Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Đậu tương (Glycine max (L merril) là cây công nghiệp ngắn ngày được xếp
vào 1 trong 5 loại cây trồng chính, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao trong
thành phần của hạt đậu tương chứa từ 40-48% protein, từ 18-25% lipit và 36-40%
hydro cacbon. Hạt đậu tương không chỉ được đánh giá cao về hàm lượng mà còn cả
về chất lượng. Đặc biệt trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin: B1, B2,
C, D, E, K,...[1].
Hạt đậu tương không chỉ là nguồn cung cấp dinh dưỡng, mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho con người, thực phẩm cho ngành chăn nuôi. Trong y học hạt đậu
tương được sử dụng như chữa bệnh đái tháo đường, thần kinh suy nhược, suy dinh
dưỡng ở trẻ em, người già và, tác dụng hạn chế trao đổi chất xương ở phụ nữ và
khả năng ức chế sinh trưởng của các tế bào ung thư [2].
Đậu tương là cây trồng dễ tính, có khả năng thích ứng rộng với các điều
kiện đất đai. Đặc biệt có ý nghĩa rất lớn đối với các nước nghèo vùng nhiệt đới. Với
tác dụng nhiều mặt, thời gian sinh trưởng ngắn từ 70-150 ngày nên đậu tương còn
có vai trò quan trọng trong chế độ luân canh, xen canh, gối vụ trong cơ cấu cây
trồng, góp phần nâng cao năng suất, hệ số sử dụng đất, đồng thời đậu tương còn có
vai trò trong việc cải tạo đất, lượng đạm để lại trong đất sau khi trồng đậu tương
50-80 kg N/ha/năm [5].
Với vai trò quan trọng, diện tích cây đậu tương ngày càng được mở rộng và
được coi là một trong những cây trồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế,
khai thác những lợi thế của vùng nhiệt đới mà nước ta có được. Hiện nay năng suất
và chất lượng còn thấp một phần do yếu tố tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội,
nhưng quan trong hơn là tìm được nguồn giống có năng suất, chất lượng.
Quế võ – Bắc Ninh đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, 2015 tỉnh
Bắc Ninh phấn đấu thành tỉnh công nghiệp, cơ cấu lực lượng lao động xã hội của
SVTH: Nguyễn Thị Chi
1
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
tỉnh còn rất nhiều thay đổi. Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp tăng từ 22,3 %
năm 2005 lên 32% năm 2009. Tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 63,2% năm 2005
giảm xuống còn 46% năm 2009.
Do vậy đất đai hiện nay bị bỏ hoang rất nhiều làm cho đất nghèo dinh dưỡng,
bị rửa trôi.
Đậu tương là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn , dễ tính, tốn ít công
chăm sóc, đồng thời có thể cải thiện tính chất của đất. Vì vậy việc đưa các giống
đậu tương cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện của địa phương là rất cần
thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó tôi tiến hành đề tài.
“ Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu
tương vụ hè thu năm 2010 tại huyện Quế Võ- Bắc Ninh”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài.
1.2.1. Mục đích.
Đánh giá được sự sinh trưởng phát triển, đặc điểm hình thái, mức độ sâu
bệnh hại và năng suất của các giống để tìm ra được giống đậu tương có khả năng
sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao. Từ đó khuyến cáo đưa vào sản suất, thay
đổi các giống cũ.
1.2.2. Yêu cầu.
+ Đánh giá đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của các giống đậu tương thí
nghiệm.
+ Đánh giá năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
2
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
2.1.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Với khả năng thích ứng rộng và nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, hiện nay
trên thế giới có khoảng 80 nước đang sản xuất và phát triển cây đậu tương. Tập
trung nhiều nhất là châu Mỹ 73,03%; tiếp đến là Châu Á 23,15%... Hàng năm trên
thế giới trồng khoảng 54 - 56 triệu ha đậu tương (thời gian 1990 - 1992) với sản
lượng khoảng 220,18 triệu tấn (FAO 2006). Trong đó các nước có diện tích và
sản lượng đậu tương lớn là Mỹ 28,32 triệu ha (FAO 2006), với sản lượng 85,15
triệu tấn. Brazin với diện tích 22,25 triệu ha với sản lượng 56,15 triệu tấn.
Achentina 4,9 triệu ha với sản lượng là 11,3 triệu tấn. Trung Quốc với diện tích là
9,5 triệu ha và sản lượng đạt 17,20 triệu tấn [2].
Thời kỳ từ năm 1990 - 1992 so với thời kỳ từ năm 1979 - 1981 sản lượng
đậu tương tăng lên 26,1% còn diện tích chỉ tăng 8,8%. Năng suất đậu tương thế
giới bình quân trong những năm 1990 - 1992 là 1.974kg/ha, tăng so với thời kỳ
1979 - 1981 là 15,9%. Những nước có năng suất đậu tương bình quân cao là Italia
3585kg/ha, Mỹ 2530kg, Achentina 2322kg và Brazin là 2034kg/ha. Sản lượng tập
trung lớn ở bốn nước nhưng lại được tiêu thụ trên khắp thế giới với nhu cầu ngày
càng một tăng. Sản lượng đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% vào những
năm 1980. Ngược lại sản lượng lạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời
kỳ [2].
Theo tổ chức nông lương thế giới FAO (2005) diện tích trồng đậu tương toàn
thế giới năm 2005 là 91,42 triệu ha, tăng 37,75 triệu ha so với năm 1985.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
3
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên thế giới
Năm
Diện tích
(triệu/ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(Triệu tấn)
1985
54,07
17,25
88,25
1995
61,96
20,26
125,53
1996
63,18
20,84
131,67
1997
69,39
21,99
152,59
1998
71,66
22,30
159,80
1999
72,19
21,80
157,37
2000
75,05
22,30
176,36
2001
76,13
23,21
176,70
2002
77,35
23,34
180,53
2003
83,61
22,67
189,52
2004
91,61
22,64
206,46
2006
91,42
23,45
214,53
2007
91,72
23,91
218,42
(Nguồn: FAO STAR 2007 và food Outllook, FAO, No-1, june 2007)
Qua bảng số liệu trên ta thấy: năm 2006 diện tích đạt 91,72 triệu ha so với
1985 là 54,07 triệu ha (tăng gần 1,7 lần). Đạt tốc độ tăng trưởng 3,5% năm về năng
suất. Đây là sự đóng góp to lớn của các nhà chọn tạo giống đậu tương thế giới góp
phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp toàn cầu. Thể hiện tầm quan trọng
của cây đậu tương đối với mỗi quốc gia. Hiện nay cây đậu tương ở các quốc gia
khắp châu lục, Tuy nhiên diện tích tập trung chủ yếu ở một số nước Châu Mỹ và
Châu Á.
Tổng sản lượng đậu tương thế giới năm 2006 sẽ đạt 220,18 triệu tấn tăng nhẹ
so với năm 2005. Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suất đậu tương cũng có sự
tăng trưởng đáng kể, năm 2005 năng suất đậu tương là 23,45 tạ/ha tăng 6,20 tạ/ha
so với năm 1985. Nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đậu tương lớn nhất hiện nay
là Mỹ.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
4
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Năm 2005 diện tích đậu tương của Mỹ là 28,88 triệu ha, năng suất 29,10
tạ/ha, sản lượng 84,00 triệu tấn giảm nhẹ so với năm 2004. Năm 2006 diện tích đậu
tương của Mỹ đạt 29,92 triệu ha, năng suất 27,40 tạ/ha (giảm 1,7 tạ/ha) sản lượng
sẽ đạt 81,92 triệu tấn giảm 2,48% so với năm 2005. Mỹ là nước xuất khẩu đậu
tương sang EU, Nhật, Tây Ban Nha, Tây âu năm 2004 Mỹ xuất khẩu tương lớn thứ
3 là Achentina. Năm 2003 diện tích đậu tương 27,49 triệu tấn, tăng 3,40 triệu tấn so
với năm 2003. Năm 2006 xuất khẩu đậu tương của mỹ đạt 29,67 triệu tấn [3].
Tại Châu Á, Trung Quốc đứng đầu và đứng thứ 4 thế giới về sản lượng đậu
tương. Năm 2000 diện tích đậu tương của Trung Quốc là 8,18 triệu ha, sản lượng
4,29 triệu tấn, đến năm 2004 diện tích sẽ đạt 10,58 triệu ha. Sản lượng đạt 17,75
triệu tấn. Năm 2005 diện tích giảm xuống còn 9,50 triệu ha, nhưng năng suất đạt
18,10 ta/ha (tăng 1,30 tạ/ha) nên sản lượng giảm xuống không đáng kể vẫn đạt
17,20 triệu tấn. Nhìn chung so với các nước Mỹ, Brazin, Achentina thì năng suất
đậu tương của Trung Quốc thấp hơn từ 7,0 - 11 tạ/ha. Ngoài ra còn một số nước
như: Pháp, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản cũng là những nước sản xuất đậu tương lâu đời
[2].
Năm 1990 diện tích trồng đậu tương tại Pháp đạt 135.000 ha, năng suất 36,5
tạ/ha, sản lượng 402.750 tấn.
Ở Nhật Bản diện tích đậu tương năm 1960 là 340.000 ha, năng suất 78,5
tạ/ha cao nhất thế giới với giống Miyaishironma, năm 1997 diện tích đạt 832.000
ha (Nguyễn Văn Luật, 2005).
Ở Ấn Độ đậu tương là cây trồng được chú ý phát triển khá mạnh. Năm 1997
Ấn Độ có diện tích đậu tương là 5,1 triệu ha, năng suất 10,5 tạ/ha, sản lượng 5,35
triệu tấn. Thành công đáng kể trong những năm gần đây của Ấn Độ là áp dụng
giống mới và kỹ thuật thâm canh nên năng suất bình quân đã tăng gấp 2,5 lần đạt
26,7 tạ/ha.
Nhìn chung Châu Á mới chỉ đáp ứng một nửa nhu cầu đậu tương, còn lại
SVTH: Nguyễn Thị Chi
5
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
phải nhập khẩu. Các nước nhập khẩu nhiều đậu tương phải kể đến là Trung Quốc,
Nhật Bản, Đài Loan, Inđônêxia, Philippin…
Bảng 2.2. Diện tích, sản lượng đậu tương của Châu Á và một số nước
Năm
Tên
nước
Năm 2002
DT
NS
(triệu
(tạ/ha)
Năm 2003
SL (triệu DT (triệu
tấn)
ha)
NS
SL
(tạ/ha)
(triệu
ha)
tấn)
Châu Á
16,13
14,55
23,46
18,03
14,22
25,64
Trung Quốc
8,72
19.37
16,90
9,50
17,36
16,50
Ấn Độ
5,67
7,53
4,27
6,45
10,54
6,80
Inđônêxia
0,55
11,95
0.65
0,82
8,26
0,68
Thái Lan
0,18
16,44
0,29
0,22
12,17
0,27
(Nguồn: Faostat, january 2004)
Như vậy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Châu Á còn thấp,
chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùng của châu lục, do đó hàng năm các
nước Châu Á vẫn phải nhập khẩu một lượng đậu tương lớn từ Mỹ, Brazin,
Achentina…
Bộ Nông Nghiệp Mỹ dự báo tổng sản lượng đậu tương thế giới tháng 10 năm
2009 sẽ đạt 242,07 triệu tấn, điều chỉnh giảm 1,66 triệu tấn (0,68%) so với dự báo
hồi tháng 7 năm 2009, song tăng 31,45 triệu tấn (14,93%) so với sản lượng 210,62
triệu tấn của tháng 9 năm 2008. Tổng diện tích đậu tương dự báo đạt 99,72 triệu ha,
tăng so với 96,29 triệu ha của tháng 9 năm 2008, năng suất đậu tương sẽ đạt 2,43
tấn/ha so với 2,19 tấn/ha của tháng 9 năm 2008, sản lượng đậu tương của các nước
tháng 10 năm 2009 dự báo đạt (đơn vị: triệu tấn), Mỹ 87,07; Brazin 60,00;
Achentina 51,00; Trung quốc 15,40…[2].
SVTH: Nguyễn Thị Chi
6
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
2.1.2. Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới
Do vai trò trọng, cũng như nhu cầu sử dụng đậu tương của các nước trên thế
giới luôn gia tăng. Song sản lượng đậu tương chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Để tăng sản
lương đậu tương không chỉ trông chờ vào việc mở rộng diện tích vì diện tích gieo
trồng chỉ có hạn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng sản lượng đậu tương trong
khi diện tích gieo trồng ít thay đổi và có xu hướng giảm, đòi hỏi các nhà nghiên
cứu chọn tạo giống phải tìm ra những giống mới có năng suất cao, ổn định là một
việc làm cần thiết và mang tính cấp bách. Muốn thực hiện được điều đó cần phải
đẩy mạnh phát triển khoa học kĩ thuật chọn tạo giống.
Tại Mỹ các nhà chọn tạo giống đã tạo ra các giống đậu tương năng suất cao,
nổi tiếng như: Clark 63, Harosey…với năng suất đạt 3,0 - 4,0 tấn/ha. Cũng bằng
phương pháp lai tích luỹ, ở Mỹ đã thành công trong công tác đưa gen kháng bệnh
vào giống đậu tương năng suất cao.
Tại Trung Quốc, đã áp dụng khoa học kĩ thuật trong lai hữu tính và nhập nội
giống với nguồn gen khá phong phú. Bằng phương pháp lai này đã tạo ra các giống
đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt và khả năng chống chịu bệnh khá như:
CN001, CN002 năng suất bình quân đạt từ 2,0-3,0 tấn/ha trên diện tích sản xuất
giống đại trà.
Nhằm phát triển cây đậu tương một cách mạnh mẽ, hàng đoạt các tổ chức,
mạng lưới nghiên cứu cải tạo đậu tương quốc tế được thành lập và tham gia điều
hành hoạt động: Chương trình nghiên cứu đậu tương quốc tế ở Mỹ (INTSOY),
Viện nông nghiệp nhiệt đới ở Nigria (IITA), Trung tâm phát triển rau mầu Châu Á
ở Đài Loan (AVRDC), Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Philippin (IRRI), chương
trình hợp tác nghiên cứu cây thực phẩm của Trung Mỹ (PPCCMA). Trong đó trung
tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (AVRDC). Là nơi nghiên cứu và
đánh giá gen tập đoàn đậu tương sớm nhất thế giới. Tại đây đã thiết lập hệ thống
đánh giá đậu tương (Aset)-kết quả đánh giá đã chọn lọc thành công 24 giống có
SVTH: Nguyễn Thị Chi
7
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
năng suất cao, có khả năng chống chịu với bệnh gỉ sắt và thích ứng với điều kiện
trồng trọt của nhiều quốc gia.
Với những thành tựu mới trong nghiên cứu cùng với bộ sưu tập gen của các
nhà khoa học ở các nước khác nhau trên thế giới, nhất định trong nhưng năm tới
sản lượng đậu tương thế giới sẽ tăng cao.
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương của Việt Nam.
2.2.1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, cây đậu tương đã có từ lâu và được gieo trồng ở nhiều vùng
trong cả nước. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng ngày càng cao, nhiều năm qua nước
ta đã phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn. Theo cục chăn nuôi: năm 2006,
chỉ riêng ngành chăn nuôi đã phải nhập 1,5 triệu tấn khô dầu đậu tương (tương
đương 2,0 triệu tấn đậu tương hạt) để chế biến làm thức ăn chăn nuôi, ngoài ra còn
chưa kể các nguồn nhập khác.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
8
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở việt Nam
Năm
2000
Diện tích
(nghìn ha)
124,10
Năng suất
(Tạ/ha)
12,03
Sản lượng
(nghìn tấn)
149,30
2001
140,30
12,38
173,70
2002
158,60
12,96
205,60
2003
165,60
13,27
219,70
2004
182,50
13,27
242,10
2005
185,00
13,24
245,00
2006
185,6
13,9
275,2
2007
187,4
14,7
275,2
2008
191,5
14,0
268,6
(Nguồn niên giám thống kê 2009)
Đánh giá về tình hình sản xuất và phát triển cây đậu tương trong nước thời
gian qua, theo bảng 2.2 cho thấy: năm 2000 diện tích trồng đậu tương là 124,1
nghìn ha, năng suất bình quân đạt 12,0 tạ/ha và sản lượng đạt được là 149,3 nghìn
tấn đậu tương, đến năm 2005 diện tích tăng lên 204,1 nghìn ha và năng suất bình
quân đạt được là 14,3 tạ/ha (năng suất cao nhất trong khối ASEAN và bằng 66,5%
so với năng suất bình quân của thế giới), sản lượng đạt được là 292,7 nghìn tấn.
Như vậy sau 5 năm, diện tích đậu tương cả nước đã tăng 80,0 nghìn ha (tăng
64,5%), năng suất bình quân tăng 2.3 tạ/ha (tăng 19,2%) và sản lượng tăng 143,4
nghìn tấn (gần gấp 2 lần).
Từ năm 2006 đến năm 2008 diện tích có biến động giảm do điều kiện thiên
tai ảnh hưởng (bão, úng…), sau đó có xu hướng lại tăng dần, nhưng sản lượng đậu
tương của cả nước vẫn tương đối ổn định. Điều đó cho thấy khoa học công nghệ
mới về giống và kĩ thuật canh tác đối với cây đâu tương của nước ta đã ảnh hưởng
lớn đến sản xuất. Tuy vậy, sản lượng đậu tương trong nước mới chỉ đáp úng đủ cho
SVTH: Nguyễn Thị Chi
9
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
khoảng 15% nhu cầu tại chỗ.
Ở nước ta với 7 vùng sản suất đậu tương (bảng 2.3), thí vùng Đồng Bằng
Sông Hồng có sản lượng đậu tương lớn nhất: Năm 2000 đạt 48,600 tấn chiếm
34,2% tổng sản lượng đậu tương cả nước, trong khi diện tích chỉ chiếm 28,62%
diện tích của cả nước. Tính đến năm 2005 Đồng Bằng Sông Hồng có sản lượng đạt
107,5 triệu tấn 43,87% tổng sản lượng đậu tương cả nước và tăng so với năm 2000
là 9,67%.
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương phân bố ở một số
vùng
trong cả nước.
Năm
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(1000 ha)
(tạ/ha)
(1000 tấn)
2000
Cả nước
Miền núi, trung du bắc
2005
122,3 203,6
0
0
2000
2005
11,6
13,24
2000
2005
141,9
245,0
0
0
50,0
73,4
8,7
21,9
43,4
78,9
ĐB sông Hồng
35,0
67,3
13,9
16
48,6
107,5
Bắc Trung Bộ
3,4
6,5
11,2
12,2
3,8
7,9
Duyên Hải Trung Bộ
2,5
2,8
12,8
16,4
3,2
4,6
Tây Nguyên
14,1
27,1
13,5
15,7
19,0
42,5
Nam Bộ
10,1
5,3
8,3
10,60
8,4
5,6
ĐB sông Cửu Long
7,2
21,2
21,5
21
15,5
44,5
bộ
(Nguồn niên giám thống kê năm 2001 và 2006)
Theo niên giám thống kê 2008 cho thấy năm 2006 diện tích là 66,5 nghìn ha,
sản lượng đạt 103,0 nghìn tấn, đến năm 2007 tăng lên là 66,7 nghìn ha, sản lượng
tăng là 106,3 nghìn tấn… đang được mở rộng và phát triển. Đây cũng là vùng đã
đạt được năng suất bình quân cao nhất so với cả nước. Là vùng có diện tích trồng
SVTH: Nguyễn Thị Chi
10
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
đậu tương lớn thứ 2 sau vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Đứng thứ 3 là vùng
Tây Nguyên với diện tích là 27,1 nghìn ha chiếm 13,3% diện tích của cả nước và
sản lượng đạt được là 14,6% tổng sản lượng toàn quốc [4].
Diện tích thấp nhất cả nước là vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ với 2,8 nghìn
ha (chiếm 1,4%) và vùng Đông Nam Bộ với 5,3 nghìn ha (chiếm 2,6%) diện tích
của cả nước. Tương ứng với diện tích, sản lượng của 2 vùng là 4,6 nghìn tấn (chiếm
1,6%) và 5,6 nghìn tấn (chiếm 1,92%). Đây là 2 vùng có diện tích và sản lượng đậu
tương thấp nhất trong cả nước nhưng năng suất trung bình thì không thấp hơn so
với các vùng khác [4].
2.2.2. Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
Với mục tiêu phát triển đậu tương của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn đề ra cho cả nước: “Đến năm 2010, diện tích đậu tương đạt 400.000 ha, năng
suất đạt 20 tạ/ha và sản lượng đạt 800.000 tấn cần áp dụng đồng bộ những tiến bộ
về giống, thời vụ, kĩ thuật canh tác, …”
Tăng cường áp dụng các biện pháp tiến bộ khoa học mới vào sản xuất: Xác
định được bộ giống đậu tương có năng suất cao, có tính thích ứng rộng, có thời gian
sinh trưởng trung và ngắn ngày, có khả năng chịu rét, chịu hạn và sâu bệnh tốt phù
hợp với điều kiện mùa vụ cho các địa phương trong vùng. Tiếp tục hoàn thiện các
quy trình kĩ thuật gieo trồng đậu tương phù hợp với từng mùa vụ cho các điều kiện
sinh thái khác nhau. Cần đầu tư kinh phí hơn nữa cho công tác nghiên cứu khoa học
về chọn tạo giống mới.
Theo kết quả mới nhất năm 2006 giai đoạn (2001 - 2005): Đã bổ sung thêm
1072 mẫu giống đậu đỗ vào tập đoàn hiện có bao gồm 540 mẫu giống đậu tương và
các mẫu giống đậu đỗ khác. Khảo sát đánh giá 14.953 mẫu giống. Kết quả khảo
nghiệm giống quốc gia giai đoạn (2001 - 2005) thu được: 14 giống mới với thời
gian sinh trưởng từ 72 - 110 ngày, năng suất hạt khô đạt 11 - 13 tạ/ha. Trong đó có
10 giống được công nhận chính thức và 4 giống được công nhận tạm thời [5].
SVTH: Nguyễn Thị Chi
11
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Để đạt mục tiêu là 1 triệu tấn đậu đỗ các loại vào năm 2010 với diện tích
đậu tương là 400 nghìn ha, năng suất 2 tấn/ha thì cần phải đưa một số biện pháp
sau:
Nghiên cứu quy hoạch vùng trọng điểm trồng cây đậu đỗ, với cây đậu tương
thì tập trung chủ yếu vào các vùng chính là: Vùng ĐBSH, Vùng miền núi phía Bắc,
Tây Nguyên và ĐBSCL.
Nghiên cứu bộ giống thích nghi cho các vùng trọng điểm với các mục tiêu
năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh…
Nghiên cứu kĩ thuật quản lí cây trồng tổng hợp cho từng cây (ICM).
Nghiên cứu hệ thống nhân và sản xuất hạt giống (kĩ thuật và công nghiệp hạt
giống)
Nghiên cứu cơ giới hoá, thu hoạch bảo quản và chế biến.
Nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội - thị trường để phát triển cây đậu
tương.
2.3. Cơ sở của đề tài
Xuất phát từ nhu cầu thực tế nền nông nghiệp nước ta tuy có tăng trưởng
nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Bên cạnh đó hệ
thống cây trồng ở một số vùng chưa đa dạng, chưa khai thác hết tiềm năng đất đai,
tiềm năng lao động ở nông thôn trong những lúc nông nhàn. Vì vậy việc phát triển
cây đậu tương vụ hè thu trên các chân đất thung lũng mở rộng diện tích làm tăng
sản lượng tạo nên thu nhập là một việc làm cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng và xuất khẩu.
Trên các chân đất bỏ hoang lâu ngày thường hay bị xói mòn, rửa trôi các
chất dinh dưỡng, Vì thế việc đưa các giống cây trồng họ đậu ngắn ngày và trung
ngày có khả năng chống chịu được với các điều kiện bất thuận nói chung và cây
đậu tương nói riêng là rất có ý nghĩa nhằm giải quyết nhu cầu đạm cho người và gia
súc đồng thời cung cấp đạm cho đất tăng hiệu quả sử đất cho các cây trồng vụ sau.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
12
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Như vậy, để giải quyết được vấn đề trên thì việc nghiên cứu, mở rộng diện
tích cải tiến biện pháp kĩ thuật và quan trọng là tạo ra bộ giống đậu tương thích hợp
với điều kiện thời tiết khí hậu, có thời gian sinh trưởng phù hợp với chế độ thâm
canh đưa năng suất đậu tương cao hơn trong những năm tới.
2.4. Tình hình sản xuất đậu tương ở Quế võ- Bắc Ninh
Bắc Ninh, với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt
là phát triển cơ cấu cây trồng đa dạng, vời dân số toàn huyện tính đến năm 2010 là
145.900 người [6], nhu cầu sử dụng đậu tương làm thực phẩm cho con người và
thức ăn cho ngành chăn nuôi ngày càng cao.
Cùng với sự hỗ trợ, phát triển của sở nông nghiệp Bắc Ninh bà con được sự
hướng dẫn của các công ty giống cây trồng trung tâm khuyến nông đưa các giống
đậu tương mới vào sản xuất. Tuy nhiên năng suất, so với năng suất bình quân của
Việt Nam thì năng suất của đậu tương huyện Quế Võ vẫn còn thấp, sản lượng đậu
tương của huyện chưa cao, do diện tích trồng còn ít. Cần đẩy mạnh hơn nữa công
tác chọn tạo giống, đưa các giống năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được
với điều kiện bất thuận của vùng vào gieo trồng.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
13
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Gồm 5 giống:
Công
Tên giống
Nguồn gốc, xuất sứ
CT1
Địa phương (Đ/C)
Chọn tạo của địa phương
CT2
DT96
Viện di truyền nông nghiệp
CT3
ĐT22
TRung tâm đậu đỗ viện KHKTNN Việt Nam
CT4
ĐVN9
Viện Nghiên cứu ngô
CT5
DT02
Viện di truyền nông nghiệp
thức
3.2. Nội dung nghiên cứu.
- Đánh giá sinh trưởng phát triển của các giống đậu tương tham gia thí
nghiệm.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu
tương thí nghiệm.
- Đánh giá mức độ sâu bệnh gây hại của các giống đậu tương tham gia thí
nghiệm.
3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.3.1. Địa điểm nghiên cứu.
Tại xã Nam Sơn- Quế Võ - Bắc Ninh.
3.3.2. Thời gian nghiên cứu.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
14
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Đề tài được thực hiện từ 25/07/2010 đến 13/12/2010.
3.4. Sơ đồ thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 5 công thức, 3 lần
nhắc lại, tổng số ô thí nghiệm là 15 ô, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m2.
- Diện tích khu thí nghiệm: 150m2 (chưa kể dải bảo vệ và hàng biên).
CT2
CT5
CT4
CT1
CT3
CT3
CT1
CT5
CT2
CT4
CT4
CT2
CT1
CT3
CT5
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Công thức thí nnghiệm:
CT1: Đ/C (địa phương)
CT2: DT96
CT3: ĐT22
CT4: ĐVN9
CT5: DT02
3.5. Qui trình kỹ thuật áp dụng.
(Áp dụng theo tiêu chuẩn 10TCN 339 - 2006 của Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn).
3.5.1. Thời vụ.
- Vụ hè - thu, năm 2010.(gieo ngày 25/07/2010)
SVTH: Nguyễn Thị Chi
15
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
3.5.2. Làm đất.
- Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống, chia ô.
3.5.3. Mật độ gieo.
-Mật độ: 30 cây/m2
- Khoảng cách:
Hàng cách hàng: 35cm
Cây cách cây: 10cm
- Quy cách gieo: Gieo hạt khi đất đủ ẩm, trước khi gieo bón phân vào rãnh,
tra hạt, lấp đất tơi xốp dày 2 - 4 cm.
3.5.4. Phân bón:
- Lượng phân bón cho 1 ha:
5 tấn phân chuồng + 80 kg urê + 300kg supelân + 100kg kaliclorua + 500 kg vôi.
- Cách bón:
+ Bón lót: Toàn bộ (phân chuồng + phân lân + vôi bột) + 1/2 đạm + 1/2 kali.
+ Bón thúc: Toàn bộ phân còn lại chia vào hai đợt:
Đợt 1: Bón khi cây có hai lá thật: 1/4 N + 1/2 K.
Đợt 2: Bón cách đợt 1 từ 10 - 15 ngày, kết hợp làm cỏ, vun xới, tỉa định cây, bón
lượng phân còn lại.
3.5.5.Chăm sóc:
- Trồng dặm vào nơi khuyết mật độ khi cây có hai lá mầm (sau 5 - 7 ngày
gieo).
- Khi cây có hai lá thật tiến hành tỉa định cây theo mật độ quy định kết hợp
làm cỏ và chống hạn.
- Xới xáo làm cỏ:
+ Lần 1: khi cây có 2 - 3 lá kép tạo điều kiện cho đất tơi xốp, bộ rễ
phát triển thuận lợi, vi khuẩn nốt sần sớm cộng sinh với rễ, kết hợp với bón thúc và
diệt trừ cỏ dại.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
16
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
+ Lần 2: Trước khi đậu tương ra hoa (sau lần một khoảng 10 - 15
ngày) (cây có 5 - 6 lá) kết hợp bón phân đợt 2, bón lượng phân còn lại vun
vào gốc, chống đổ, trừ cỏ.
- Tưới nước: Thời kì cây non mới mọc, đặc biệt là thời kì ra hoa, kết quả cây
đậu tương cần rất nhiều nước, nếu hạn thì cần tưới nước qua rãnh.
Sau khi gieo 20 ngày cần tưới nước phân đạm + lân pha loãng
(100g urê + 100g supelân + 20 lít nước)
- Phòng trừ sâu bệnh: chú ý phòng trừ một số loại sâu bệnh chính:
+ Giòi đục thân khi cây có hai lá sò.
+ Phòng sâu ăn lá, nụ, hoa, sâu đục quả.
+ Phòng bọ xít hại quả.
+ Có thể phun với các chế phẩm bón để tăng năng xuất ở thời kì sinh
trưởng thân lá.
+ Thời gian phun: Khi cây có hai lá đơn và 4 - 5 lá trước khi tắt hoa,
làm quả. Phun thuốc vào lúc chiều mát.
+ Bệnh hại đậu tương: Gỉ sắt , sương mai, thối rễ, cháy lá, đốm nâu, vi
khuẩn.
+ Phòng trừ: chọn giống sạch bệnh, bón phân cân đối, luân canh hợp
lí.
3.6. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi.
3.6.1.Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển.
- Thời gian nảy mầm (ngày): Tính từ lúc gieo hạt đến 50% số cây mọc.
- Thời gian từ mọc đến ra hoa (ngày): Tính từ khi 50% cây mọc đến khi xuất
hiện 50% số cây ra hoa (ít nhất có một hoa nở)
- Thời gian nở hoa (ngày): Tính từ khi bắt đầu nở hoa đến khi kết thúc
- Thời gian từ gieo đến quả mẩy (ngày): Tính từ khi gieo đến 50% số cây vào
SVTH: Nguyễn Thị Chi
17
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
chắc.
- Thời gian gieo đến thu hoạch: tính từ gieo đến 95% số quả trên cây chín.
3.6.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển.
- Đường kính thân (mm): Đo cách cổ rễ 5cm lúc thu hoạch.
- Chiều cao cây: Đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng , đo 10 cây mẫu cho một
lần nhắc lại; đo từ khi cây có 2 - 3 lá thật, sau đó cứ 7 ngày đo một lần.
- Số cành cấp 1 trên một cây: Đếm số cành mọc từ thân chính.
- Sự phát triển của nốt sần hữu hiệu: Đánh giá ở ba thời kì (bắt đầu ra hoa,
hoa nở rộ, quả mẩy) cân và đếm tổng số nốt sần, tổng số nốt sần hữu hiệu.
+ Phương pháp: Trước khi nhổ cây tưới đẫm nước, sau 15 phút tưới lần hai.
sau đó nhổ cây và cho phần xung quanh gần rễ vào chậu nước để lọc phần nốt sần
rụng.
3.6.3. Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.
- Tổng số quả trên cây: đếm tổng số quả chắc của một số cây mẫu/ô, tính
trung bình.
- Tỷ lệ quả: 1 hạt/cây, 2 hạt/cây, 3 hạt/cây.
- Chiều cao đóng quả (cm): đo từ cổ rễ đến đốt mang quả đầu tiên.
- Số đốt hữu hiệu trên thân chính: đếm số đốt mang quả trên thân, lấy ngẫu
nhiên 10 cây/ô theo dõi, tính trung bình.
- Số quả chắc trên cây: đếm tổng số quả chắc của 10 cây mẫu/ô, tính trung
bình.
- Khối lượng 1000 hạt (g): Lấy ngẫu nhiên 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt (độ ẩm
khoảng 12%, cân tính khối lượng trung bình.
- Năng suất ô (kg/ô): Thu từng ô, đập lấy hạt khô sạch, cân khối lượng.
- Năng suất cá thể (g/cây): Bằng khối lượng 10 cây/ 10 cây
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = năng suất cá thể (g) x mật độ (cây/m2) x 10-1
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = năng suất ô (tạ/ha) x 10000m2 /diện tích ô
SVTH: Nguyễn Thị Chi
18
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
(10m2)
3.6.4. Mức độ sâu bệnh hại.
- Mức độ nhiễm sâu hại:
Tổng số cây bị hại
+ Tỷ lệ cây bị sâu hại (%)
=
x 100
Tổng số cây của ô
- Mức độ nhiễm bệnh hại:
+ Cấp 1: Không bị bệnh
+ Cấp 3: 1 - 5% số lá bị bệnh
+ Cấp 5: 6 - 15% số lá bị bệnh
+ Cấp 7: 16 - 50% số lá bị bệnh
+ Cấp 9: > 50% số lá bị bệnh
- Khả năng chống đổ:
+ Cấp 1: Hầu hết các cây đứng
+ Cấp 2: < 25% cây đổ
+ Cấp 3: 25 - 50% cây đổ hẳn, các cây khác nghiêng 450
+ Cấp 4: 51 - 75% cây đổ hẳn
+ Cấp 5: > 75%
3.7. Xử lý số liệu.
-Xử lý số liệu bằng phần mềm Excell.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
19
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
Hình thái của các giống cây trồng nói chung, cũng như cây đậu tương nói
riêng là đặc điểm quan trọng, dùng để phân biệt sự khác biệt giữa các giống.
Các yếu tố hình thái chủ yếu do bản chất di truyền của các giống quyết
định, tạo nên đặc thù riêng của từng giống. Tuy nhiên các yếu tố môi trường như:
Nhiệt độ, cường độ bức xạ , chất lượng ánh sáng, số giờ nắng, độ ẩm cũng ảnh
hưởng làm thay đổi các giống so với nguồn gốc ban đầu. Việc lựa chọn giống có
tính ổn định cao về kiểu hình và khả năng thích ứng rộng có ý nghĩa quan trọng
trong sản xuất đậu tương.
Qua theo dõi một số đặc điểm hình thái các giống đậu tương, kết quả thu
được trình bày trong bảng 4.1 sau:
SVTH: Nguyễn Thị Chi
20
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Bảng 4.1 Bảng đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí
nghiệm.
Chỉ Hình
Màu sắc
Dạng
Loại
tiêu dạng
cây
hình
Thân
Lá
Hoa
Vỏ
Vỏ
Rốn
lá
sinh
mầm
quả
hạt
hạt
trưởng
Giống
Thoi
Tím
DT96
Xanh Tím
nhạt
Xám
Vàng Trắng
Đứng
Hữu
hạn
Vàng Nâu
đậm
Đứng
Hữu
hạn
ĐT22
Trứng Xanh Xanh Trắng
đậm
Nâu
đen
ĐVN
9
Trứng Tím
Xanh Tím
nhạt
Vàng vàng
Nâu
nhạt
Đứng
Hữu
hạn
DT02
Tim
nhọn
Tím
Xanh Tím
nhạt
Vàng Vàng Nâu
nhạt
Đứng
Hữu
hạn
Đ/C
Thoi
Tím
Xanh Tím
đậm
Vàng Xanh Nâu
nhạt đậm
Đứng
Hữu
hạn
Hình dạng lá: Liên quan đến khả năng quang hợp và khả năng chống chịu.
nói chung hình dạng lá chét rộng quang hợp sẽ tốt hơn hình dạng lá chét dài do
nhận được nhiều ánh sáng hơn. Qua theo dõi trong 5 giống thí nghiệm có giống
DT96, ĐVN9, giống Đ/C có hình dạng lá hình thoi, giống ĐT22 có hình dạng lá
hình trứng, DT02 Tim nhọn.
Màu sắc thân mầm: Là đặc điểm quan trọng để phân biệt sự lẫn giống từ
khi cây còn nhỏ. Màu sắc thân mầm do đặc tính di truyền của từng giống qui định,
nó liên quan chặt chẽ với màu sắc hoa. Cây có thân mầm tím thì hoa sẽ có màu
tím, cây có thân mầm màu xanh thí sẽ có hoa màu trắng. Trong các giống tham gia
thí nghiệm thì bốn giống có màu sắc thân mầm tím là giống (DT96, ĐVN9,DT02
và Đ/C), còn lại có màu sắc thân mầm xanh là giống ĐT22.
Màu sắc lá: Liên quan trực tiếp đến khả năng quang hợp của cây. Do vậy
SVTH: Nguyễn Thị Chi
21
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
cũng liên quan đến năng suất. Trong các giống tham gia thí nghiệm thì có hai giống
có màu sắc lá xanh đậm là giống (ĐT22, Đ/C), ba giống còn lại đều có màu lá
xanh nhạt là giống (DT96, ĐVN9, DT02).
Màu sắc hoa: Liên quan chặt chẽ với màu sắc thân, biểu thị sự ổn định về di
truyền. Dựa vào đặc tính này người ta có thể phân biệt lẫn giống vào giai đoạn hoa
nở: Giống có hoa màu tím thì thân màu tím có giống (Đ/C, DT96, ĐVN9, DT02),
giống hoa màu trắng thì thân màu xanh là giống (ĐT22).
Màu sắc hạt: Là một chỉ tiêu rất quan trọng liên quan trực tiếp tới chất
lượng thương phẩm của lô hạt. Qua theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy các giống
đậu tương (DT96, ĐT22, ĐVN9, DT02), đều có vỏ hạt màu vàng. Đặc điểm này
được người tiêu dùng rất ưa chuộng. giống Đ/C có màu sắc hạt là xanh nhạt.
Màu sắc rốn hạt: Là một trong những chỉ tiêu để phân biệt giống, ngoài ra
nó còn liên quan đến giá trị thương phẩm và giá trị xuất khẩu. Hai giống có rốn hạt
màu nâu đậm là giống (ĐT22, Đ/C), giống (ĐVN9, DT02) có rốn hạt màu nâu
nhạt, màu trắng là rốn hạt của giống (DT96). Đây cũng là đặc tính di truyền để
phân biệt giống.
Dạng cây: Cả 5 giống tham gia thí nghiệm đều có dạng hình cây đứng, có
khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận như: mưa bão, ngập, sâu bệnh…, cho
màu sắc quả, hạt sáng đẹp, thuận lợi cho thu hoạch, tăng giá trị thương phẩm đáp
ứng thị hiếu người tiêu dùng.
Loại hình sinh trưởng: Các giống đậu tương tham gia thí nghiệm đều có loại
hình sinh trưởng hữu hạn. Loại hình này cho năng suất cao, quả/cây chín tập trung,
thuận lợi cho việc cơ giới hoá trong khâu thu hoạch.
4.2. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống đậu
tương thí nghiệm.
Sinh trưởng phát triển của cây là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động sinh
SVTH: Nguyễn Thị Chi
22
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
lí, sinh hoá phức tạp, sinh trưởng là tiền đề cho phát triển, giữa chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau song song tồn tại và cùng phát triển.
Theo dõi đặc tính sinh trưởng của các giống đậu tương thí nghiệm. Chúng tôi
tiến hành theo dõi các chỉ tiêu liên quan từ khi trồng đến khi kết thúc thí nghiệm
trong điều kiện vụ hè - thu 2010, các số liệu thu được ở bảng.
4.2.1. Thời gian từ gieo đến mọc mầm:
Giai đoạn này được tính từ khi gieo hạt xuống đất, hạt hút đủ độ ẩm trương
lên rễ mọc ra, thân vươn lên đội hai lá mầm lên khỏi mặt đất, lá mầm xòe ra, thân
mầm tiếp tục phát triển thành thân chính. Trong giai đoạn này cây con sống chủ
yếu dựa vào nguồn chất dinh dưỡng dự trữ ở trong hai lá mầm, đến khi hết chất
dinh dưỡng các lá mầm này chuyển dần sang màu vàng rồi rụng và đồng thời cũng
là lúc mà bộ rễ đã phát triển, đủ khả năng hút nước và chất dinh dưỡng từ trong đất
lên để nuôi cây.
Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào chất lượng hạt giống, đất đai và
thời tiết: nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện dinh dưỡng, độ sâu gieo hạt. Điều kiện thích
hợp cho hạt đậu tương nẩy mầm là từ 25 - 300c, ẩm độ đất từ 75 - 85%, đất tơi xốp
giàu oxy và ngược lại nhiệt độ, ẩm độ quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng tới sức
nẩy mầm của hạt đậu tương.
Thời kỳ này chính là thời kỳ quyết định mật độ/đơn vị diện tích, sự sinh
trưởng phát triển, quyết định đến tổng số cây đậu tương sau này. Đồng thời tỷ lệ
thuận với năng suất. Yếu tố dinh dưỡng (N2, P2O5, K2O), chưa có vai trò trong giai
đoạn này vì cây còn đang sử dụng dinh dưỡng từ hạt.
SVTH: Nguyễn Thị Chi
23
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
Bảng 4.2. Tỷ lệ nẩy mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các
giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
Giống
DT 96
ĐT 22
ĐVN 5
DT02
Đ/C
Gieo - mọc mầm (ngày)
4
4
4
4
4
Tỷ lệ mọc mầm (%)
91,68
93,50
95,83
92,38
93,68
34
36
38
35
45
Số ngày ra hoa (ngày)
10
11
12
12
13
Tổng thời gian sinh
trưởng
85
83
85
90
110
Chỉ tiêu
Gieo - bắt đầu ra hoa
(ngày)
(ngày)
Qua theo dõi thí nghiệm chúng tôi thu được kết quả sau: Tất cả các giống
đậu tương tham gia thí nghiệm đều có thời gian mọc mầm là 4 ngày. Nhiệt độ
lượng mưa, độ ẩm… trong 4 ngày gieo hạt rất thuận lợi cho quá trình nảy mầm của
hạt.
4.2.2. Tỷ lệ nẩy mầm:
Đây là một yếu tố quan trọng nó quyết định đến mật độ cây trên đơn vị diện
tích gieo trồng, đồng thời đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sau này. Qua
theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy tỷ lệ nẩy mầm của các giống đạt rất cao dao
động từ 91,68% đến 95,85%. Trong đó giống ĐVN9 có tỷ lệ nảy mầm cao hơn các
giống khác từ (2,15 - 4,15%). Đ/C là giống có tỷ lệ nảy mầm thấp hơn các giống từ
(4,15 - 2,15%).
4.2.3. Thời gian từ gieo đến bắt đầu ra hoa:
Trong giai đoạn này được tính từ ngày gieo đến khi 50% số cây bắt đầu ra
hoa. Thời kỳ đầu của giai đoạn này cây con sinh trưởng rất chậm, trong khi đó bộ
SVTH: Nguyễn Thị Chi
24
Lớp:K33D - SKTNN
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Dương Tiến Viện
rễ của nó lại phát triển nhanh cả về chiều sâu lẫn chiều ngang, các nốt sần trên rễ
được hình thành và phát triển, mở đầu cho hoạt động cố định đạm khí trời để cung
cấp cho cây. Đến thời kỳ cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa thì tốc độ sinh trưởng của cây
tăng lên nhanh. Đây chính là mẫu chốt để tạo ra thân cây to, mập, các đốt ngắn.
Giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, thời vụ và điều kiện ngoại cảnh.
Đây là giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây, giai đoạn này hình thành
kích thước và số lượng lá, số đốt, số hoa và quá trình phân hóa mầm hoa tích lũy
chất khô cho quá trình ra hoa tạo quả. Thời kỳ này yếu tố khí hậu như: nhiệt độ,
ánh sáng, độ ẩm đảm bảo cây sinh trưởng tốt cho số cành, số đốt hữu hiệu, năng
suất cao ngược lại. Vì thế cần chú ý khắc phục điều này bằng cách bố trí thời vụ
thích hợp.
Qua theo dõi thí nghiệm số liệu thu được bảng 4.2 cho thấy thời gian gieo
đến bắt đầu ra hoa của các giống tham gia thí nghiệm dao động từ (34 - 45 ngày),
trong đó giống Đ/C là giống có thời gian từ gieo đến ra hoa là cao nhất (45 ngày),
giống ĐT22 (36 ngày), giống ĐVN9 (38 ngày),giống DT02(35 ngày) và thấp nhất
là giống DT 96 (34 ngày).
4.2.4. Thời gian ra hoa:
Thời gian nở hoa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đặc tính di truyền của giống,
điều kiện môi trường, ngoài ra nó liên quan đến sự sinh trưởng phát triển của cây và
gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của đậu tương sau này.
Thời gian ra hoa mà ngắn, hoa ra tập trung thuận lợi cho quá trình chín, thu
hoạch sẽ tránh được sự gây hại của môi trường.
Thời gian ra hoa dài sẽ hạn chế được thiệt hại do thời tiết bất thuận lúc nở
hoa gây ra, những đợt ra hoa sau sẽ bù cho đợt ra hoa trước. Tuy nhiên nếu thời
gian nở hoa kéo dài, hoa nở không tập trung, dẫn đến quả chín rải rác, hạt chín
không đều gây khó khăn cho việc thu hoạch, dẫn đến năng suất không đảm bảo.
Ở thời kỳ này cây rất mẫn cảm với điều kiện thời tiết bất thuận: mưa to, gió
SVTH: Nguyễn Thị Chi
25
Lớp:K33D - SKTNN