KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây ngô (Zea mays L) thuộc họ chi Maydeae, họ hoà thảo Gramineae, có
nguồn gốc từ Trung Mỹ, là cây lương thực quan trọng đứng thứ ba trong nền
kinh tế của thế giới sau lúa mì và lúa gạo.
Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô
làm lương thực chính với phương thức rất đa dạng theo vùng địa lí và tập
quán từng nơi. Hơn nữa ngô còn là thức ăn xanh ủ chua lý tưởng của đại gia
súc, đặc biệt sữa bò. Gần đây ngô còn làm thực thẩm: người ta dùng bắp ngô
bao tử làm rau vì nó cung cấp hàm lượng dinh dưỡng cao. Vậy cây ngô không
chỉ cung cấp lương thực cho con người và phát triển chăn nuôi mà còn làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới. Hiện nay 66%
sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, trong đó
các nước phát triển là 76% và các nước đang phát triển là 57%. Tuy chỉ còn
21% sản lượng ngô được làm thực phẩm cho con người, nhưng nhiều nước
vẫn coi cây ngô là lương thực chính như: Mêxicô, Ấn Độ, Philipin. Ở Ấn Độ
có tới 99%, Philipin 66% sản lượng ngô được dùng làm lương thực cho con
người. Trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã có tới 800 sản
phẩm sản xuất từ ngô.
Chính nhờ những vai trò quan trọng của cây ngô trong nền kinh tế thế giới
mà diện tích trồng ngô tăng lên không ngừng ở khắp thế giới. Thích nghi với
các điều kiện khí hậu như: ôn đới, cận nhiệt đới, đến nhiệt đới thấp và nhiệt
đới cao. Năm 1987 diện tích trồng ngô chỉ đạt khoảng 127 triệu ha với tổng
sản lưưọng 475,4 triệu tấn. Đến năm 2005 diện tích trồng ngô đã đạt 145,1
triệu ha với tổng sản lượng 705,3 triệu tấn. Theo số liệu thống kê FAO 2006.
Trong nền kinh tế thế giới, ngô được xếp thứ nhất về năng suất, thứ hai về sản
lượng, thứ ba về diện tích.
Chíu Thúy Na
1
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Ở Việt Nam, trong khoảng 15 năm gần đây tỷ lệ diện tích trồng ngô lai
tăng lên hơn 80%, một tốc độ phát triển rất nhanh trong lịch sử ngô lai thế
giới. Ngô lai đã làm thay đổi tận gốc rễ những tập quán canh tác lạc hậu, góp
phần đưa nghề trồng ngô nước ta đứng trong hàng ngũ những nước tiên tiến
về sản xuất ngô ở Châu Á (Trần Hồng Uy) [6]. Năm 2000, diện tích trồng ngô
nước ta đạt 730.000 ha, năng suất 28 tạ/ha và sản lượng 2 triệu tấn, thì đến
năm 2005 diện tích trồng ngô đạt 1.039.000 ha, năng suất 35,5 tạ/ha và sản
lượng 3,69 (Nguyễn Sinh Cúc) [1]. Hiện nay phần lớn ngô được sử dụng làm
thức ăn cho chăn nuôi, chiếm khoảng 80% sản lượng ngô, một phần ngô được
dùng làm lương thực chính cho một số đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi,
đặc biệt là những vùng khó khăn, những vùng không có điều kiện trồng lúa
nước. Nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta rất lớn và ngày càng tăng, theo tính
toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì lượng ngô cần trồng
trong tương lai là từ 6 – 8 triệu tấn vào năm 2010. Do vậy Nhà nước ta đã có
chiến lược phát triển ngô trên phạm vi cả nước.
Vĩnh Phúc cũng là một trong những tỉnh mà cây ngô được coi là cây
lương thực chính để thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi và cũng là cây lương
thực quan trọng đối với đồng bào các huyện dân tộc thiểu số Tam Đảo, Ngọc
Thanh, … Diện tích toàn tỉnh biến động từ 14 – 16,5 ngàn ha, năng suất từ 36
– 42 tạ/ha, sản lượng từ 52- 60 ngàn tấn. Để nâng cao hơn nữa về năng suất
và sản lượng ngô của tỉnh cần phải chú trọng phát triển ngô lai, và mỗi giống
muốn phát huy tiềm năng năng suất, còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh
của địa phương. Tuy nhiên ở nước ta nói chung, Ngọc Thanh – Phúc Yên –
Vĩnh Phúc nói riêng năng suất chưa thật sự cao do các giống mới chưa được
phát triển rộng, cơ cấu bộ giống chưa được tốt, trong thành phần bộ giống đa
số là giống địa phương, các giống thụ phấn tự do cho năng suất không cao,
hơn nữa ở xã Ngọc Thanh - Vĩnh Phúc, sau vụ lúa Hè thu nông dân thường
Chíu Thúy Na
2
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
bỏ đất hoang do chưa bố trí được cây trồng hợp lý với vùng đất bạc màu . Do
vậy việc lựa chọn giống cũng là một khâu khá quan trọng, nếu lựa chọn được
cơ cấu giống thích hợp sẽ thuận lợi cho việc luân canh cây trồng, không ảnh
hưởng đến cơ cấu vụ sau và nâng cao hệ số sử dụng đất, nâng cao năng suất
và hiệu quả trên đơn vị diện tích. Trong thâm canh do ưu thế của ngô lai có
năng suất cao, nên việc sử dụng giống ngô lai đang trở thành tập quán của
nhiều vùng và nhu cầu ngô lai rất lớn. Nhưng trong sản xuất, các giống ngô
lai hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu của bà con nông dân. Vĩnh Phúc
cũng là một trong những tỉnh nằm trong thực trạng đó. Vì vậy việc nghiên
cứu, lựa chọn giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và
thích ứng với điều kiện ngoại cảnh địa phương là công việc rất cần thiết và
cấp bách:
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số giống ngô lai trong tập đoàn các giống ngô lai trồng
tại khu vực xã Ngọc Thanh – Phúc Yên – Vĩnh Phúc”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Tìm hiểu khả năng thích ứng của các giống ngô lai tại khu vực xã Ngọc
Thanh – Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
- Tuyển chọn một số giống có tiềm năng năng suất và khả năng thích ứng
góp phần làm phong phú thêm nguồn giống ngô lai cho địa phương.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
- Ý nghĩa khoa học: Giống là nhân tố quan trọng quyết định năng suất, chất
lượng sản phẩm của ngành trồng trọt. Việc nghiên cứu, xác định các giống
ngô lai có khả năng chịu hạn, cho năng suất cao sẽ khắc phục được tình trạng
suy giảm năng suất hiện nay tại Vĩnh Phúc do diễn biến thời tiết ngày càng
bất lợi cho sản xuất, nhất là hạn hán. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề
tài, các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật có cơ sở khoa học vững chắc để nghiên
cứu định hướng, qui hoạch phát triển và chỉ đạo sản xuất ngô trên địa bàn tỉnh.
Chíu Thúy Na
3
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
- Ý nghĩa thực tiễn: Xác định, tuyển chọn được một số giống ngô lai tốt, có
khả năng chịu hạn, cho năng suất cao phục vụ chương trình sản xuất ngô ở
Vĩnh Phúc
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng
vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn quĩ đất, góp phần xoá đói, giảm nghèo tăng
thu nhập cho các hộ nông dân, tạo sản phẩm hàng hoá và nguyên liệu ổn định
để phát triển ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc.
Chíu Thúy Na
4
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây ngô trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Trong thế kỷ XVI và XVII, người Châu Âu đã tiếp thu cây ngô từ người da
đỏ nhưng chưa có cơ sở đi xa hơn so với những gì mà người da đỏ làm được.
Đối với cây ngô những phát hiện quan trọng chủ yếu tập trung vào thế kỷ
XVIII.
Năm 1716, Cottin Matther là người đầu tiên nghiên cứu thí nghiệm về giới
tính của cây ngô. Ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại
Massachusettes.
Tám năm sau Matther, Paul, Dudly đã đưa ra nhận xét về giới của ngô và
cho rằng nó đã giúp ngô thực hiện quá trình thụ phấn. Năm 1876, Charles
Darwin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao phối và tự thụ phấn ở
nhiều loài khác nhau như: đậu đỗ, ngô, ông đã quan sát thấy sự hơn hẳn của
các cây giao phối với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy mầm của
hạt, số quả trên cây và sức chống chịu với các điều kiện bất thuận và năng
suất hạt.
Trong quá trình nghiên cứu về ngô, hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được
các nhà khoa học quan tâm rất sớm. Nhà nghiên cứu người Mỹ, Bill tiến hành
nghiên cứu từ năm 1876, ông đã thu được con lai có năng suất cao hơn bố mẹ
từ 10 – 15%. Năm 1909, Shull đã đưa ra ý kiến sản xuất hạt giống ngô lai F1
bằng lai đơn nhằm tạo ra sự đồng đều nhất, các dòng bố mẹ càng thuần
chủng, tạo ưu thế lai càng mạnh. Đầu năm 1917, Jones đã đề xuất sử dụng hạt
lai kép trong sản xuất để giảm giá thành hạt giống, tạo điều kiện cho cây ngô
phát triển mạnh ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến.
Chíu Thúy Na
5
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Năm 1966, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì Quốc tế (CYMMYT)
được thành lập tại Mêxicô, nhiệm vụ của trung tâm này là đưa ra giải pháp,
tạo giống ngô thụ phấn tự do làm bước chuyển tiếp giữa ngô địa phương và
ngô lai. Trong 30 năm hoạt động trung tâm đã đóng góp đáng kể vào việc xây
dựng, phát triển và cải thiện hoạt động vốn gen, quần thể và các giống ngô
cho 80 quốc gia trên thế giới.
Hiện nay diện tích trồng ngô lai trên thế giới ngày càng tăng, trong đó các
giống ngô lai đơn được sử dụng có ưu thế cao nhất, nhưng giá thành của hạt
giống cao, điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến diện tích trồng ngô lai. Để
khắc phục tình trạng này, các nhà chọn tạo giống ngô đã tiến hành tạo ra các
giống ngô lai ba, lai kép cho năng suất hạt giống cao, giá thành hạ ưu thế lai cao.
Có thể nói ngô lai là một trong những thành tựu khoa học nông nghiệp cực
kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới, nó đã làm thay đổi không những bức
tranh về ngô của quá khứ mà làm thay đổi cả quan niệm của các nhà hoạch
định chiến lược, các nhà quản lý kinh tế và với từng người dân. Ngô lai là
“một cuộc cách mạng xanh” của nửa thế kỷ 20, ngô lai đã tạo ra bước nhảy
vọt về sản lượng lương thực, sang thế kỷ 21 cây ngô sẽ là cây lương thực đầy
triển vọng trong chiến lược sản xuất lương thực và thực phẩm.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ngay từ những năm 1960 nước ta đã có những nghiên cứu về chọn tạo và
sử dụng giống ngô lai vào sản xuất. Nhưng do vật liệu khởi đầu của Việt Nam
còn quá nghèo nàn và không phù hợp cùng với cơ sở vật chất chưa đáp ứng
được một số khâu trong quá trình sản xuất giống ngô lai, vì vậy ngô lai đã
không phát triển được tiềm năng của nó. Mấy năm gần đây thì ngô mới chiếm
được vị thế của chính mình.
Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong
những năm qua Bộ Nông nghiệp và PTNN đã xét công nhận các giống ngô lai
Chíu Thúy Na
6
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
mới, các giống này đã phát huy hiệu quả trên đồng ruộng như: LVN9,
LVN22, LVN24, LVN99, HQ2000, VN89-1. Và nhiều tổ hợp lai mới có tiềm
năng năng suất hơn 10 tấn/ha đang được thử nghiệm: LVN14, LVN15,
SC148, VN885, SX2017, SX2004, . . . Điểm nổi bật đáng chú ý của hầu hết
các giống ngô lai mới trong giai đoạn này là có tiềm năng năng suất cao (1012 tấn), thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt, đặc biệt là chịu hạn, ít đổ
gẫy, chất lượng hạt tốt, thích ứng khá rộng, một số cho năng suất cao trên địa
bàn cả nước.
Việc sản xuất giống ngô lai quy ước đã được đặt trong hệ thống sản xuất
hạt giống ngô lai quốc gia, được chỉ đạo chặt chẽ, kiểm tra kỹ lưỡng để đảm
bảo chất lượng di truyền, chất lượng hạt giống theo tiêu chuẩn quốc gia và
quốc tế nhằm đảm bảo quyền lợi người nông dân và tăng cường sức cạnh
tranh trên thị trường. Chất lượng cao và giá bán là hai tiêu chuẩn hàng đầu để
có sức cạnh tranh. Viện nghiên cứu ngô Hà Nội chịu trách nhiệm cung cấp
giống bố mẹ đạt tiêu chuẩn quốc tế, cử chuyên gia hưóng dẫn chuyển giao
công nghệ và chịu trách nhiệm theo hợp đồng ký kết với các công ty giống
TW và địa phương. Vấn đề kiểm tra hạt giống lai đã được Bộ Nông nghiệp
và PTNN do cơ quan chịu trách nhiệm. Trong việc sử dụng giống ngô lai thì
tỷ lệ sử dụng giống ngô lai đơn sẽ đạt 60% trong tổng số giống ngô lai.
Đặc biệt đến năm 2001- 2005 Viện nghiên cứu đã áp dụng việc chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, các giống mới của Viện đều được người sản
xuất chấp nhận và mở rộng nhanh chóng. Viện nghiên cứu ngô đã trở thành
địa chỉ tin cậy của những người trồng ngô trong cả nước. Giống ngô của Viện
đang được trồng khoảng 60% diện tích trồng ngô của cả nước, góp phần tăng
nhanh diện tích, năng suất và sản lượng ngô nước ta trong thời gian qua. Năm
2000 diện tích ngô của cả nước là 730.200 ha, năng suất 27,5 tạ/ha và sản
lượng 2.005.900 tấn. Tỷ trọng ngô trong sản lượng lương thực từ 5,7% và
Chíu Thúy Na
7
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
tăng lên 9% vào năm 2005. Giống ngô của Viện không chỉ cạnh tranh được
với các giống của công ty nước ngoài, mà còn vươn ra thị trường các nước
như Lào, Campuchia, Banglades, Trung Quốc. Trong 5 năm qua, 2 giống ngô
của Viện (LVN- 4, LVN-23) đã đạt giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam
(VIOTEC); Huân chương lao động hạng nhất cho tập thể và cho cá nhân.
Kết quả khảo nghiệm trong 5 năm (2002-2007) đã xác định được giống
C.P333 đáp ứng được mục tiêu trên được đánh giá là giống có triển vọng, khả
năng thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vụ,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng hạn chế thiện hại do thiên tai gây ra. Giống
C.P333 đã được Cục trồng trọt công nhận cho sản xuất thử vào tháng 2 năm
2008. Trong vụ Xuân, vụ Hè thu và vụ Đông 2008, công ty TNHH hạt giống
C.P Việt Nam đã phối hợp với các địa phương trên toàn quốc tổ chức sản xuất
thử giống ngô lai C.P333 với diện tích 260,2 ha. Kết quả thu được đạt năng
suất khá cao và ổn định.
Định hướng giai đoạn 2006- 2010, công tác chuyển giao TBKT về cây ngô
trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận song vẫn còn
nhiều vấn đề đặt ra khi nước ta trở thành thành viên của WTO. Năng suất ngô
của nước ta còn thấp so với trung bình thế giới, năng suất thực tế thấp hơn
năng suất luỹ thuyết. Bộ giống do Viện chọn tạo ở phía Bắc đã có thể cạnh
tranh được với giống của các công ty nước ngoài, nhưng do phía Nam còn
thiếu; ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống đã đạt được kết quả
bước đầu, song vẫn còn tụt hậu so với những thành tựu mà thế giới đã đạt
được kể cả trong sử dụng chỉ thị phân tử và Bộ Nông nghiệp và PTNN đề ra,
định hướng chính của Viện trong giai đoạn 2006- 2010 là:
- Chọn tạo các giống có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt, chất
lượng tốt, năng suất cao ổn định cho các vùng sinh thái chính.
- Chọn tạo các giống ngô năng suất 10- 13 tấn cho các vùng chuyên canh
ngô lớn.
Chíu Thúy Na
8
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
- Chọn tạo các giống ngô thực phẩm có năng suất và chất lượng cao.
- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm tăng hiệu quả sản xuất
và bảo vệ môi trường sinh thái.
Để đạt được mục tiêu trên Viện cần tiếp tục phát triển tiềm lực của mình
thông qua hoạt động của công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển ngô và sớm thực
hiện nghị định 115 của chính phủ, đồng thời tranh thủ nguồn đầu tư của nhà
nước cho công tác đào tạo nhân lực, đầu tư trang thiết bị, phát triển các điểm
chọn tạo giống mới, đa đạng hoá hình thức chuyển giao TBKT, đặc biệt chú ý
đến kết hợp với các địa phương nhằm phát triển nhanh các kết quả nghiên cứu
ra sản xuất một cách hiệu quả .
1.2. Vai trò của cây ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Vai trò trên thế giới
Sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, đặc
biệt hơn 40 năm gần đây nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai, kỹ thuật nông học
tiên tiến và những thành tựu của các ngành khoa học khác như: công nghệ
sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hoá, công nghệ tin học,…
vào sản xuất. Ngô là cây phân bố vào loại rộng rãi nhất trên thế giới. Mức
tăng trưởng bình quân hàng năm của cây ngô trên toàn thế giới về mặt diện
tích là 0,7%, năng suất là 2,4% và sản lượng là 3,1%. Tuy nhiên diện tích,
năng suất, sản lượng ngô giữa các châu lục trên thế giới có sự chênh lệch
tương đối lớn được thể hiện ở bảng 1.1
Chíu Thúy Na
9
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô của một số khu vực trên thế giới giai
đoạn 2009 – 2010
Khu vực
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2009
2010
2009
2010
2009
2010
Châu Âu
13,6
13,9
56,9
49,2
77,3
68,6
Châu Á
47,5
48,8
42,8
43,7
203,3
213
Châu Mỹ
54,3
66,1
64,3
68,3
368,5
451,5
Thế giới
146,7
157,9
47,7
49,7
699,3
784,8
Nguồn: FAOSTAT, 2010
Qua bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng ngô giữa các châu lục có sự chênh
lệch nhau trong đó Châu Mỹ là khu vực có diện tích trồng ngô lớn nhất, năm
2009 là 57,3 triệu ha đến năm 2010 là 66,1 triệu ha, chiếm khoảng 39,06 –
41,86% diện tích trồng ngô toàn thế giới. Đứng vị trí thứ hai là khu vực Châu
Á chiếm khoảng 30,90 – 32,38% diện tích trồng ngô trên thế giới, Châu Âu là
khu vực có diện tích trồng ngô thấp, chiếm khoảng 8,80 – 9,27% . Diện tích
trồng ngô của các khu vực trên thế giới biến động giữa các năm không đáng kể.
Châu Mỹ có năng suất cao nhất đạt 68,3% tạ/ha, đứng thứ hai là khu vực
Châu Âu: 56,9 tạ/ha vầ thấp nhất là Châu Á: 43,7 tạ/ha (năm 2010). Sở dĩ
Châu Á có năng suất thấp chủ yếu là do khu vực này có điều kiện thời tiết bất
thuận như: hạn hán, lũ lụt, biện pháp kỹ thuật chưa hợp.
Châu Mỹ là khu vực dẫn đầu về sản lượng ngô trên toàn thế giới, năm 2009
đạt 368,5 triệu tấn, chiếm 52,70% tổng sản lượng ngô trên toàn thế giới, đứng
thứ hai là khu vực Châu Á đạt 203,3 triệu tấn, chiếm 29,07% tổng sản lượng
ngô thế giới, năm 2010 khu vực Châu Mỹ đạt 451,5 triệu tấn (FAOSTAT,
2010) [14], chiếm 57,53% tổng sản lượng ngô toàn thế giới, Châu Á đạt 213
triệu tấn, chiếm 25,19% tổng sản lượng ngô toàn thế giới. Ở các nước có nền
kinh tế phát triển, có điều kiện thâm canh và sử dụng giống có ưu thế lai nên
Chíu Thúy Na
10
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
năng suất cao, còn những nước nghèo đang phát triển do điều kiện kinh tế khó
khăn và đầu tư thấp, chủ yếu sử dụng giống thụ phấn tự do nên năng suất sản
lượng thấp (FAOSTAT, 2010) [14]
Theo số liệu (FAOSTAT, 2010) hơn 40 năm qua, nghề sản xuất ngô phát
triển đáng kể, tăng nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng.
Theo bảng 1.2: Năm 2007, diện tích ngô trên thế giới đạt 157,9, năng suất
ngô trung bình đạt 6,0 tấn/ha, đến năm 2010, đạt diện tích 197,9 triệu ha, năng
suất 5,9 ttấn/ha và sản lượng 884,8 triệu tấn.
Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo
giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc
biêt, từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai
việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác đã góp phần đưa sản lượng ngô
thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Với 52% diện tích trồng bằng giống
được tạo ra bằng công nghệ sinh học. Năm 2010, diện tích trồng ngô chuyển
gen trên thế giới đạt 35,2 triệu ha, trong đó Mỹ 27,4 triệu ha diện tích trồng
ngô chuyển gen, chiếm 73% diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới
(GMO,COMPASS).
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới 2007 – 2010
Năm
D.tích (triệu ha)
N.suất (tấn/ha)
S.lượng (triệu tấn)
2007
157,9
6,0
827,4
2008
157,5
5,9
812,9
2009
157,4
5,8
795,2
2010
197,9
5,9
884,8
Nguồn: FAOSTAT, 2010[14]
Tình hình xuất nhập khẩu ngô thế giới
Hàng năm, có khoảng 11,5% tổng sản lượng ngô được lưu thông trên thị
trường thế giới, với giá bình quân trên dưới 140 USD/tấn. Xuất khẩu ngô đem
lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như: Mỹ, Trung Quốc,
Chíu Thúy Na
11
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Argentina, Hungari… (Ngô Hữu Tình, 2010) [5]. Sản lượng ngô xuất khẩu
trên thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu tấn, riêng Mỹ xuất
khẩu khoảng 48,6 triệu tấn, chiếm 64,41% tổng sản lượng, Argentina 9,5 triệu
tấn . . . ngược lại, các nước nhập khẩu ngô chủ yếu là Châu Á: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan, Malaixia, . . . với số lượng rất lớn khoảng 30 triệu tấn. Các
nước Đông Nam Á cũng đang có xu hướng tăng nhập khẩu ngô.
()
Tình hình sử dụng ngô lai trên thế giới
Ngô có vai trò rất lớn trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, thức ăn
chăn nuôi, nguyên liệu chế biến và là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn lợi
rất lớn. Với sức ép của việc gia tăng dân số (khoảng trên 8 tỉ người trên trái
đất hiện nay) làm cho diện tích trồng trọt giảm vì vậy để đảm bảo nhu cầu sử
dụng ngô của xã hội cần tăng năng suất cây trồng, ngô lai đã đáp ứng được
yêu cầu này. Do đó phát triển các giống ngô lai mới có năng suất, chất lượng
cao và khả năng chống chịu tốt trong sản xuất là xu thế chung và tất yếu của
toàn thế giới trong thế kỷ XXI.
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, ngô là cây trồng nhập ngoại mới được đưa vào Việt Nam
khoảng 300 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng
quan trọng trong hệ thống cây lương thực. Do có khả năng thích ứng rộng nên
diện tích ngô được mở rộng nhanh chóng, cây ngô đã khẳng định vị trí trong
sản xuất nông nghiệp, đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng kể trong
việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam.
Những năm trước đây do chưa được quan tâm, chú trọng phát triển nên cây
ngô chưa phát huy được tiềm năng của nó. Theo thống kê năng suất ngô Việt
Nam những năm 2007 chỉ đạt 25,1 tạ/ha, sản lượng 2005,9 nghìn tấn. Đến
năm 2010, năng suất đã đạt 39,6 tạ/ha và sản lượng hơn 400 nghìn tấn, sản
Chíu Thúy Na
12
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
xuất ngô ở thời điểm này phát triển rất nhanh so với những năm trước đây là
nhờ sự hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CYMMYT),
nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng
năng suất lên gần 1,9 tấn/ha vào những năm 2008 đến nay, do không ngừng
mở rộng giống ngô lai sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật
canh tác theo đòi hỏi của giống mới. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2010 được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Năm
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(1000 ha)
(tạ/ha)
(1000 tấn)
2006
534,6
21,4
1143,9
2007
730,2
25,1
2005,9
2008
1052,6
36,0
3787,1
2009
1031,6
37,0
3819,4
2010
1072,8
39,6
4250,9
Nguồn: (Tổng cục thống kê, 2010)
Trong giai đoạn 2006 – 2010 sản xuất ngô ở Việt Nam đã có chuyển biến
rõ rệt về diện tích, năng suất, sản lượng.
Qua bảng 1.3 cho thấy: năm 2006, diện tích trồng ngô ở nước ta là 544.600
ha với tỉ lệ giống lai chưa đến 1% nhưng đến năm 2010 diện tích đạt
1.072.800 ha trong đó diện tích trồng ngô lai đã chiếm khoảng 95%. Năng
suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới
trong suốt những năm qua. Năm 2010 đã đạt 81,0%, sản lượng ngô Việt Nam
năm 2010 đã đạt sản lượng cao nhất từ trước đến nay 4,3 triệu tấn. Có thể nói
tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam rất nhanh so với lịch sử phát triển ngô lai
thế giới. Đây là bước tiến vượt bậc so với một số nước trong vùng, kết quả
này được CYMMYT và nhiều nước đánh giá cao. Hiện nay có nhiều tỉnh diện
Chíu Thúy Na
13
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
tích trồng ngô lai đạt gần 100% như: Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Bà Rịa
– Vũng Tàu, Sơn La, Hà Tây, Vĩnh Phúc. . .
Ở nước ta ngô được trồng khắp các vùng trong cả nước với nhiều vụ khác
nhau, sản xuất phụ thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu của từng vùng.
Theo Tổng cục thống kê, năm 2008, sản xuất ngô ở Việt Nam được chia
thành 8 vùng trồng ngô chính như sau:
Vùng Đông Bắc: Diện tích khoảng 236 nghìn ha, vụ chính là vụ Xuân,
gieo tháng 2, 3.
Vùng Tây Bắc: Diện tích khoảng 172 nghìn ha, chính là vụ Hè Thu, tháng
4, 5.
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Diện tích khoảng 84,7 nghìn ha,chính là vụ
Xuân, tháng 2, vụ Thu tháng 8, vụ Đông tháng 9,10.
Vùng Bắc Trung Bộ: Diện tích khoảng 137,3 nghìn ha, chính là vụ Xuân
tháng 1, 2, vụ Đông tháng 10.
Vùng Tây Nguyên: Diện tích 233,4 nghìn ha, chính là Hè Thu tháng 4, đầu
tháng 5.
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: Diện tích khoảng 42,1 nghìn ha, chính
là vụ Hè Thu tháng 4, vụ Đông tháng 11, 12.
Vùng Đông Nam Bộ : Diện tích 126,1 nghìn ha, chính là vụ Hè Thu tháng
4, vụ Đông tháng 11, 12.
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: Diện tích 36,3 nghìn ha, chính là vụ
Đông tháng 11, 12.
Ở mỗi vùng trồng ngô có đặc điểm về địa hình, đất đai, điều kiện khí hậu.
Các vùng miền núi, chủ yếu trồng ngô trên đất đồi, đất ruộng luân canh, nơi
địa hình không bằng phẳng do vậy sản xuất ngô còn gặp nhiều khó khăn. Tình
hình sản xuất ngô tại các vùng miền núi phía Bắc được thể hiện qua bảng 1.4.
Chíu Thúy Na
14
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh miền núi
phía Bắc giai đoạn 2008 – 2010
Tỉnh
Diện tích (1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
2008
2009
2010
2008
2009
2010
2008
2009
2010
Hà Giang
44,0
43,3
43,6
21,0
20,8
22,5
92,6
90,7
93,8
Cao Bằng
35,2
35,4
37,2
37,3
22,7
24,2
96,1
80,3
90,1
Bắc Kạn
14,6
14,2
16,1
27,3
24,9
33,7
39,8
35,3
54,3
Lào Cai
24,7
25,1
26,6
26,2
26,3
28,5
64,6
65,9
75,7
Thái nguêyn
15,9
15,3
17,8
34,7
35,2
42,1
55,1
53,9
74,9
Lạng Sơn
18,4
17,7
19,1
43,4
39,7
44,9
79,8
70,2
85,8
Phú Thọ
20,3
18,0
21,6
36,8
36,6
38,1
74,8
65,8
82,3
Sơn La
80,9
82,4
92,7
28,2
32,6
35,2
228,0
269,0
326,4
Lai Châu
16,0
17,4
18,3
18,1
18,9
19,1
28,9
32,1
35,0
Hoà Bình
33,8
32,2
33,7
28,7
33,4
36,7
96,9
107,5
123,6
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2010)[10]
Qua bảng 1.4 cho thấy: Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình, Sơn La là
các tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất khu vực, trong đó Sơn La có diện tích
tăng nhanh từ 80,9 nghìn ha (năm 2008) lên 92,7 nghìn ha (năm 2010). Hà
Giang là tỉnh có diện tích trồng ngô thứ hai: 44,0 nghìn ha (năm 2008). Tỉnh
có diện tích trồng ngô thấp nhất là Bắc Kạn chỉ có 14,2 nghìn ha (năm 2009).
Nhìn chung diện tích trồng ngô các tỉnh đều chậm.
Mặc dù các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình có diện tích trồng
ngô lớn nhưng năng suất không cao. Năng suất ngô cao nhất là Lạng Sơn đạt
44,9 tạ/ha, Thái Nguyên đạt 42,1 tạ/ha (năm 2010), Phú Thọ 38,1 tạ/ha. Năng
suất ngô thấp nhất là Lai Châu đạt 19,1 tạ/ha (năm 2010).
Một số tỉnh có sản lượng ngô lớn như: Sơn La, Hoà Bình, Hà Giang, Cao
Bằng (năm 2010) (Tổng cục thống kê, 2010)
Hiện nay các giống ngô được sử dụng chủ yếu trong sản xuất ở các tỉnh
miền núi là giống địa phương, giống thụ phấn tự do, giống lai. Tuy nhiên diện
Chíu Thúy Na
15
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
tích trồng giống ngô lai còn rất ít và đang dần được mở rộng nhờ các chính
sách quan tâm, ưu đãi của nhà nước. Định hướng phát triển ngô ở các tỉnh
trong cả nước trong thời gian tới là qui hoạch lại vùng trồng ngô lai, vùng
trồng giống ngô thụ phấn tự do cải tiến phù hợp với các điều kiện của
từng địa phương.
Mặc dù có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng sản xuất ngô ở Việt
Nam nhưng từ những kết quả đã đạt được chúng ta vẫn có thể khẳng định sản
xuất ngô của Việt Nam trong giai đoạn trong những năm 1985 -2010 đã có sự
phát triển vượt bậc. Do Đảng, Chính phủ, Bộ NN và PTNN đã thấy được vai
trò của cây ngô trong nền kinh tế, kịp thời đưa ra những chính sách, chương
trình và biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích nghiên cứu nghiên cứu khoa
học – kỹ thuật mở rộng sản xuất. Ngoài ra các nhà khoa học đã đưa nhanh
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt về giống mới vào sản xuất.
Chíu Thúy Na
16
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1: Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng thí nghiệm được bố trí gồm 8 giống ngô lai (C-919, HN-45, NK6236, LVN-66, LVN-99,KK-144, BB-1, BB-2) của Viện nghiên cứu ngô và 1
giống đối chứng (NK-66).
* Đặc điểm nông sinh học của giống đối chứng NK-66.
Giống NK-66, được công nhận năm 2005, được sử dụng phổ biến ở các
tỉnh phía Bắc. Thời gian sinh trưởng ở miền Bắc vụ Xuân 110 – 120 ngày, vụ
Thu Đông 110 – 115 ngày. Chiều cao cây 200 – 220 cm, chiều cao đóng bắp
90 – 100 cm, năng suất trung bình 80 – 90 tạ/ha. Chịu rét, chống đổ tốt, nhiễm
sâu bệnh nhẹ.
Bảng 2.5 .Nguồn gốc các giống ngô thí nghiệm vụ Thu Đông
tại Vĩnh Phúc năm 2010
STT
Tên giống lai
Đặc điểm ngô lai
Cơ quan
1
BB-1
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
2
BB-2
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
3
C-919
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
4
HN-45
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
5
NK-6236
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
6
LVN-66
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
7
LVN-99
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
8
KK-144
Lai đơn(AB)
Viện nghiên cứu ngô
9
NK-66(Đ/C)
Lai đơn(AB)
Công ty Syngenta
Chíu Thúy Na
17
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vụ Đông từ ngày 27/09/2010 – 29/01/2011.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tại các địa điểm thuộc khu vực Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
2.3. Nội dung, phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD –
Randomized Complete Block Design) (Đỗ Ngọc Oanh và cộng sự, năm
2004)[4]. Thí nghiệm được tiến hành với 3 lần nhắc lại, diện tích ô 14 m2 (dài
5 m, rộng 2,8 m), hàng cách hàng 60 cm, cây cách cây 25 cm, mật độ khoảng
32.000 cây/ha.
2.3.2. Đất làm thí nghiệm, thời vụ và quy trình kỹ thuật chăm sóc
2.3.2.1. Đất làm thí nghiệm
Chúng tôi chọn đất làm thí nghiệm là đất cát pha thịt có thành phần cơ giới
nhẹ, có độ pH = 5,5 - 6,5 hàm lượng N, P, K dễ tiêu, nghèo. Đất hai vụ lúa và
chủ động tưới tiêu.
2.3.2.2. Thời vụ
Thí nghiệm được tiến hành vào vụ Đông 2010. Thời gian gieo từ ngày
27/09/2010.
2.3.2.3. Quy trình và kỹ thuật áp dụng
Theo quy trình của Viện nghiên cứu ngô và (Qui phạm khảo nghiệm giống
ngô quốc gia 10 TCL 14, 2005)[6].
2.3.2.4.Phân bón
+ Phân hữu cơ: Phân vi sinh 2,0 tấn/ha.
+ Phân vô cơ: 150N : 90 P2O5 : 90 K2O.
Tương đương với lượng phân: Đạm urê : 321,89 kg/ha
Supe lân : 527,14 kg/ha
Chíu Thúy Na
18
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Kaliclorua : 150kg/ha
2.3.2.5. Phương pháp bón
+ Bón lót: 100% phân vi sinh và 100% phân lân supe
+ Bón thúc: chia làm 3 lần.
Lần 1: Bón với lượng là 1/3 N + 1/4 K2O, khi cây có 3 - > 5 lá, kết hợp
vun đất chân cho ngô.
Lần 2: Bón với lượng là 1/3 N + 1/2 K2O và bón khi cây có 7 - > 9 lá, kết
hợp vun cao thành luống.
Lần 3: Bón trước trỗ cờ 10 - >15 ngày ( lúc ngô xoáy nõn), bón nốt lượng
còn lại.
2.3.2.6. Chăm sóc
+ Theo dõi, phòng từ sâu bệnh, tiến hành diệt trừ khi sâu bệnh phát triển rộ
trên đồng ruộng.
+ Mọc từ 3 lá: Kiểm tra đồng ruộng, gặp mưa xới nhẹ.
+ Khi ngô có 3 – 5 lá: Tiến hành tỉa định cây kết hợp với xới váng, nhỏ cỏ
đồng thời bón thúc lần 1.
+ Khi ngô 7 – 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc chống đổ.
+ Trước trỗ 10 – 15 ngày: Bón thúc lần cuối.
+ Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô, đặc biệt vào các thời kỳ ngô 6 –
7 lá, ngô xoáy nõn (trước khi trỗ cờ 10 – 15 ngày), kết thúc thụ phấn đến chín
sữa (sau khi trỗ cờ 10 – 15 ngày).
2.3.2.7. Thu hoạch:
Khi thân lá và lá bị chuyển sang màu vàng, chân hạt hình thành sẹo đen.
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu
- Để thu thập các số liệu liên quan đến các đặc điểm nông sinh học và các
yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai chúng tôi đã tiến hành quan
Chíu Thúy Na
19
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
sát, đo đạc trực tiếp đến các ruộng. Số liệu được ghi lại trực tiếp trên sổ theo
dõi hàng tuần trên ruộng thí nghiệm, 1 tuần theo dõi 1 lần.
- Các chỉ tiêu được đánh giá theo tiêu chuẩn của trung tâm nghiên cứu ngô
quốc tế CYMMYT.
2.3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu, được áp dụng theo hướng dẫn của
(CYMMYT, 1995) [1]. Viện nghiên cứu ngô, (Qui phạm khảo nghiệm giống
ngô quốc gia 10 TCL 14, 2005) [3]. Mỗi ô thí nghiệm trồng 4 hàng, tất cả các
chỉ tiêu theo dõi trên 2 hàng giữa.
2.3.4.1. Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Ngày trỗ cờ: được tính từ gieo đến khi có 50% số cây/ô xuất hiện nhánh
cuối cùng của bông cờ.
- Ngày tung phấn: được tính từ gieo đến khi có 50% số cây/ô đã tung phấn.
- Ngày phun râu: được tính từ gieo đến khi có 50% số cây/ô có râu dài ra
ngoài lá bi 2- 3 cm.
- Ngày chín sinh lý: ghi số ngày từ khi gieo đến khi có 70% số bắp/ô có
chân hạt đen.
2.3.4.2. Chỉ tiêu về hình thái
- Chiều cao cây (cm): đo từ sát mặt đất đến điểm phân nhánh bông cờ đầu
tiên (đo 10 cây/ô).
- Chiều cao đóng bắp (cm): đo từ sát mặt đất đến đốt mang bắp trên cùng
(10 cây mẫu/ô cùng cây đo chiều cao).
- Đo chiều cao cây và chiều cao đóng bắp: Sau phun râu 2 tuần.
- Số lá/cây: Đếm tổng số lá trong thời gian sinh trưởng, để xác định chính
xác đánh dấu các lá 3, 6, 10 của cây/ô.
- Chỉ số diện tích lá: Theo dõi 5 cây/hàng ở từng công thức với 3 lần nhắc
lại, tiến hành đo ở thời kỳ chín sữa. Đo chiều dài từ gốc lá đến đỉnh lá, chiều
Chíu Thúy Na
20
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
rộng ở phần rộng nhất của phiến lá. Đo tất cả các lá còn xanh ở trên cây sau
đó áp dụng công thức tính diện tích lá:
Diện tích lá (m2)
= Dài rộng 0,75
CSDTL (m2 lá/m2 đất) = DTL/cây số cây/m2
- Tốc độ tăng trưởng của cây:
+ Tiến hành đo chiều cao cây sau trồng 20 ngày, đo 5 lần, khoảng cách
giữa các lần đo là 10 ngày.
+ Cách đo: Đo từ mặt đất đến mút lá (đo 10 cây/ô).
+ Cách tính:
. Tốc độ tăng trưởng sau 10 ngày =
h1
t1
h1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày
t1: Thời gian đến đo lần 1 (20 ngày)
.Tốc độ tăng trưởng sau trồng 30 ngày =
h2 h1
t2 t1
h2: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày
t2: Thời gian gieo đến đo lần 2 (30 ngày).
.Tốc độ tăng trưởng sau trồng 40 ,50, 60 ngày tính tương tự như sau
trồng 30 ngày.
- Trạng thái cây: xác định khi lá cây còn xanh, bắp đã phát triển đầy đủ, căn
cứ về độ đồng đều chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, tỷ lệ đổ gãy, thiệt hại
do côn trùng theo thang điểm: 1 – 5 (điểm 1 tốt nhất điểm 5 xấu).
- Trạng thái bắp: Sau khi thu hoạch, trước khi lấy mẫu tiến hành đánh giá
căn cứ vào hình dạng bắp, kích thước bắp, tình trạng sâu bệnh của bắp theo
thang điểm: 1 – 5 (điểm 1 bắp đồng đều, điểm 5 bắp kém).
- Độ bao bắp: đánh giá trước khi thu hoạch 1 - 2 tuần theo thang điểm 1 - 5.
+ Điểm 1: Rất tốt, lá bi che kín đầu bắp và kéo dài khỏi bắp.
Chíu Thúy Na
21
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
+ Điểm 2: Tốt, lá bi dài che kín đầu bắp.
+ Điểm 3: Trung bình, lá bi không che kín đầu bắp, hở đầu bắp.
+ Điểm 4: Lá bi không che kín đầu bắp, hở hạt.
+ Điểm 5: Bao bắp rất kém, hở hạt nhiều.
2.3.4.3. Chỉ tiêu về tính chống chịu
- Đổ rễ (%): ghi số cây nghiêng 1 góc 30o so với chiều thẳng đứng của
cây, theo dõi vào thời kỳ cuối thu hoạch.
- Gãy thân (Điểm): Theo dõi vào thời kỳ cuối (trước thu hoạch), ghi chỉ số
cây gãy dưới bắp.
Tốt: < 5 % cây gãy
1
Khá: 5 – 15 % cây gãy
2
Trung bình: 16 – 30 % cây gãy 3
Kém: 31 – 50 % cây gãy
4
Rất kém: > 51 % cây gãy
5
2.3.4.4. Chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh
- Sâu đục thân Ostrinia nubilalis: Tính (%) số cây bị sâu đục thân dưới bắp
(đếm số lỗ đục thân trên cây) vào thời kỳ trước và sau trỗ cờ (chủ yếu là sau
trỗ)
< 5 % số cây, số bắp bị sâu
1
5 -< 15 % số cây, bắp bị sâu
2
15 - < 25 % số cây, bắp bị sâu
3
25 - < 35 % số cây, bắp bị sâu
4
35 - < 50 % số cây, bắp bị sâu
5
- Rệp cờ: Tính (%) số cây bị hại/ô, chủ yếu theo dõi vào giai đoạn trỗ cờ.
- Bệnh khô vằn Rhizoctonia solani f. sp. Sasakii (%): tính % số cây bị
hại/ô, theo dõi vào thời kỳ trỗ cờ.
Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) 100
Chíu Thúy Na
22
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
2.3.4.5. Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất
- Đếm tổng số cây, tổng số bắp, cân khối lượng bắp của 2 hàng thu hoạch
(kg).
Số bắp/cây =
Tổng số bắp của hai hàng giữa
Tổng số cây của hai hàng giữa
- Cân khối lượng bắp, cân khối lượng hạt của 10 bắp mẫu (kg).
- Chiều dài bắp (cm): được đo ở phần bắp có hàng hạt dài nhất.
- Đường kính bắp (cm): được đo ở phần giữa bắp.
- Số hàng trên bắp: một hàng được tính khi có 50 % số hạt so với hàng dài
nhất.
- Số hạt trên hàng: được đếm theo hàng hạt có chiều dài trung bình trên bắp
(các chỉ tiêu chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng/bắp, số hạt/hàng được
xác định trên 10 bắp mẫu).
- Khối lượng 1000 hạt (gam) ở độ ẩm thu hoạch đếm 2 mẫu, mỗi mẫu đếm
500 hạt, cân khối lượng của 2 mẫu được M1, M2 nếu hiệu số giữa 2 lần cân
(mẫu nặng trừ mẫu nhẹ) không chênh lệch quá 5% so với khối lượng trung
bình của 2 mẫu thì P1000 hạt = M1 + M2.
- Khối lượng 1000 hạt ở độ ẩm bảo quản (14%).
M1000 (14%) =
Mhạt tươi x (100 - A0)
100 - 14
- Độ ẩm hạt khi thu hoạch (A0) được đo bằng máy đo độ ẩm Kett 400 của
Nhật Bản.
- Năng suất lý thuyết:
NSLT (tạ/ha) =
Số cây/m2 x số bắp/cây x số hàng/bắp x số hạt/hàng x M100
10,000
M1000: khối lượng 1000 hạt (g)
Chíu Thúy Na
23
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
- Năng suất thực thu:
NSTT (tạ/ha) =
Tỉ lệ hạt/bắp x Mô tươi x (100 - A0) X 100
Sô x (100 - 14)
Tỉ lệ hạt/bắp (%) =
Mhạt 10 bắp
M10 bắp
x 100
Trong đó:
A0
: Ẩm độ khi thu hoạch
14% : Ẩm độ khi bảo quản
M1000 : Khối lượng 1000 ở ẩm độ 14%
Mô tươi : Khối lượng bắp của ô thí nghiệm
M10 bắp: Khối lượng 10 bắp thí nghiệm
Sô
: Diện tích ô thí nghiệm (14m2)
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu được đều đem xử lí thống kê toán học bao gồm các thông
số sau:
+ Số trung bình: ( )
=
i
n
: giá trị trung bình
Xi: các biến số
n: dung lượng mẫu (n = 30)
+ Độ lệch chuẩn
Chíu Thúy Na
24
Lớp: K33B - Sinh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
( X
δ=
i
X )2
n
+ Sai số trung bình
m=
n
+ Hệ số biến động
Cv% =
. 100%
- Các chỉ số chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, chỉ tiêu sâu bệnh
. . . Được xử lý trên bảng tính Excel
Chíu Thúy Na
25
Lớp: K33B - Sinh