Tải bản đầy đủ (.doc) (90 trang)

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc tổng côngty thuỷ tinh và gốm xây dựng (VIGLACERA)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (459.07 KB, 90 trang )

Luận văn tốt nghiệp
Đề tài: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu
của côngty kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc tổng côngty thuỷ
tinh và gốm xây dựng (VIGLACERA)

Lời mở đầu
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, sự mở cửa của
nhiều thị trờng mới, các hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng đợc ký kết, hình thành các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới vừa tạo ra
cơ hội lại vừa tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu là mục tiêu quan trọng nhng
việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu lại là một mục tiêu quan trọng hơn.
Mỗi một doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu muốn
đạt đợc mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tối đa thì doanh nghiệp đó phải
nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của mình. Trong những năm
gần đây, cùng với chính sách đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Việt Nam
đã có những bớc phát triển khá trong hoạt động xuất khẩu. Mặc dù kim
ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên nhng lợi nhuận do hoạt động
xuất khẩu mang lại cha tơng xứng. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh xuất khẩu là một vấn đề đợc rất nhiều doanh nghiệp
tham gia xuất khẩu quan tâm.
Là một doanh nghiệp phụ thuộc Tổng công ty thuỷ tinh và gốm
xây dựng (VIGRACERA), công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thực
hiện chức năng mà Tổng công ty giao phó trong đó chức năng xuất khẩu
là một trong những chức năng quan trọng nhất quyết định đến sự tồn tại,
phát triển của Tổng công ty nói chung và công ty nói riêng. Cũng nh các
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu khác của Việt Nam cùng với những cơ
hội là những thách thức, rủi ro khi kinh doanh xuất khẩu do vậy vấn đề
hiệu quả kinh doanh luôn là mục tiêu, nhiệm vụ của công ty kinh doanh
và xuất nhập khẩu .
Xuất phát từ thực tiễn đó và sau một thời gian thực tập tại công
ty kinh doanh và xuất nhập khẩu trực thuộc Tổng công ty thuỷ tinh và


gốm xây dựng (VIGLACERA), cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

1


Luận văn tốt nghiệp
giáo PGS-TS Hoàng Đức Thân và các cán bộ phòng kinh doanh và xuất
nhập khẩu tôi chọn đề tài dới đây làm luận văn của mình :
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của
công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc tổng công ty thuỷ tinh
và gốm xây dựng (VIGLACERA)
Luận văn chủ yếu nêu lên một số quan niệm mới về hiệu quả kinh
doanh, thành phần cũng nh các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh
doanh từ đó có các biện pháp tác động thích hợp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty kinh doanh và xuất
nhập khẩu nói riêng và của các công ty tham gia kinh doanh xuất khẩu
nói chung.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận luận văn đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1 : Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh xuất khẩu hàng
hoá.
Chơng 2 : Thực trạng hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của công ty
kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc tổng công ty thuỷ tinh và gốm
xây dựng (VIGLACERA)
Chơng 3 : Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
xuất khẩu của công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc tổng
công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng (VIGLACERA)
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2003
Sinh viên


Lại Tuấn Khanh

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

2


Luận văn tốt nghiệp

Chơng I : lý luận chung về
hiệu quả kinh doanh xuất
khẩu hàng hoá ở doanh
nghiệp thơng mại
I- Xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu

1.

Tính tất yếu khách quan của thơng mại quốc tế
Thơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc
gia khác nhau trên thế giới thông qua các quan hệ mua bán quốc tế.
Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá
riêng biệt của các quốc gia.
Trong quá trình hợp tác hoá và chuyên môn hoá ngày càng sâu
sắc hiện nay thì thơng mại quốc tế là một tất yếu khách quan và đợc
xem nh một điều kiện có tính chất sống còn đối với sự phát triển của
của mọi quốc gia. Bởi lẽ thơng mại quốc tế làm mở rộng khả năng sản
xuất, tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lợng nhiều hơn mức có thể
tiêu dùng với ranh giới của khả năng sản xuất, tiêu dùng trong nớc khi
thực hiện chế độ tự cung tự cấp.

Lý do sâu xa nhất của thơng mại quốc tế chính là do phân công
lao động quốc tế, sự chuyên môn hoá của lực lợng sản xuất. Với tiến
bộ của khoa học, kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng,
sản phẩm và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu của con ngời ngày càng dồi
dào. Nhng nói nh vậy thì rất trừu tợng, để lý giải nguồn gốc thơng mại
quốc tế, nhiều nhà kinh tế học đã đa ra các lý thuyết song đều chỉ
phản ánh một mặt nào đó. Theo Adam Smith (1723-1790) lý do của
thơng mại quốc tế xã hội là lợi thế tuyệt đối giữa các quốc gia, theo lý
thuyết này, mối quan hệ buôn bán giữa các quốc gia xuất phát từ sự
khác nhau về điều kiện địa lý. Năm 1817, nhà kinh tế học ngời Anh
David Ricardo (1772-1823) đã lý giải thơng mại quốc tế dựa vào lợi
thế so sánh ( tơng đối). Theo lý thuyết này, các quốc gia nên chuyên

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

3


Luận văn tốt nghiệp
môn hoá vào sản xuất các sản phẩm có lợi thế tơng đối. Các quốc gia
nên sản xuất và xuất khẩu các hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất
lợi nhất ( những hàng hoá có lợi thế tơng đối) và nhập khẩu những
hàng hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất (những hàng hoá không
có lợi thế tơng đối). Nh vậy Ricardo đã dựa và sự khác biệt về năng
suất lao động để lý giải. Các nhà kinh tế hiện đại thì lại lý giải khác.
Điển hình là mô hình của Heckscher- Ohlin cho rằng lợi thế so sánh
xuất phát từ sự khác biệt giữa các quốc gia về sở hữu các nguồn lực và
sự khác nhau về mức độ sử dụng các yếu tố này. Mô hình HeckscherOhlin dù còn nhiều nhợc điểm song nó vẫn tỏ ra phù hợp với nền kinh
tế hiện đại.
Nh vậy thơng mại quốc tế bắt nguồn từ:

Một là: Thơng mại quốc tế bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự
nhiên của sản xuất giữa các nớc. Điều kiện tự nhiên qui định sự khác
biệt về khả năng sản xuất của mỗi quốc gia, điều đó làm cho các quốc
gia phải tiến hành trao đổi hàng hoá với nhau. Ngời ta chia nguồn lực
ra làm ba loại:
- Nguồn lực tự nhiên: đất đai, thời tiết, khí hậu, địa lý. Nó ảnh hởng
đến thơng mại quốc tế rất rõ, bởi nó sẽ giới hạn khả năng sản xuất của
mỗi nớc.
- Nguồn lực lao động: Là lực lợng lao động của mỗi quốc gia trực tiếp
sản xuất ra sản phẩm nên nó ảnh hởng lớn tới khả năng sản xuất, năng
suất lao động đặc biệt là lao động có kỹ năng cao. Lực lợng lao động
của một nớc có khả năng cao thì nớc đó có nhiều khả năng đó trở
thành nớc xuất khẩu các sản phẩm có hàm lợng kỹ thuật cao với mức
giá cao trên thị trờng quốc tế
- Hạ tầng cơ sở: Giao thông, truyền thông, hệ thống cung cấp điện năng
và các phơng tiện công cộng. Hạ tầng cơ sở có vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển thơng mại của nớc đó
đối với thế giới. Nó ảnh hởng đến chi phí lu thông hàng hoá cũng nh
các chi phí dịch vụ khác.
Hai là: Lợi thế so sánh giữa các quốc gia là khác nhau nên đã thúc
đẩy các quốc gia trao đổi hàng hoá. Lợi thế so sánh của một quốc gia
biểu hiện ở chi phí cơ hội để sản xuất ra một sản phẩm của quốc gia
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

4


Luận văn tốt nghiệp
đó. Các quốc gia sẽ sản xuất những sản phẩm có lợi với chi phí cơ hội
thấp nhất rồi sau đó tiến hành trao đổi với quốc gia khác. Hoạt động

thơng mại quốc tế trên cơ sở này giúp cho các quốc gia tiêu dùng
nhiều hơn những sản phẩm so với khi các quốc gia này tự sản xuất tất
cả sản phẩm hàng hoá mà không tiến hành trao đổi thơng mại quốc tế
Ba là: Hiệu quả kinh tế theo quy mô. Hiệu quả kinh tế theo quy mô là
các chi phí sản xuất thực tế đợc đánh giá dới hình thức nguồn lực huy
động sẽ giảm xuống khi quy mô tăng lên. Nghĩa là hàng hoá sẽ trở
nên rẻ hơn khi quy mô lớn, ngời ta có thể tiết kiệm đợc trong việc sử
dụng máy móc và thiết bị chuyên môn hoá. Hơn nữa, do phân công
công việc ra giữa nhiều ngời khác nhau, mỗi ngời có thể trở thành
chuyên gia theo một khía cạnh của quá trình sản xuất thông qua kinh
nghiệm và sự đào tạo chuyên môn. Hiệu quả kinh tế theo quy mô rất
quan trọng đối với nớc nhỏ. Các nớc nhỏ có thị trờng trong nớc không
đủ lớn để khai thác tính hiệu quả kinh tế nhờ quy mô sẽ thấy rằng để
trở thành một nớc tự cung tự cấp bằng cách sản xuất mỗi thứ một ít thì
chi phí để sản xuất sẽ rất cao. Điều này cho thấy vì sao các nớc nhỏ
thờng mở rộng thơng mại hơn so với các nớc lớn. Còn đối với nớc lớn
có thị trờng đủ lớn để có thể sản xuất tất cả các sản phẩm trong nớc
với số lợng đủ lớn có thể có đợc tính hiệu quả trong sản xuất nhờ quy
mô. Với các nớc đó, những lợi ích do ngoại thơng xuất phát từ việc
chuyên môn hoá các loại sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh
Bốn là: Sự đa dạng về nhu cầu tiêu dùng, sở thích tiêu dùng cũng dẫn
đến quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Ngày nay, nhu cầu
về sản phẩm hàng hoá phát triển ở một mức rất cao. Ngời tiêu dùng
không chỉ mong muốn thoả mãn nhu cầu sinh lý, tự nhiên mà còn
mong muốn thoả mãn các nhu cầu về các mặt văn hóa tinh
thần...Chính điều này giải thích cho nhiều hiện tợng xảy ra trong thế
giới ngời tiêu dùng khi họ thích tiêu dùng sản phẩm ngoại thay vì các
sản phẩm đợc sản xuất trong nớc, thị hiếu khác nhau giữa các nớc,
giữa mọi ngời điều này giải thích tại sao phải đa dạng hoá sản phẩm
trong thơng mại quốc tế.

Đây là một số cơ sở chính dẫn đến sự ra đời của hoạt động thơng mại quốc tế. Ngoài ra còn nhiều cơ sở khác nh quan hệ hỗ trợ,
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

5


Luận văn tốt nghiệp
quan hệ vay nợ, mục đích tìm kiếm lợi nhuận, sự độc quyền về bản
quyền, bằng phát minh sáng chế.....
2.

Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu

2.1 Khái niệm:
Ngày nay, thơng mại quốc tế không đơn thuần là quá trình trao
đổi hàng hoá giữa các quốc gia thông qua buôn bán nhằm mục đích
kinh tế tối đa mà còn là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào
phân công lao động quốc tế. Chính vì vậy, bí quyết thành công trong
chiến lợc phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới là mở
rộng thị trờng quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm, hàng hoá
qua chế biến có hàm lợng kỹ thuật cao. Đồng thời, xuất khẩu là một
cơ sở của nhập khẩu, là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn,
là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
Vì vậy, xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá dịch vụ của
một quốc gia này sang một hay nhiều quốc gia khác nhằm mục
đích phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống của quốc gia đó.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi
quốc tế và chịu tác động mạnh mẽ của các quốc gia khác nhau trên
thế giới.
Với định hớng phát triển kinh tế của Nhà nớc, cơ sở kinh tế đối

ngoại nói chung và thơng mại quốc tế nói riêng phải đợc coi là một cơ
sở có tầm quan trọng chiến lợc nhằm phục vụ quá trình phát triển nền
kinh tế quốc dân. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ đợc tới
mức cao nhất nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của nớc ngoài
nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, giải quyết việc làm cho
ngời lao động, thực hiện phơng châm phát triển thơng mại với nớc
ngoài để đẩy mạnh sản xuất trong nớc vừa có sản phẩm tiêu dùng vừa
có hàng hoá để xuất khẩu. Để đạt đợc điều đó, lớn nhất và quan trọng
nhất là biện pháp cải tổ nền kinh tế quốc dân theo hớng mở rộng các
quan hệ đối ngoại trọng tâm là xuất khẩu.
Chính vì vậy, hoạt động xuất khẩu đã và đang đợc thực hiện với
nhiều nghiệp vụ ngoại thơng rất cụ thể nh từ điều tra nghiên cứu thị trờng nớc ngoài rồi đến lựa chọn hàng hoá, mối hàng của nớc xuất khẩu
tiếp đó các thơng nhân tiến hành giao dịch đàm phán và đi đến kí kết
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

6


Luận văn tốt nghiệp
hợp đồng xuất nhập khẩu. Sau đó là bớc các bên tổ chức thực hiện hợp
đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến tay ngời mua, thuộc sở hữu
của ngời mua theo nh giao ớc trong hợp đồng. Và cuối cùng, các bên
tiến hành thanh toán hợp đồng với nhau thông qua các hoạt động tín
dụng.
Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này đều đợc nghiên cứu một cách đầy
đủ, kỹ lỡng và có tính khoa học kinh tế cao trong mối quan hệ lẫn
nhau giữa các yếu tố văn hoá xã hội chính trị pháp luật của mỗi quốc
gia khác nhau, tranh thủ đợc những lợi thế trong nớc cũng nh ngoài nớc của các nớc xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo đợc hiệu quả trong kinh
doanh xuất nhập khẩu cao nhất, phục vụ đầy đủ, kịp thời cho sản xuất
và tiêu dùng trong nớc nâng cao dần mức sống của ngời dân mỗi nớc.


2.2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
Hoạt động thơng mại nói chung là một trong bốn khâu của quá
trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động thơng mại đối với doanh nghiệp
thể hiện ở hai khâu: Mua vật t, nguyên liệu (thơng mại đầu vào) và
bán sản phẩm hàng hoá (thơng mại đầu ra). Thơng mại quốc tế là sự
mở rộng của thơng mại ra ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia thể hiện
qua hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.
Nh vậy, về bản chất xã hội, hoạt động thơng mại quốc tế và
hoạt động buôn bán trong nớc đều là quá trình trao đổi hàng hoá của
ngời sản xuất hay ngời bán. Tuy nhiên về hình thức và phạm vi thì
hoạt động xuất khẩu có nhiều điểm khác biệt:
- Khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là ngời nớc ngoài với những
đặc điểm tâm lý, ngôn ngữ khác biệt. Đặc điểm này cho thấy, nhà
xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp Marketing nh đối với
khách hàng trong nớc.
- Hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thờng là mua bán qua
hợp đồng xuất khẩu với khối lợng mua lớn.
- Các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu nh thanh toán, vận
chuyển, ký kết hợp đồng... đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Quá trình thanh toán thờng diễn ra lâu, số tiền lớn, thờng bằng ngoại
tệ. Quãng đờng vận chuyển dài thờng phải thuê vận chuyển. Quá trình
đàm phán ký kết hợp đồng rất phức tạp.
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

7


Luận văn tốt nghiệp


3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay.
Hoạt động xuất khẩu đợc thực hiện dới nhiều hình thức khác
nhau. Điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trớc khi xuất
khẩu, căn cứ vào nguồn hàng xuất khẩu ...Hiện nay, các doanh nghiệp
ngoại thơng thờng tiến hành một số hình thức xuất khẩu và đợc coi là
xuất khẩu sau:

3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Là hình thức xuất khẩu mà trong đó các doanh nghiệp ngoại thơng tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nớc
sau đó bán các sản phẩm đó cho các khách hàng nớc ngoài (có thể
thông qua một số công đoạn gia công chế biến).
Với hình thức xuất khẩu này, các đơn vị kinh doanh chủ động
trong việc tìm khách hàng, tự mình có thể thâm nhập thị trờng và do
vậy có thể đáp ứng nhu cầu thị trờng, gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu
đơn vị tổ chức hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh
doanh cao, tự khẳng định mình về sản phẩm, nhãn hiệu... dần đa đợc
uy tín về sản phẩm trên thế giới. Tuy nhiên, hình thức kinh doanh này
có nhợc điểm là rủi ro lớn. Khi hàng hoá không bán đợc thì dễ dẫn
đến ứ đọng vốn và thất thoát hàng hoá.

3.2 Xuất khẩu uỷ thác
Là một hình thức dịch vụ thơng mại, theo đó doanh nghiệp
ngoại thơng đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng
hoá cho các đơn vị uỷ thác. Với hình thức này, hàng hoá trớc khi kết
thúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở hữu của đơn vị uỷ thác, doanh
nghiệp ngoại thơng thu đợc phí uỷ thác.
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là dễ thực hiện, rủi ro
thấp, doanh nghiệp ngoại thơng không phải là ngời chịu trách nhiệm
cuối cùng về hàng hoá và cũng không phải bỏ vốn ra mua hàng. Chi

phí của doanh nghiệp ngoại thơng giảm do không phải chịu chi phí
nghiên cứu thị trờng, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng.
Nhợc điểm của hình thức này là hiệu quả kinh doanh thấp,
không đảm bảo chủ động trong kinh doanh, thị trờng và khách hàng bị

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

8


Luận văn tốt nghiệp
thu hẹp vì công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị trờng và
tìm khách hàng

3.3 Gia công xuất khẩu
Là phơng thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên nhận
gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên
khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho
bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Nh vậy gia
công xuất khẩu là đa các yếu tố sản xuất từ nớc ngoài để sản xuất theo
yêu cầu của bên đặt hàng nhng không phải để tiêu dùng trong nớc mà
để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do hoạt động gia công đem lại.
Suy cho cùng gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động.
Yêu cầu đối với bên nhận gia công là phải xác định đợc đúng chi phí
gia công để từ đó tính đợc lợi nhuận gia công. Gia công xuất khẩu là
một hình thức xuất khẩu gián tiếp vào các thị trờng mà không đợc
phép xuất khẩu trực tiếp.

3.4 Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lu
Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu về một

khoản ngoại tệ mà là thu về một lợng hàng hoá khác tơng đơng với giá
trị của lô hàng xuất khẩu. Yêu cầu trong buôn bán đối lu là cân bằng
về giá trị, chất lợng, số lợng. Doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức
này để nhập khẩu nhiều loại hàng hoá mà thị trờng trong nớc đang rất
cần hoặc có thể xuất khẩu sang một nớc thứ ba.

4. Vai trò của xuất khẩu.

4.1Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc
dân.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong khâu phân phối và lu thông
hàng hoá, là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm
mục đích liên kết sản phẩm với thị trờng của nớc này với nớc khác.
Nền kinh tế phát triển nh thế nào phụ thuộc rất nhiều vào lĩnh vực
hoạt động kinh doanh này. Hơn bao giờ hết, xuất khẩu hàng hoá thực
sự có vai trò quan trọng, cụ thể là:
Thứ nhất: Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn dự trữ ngoại tệ quan
trọng để đảm bảo nhu cầu nhập khẩu.

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

9


Luận văn tốt nghiệp
Trong thơng mại quốc tế, xuất khẩu không phải là chỉ để thu
ngoại tệ về mà là với mục đích đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu hàng
hoá, dịch vụ khác nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trởng nền
kinh tế và tiến tới xuất siêu, tích luỹ ngoại tệ (thực chất là đảm bảo
chắc chắn hơn nhu cầu nhập khẩu trong tơng lai).

Xuất khẩu và nhập khẩu trong thơng mại quốc tế vừa là điều
kiện vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu và nhập khẩu để
phát triển xuất khẩu. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện
nay, để phát triển kinh tế, tránh đợc nguy cơ tụt hậu với thế giới, đồng
thời còn tìm cách đuổi kịp các nớc khác, Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, trong đó nhập khẩu
máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại là một điều kiện tiên quyết.
Muốn nhập khẩu, chúng ta phải có ngoại tệ. Có thể thấy rằng, xuất
khẩu hàng hoá, dịch vụ là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất vì: nó
chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời là khả năng bảo đảm trả đợc các khoản
đi vay, viện trợ... trong tơng lai. Nh vậy, cả về dài hạn và ngắn hạn,
xuất khẩu luôn là tiền đề quan trọng cho nhập khẩu.
Thứ hai: Hoạt động xuất khẩu phát huy đợc các lợi thế so sánh
của đất nớc.
Để xuất khẩu đợc, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải
lựa chọn đợc những ngành nghề, mặt hàng có tổng chi phí (chi phí sản
xuất và chi phí xuất khẩu) nhỏ hơn giá trị trung bình trên thế giới. Họ
phải dựa vào những ngành hàng, những mặt hàng khai thác đợc các lợi
thế của đất nớc cả về tơng đối và tuyệt đối. Ví dụ trong số các mặt
hàng xuất khẩu mũi nhọn của nớc ta thì mặt hàng dệt may, giày dép
sẽ khai thác chủ yếu lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ, nguồn lao
động dồi dào. Còn một số mặt hàng khác nh than đá, dầu mỏ, gạo và
nông sản khác là những mặt hàng khai thác lợi thế tuyệt đối nhiều hơn
vì chỉ một số nớc có điều kiện để sản xuất các mặt hàng này. Tuy
nhiên, phân biệt lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối chỉ mang ý nghĩa
tơng đối.
Hoạt động xuất khẩu vừa thúc đẩy khai thác các lợi thế của đất
nớc vừa làm cho việc khai thác đó có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu,
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41


10


Luận văn tốt nghiệp
các doanh nghiệp xuất khẩu có ngoại tệ nhập khẩu các máy móc, thiết
bị tiên tiến làm cho năng suất lao động tăng cao, chất lợng sản phẩm
tốt hơn, từ đó tăng cờng khả năng xâm nhập vào thị trờng trong và
ngoài nớc. Các lợi thế cần khai thác ở nớc ta là nguồn lao động dồi
dào, cần cù, giá thuê rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị
thế kinh tế lý tởng.
Thứ ba: Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, định hớng sản xuất, thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Hiện nay, trên thế giới có hai xu hớng xuất khẩu chính - đó là
xuất khẩu đa dạng và xuất khẩu mũi nhọn.
Xuất khẩu đa dạng là làm phong phú danh mục hàng xuất khẩu
nhằm thu đợc nhiều ngoại tệ nhất, nhng với mỗi mặt hàng thì lại có
thể nhỏ bé về quy mô, chất lợng thấp (vì không đợc tập trung đầu t)
nên không hiệu quả.
Xuất khẩu hàng mũi nhọn: Tuân theo quy luật lợi thế so sánh
của David Ricardo tức là tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những
mặt hàng mà mình có điều kiện nhất, có lợi thế so sánh nhất hay
chính là việc thực hiện chuyên môn hóa và phân công lao động quốc
tế. Khi đó, nớc ta có khả năng chiếm lĩnh thị trờng, trở thành độc
quyền mặt hàng đó và thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Xuất khẩu mũi
nhọn có tác dụng nh đầu một con tàu, tuy nhỏ bé nhng nó có động cơ
do đó nó có thể kéo cả đoàn tàu tiến lên. Hiện nay, đây là xu hớng
xuất khẩu chủ yếu của nớc ta, và đồng thời thực hiện đa dạng hoá xuất
khẩu để tăng thu ngoại tệ.
Khi mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại những hiệu quả cao
thì các doanh nghiệp sẽ tập trung đầu t phát triển ngành hàng đó, cũng

nh phát triển các ngành hàng và dịch vụ có liên quan.
Hơn nữa, định hớng xuất khẩu mũi nhọn này sẽ làm thay đổi cơ
cấu các ngành sản xuất trong nền kinh tế vì cơ cấu một nền kinh tế
chính là số lợng các ngành sản xuất và tỷ trọng của chúng so với tổng
thể. Rõ ràng, nhờ tỷ trọng ngành hàng mũi nhọn tăng lên, những nhãn
hiệu, những loại sản phẩm trong nội bộ ngành đó đợc a chuộng trên

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

11


Luận văn tốt nghiệp
thị trờng thế giới cũng sẽ phát triển hơn. Tức là xuất khẩu ngành mũi
nhọn sẽ làm thay đổi cơ cấu ngành và cả cơ cấu trong nội bộ ngành
theo hớng khai thác tối u lợi thế so sánh của đất nớc.
Mặt khác, trên thị trờng thế giới, các khách hàng luôn yêu cầu
hàng hoá, dịch vụ có chất lợng cao. Chỉ có những doanh nghiệp đủ
mạnh, sức cạnh tranh cao ở mỗi nớc mới tham gia vào thị trờng thế
giới. Do đó, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải luôn chú ý
nâng cao chất lợng sản phẩm và giảm chi phí để cạnh tranh, tồn tại và
phát triển trên thị trờng quốc tế.
Toàn bộ các tác động trên làm cho nền kinh tế phát triển tăng
trởng theo hớng tích cực. Đó chính là ý nghĩa kinh tế của hoạt động
xuất khẩu.
Thứ t: Giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động, tạo thu
nhập và tăng mức sống cho nhân dân.
Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu
thì phải cần gia tăng lao động, còn để xuất khẩu có hiệu quả thì cần
phải tận dụng đợc lợi thế về lao động nhiều, giá thuê rẻ ở nớc ta.

Chính vì thế mà Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển ngành nghề
cần nhiều lao động. Với một đất nớc khoảng 80 triệu dân, tỷ lệ thất
nghiệp tơng đối cao thì bớc phát triển này là một vấn đề có ý nghĩa rất
quan trọng đối với nền kinh tế đất nớc. Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu
tăng không những tạo đợc công ăn việc làm cho ngời lao động mà còn
tăng thêm thu nhập giúp họ ổn định cuộc sống, thúc đẩy kinh tế-xã
hội phát triển.
Thứ năm: Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín của hàng hoá
Việt Nam trên thị trờng thế giới, tăng cờng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nh chúng ta đều biết, một trong những điểm yếu của hàng hoá
Việt Nam chính là chất lợng hàng hoá. Tuy nhiên, trong những năm
gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã cố gắng cải tiến kỹ thuật,
nâng cao công nghệ sản xuất để chất lợng hàng hoá ngày một tốt hơn,
cạnh tranh đợc với hàng hoá của các nớc khác. Thông qua hoạt động
xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam đợc bày bán trên thị trờng thế giới, các

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

12


Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp và thơng nhân nớc ngoài đã biết đến hàng hoá Việt nam
với chất lợng luôn đảm bảo. Do đó, hoạt động xuất khẩu ngày càng đợc đẩy mạnh, sản xuất trong nớc phát triển, hàng hoá mang thơng hiệu
Việt Nam đã khuyếch trơng đợc tiếng vang và sự hiểu biết trên thị trờng quốc tế. Mặc dù vậy, để cạnh tranh đợc với hàng hoá cùng chủng
loại của các nớc khác trên thế giới, hàng hoá Việt Nam cũng cần phải
có nhiều cố gắng hơn nữa, phải có chiến lợc đầu t hợp lý và đồng bộ
để chất lợng ngày một tốt hơn.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn có tác động
qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một bộ phận rất quan trọng

của kinh tế đối ngoại. Vì vậy, khi hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ
kéo theo các bộ phận khác của kinh tế đối ngoại cũng phát triển nh
dịch vụ du lịch, quan hệ tín dụng, đầu t, hợp tác, liên doanh, mở rộng
vận tải quốc tế...
Nói tóm lại, với những vai trò quan trọng của xuất khẩu trong
nền kinh tế, phát triển hoạt động xuất khẩu luôn là một chiến lợc để
phát triển kinh tế ở nớc ta.

4.2Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, thì hoạt động
xuất khẩu là hoạt động tiến hành bán hàng hoặc tiêu thụ sản phẩm
dịch vụ của mình trên phạm vi quốc tế với đặc điểm là giao dịch với
các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau, trụ sở doanh nghiệp ở các
nớc khác nhau trên thế giới trên một thị trờng rộng lớn, khó kiểm soát
với nhiều đặc điểm khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, luật pháp, cuộc
sống, phong tục tập quán. Đây là một môi trờng kinh doanh rất tốt cho
các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện để tham gia phát triển sản
xuất kinh doanh lâu dài.
Thông qua hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp có điều kiện tạo
ra những tiền đề về kinh tế - kỹ thuật - vốn nhằm ngày càng nâng cao
năng lực sản xuất thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất ra nhiều sản phẩm
tốt hơn, chất lợng cao hơn và giá thành hạ hơn, tạo ra một vũ khí cạnh
tranh mới trên thị trờng quốc tế. Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

13


Luận văn tốt nghiệp

lại hoạt động sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý kinh doanh phải
luôn luôn thay đổi, thích nghi với nhiều sự biến động của thị trờng.
Đồng thời hoạt động xuất khẩu còn tạo điều kiện cho việc sử
dụng một cách tối đa cán bộ công nhân viên và thu hút thêm lao động
ngoài doanh nghiệp nhằm tổng hợp sản xuất ra những sản phẩm, hàng
hoá dịch vụ xuất khẩu có lợi thế. Chính vì vậy, xuất khẩu sẽ là tiền đề
nhằm nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực của doanh
nghiệp ở thị trờng quốc tế cũng nh thị trờng trong nớc.
Xuất khẩu đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi thế, với xu
thế toàn cầu hoá nền kinh tế, sự mở cửa của nhiều thị trờng mới, các
hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng, sự hình thành các tổ
chức quốc tế và thơng mại khu vực và sự hình thành của tổ chức thơng
mại thế giới (WTO) đã tạo ra nhiều cơ hội cha từng có cho các doanh
nghiệp muốn xuất khẩu. Do việc áp dụng công nghệ mới, nhiều nớc
có kinh nghiệm tạo ra các sản phẩm rẻ hơn, tốt hơn, với thời gian sản
xuất nhanh hơn. Rất nhiều nớc đang phát triển đã trở thành đối thủ
cạnh tranh đối với các nớc phát triển nhờ vào việc nắm bắt hệ thống
viễn thông toàn cầu, sự phát triển của công nghệ thông tin Internet.
Đây là lúc thích hợp nhất cho các doanh nghiệp tận dụng những biến
chuyển của thông tin để thúc đẩy sản xuất.
Xuất khẩu có vai trò tăng doanh số và lợi nhuận của doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp giành thị phần ở nớc ngoài một cách hiệu
quả. Nhờ vào việc xuất khẩu, công ty sẽ học hỏi đợc từ các đối thủ
cạnh tranh, từ các công việc của họ và những việc mà đối thủ cạnh
tranh đã thực hiện để giành đợc thị phần ở nớc ngoài, thông qua việc
xuất khẩu các doanh nghiệp còn giảm sự phụ thuộc vào thị trờng nội
địa. Nhờ có sự mở rộng hoạt động thông tin nớc ngoài, công ty sẽ phát
triển các cơ sở bạn hàng và giảm sự phụ thuộc vào khách hàng trong
nớc từ đó ổn định đợc doanh nghiệp trớc sự biến động của thị trờng
trong nớc bằng cách khai thác thị trờng thế giới, công ty sẽ không bị

trói buộc trớc những thay đổi về kinh tế, về nhu cầu của khách hàng
và những biến động theo thời vụ trên thị trờng trong nớc.
Xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp tận dụng đợc năng lực sản
xuất d thừa, tận dụng đợc năng lực sản xuất và thời gian sản xuất, do
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

14


Luận văn tốt nghiệp
đó làm giảm chi phí của một đơn vị sản phẩm và tăng hiệu quả kinh
tế. Từ đó dẫn đến nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi một doanh
nghiệp có lợi do việc sử dụng công nghệ mới, các phơng pháp và sản
xuất mới thì năng lực của doanh nghiệp đợc nâng lên và cán cân trong
nớc đó đợc cải thiện.
Xuất khẩu khuyến khích các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp chẳng hạn nh hoạt động đầu t, nghiên cứu và phát triển, các
hoạt động sản xuất, Marketing cũng nh sự phân phối và mở rộng kinh
doanh.
Nh vậy, hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng và có tác
động tích cực đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng
nh sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
II. Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu hàng hoá của
doanh nghiệp thơng mại

1. Quan niệm và cách phân loại hiệu quả kinh doanh

1.1 Quan niệm về hiệu quả kinh doanh :
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt

kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí thấp nhất. Nó
không chỉ là thớc đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là
vấn đề sống còn của doanh nghiệp .
Hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiệu quả
kinh doanh. Điều này do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu khác
nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh.
Nhà kinh tế học ngời Anh Adam Smith cho rằng : Hiệu quả
là kết quả đạt đợc trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ
hàng hoá. ở đây hiệu quả đợc đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Quan điểm này khó giải thích kết
quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí mở rộng sử dụng các
nguồn lực sản xuất, nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác
nhau thì theo quan điểm này chúng cùng có hiệu quả
Quan điểm thứ hai cho rằng : Hiệu quả kinh doanh là quan
hệ tỷ lệ giữa phần trăm tăng thêm của kết quả và phần trăm tăng
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

15


Luận văn tốt nghiệp
thêm chi phí. Quan niệm này đã biểu hiện đợc quan hệ so sánh tơng
đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí tiêu hao. Theo quan điểm này, tính
hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí
bổ sung.
Quan điểm thứ ba cho rằng : Hiệu quả kinh doanh đợc đo
bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh đợc mối quan hệ bản chất
của hiệu quả kinh tế. Nó gắn đợc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu
quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy

nhiên, quan điểm này cha biểu hiện đợc tơng quan về lợng và chất
giữa kết quả và chi phí và cha phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối
liên hệ này.
Do đó đánh giá kết quả kinh doanh là rất cần thiết và thông qua
đó ta có thể nắm bắt đợc tình hình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Hiệu quả kinh doanh cũng là một đại lợng so sánh giữa đầu
vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả kinh doanh thu đợc. Do vậy thớc đo của hiệu quả kinh doanh là việc tối đa hoá kết quả
thu đợc hoặc tối thiểu hóa chi phí dựa trên điều kiện nguồn lực sẵn có.
Hiệu quả kinh doanh còn đợc đánh giá trên hai mặt đó là hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế là cơ bản và
có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là những
lợi ích kinh tế đạt đợc sau khi đã bù đắp các khoản chi phí về lao động
xã hội. Hiệu quả kinh tế xác định thông qua việc so sánh giữa các chỉ
tiêu phản ánh kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả
đó.
Ta có thể diễn đạt khái niệm đó bằng công thức sau:
* Số tuyệt đối :
H1= K- F
Trong đó :
H1 là hiệu quả kinh tế
K: Kết quả của hoạt động kinh tế
F : Chi phí cần thiết
* Số tơng đối:

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

16


Luận văn tốt nghiệp


H2 =

K
F

H2 : Tỷ trọng hiệu quả kinh tế
Qua công thức tính hiệu quả trên ta thấy rằng bất cứ hoạt động
kinh tế nào nếu chi phí bỏ ra nhỏ hơn so với hiệu quả đã đạt đợc thì
lúc đó hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả. Hiệu quả nói nên mục
tiêu đã đạt đợc với chi phí bỏ ra nh thế nào và mức độ hiệu quả nh thế
nào.

1.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh đợc biểu
hiện bằng những đặc trng, ý nghĩa cụ thể khác nhau. Vì vậy, việc phân
loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau sẽ có tác
dụng cụ thể khác nhau cho công tác quản lý trong mỗi doanh nghiệp.
Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu, mức hiệu quả và xác định các
biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đợc từ
hoạt động thơng mại của từng doanh nghiệp kinh doanh. Biểu hiện
chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đợc.
Hiệu quả kinh tế xã hội mà thơng mại đem lại cho nền kinh tế
quốc dân là sự đóng góp của hoạt động thơng mại vào việc phát triển
sản xuất, tích luỹ ngoại tệ, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao
động xã hội, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân.
Trong quản lý kinh doanh thơng mại không những cần tính toán

và đạt đợc hiệu quả trong hoạt động của từng ngời, của từng doanh
nghiệp mà còn phải tính toán và quan trọng hơn là phải đạt đợc hiệu
quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh tế
xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển. Giữa hiệu
quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ
nhân quả và tác động qua lại lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ
có thể đạt đợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

17


Luận văn tốt nghiệp
thơng mại. Tuy vậy, có thể có những doanh nghiệp thơng mại không
đảm bảo hiệu quả kinh doanh ( bị lỗ ) nhng nền kinh tế vẫn thu đợc
hiệu quả. Tuy nhiên tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có
thể chấp nhận đợc trong những thời điểm nhất định do những nguyên
nhân khách quan mang lại. Các doanh nghiệp thơng mại cần phải
quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội vì nó chính là tiền đề và điều
kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nhng để doanh nghiệp
quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội nói chung của nền kinh tế quốc
dân, nhà nớc cần có các chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích
của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
1.2.2.Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Mục đích của doanh nghiệp là thu đợc lợi nhuận tối đa trên cơ
sở phải giảm đợc chi phí tối thiểu. Khi các doanh nghiệp tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh trong những điều kiện cụ thể về các
nguồn lực sẵn có của mình nh nguồn lực về con ngời, trình độ quản
lý, trình độ sản xuất. Do đó các doanh nghiệp phải biết tính toán sao

cho phù hợp, tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể khi sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội nhng tại
mỗi doanh nghiệp khi đánh giá hiệu quả kinh doanh thì chi phí lao
động xã hội đó đợc biểu hiện dới dạng chi phí cụ thể:
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí lao động sống
- Chi phí mua công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị
- Chi phí sản xuất ngoài.
Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể phân chia thành nhiều loại
cụ thể hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không những
phải đánh giá một cách chi tiết các chỉ tiêu tổng hợp mà còn phải
đánh giá tỉ mỉ các tiêu chuẩn cụ thể đó và có nh vậy thì công tác đánh
giá hiệu quả mới thật sự có chất lợng.
1.2.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh.
Việc xác định hiệu quả kinh doanh trong quá trình sản xuất
kinh doanh nhằm hai mục tiêu cơ bản:
Một là: Đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình
tái sản xuất kinh doanh
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

18


Luận văn tốt nghiệp
Hai là : Để phân tích luận chứng kinh tế của các phơng án khác nhau
trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn lấy
một phơng án có lợi nhất.
Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả đợc tính toán cho từng phơng án kinh
doanh cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu đợc với lợng chi phí
bỏ ra.

Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu
quả tuyệt đối của các phơng án khác nhau. Nói cách khác, hiệu quả so
sánh là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phơng án. Mục
đích là lựa chọn ra phơng án có hiệu quả nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong thơng mại có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau song chúng lại có tính độc lập tơng đối.

2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu
hàng hoá
Các công ty kinh doanh nói chung và các công ty kinh doanh
xuất khẩu nói riêng khi hoạt động thì mục tiêu của họ là lợi nhuận và
hơn nữa là lợi nhuận tối đa. Điều này chỉ có thể đạt đợc khi những cái
thu về (tổng doanh thu) lớn hơn những cái họ bỏ ra (tổng chi phí).
Nếu kết quả này đủ lớn thì các doanh nghiệp mới có thể tồn tại, tái
đầu từ và mới có thể phát triển đợc khi đó ta nói doanh nghiệp đó hoạt
động kinh doanh có hiệu quả. Ngợc lại nếu kết quả này không đủ lớn
thì doanh nghiệp đó sẽ bị phá sản, không thể tồn tại trên thị trờng khi
đó ta nói doanh nghiệp đó hoạt động kinh doanh không có hiệu quả.
Từ nhận định trên có thể nói hiệu quả kinh doanh là điều kiện
tồn tại, là mục tiêu phát triển của doanh nghiệp kinh doanh nói chung
và doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng. Do vậy nâng cao hiệu quả kinh
doanh là nhiệm vụ của bất cứ một công ty nào muốn tồn tại và phát
triển nhất là các công ty kinh doanh xuất khẩu luôn phải đối mặt với
những rủi ro và thách thức từ phía môi trờng kinh doanh

3. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh xuất khẩu và phơng pháp xác định.

3.1 Các chỉ tiêu định tính
Đó là các chỉ tiêu không thể đo lờng đợc mà chỉ có thể nhận
biết một cách gián tiếp thông qua sự tăng lên trực tiếp của các đơn

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

19


Luận văn tốt nghiệp
hàng, của kim ngạch xuất khẩu. Đó là các chỉ tiêu nh mức độ nổi
tiếng của sản phẩm, khả năng mở rộng thị trờng, mối quan hệ với
khách hàng nớc ngoài, khả năng khai thác nguồn hàng cho xuất khẩu.
Các kết quả này chính là những thuận lợi mà doanh nghiệp có thể khai
thác để phục vụ cho quá trình xuất khẩu nhằm thu đợc lợi nhuận cao .
Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu định tính về mặt xã hội nh :
Việc mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc, nâng cao hình ảnh của
các sản phẩm chất lợng cao của Việt Nam trên trờng quốc tế.

3.2 Các chỉ tiêu định lợng
3.2 .1 Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu

- Chỉ tiêu tuyệt đối :
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng lợi nhuận do kết quả hoạt động
kinh doanh mang lại. Nhng nó vẫn cha thể hiện chính xác về chất lợng
bởi vì nó không cho biết liệu doanh nghiệp có tiết kiệm đợc chi phí
hay lãng phí lao động xã hội. Vì vậy để đánh giá đợc kết quả chính
xác thì phải so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào thông qua
các chỉ tiêu tơng đối sau:
- Tỷ suất lợi nhuận so với vốn kinh doanh :
P1 =Lợi nhuận (P)
Vốn kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận so với doanh thu:

P2 =Lợi nhuận (P)
Doanh thu (DT)
- Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí:
P3 =Lợi nhuận (P)
Chi phí (C)
* Chỉ tiêu P1 là chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn. Nó phản ánh một
đồng vốn bỏ ra kinh doanh doanh nghiệp sẽ thu đợc bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác hiệu quả và nó thờng đợc tính để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau.
* Chỉ tiêu P2 là tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu. Nó cho biết với một
đồng doanh thu thì doanh nghiệp sẽ có đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

20


Luận văn tốt nghiệp
* Chỉ tiêu P3 là tỷ suất lợi nhuận theo chi phí. Nó cho biết một đồng
chi phí thì doanh nghiệp thu đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu
tố cơ bản của quá trình kinh doanh vì thế nguyên nhân để xác định
hiệu quả kinh doanh cần xã hội hoá một số chỉ tiêu nhất định thì mới
xác định đợc việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay
không. Hoạt động sản xuất kinh doanh thực chất là một hoạt động
kiếm lời trên cơ sở tiềm lực sẵn có. Chính vì thế mà hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh là hiệu quả tổng hợp nhất của hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đánh giá đợc hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh sẽ thấy đợc chất lợng quản lý sản xuất kinh doanh để từ đó
vạch ra khả năng tiềm tàng, nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh
doanh.

3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
-

Hiệu quả sử dụng vốn lu động kinh doanh

Hệ số này đợc xác định trên cơ sở xã hội hoá các mức doanh thu đạt
đợc trong kỳ, vốn kinh doanh bình quân trong kỳ:
M
HM =
V

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

21


Luận văn tốt nghiệp
Trong đó:
HM : Hiệu quả sử dụng vốn lu động theo mức doanh thu
M : Mức doanh thu trong kỳ
V : Vốn lu động bình quân trong kỳ.
V =V1/2+V2+ .+ Vn
n-1
Với: V1,Vn/2: Là vốn lu động tại các thời điểm kiểm kê
n : các thời điểm kiểm kê
Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất kinh doanh của một đồng
vốn lu động. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ vốn kinh doanh đã đợc sử dụng có hiệu quả.
-

Hệ số sinh lợi của vốn kinh doanh


Hlợi nhuận =

Ln
V

Trong đó:
Hlợi nhuận : Hệ số sinh lợi của vốn
Ln : Mức lợi nhuận đạt đợc trong kỳ
V : Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu phản ánh mức sinh lợi của một đồng vốn kinh doanh,
phản ánh số lợi nhuận thu đợc khi bỏ ra một đồng vốn. Hiệu số này
càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao.
- Hệ số sinh lợi của vốn cố định :
HLNCĐ =
Ln
Vcđ
Trong đó :
H LNCĐ: Hệ số sinh lợi của vốn cố định
Ln : Mức lợi nhuận đạt trong kỳ
VCĐ : Vốn cố định kinh doanh bình quân trong kỳ

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

22


Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu phản ánh mức sinh lợi của một đồng vốn cố định kinh
doanh, phản ánh số lợi nhuận thu đợc khi bỏ ra một đồng vốn cố định.

Hiệu số này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao.
- Số lần chu chuyển vốn lu động trong kỳ:
L=
Mv
VLĐ
Trong đó:
L : Số lần chu chuyển vốn lu động trong kỳ
Mv : Mức lu chuyển theo giá vốn trong kỳ
VLĐ : Vốn lu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, vốn lu động
chu chuyển càng nhanh thì hiệu quả đạt đợc càng cao.
- Số ngày chu chuyển vốn lu động:
N=

VLĐ
C

=

VLĐ
mv/t

Trong đó:
N : Số ngày chu chuyển vốn lu động
VLĐ : Số vốn lu động bình quân trong kỳ
MV : Mức lu chuyển theo giá vốn trong kỳ
T : Số ngày trong kỳ
mv : Mức lu chuyển bình quân một ngày theo giá vốn
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết để vốn lu động hoàn
thành một vòng chu chuyển. Thời gian chu chuyển càng nhanh thì

hoạt động kinh doanh càng có hiệu quả
- Hệ số đảm nhiệm vốn lu động:
E=

VLĐ
MV

Chỉ tiêu này phản ánh bất cứ một đồng doanh thu theo giá vốn trong
kỳ cần có bao nhiêu đồng vốn lu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

23


Luận văn tốt nghiệp
quả sử dụng vốn lu động càng cao, chứng tỏ vốn lu động đã đợc tiết
kiệm.
- Hệ quả sử dụng nguồn gốc trong kinh doanh
Trong khái niệm do chế độ thu chi và thanh toán đã đợc quy
định nên luôn phát sinh các khoản chi phí cần thiết trong một thời
gian mới thanh toán đợc. Và thời gian thanh toán phụ thuộc vào chế
độ quy định.
Thời gian thuhồi
( thị trờng công nợ)

=

Số d công nợ
bình quân năm

Doanh số thu nợ
bình quân năm

Số thu hồi
(thanh toán) công nợ

=

Số công nợ (phải trả) bình
quân năm
Doanh số thu nợ ( trả nợ )
bình quân năm

Thời gian thu hồi công nợ càng ngắn góp phần tránh tình trạng
ứ đọng vốn, chiếm dụng vốn giữa các đơn vị và tránh đợc các khoản
bị phạt do việc thanh toán không phù hợp với các khoản thoả thuận
trong hợp đồng.
3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Lao động (lao động sống) là một yếu tố quan trọng của quy
trình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Việc tổ chức và sử dụng
lao động sẽ có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp do vậy đòi hỏi ngời quản lý phải thờng xuyên xem
xét đánh giá các chỉ tiêu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Sau đây
là một số chỉ tiêu thờng đợc dùng trong việc đánh giá hiệu quả sử
dụng lao động trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu :

Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

24



Luận văn tốt nghiệp
- Năng suất lao động bình quân:
M
W =

Trong đó:
W: Năng suất lao động bình quân
M : Doanh thu
LĐ : Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này dùng để phản ánh mức độ bán ra trên một lao động,
nếu một doanh nghiệp kinh doanh càng có hiệu quả thì chỉ tiêu này
càng cao và ngợc lại.
- Lợi nhuận bình quân trên một lao động:
P
PLĐ =

Trong đó
PLĐ : Lợi nhuận bình quân trên một lao động
P : Lợi nhuận trong kỳ
LĐ : Tổng số lao động trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng lao động của một doanh
nghiệp, nếu chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp đã sử
dụng có hiệu quả lao động của mình
- Hiệu quả sử dụng số lợng lao động:
LĐ1
Hlao động =

Trong đó:
Hlao động : Hiệu suất sử dụng số lợng lao động

LĐ1: Số lao động hiện đang làm việc
LĐ : Số lao động hiện có
- Hiệu suất sử dụng lao động :
T1
HLĐ =
T0
Các chỉ tiêu này cho ta thấy hiệu quả sử dụng lao động thực tế
của một doanh nghiệp và thông qua các chỉ tiêu này mà các nhà quản
Sinh viên Lại Tuấn Khanh- Lớp QTKD Thơng Mại A khoá 41

25


×