ký, số còn lại
(3 - 5%) chủ yếu do vướng mắc về cơ chế, chính sách quản lý do quy đònh của
bộ, ngành chưa phù hợp nhưng chưa được tháo gỡ.
2.2.2 Những mặt yếu kém bất cập:
2.2.2.1 Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật hải quan còn thiếu đồng
bộ nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý mới:
Đường lối đổi mới chính sách “mở cửa” xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thò trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo đònh hướng xã hội chủ nghóa đã tạo cơ hội cho kinh tế đối ngoại, hoạt động
XNK, đầu tư, du lòch… phát triển mạnh mẽ, với nhiều loại hình mới như: đầu tư


23

nước ngoài và đầu tư trong nước, gia công cho nước ngoài và thuê nước ngoài
gia công, kho ngoại quan, khu chế xuất, khu công nghiệp…Các hoạt động trên
đòi hỏi phải nhanh chóng tháo gỡ những ách tắc, tạo ra thông thoáng vừa giải
phóng nhanh hàng hóa, phương tiện vận tải phục vụ sản xuất, đời sống kòp thời,

vừa quản lý chặt chẽ, đúng chính sách, pháp luật. Trong khi đó, hệ thống văn
bản qui phạm pháp luật hải quan còn thiếu đồng bộ và chưa sát thực tế, nhất là
còn rườm rà, chồng chéo nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kòp thời, có nhiều
điều chưa được qui đònh phù hợp với cơ chế quản lý mới để tạo thuận lợi thúc
đẩy hoạt động XNK, đầu tư, du lòch… phát triển theo kòp đà phát triển nhanh nền
kinh tế- xã hội đất nước và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Những vướng mắc, gây phiền hà, ách tắc trong hoạt động XNK, đầu tư…:
+ Về chính sách mặt hàng, cơ chế quản lý và chính sách thuế XNK chưa
thể hiện ưu tiên đúng mức để khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, hàng gia
công, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: thò trường xuất khẩu còn hạn hẹp, cơ
chế nhập nguyên liệu, xuất sản phẩm còn nhiều khó khăn, nhất là việc xác đònh
mức tiêu hao nguyên phụ liệu; biểu xuất thuế, biểu giá chưa đủ khuyến khích và
chưa thuận lợi cho việc tiến hành làm thủ tục XNK; Nhà nước qui đònh giá tối
thiểu cho quá nhiều mặt hàng để tính thuế XNK, giá giao dòch trong hợp đồng
chủ yếu có tính chất tham khảo, nếu hàng XNK chưa có giá trong biểu giá này
thì phải tạm giữ hàng tại cửa khẩu chờ làm thủ tục xin giá từ cơ sở lên Hải quan
tỉnh, Tổng cục Hải quan và lên Bộ tài chính để quyết đònh giá tính thuế…Do đó,
nhiều doanh nghiệp XNK gặp khó khăn trong việc giải phóng hàng phục vụ sản
xuất kinh doanh, và chính hải quan cũng rất khó khăn trong việc tiến hành thủ
tục thông quan, luôn trở thành đối tượng trực tiếp của nhiều dư luận.
Đối với hàng nhập khẩu, việc hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua
sử dụng, hàng kỹ thuật cao…, vừa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, và khả
năng sức mua của nhân dân trong khi ta còn thiếu hàng tiêu dùng, thu nhập dân
cư còn quá thấp, nguồn thu ngân sách Nhà nước còn hạn chế.
+ Cơ chế quản lý hàng XNK phi thuế quan cứng ngắc bằng hạn ngạch,
bằng quản lý chuyên ngành, nhất là cơ chế quản lý bằng thủ tục cấp giấy phép,
kiểm tra chất lượng, bằng giám đònh gây phiền hà, ách tắc, đây cũng là nguyên
nhân phát sinh tiêu cực tại các bộ chủ quản, cả ngành Hải quan, vừa là nguyên
nhân dẫn đến một số doanh nghiệp đối phó bằng buôn lậu, gian lận thương mại.
+ Thủ tục hải quan còn rườm rà, có quá nhiều khâu, nhiều cửa; mặt bằng

tiến hành thủ tục thông quan còn chật hẹp; bố trí đòa điểm chưa hợp lý, buộc chủ
hàng đi lại nhiều lần, phần lớn khâu nghiệp vụ tác nghiệp còn thực hiện thủ
công, chủ hàng tự luân chuyển hồ sơ hải quan, trực tiếp tiếp xúc với các bộ phận


24

hoặc cá nhân hải quan vừa gây châm trễ, ách tắc, làm mất nhiều thời gian, gây
tốn kém cho doanh nghiệp, vừa dễ nảy sinh móc ngoặc giữa chủ hàng và nhân
viên hải quan để “ăn chia”, gian lận hàng hóa và thuế, làm thất thu ngân sách
nhà nước.
+ Pháp lệnh Hải quan xây dựng từ năm 1990 và các nghò đinh hướng dẫn
thi hành Pháp lệnh ban hành năm 1991 đến nay có nhiều điểm không phù hợp
với tình hình mới, nhưng chưa được sửa đổi bổ sung; hiện nay mới đang trong
quá trình xây dựng Luật Hải quan; còn một số nghò đònh hướng dẫn thi hành
Pháp lệnh chưa được ban hành nên hiệu lực Pháp lệnh Hải quan bò hạn chế.
+ Công tác hải quan liên quan đến nhiều ngành luật trong nước và các
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia. Hầu hết các ngành luật liên
quan trực tiếp đến hoạt động hải quan chỉ mới được công bố trong 2 năm 1997
và 1998 như Luật Thương mại có hiệu lực từ 1-1-1998, Luật Ngân hàng có hiệu
lực từ 1-10-1998, Luật Thuế GTGT và luật sửa đổi, bổ sung một số điều, Luật
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có hiệu lực từ 01-01-1999…; nhiều ngành luật
khác nữa đến nay chưa được xây dựng. Nhiều công ước quốc tế về trò giá hải
quan, về phối hợp giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh chống buôn lậu… chưa được
Nhà nước ta thông qua tham gia ký kết hoặc công nhận, đây cũng là những thiệt
thòi lớn, hạn chế đến hoạt động của Hải quan nước ta trong khi Hải quan Việt
Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ năm
1994.
2.2.2.2 Hệ thống tổ chức bộ máy ngành Hải quan chưa phù hợp với
chức năng nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Thi hành Pháp lệnh Hải quan, hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan theo yêu
cầu nhiệm vụ mới được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ và hình thành 3 cấp: Cấp Trung ương – Cấp
Tỉnh – Cấp cơ sở.
Hệ thống tổ chức bộ máy trên đã góp phần đảm bảo sự chỉ huy, tập trung
thống nhất của ngành Hải quan, đồng thời tranh thủ được sự chỉ đạo, giúp đỡ và
kiểm tra của cấp ủy, chính quyền và đòa phương nơi có hải quan, đảm bảo chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hải quan được tổ chức
triển khai và thực hiện có hiệu lực, hiệu quả.
Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam mới được
chấn chỉnh, kiện toàn một bước, việc bố trí dàn trải theo cơ chế quản lý cũ, gắn
với điạ giới hành chính, chưa tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu, đòa bàn
trọng điểm; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng cấp chưa được
xác đònh rõ ràng; việc bố trí lực lượng trực tiếp làm thủ tục hải quan còn theo


×