Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Quan hệ kinh tế hàn quốc hoa kì từ năm 1991 đến năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (854.87 KB, 91 trang )

Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ThS. Nguyễn Thị Nga – người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này cũng như học tập tại
trường em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy
cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo
trong khoa Lịch Sử, cùng với sự động viên của gia đình, bạn bè. Em xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời
gian và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không tránh khỏi
những thiếu sót khi hoàn thành khóa luận. Vì vậy, em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài của em được hoàn
thiện hơn.

Hà Nội, ngày tháng
Sinh viên

năm 2012

Nguyễn Thị Hải Yến

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
1


Khóa luận tốt nghiệp



Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS.
Nguyễn Thị Nga, tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng
Sinh viên

năm 2012

Nguyễn Thị Hải Yến

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
2


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. QUAN HỆ KINH TẾ HÀN QUỐC – HOA KÌ

TRƢỚC NĂM 1991............................................................................................
1.1.

Điều kiện phát triển quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì .........................

1.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ hai .................
1.1.2. Bối cảnh bán đảo Triều Tiên .....................................................................
1.1.3. Những động cơ chính trị và kinh tế cho sự hình thành quan hệ kinh tế
Hàn Quốc – Hoa Kì..............................................................................................
1.2.

Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trước năm 1991 ..............................

1.2.1. Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trước năm 1948 ..............................
1.2.2. Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ năm 1948 đến năm 1991............
1.3.

Đánh giá về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trước năm 1991 ...........

CHƢƠNG 2. QUAN HỆ KINH TẾ HÀN QUỐC – HOA KÌ TỪ NĂM
1991
ĐẾN NĂM 2010 ..................................................................................................
2.1. Những điều kiện mới cho quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì ...................
2.1.1. Sự thay đổi của tình hình kinh tế thế giới sau Chiến tranh lạnh và
tác động của Toàn cầu hóa, khu vực hóa ............................................................
2.1.2. Sự điều chỉnh chiến lược kinh tế của Hoa Kì ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương và chính sách ngoại giao của Hàn Quốc ................................
2.2. Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ năm 1991 đến năm 2010 ...............
2.2.1. Quan hệ thương mại Hàn Quốc – Hoa Kì .................................................
2.2.2. Quan hệ đầu tư Hoa Kì – Hàn Quốc .........................................................

2.2.3. Quan hệ hợp tác khoa học công nghệ Hàn Quốc – Hoa Kì ......................
2.3. Đánh giá về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ 1991 đến 2010 ..........
Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
3


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.4. Triển vọng của quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì ....................................
KẾT LUẬN .........................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................
PHỤ LỤC ............................................................................................................

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
4


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
AID

APEC

Agency for International


Cơ quan vì sự phát triển

Development

quốc tế

Asia – Pacific Economic

Diễn đàn hợp tác châu Á

Cooperation

– Thái Bình Dương

ASEAN Association of South – East

Hiệp hội các nước Đông

Asian Nation

Nam Á

ASEM

Asia – Europe Meeting

Diễn đàn hợp tác Á – Âu

ECA


The Economic Cooperation

Tổ chức điều hành hợp tác

Adiministration

kinh tế

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước

FDI

ngoài
FTA

Fee Trade Agreenment

Hiệp định thương mại tự
do

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm trong

GNP


Gross National Product

nước

IMF

International Monetary Fund

Tổng sản phẩm quốc dân

NATO

North Atlantic Treaty

Quỹ tiền tệ quốc tế

Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc

Newly Industrialized

Đại Tây Dương

Economies

Các nền kinh tế mới công

Oganization for Economic


nghiệp hóa

Cooperation and

Tổ chức hợp tác và phát

Development

triển kinh tế

NIEs

OCED

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
5


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi vấn đề hội nhập, hợp tác giữa các
nước và khu vực, những vấn đề quốc tế hóa và toàn cầu hóa đã và đang tác
động ngày càng sâu sắc đến quan hệ quốc tế, thì sự phát triển của một nước,
một khu vực lại không thể không có sự hợp tác với bên ngoài. Toàn cầu hóa
hiện nay là một xu thế tất yếu, nó đòi hỏi các nước phải hợp tác với nhau chặt
chẽ hơn để cùng phát triển.

Hoa Kì là một siêu cường trên thế giới và là một chủ thể rất quan trọng
trong quan hệ quốc tế, chi phối hầu hết những mối quan hệ của các nước và
khu vực. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Hoa Kì là một nước
thắng trận và đã bành trướng thế lực của mình ra khắp thế giới, trong đó điển
hình là khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Nằm trong lòng chảo Thái Bình Dương, là nơi quy tụ bốn cường quốc:
Hoa Kì, Nga, Trung Quốc và Nhật Bản, Bán đảo Triều Tiên nói chung và Hàn
Quốc nói riêng luôn chịu sự chi phối của quan hệ giữa các nước lớn với nhau.
Hàn Quốc là quốc gia thành lập vào năm 1948, sau khi chiến tranh Triều Tiên
kết thúc (1953), Hàn Quốc bị tàn phá nặng nề, bên cạnh đó lại là một nước
nghèo về tài nguyên thiên nhiên, thiếu vốn, kĩ thuật nên nền kinh tế Hàn Quốc
phát triển rất kém. Nhưng đến những năm 60 của thế kỉ XX, Hàn Quốc đã ổn
định đất nước và phát triển nhanh chóng qua các giai đoạn về sau.
Những thành tựu rực rỡ của kinh tế Hàn Quốc sau Chiến tranh thế giới
thứ hai đã có sự đóng góp quan trọng của Hoa Kì. Hàn Quốc đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với Hoa Kì từ năm 1948. Trong quá trình triển khai quan hệ,
Hàn Quốc luôn duy trì quan hệ hợp tác chặt chẽ, toàn diện với Hoa Kì trên
nhiều lĩnh vực. Không chỉ dừng lại ở mối quan hệ đồng minh trong Chiến

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
6


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

tranh lạnh, mà quan hệ kinh tế cũng chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ
Hàn Quốc – Hoa Kì.
Suốt thời kì Chiến tranh lạnh, Hoa Kì luôn là thị trường rộng lớn nhất

của Hàn Quốc. Chiến tranh lạnh kết thúc (1945 – 1991), cấu trúc thương mại
giữa hai nước thay đổi. Va chạm thương mại giữa hai quốc gia trở nên
nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong một thế giới có nhiều chuyển biến, thị trường
Hoa Kì vẫn tiếp tục dẫn đầu trong nền kinh tế toàn cầu và Hàn Quốc duy trì
quan hệ kinh tế với Hoa Kì có ý nghĩa hết sức thiết thực. Đối với Hoa Kì, Hàn
Quốc vẫn giữ một vị trí chiến lược tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì là một bộ phận của quan hệ kinh
tế quốc tế, có ảnh hưởng to lớn đến sự thành công của hai nước nói riêng và
của khu vực, thế giới nói chung. Vì vậy, nghiên cứu quan hệ kinh tế Hàn
Quốc – Hoa Kì không chỉ có ý nghĩa là tìm hiểu một mối quan hệ kinh tế
riêng biệt, mà còn góp phần cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn, những đánh
giá khách quan hơn về sự phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản sau Chiến
tranh lạnh.
Đối với Việt Nam, nghiên cứu về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì
có ý nghĩa quan trọng trong thời kì đổi mới đất nước, công nghiệp hóa hiện –
đại hóa hiện nay. Những thành tựu to lớn mà Hàn Quốc thu được trong quan
hệ với Hoa Kì và những nhân tố đưa đến thành công là bài học vô giá đối với
các quốc gia đang phát triển, đó cũng là những bài học hết sức ý nghĩa trong
quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Việt Nam.
Với những lý do trên, người viết đã chọn vấn đề “Quan hệ kinh tế Hàn
Quốc – Hoa Kì từ năm 1991 đến năm 2010” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
thuộc chuyên ngành Lịch sử Thế giới của mình. Với mong muốn tiếp cận một
cách tổng quát về mối quan hệ này, và hy vọng sẽ làm rõ được thực trạng, vai
trò và ý nghĩa của mối quan hệ này đối với khu vực và thế giới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
7



Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.1. Tài liệu tiếng Việt.
Ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước đến nay, do nhiều nguyên nhân
khác nhau nên việc nghiên cứu về Hàn Quốc còn rất hạn chế. Bước vào thời
kì đổi mới, cùng với sự thay đổi của bối cảnh quốc tế, quan hệ Việt – Hàn
cũng có những tiến triển mới, tiêu biểu nhất là hai nước đã tiến đến xây dựng
quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI vào năm 2001. Điều này đã đặt ra
yêu cầu bức thiết về việc nghiên cứu về nước bạn với cách nhìn mới, tình
hình nghiên cứu Hàn Quốc ở Việt Nam vì thế cũng sôi động hơn. Với mong
muốn cung cấp những thông tin cần thiết cho độc giả hiểu biết về Hàn Quốc,
Ban nghiên cứu Hàn Quốc thuộc trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn
Quốc gia đã cho xuất bản chuyên khảo “Hàn Quốc trước thềm thế kỉ XXI”.
Đây là những bản báo cáo khoa học tại Hội thảo Hàn Quốc trước thềm thế kỉ
XXI được tổ chức tại Hà Nội vào cuối năm 1998. Các báo cáo trong chuyên
khảo đã tập trung phân tích một số vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, dự báo
sự phát triển của Hàn Quốc trong thời gian tới. Chuyên khảo này là một công
trình rất có giá trị, là tài liệu rất hữu ích khi nghiên cứu về Hàn Quốc.
Công trình nghiên cứu của TS. Hoa Hữu Lân “Hàn Quốc – Câu
chuyện kinh tế về một con rồng” đã giới thiệu khái quát con đường công
nghiệp hóa – hiện đại hóa của Hàn Quốc từ năm 1950 đến nay, trong đó tập
trung phân tích về cơ cấu kinh tế, xã hội, đồng thời rút ra một số bài học kinh
nghiệm từ sự phát triển của Hàn Quốc. Qua công trình này người viết đã tham
khảo được những tư liệu cần thiết cho việc thực hiện đề tài với những quan
điểm phân tích khách quan, khoa học về sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc
và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Công trình nghiên cứu “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn
Quốc (1961 – 1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam” của TS. Hoàng Văn

Hiển với 364 trang và lối trình bày khoa học, dễ hiểu, tác giả đã trình bày có
hệ thống toàn bộ quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Hàn Quốc trong

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
8


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

những năm 1961 – 1993 về bối cảnh quốc tế, trong nước và các thời kì công
nghiệp hóa – hiện đại hóa với mô hình chiến lược hướng ngoại. Công trình
cũng nêu lên những thành tựu tiêu biểu về kinh tế - xã hội và những hạn chế
cơ bản của Hàn Quốc trong ba thập niên công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước. Đồng thời xác định những yếu tố bên trong cũng như bên ngoài tác
động đến quá trình phát triển của Hàn Quốc trong giai đoạn này và rút ra
những kinh nghiệm phát triển cho Việt Nam. Công trình thực sự là tài liệu
hữu ích khi nghiên cứu về Hàn Quốc nhất là nghiên cứu về sự phát triển kinh
tế của Hàn Quốc với những tư liệu đáng tin cậy cùng những đánh giá khách
quan đặc biệt là đánh giá về vai trò của Hoa Kì trong sự phát triển của Hàn
Quốc.
Có thể thấy, có rất nhiều công trình viết về tình hình kinh tế - xã hội
Hàn Quốc, dù không trực tiếp nghiên cứu về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa
Kì nhưng trong quá trình diễn đạt nội dung các tác giả không thể không đề
cập đến nhân tố Hoa Kì, một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng trong sự cất
cánh của Hàn Quốc. Nói đúng hơn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của Hàn Quốc trong những thập niên qua đã được nhiều cơ quan khoa học,
nhiều nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc và nước ngoài tổng kết và bước đầu rút ra
được những bài học kinh nghiệm cụ thể. Dưới nhiều góc độ khác nhau, trong

các tác phẩm của mình các tác giả đã ít nhiều đề cập đến quan hệ kinh tế Hàn
Quốc – Hoa Kì. Điển hình có công trình : “Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy”
của tác giả Buyung Nak Song, xuất bản năm 2002. Công trình này được viết
một cách công phu đề cập đến nhiều khía cạnh của nền kinh tế Hàn Quốc. Tác
giả đã cung cấp cho người đọc một bức tranh tương đối toàn diện về hệ thống
kinh tế Hàn Quốc qua ba phần của công trình. Trong đó tác giả dành trọn một
phần để giới thiệu về quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc mà trọng tâm là quan
hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì. Đây là tư liệu rất cần thiết cho người viết khi

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
9


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

nghiên cứu về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì với những số liệu tin cậy
và nhận định khách quan về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì.
Bên cạnh đó có thể kể ra một số tác giả và các công trình nghiên cứu
tiêu biểu: Lê Văn Toàn, Trần Hoàng Kim, Phạm Huy Tú (đồng chủ biên)
(1992), “Kinh tế NICs Đông Á - kinh nghiệm đối với Việt Nam”; Vũ Đăng
Hinh (1996), “Hàn Quốc – nền công nghiệp trẻ trỗi dậy” ; Hoàng Thị Thanh
Nhàn (1997), “Công nghiệp hóa hướng ngoại “sự thần kì” của các NIEs
châu Á”; Ngô Xuân Bình, Phạm Quý Long (đồng chủ biên), “Hàn Quốc trên
đường phát triển” (2000); An Châu, Trung Hinh (2007), “Đất nước Hàn
Quốc”; … Những công trình này dù không trực tiếp nghiên cứu quan hệ kinh
tế Hàn Quốc – Hoa Kì, nhưng trong nhiều nội dung vấn đề này cũng được các
tác giả đề cập đến.
Ngoài ra, còn rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến quan hệ kinh tế Hàn

Quốc – Hoa Kì của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí khác nhau như: Võ Hải
Thanh, “Quan hệ kinh tế của Hàn Quốc với Nhật Bản và Mỹ trong những
năm gần đây”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 5 năm 1999;
Hoàng Văn Hiển, Dương Quang Hiệp,“Vài nét về quan hệ kinh tế Hàn Quốc
– Mỹ (1948 – 1979)”, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 2 năm 2001; Vũ Đăng
Hinh, “Quan hệ kinh tế Mỹ - Hàn Quốc từ những năm 50 đến những năm
70”, Tạp chí Châu Mỹ Ngày Nam, số 6 năm 1997; Bùi Thị Kim Huệ: “Tổng
quan về quan hệ Hàn – Mỹ”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 6 năm
2007;… Trong các bài viết này, các tác giả đã làm rõ bối cảnh ra đời của mối
quan hệ hai nước, các giai đoạn phát triển, những nét đặc trưng và đưa ra một
số nhận xét bước đầu về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì nhưng chủ yếu
là giai đoạn trước năm 1991, còn giai đoạn từ 1991 đến nay thì còn ít tài liệu
đề cập đến. Qua các bài nghiên cứu này người viết đã tìm thấy những tư liệu
đáng tin cậy cùng những cách nhìn khách quan về quan hệ kinh tế Hàn Quốc
– Hoa Kì.

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
10


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.2. Tài liệu tiếng Anh
Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì với những đặc thù của nó đã
không ngừng lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Hàn Quốc và
nước ngoài. Từ những năm cuối thế kỉ XX, nhiều công trình nghiên cứu độc
lập của một số tác giả đã được công bố, tiêu biểu như: “South Korea – U.S.
Economic Relations: Cooperation, Friction, and Future Prospects” xuất

bản năm 2004 của tác giả Mark E. Manying đã nói lên tổng quan về quan hệ
kinh tế của hai nước, vai trò quan trọng của Hoa Kì đối với Hàn Quốc và
ngược lại Hàn Quốc cũng là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển
thương mại của Hoa Kì. Tác phẩm này đã làm rõ được vấn đề trong lĩnh vực
thương mại đầu tư, Hoa kì là nhân tố đưa Hàn Quốc thành một nước công
nghiệp phát triển. Đây là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ, công phu với một
số lượng tư liệu rất phong phú nhưng mặt khác lại quá đề cao vai trò của Hoa
Kì trong sự cất cánh của Hàn Quốc mà chưa chỉ ra được mặt hạn chế của mối
quan hệ này.
Ngoài ra còn nhiều tác phẩn khác như: Richard T. Detrio (1998),
“Strategic partners: South Korea and United States”; Doug Bandow (1996),
“Tripwire Korea and U.S. Forreign Dolicy in a changed World” … Đây là
những công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ, cụ thể về quan hệ Hàn Quốc – Hoa Kì
trong đó có đề cập đến quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì nhưng nhìn chung
chỉ đề cập đến một số vấn đề cụ thể nào đó mà chưa bao quát được thành tựu,
hạn chế cũng như tương lai của mối quan hệ hai nước.
Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến quan hệ kinh tế
Hàn Quốc – Hoa Kì của các tác giả nước ngoài đăng trên các tạp chí:
Tạp chí Korea Focus đã công bố nhiều bài nghiên cứu: Kim Hong Youl
(2003), “Korea – U.S Trade Structure Since the 1990s”; Kim Sung Han
(2000), “South Korea – U.S Relation: Concerns and Prospects”

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
11


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2


Tạp chí Korea and World Affairs: Hong Nak Kim (1995), “The United
States and Korea – Dynamics of Political and Security Relation in the
1990s”; Kyung Won Kim (1994), “Korea and the U.S in the Post Cold War
World”. Các bài viết này đã cung cấp nguồn thông tin, số liệu phong phú để
đối chiếu, phân tích, để nhìn nhận, nghiên cứu quan hệ Hàn Quốc – Hoa Kì
một cách toàn diện nhiều chiều, nhất là trong quan hệ kinh tế.
Nhìn chung, các công trình, bài nghiên cứu ở những góc độ khác nhau
đã phản ánh được mối quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trên một số lĩnh
vực, khía cạnh cụ thể ở một giai đoạn nhất định. Do vậy đây là những tư liệu
tham khảo hữu ích và cần thiết đối với người viết trong quá trình nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về quan hệ kinh tế Hàn
Quốc – Hoa Kì ở cả trong và ngoài nước song chỉ dừng lại ở mức tổng quan
mà chưa đi sâu vào từng khía cạnh và chưa trình bày toàn diện về quan hệ
kinh tế của hai nước, đặc biệt là giai đoạn từ 1991 đến 2010 còn chưa được
nghiên cứu nhiều.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài khóa luận: “Quan hệ kinh tế Hàn Quốc –
Hoa Kì từ năm 1991 đến năm 2010” ngoài kế thừa kết quả của các công
trình nghiên cứu trước đó, người viết còn tập trung nghiên cứu những vấn đề
còn trống hoặc nghiên cứu chưa sâu về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ
sau Chiến tranh lạnh đến năm 2010, qua đó đưa ra nhận xét, đánh giá về quan
hệ kinh tế của hai nước, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa phát triển đất nước hiện nay.
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ năm 1991
đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ
Đề tài tập trung làm nổi bật những vấn đề sau:

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử

12


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

- Cơ sở hình thành quan hệ kinh tế hàn Quốc – Hoa Kì và xác định
những tác động khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế Hàn
Quốc – Hoa Kì.
- Quá trình phát triển cũng như những thành tựu của quan hệ kinh tế
Hàn Quốc – Hoa Kì giai đoạn trước năm 1991.
- Đánh giá những biến động của tình hình quốc tế và trong nước có ảnh
hưởng sâu sắc đến sự phát triển của quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì
(1991 – 2010)
- Thành tựu cơ bản trong quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì giai đoạn
1991 – 2010. Từ đó đánh giá về mối quan hệ này, nêu nên triển vọng của mối
quan hệ.
Như vậy, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế Hàn Quốc –
Hoa Kì (1991 – 2010) chủ yếu trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư và hợp
tác khoa học công nghệ. Trong đó, mối quan hệ này được xem xét theo chiều
hướng Hàn Quốc là chủ thể còn Hoa Kì với tư cách là nước đối tượng.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
*Về không gian.
Đề tài nghiên cứu hai chủ thể kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương là
Hàn Quốc và Hoa Kì, một con rồng châu Á và một siêu cường thế giới.
*Về thời gian.
Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trong
những năm từ 1991 đến 2010. Mở đầu là năm 1991 khi mà trật tự hai cực
Ianta tan rã, thế giới bước sang một trang sử mới cho đến hết thập niên đầu

tiên của thế kỷ XXI. Cùng với đó quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì cũng có
những biến chuyển to lớn, hai chủ thể quan hệ đã có sự tác động lẫn nhau và
mối quan hệ này dần trở nên bình đẳng hơn. Để đảm bảo tính liên tục và bao
quát của đề tài, giai đoạn trước năm 1991 cũng được nghiên cứu trong một
chừng mực nhất định.

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
13


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp luận.
Trong quá trình nghiên cứu của mình người viết dựa trên cơ sở phương
pháp luận sử học mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của
Đảng ta trong nghiên cứu sử học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
Để đảm bảo tính khách quan và khoa học, trong quá trình nghiên cứu
người viết đã cố gắng kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử và phương
pháp lôgic. Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu,
so sánh…nhằm nhìn nhận vấn đề một cách xác thực nhất.
5. Đóng góp của đề tài.
5.1. Về phương diện khoa học.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, người viết đã tập hợp và xử lý các
nguồn tư liệu ít nhiều liên quan đến đề tài nghiên cứu. Hy vọng đây sẽ là một
đóng góp nhỏ về mặt tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới, quan
hệ kinh tế quốc tế nói chung cũng như lịch sử hai nước Hàn Quốc và Hoa Kì

nói riêng, đặc biệt là trong công tác nghiên cứu quan hệ kinh tế Hàn Quốc –
Hoa Kì.
5.2. Về phương diện thực tiễn.
Qua việc tìm hiểu quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì (1991 – 2010),
người viết đã đưa ra một số nhận xét khách quan về tính chất của quan hệ
kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì cũng như tác động của mối quan hệ này với hai
chủ thể.
Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm của quan hệ kinh tế Hàn Quốc –
Hoa Kì (1991 – 2010) để rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt
Nam trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
14


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trước năm 1991.
Chương 2: Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì từ năm 1991 đến năm
2010.

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
15


Khóa luận tốt nghiệp


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

CHƢƠNG 1
QUAN HỆ KINH TỀ HÀN QUỐC – HOA KÌ
TRƢỚC NĂM 1991
1.1. Điều kiện phát triển quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh thế giới hai
Giống như các quan hệ song phương khác, quan hệ kinh tế Hàn Quốc –
Hoa Kì cũng chịu sự tác động từ những biến đổi sâu sắc của tình hình quốc tế
và khu vực.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cán cân quyền lực giữa các cường
quốc trên thế giới đã có sự thay đổi. Các nước Đức, Ý, Nhật bị bại trận, hai
nước Anh, Pháp thắng trận nhưng thế lực đã bị suy yếu. Chỉ có Liên Xô tuy là
nước chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh nhưng sau chiến tranh vị trí và uy
tín quốc tế không ngừng được nâng cao. Sau chiến tranh, Hoa Kì đã trở thành
một nước mạnh nhất về kinh tế, tài chính, quân sự.
Để đối phó với sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa,
các nước đế quốc đứng đầu là Hoa Kì bắt đầu thực hiện một chính sách thù
địch mới. Tháng 3 năm 1947, tại Quốc Hội Hoa Kì, Tổng thống Harry S.
Truman chính thức phát động cuộc Chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào cách mạng thế giới và qua đó
khuynh đảo, khống chế các nước đồng minh phương Tây do Hoa Kì cầm đầu,
từng bước thực hiện tham vọng bá chủ toàn cầu.
Như vậy, quan hệ Liên Xô – Hoa Kì vốn đã ẩn chứa nhiều mâu thuẫn
trong Chiến tranh thế giới thứ hai thì giờ đây đã ở vào tình trạng đối đầu dưới
tác động của Chiến tranh lạnh – nhân tố lớn nhất chi phối đời sống quốc tế,
tác động đến nhiều mối quan hệ, trước hết là giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội. Tất cả các mối quan hệ kinh tế, chính trị… trong thời kì này đều
rơi vào vòng xoáy của Chiến tranh lạnh. Là một địa bàn có tầm quan trọng

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
16


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

chiến lược, bán đảo Triều Tiên cũng không thể tránh khỏi vòng quay nghiệt
ngã này.
Mối quan tâm hàng đầu của Hoa Kì những năm sau chiến tranh là châu
Âu, nơi mà các vị trí của Hoa Kì tỏ ra yếu kém và có khả năng bị đe dọa
nhiều nhất. Chính vì vậy với việc thông qua “Kế hoạch Masshall” (1947),
thành lập hệ thống tiền tệ BrettonWoods (1945) và khối quân sự Bắc Đại Tây
Dương (NATO - 1949), lôi kéo các nước kí hòa ước riêng rẽ với Nhật (1945 –
1951), thành lập Liên minh phòng thủ Tây bán cầu… Về cơ bản, Hoa Kì đã
thành công trong việc tập hợp, khống chế đồng minh, lôi kéo các nước tư bản
vào một trật tự chính trị, quân sự và kinh tế mới do Hoa Kì lãnh đạo nhằm
chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào cách mạng
thế giới.
Tuy nhiên trong thời kì này, ở châu Á – Thái Bình Dương cũng có
nhiều biến động lớn khiến Hoa Kì phải lo ngại, đó là sự lớn mạnh của phong
trào cách mạng, nhất là nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa ra đời
(1 – 10 - 1949). Cùng thời gian là việc Liên Xô chế tạo thành công bom
nguyên tử (9 - 1949) phá thế độc quyền về vũ khí nguyên tử của Hoa Kì. Do
vậy, Hoa Kì càng ra sức tạo lập một hệ thống liên minh và căn cứ quân sự
nhiều tầng lớp để bao vây và đe dọa các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong thời gian này, trên bán đảo Triều Tiên ngoại trừ Nhật Bản do vừa
thất bại trong chiến tranh nên phải chịu sự khống chế, chi phối của các nước
Đồng Minh thắng trận, còn các nước Hoa Kì, Liên Xô, Trung Quốc đều tìm

thấy lợi ích ở đây. Và cục diện phân liệt chính trị ở bán đảo Triều Tiên phản
ánh sự đối đầu Đông – Tây.
Nhìn chung, bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ
hai có nhiều thay đổi. Trong đó, tầm quan trọng về mặt chiến lược của khu
vực Đông Bắc Á cùng những mối quan hệ đan xen phức tạp của các cường

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
17


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

quốc, nước lớn ở khu vực này rong nhiều thập niên sau đó được coi là điển
hình nhất.
1.1.2. Tình hình bán đảo Triều Tiên
Bối cảnh quốc tế và khu vực căng thẳng và phức tạp trên đã tác động
trực tiếp đến bán đảo Triều Tiên – một địa bàn chiến lược quan trọng. Ngay
sau Chiến tranh lạnh, bán đảo Triều Tiên đã trở thành nơi tranh chấp của Hoa
Kì và Liên Xô, hiện thực chính trị của bán đảo này sau chiến tranh chính là
tấm gương phản chiếu so sánh lực lượng giữa hai siêu cường. Mặc dù trong
hội nghị Matxcơva, Ngoại trưởng ba nước Liên Xô, Hoa Kì và Anh đã quyết
định “xây dựng lại Triều Tiên thành một nước độc lập” và “xây dựng một
chính phủ Triều Tiên lâm thời”, song cũng giống như tình hình nước Đức ở
châu Âu, dưới tác động của Chiến tranh lạnh và đối đầu Đông – Tây, hai nước
Liên Xô và Hoa Kì đều vì lợi ích riêng và chung (lợi ích quốc gia, lợi ích khu
vực và hệ thống) đã chú trọng giúp đỡ xây dựng chính quyền trong khu vực
chiếm đóng của mình. Triều Tiên do đó đã bị chia cắt làm hai miền với hai
chế độ chính trị khác biệt: Đại Hàn Dân Quốc (gọi tắt là Hàn Quốc) (5 - 1948)

theo thể chế tư bản ở miền Nam do Syngman Rhu đứng đầu và Cộng Hòa
Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (9 - 1948) do Kim Il Sung đứng đầu ở miền
Bắc. Đến đây bán đảo Triều Tiên đã thực sự trở thành tiêu điểm của sự tranh
chấp giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Vĩ tuyến 380 đã trở
thành sự mở rộng của “bức màn sắt” tại châu Á.
Sau khi hai nhà nước riêng biệt với hai chế độ chính trị khác nhau ở hai
miền được thành lập, với sự giúp đỡ, hậu thuẫn của Liên Xô, Trung Quốc (ở
miền Bắc) và Hoa Kì (ở miền Nam), cả hai miền đã có những cố gắng trong
phát triển kinh tế, quốc phòng, ổn định chính trị xã hội theo những mục tiêu
khác nhau. Tuy nhiên sự đối kháng giữa hai miền Nam - Bắc ngày càng diễn
biến quyết liệt dẫn đến bùng nổ chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953). Có thể
nói, cuộc nội chiến Nam – Bắc Triều Tiên là minh chứng phản ánh sự đối đầu

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
18


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

sức mạnh Đông – Tây. Tháng 7 – 1951, cuộc đàm phán về ngừng bắn được
bắt đầu với sự tham gia của Nam, Bắc Triều Tiên, Hoa Kì và Trung Quốc.
Sau hai năm thương thảo, cuối cùng một hiệp định đình chiến được kí kết vào
ngày 27 – 7 – 1953, tiếp tục lấy vĩ tuyến 380 làm ranh giới quân sự giữa hai
miền Nam – Bắc Triều Tiên.
Ở miền Nam, Hàn Quốc nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kì
cả về chính trị lẫn kinh tế. Nói đúng hơn, Hàn Quốc chính là một nước cờ trên
bàn cờ lớn của Hoa Kì. Biết rõ điều này, song lựa chọn Hoa Kì có lẽ là một
việc làm hợp lý hơn cả trong tư duy của người Hàn Quốc lúc bấy giờ. Bởi

Hàn Quốc có rất nhiều lý do để lo sợ về anh ninh khi phải chung sống giữa
những người khổng lồ và sống với một miền Bắc hùng mạnh hơn về quân sự.
Lựa chọn Hoa Kì, Hàn Quốc sẽ có một tấm lá chắn an toàn để bắt tay vào
khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế, một nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc
hậu và bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh.
1.1.3. Những động cơ chính trị và kinh tế cho sự hình thành quan hệ kinh
tế Hàn Quốc – Hoa Kì
1.1.3.1. Những động cơ chính trị
Sau năm 1945, trước sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa, chủ nghĩa đế quốc lại tiếp tục chính sách thù địch mới. Để chống lại
Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới, qua đó
thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu, ngoài việc huy động hàng loạt các công
cụ, biện pháp, thiết chế, chiến lược, nguồn lực của cả hệ thống tư bản chủ
nghĩa, những nhà hoạch định chính sách của Hoa Kì còn tìm mọi cách khống
chế khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Nếu như ở châu Âu, âm mưu của Hoa Kì thể hiện qua sự “đối kháng
Chiến tranh lạnh” thì ở châu Á, Hoa kì lại thực hiện can thiệp vũ trang trực
tiếp vào các nước, trong đó có Triều Tiên. Dựa vào sức mạnh kinh tế cũng
như quân sự, Hoa Kì đã viện trợ và giúp đỡ thành lập các chính quyền thân

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
19


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Mỹ ở nhiều nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương; đồng thời Hoa
Kì lôi kéo thành lập các liên minh song phương và đa phương chống cộng

sản, triển khai những căn cứ quân sự tại các nước đồng minh như Nhật Bản,
Philippin và Hàn Quốc.
Là một nước có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, dĩ nhiên Hàn Quốc
không thể là một ngoại lệ trong chính sách ưu tiên của Hoa Kì đối với khu
vực. Chính sách của Hoa Kì đối với Hàn Quốc dựa trên tham vọng muốn trở
thành một cường quốc ở Thái Bình Dương và là một cường quốc ở lục địa
châu Á. Đồng thời, Hàn Quốc cũng là tiền đồn duy nhất của Hoa Kì trên lục
địa Đông Bắc Á nên nếu mất Hàn Quốc có thể dẫn đến sự thay đổi định
hướng chính trị của Nhật Bản. Điều này hoàn toàn không có lợi cho Hoa Kì.
Mặt khác, chính vì bán đảo Triều Tiên là tiêu điểm đối đầu của hai phe và
Hàn Quốc chịu sự “đe dọa trực tiếp” của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều
Tiên vốn được hậu thuẫn bởi Liên Xô và Trung Quốc nên đối với Hoa Kì,
Hàn Quốc có vai trò quan trọng trong việc thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu
cũng như chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản
Có thể nói, với Hoa Kì, Hàn Quốc được xem như một địa bàn chiến
lược, một tuyến đầu cản trở sự mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô, ngăn cản
Trung Quốc hoặc Liên Xô ủng hộ Bắc Triều Tiên tấn công quân sự. Cùng với
Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là đường phòng thủ chiến lược của Mỹ ở Đông
Bắc Á [23; 112]. Để xây dựng một đồng minh lớn mạnh, Hoa Kì đã xây dựng
nhiều chương trình viện trợ cho Hàn Quốc, đồng thời vận động các nước khác
thông qua các tổ chức của Liên Hiệp Quốc để viện trợ kinh tế cho Hàn Quốc
(bên cạnh việc duy trì một lực lượng quân sự mạnh và một môi trường chính
trị mà Hoa Kì đã có ảnh hưởng lớn tại đây).
Về phía Hàn Quốc, với vị trí nằm ở trung tâm Đông Bắc Á, là nơi tập
chung lợi ích chiến lược của nhiều nước lớn, môi trường an ninh của Hàn
Quốc luôn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc. Có thể nói rằng vị trí địa lý nằm ở

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
20



Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

trung tâm Đông Bắc Á của Hàn Quốc vừa là điều may mắn nhưng cũng vừa
ẩn chứa nhiều nguy cơ. Các nước láng giềng Trung Quốc, Nhật Bản luôn coi
bán đảo Triều Tiên là mối đe dọa quân sự tiềm tàng, hoặc là “cửa ngỏ tấn
công trung Quốc” hoặc là “một con dao găm nhằm vào Nhật Bản” [9; 4].
Cùng với đó, không thể phủ nhận nỗi ám ảnh khá lớn của Hàn Quốc về một
Bắc Triều Tiên với sức mạnh quân sự vượt trội với sự hậu thuẫn của Liên Xô
và Trung Quốc.
Trước vấn đề đảm bảo an ninh, cũng như sức ép từ phía Bắc Triều
Tiên, việc hợp tác với Hoa Kì là sự lựa chọn “chẳng thể khác” phần nào mang
tính bắt buộc trong hoàn cảnh của Hàn Quốc lúc bấy giờ. Trong suốt thời kì
Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã sử dụng hiệu quả “chiếc ô bảo đảm an ninh”
của Hoa Kì. Cũng chính nhờ sự bảo hộ an ninh của Hoa Kì nên Hàn Quốc
mới có điều kiện tập trung cho phát triển kinh tế và từng bước “cất cánh”.
Trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xuất phát từ
những động cơ chính trị từ hai phía, quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì cũng
đã nảy sinh, hình thành và dần được xác lập. Xét về nguyên nhân sâu xa
chúng ta có thể thấy, Hoa Kì muốn Hàn Quốc đủ mạnh để trở thành đồng
minh thân cận của mình còn Hàn Quốc muốn dựa vào Hoa Kì để đảm bảo an
ninh và phát triển. Đó là những tác nhân chính trị đặt cơ sở bước đầu cho sự
hình thành quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì.
1.1.3.2. Những tác nhân kinh tế
Sau chiến tranh, Hàn Quốc gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị, xã
hội. Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, diện tích đất nhỏ hẹp, đất đai
cằn cỗi, tài nguyên khan hiếm, công nghiệp lạc hậu, thiếu hẳn cơ sở vật chất,
hạ tầng xã hội, dân số đông, thất nghiệp tràn lan, người dân rơi vào cảnh túng

đói, chiến tranh đã tạo ra khoảng 100 nghìn trẻ em mồ côi và trên 300 nghìn
quả phụ, tình hình chính trị không ổn định [19; 255].

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
21


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trong tình cảnh éo le nói trên, Hàn Quốc đã lựa chọn con đường thoát
ra bằng kinh tế, trong đó việc xây dựng và mở rộng quan hệ kinh tế với Hoa
Kì trở thành một nhu cầu vừa cấp thiết vừa lâu dài.
Về phía Hoa Kì, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kì trở thành
nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản
chủ nghĩa. Với thực lực của mình, Hoa Kì đã đề ra “Chiến lược toàn cầu”
nhằm thống trị toàn thế giới. Trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kì, Hàn
Quốc được xác định là một trong những vị trí then chốt có ý nghĩa sống còn
với chính sách “ngăn chặn” và “kiềm chế” chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á. Để
tạo ra một đồng minh đủ mạnh, có môi trường chính trị tốt cho sự có mặt lâu
dài của lực lượng quân sự, Hoa Kì đã xây dựng nhiều chương trình viện trợ
kinh tế cho Hàn Quốc. Với những khoản viện trợ to lớn của Hoa Kì, nền kinh
tế hàn Quốc dần dần phục hồi và phát triển. Từ phía Hoa Kì, việc thiết lập
quan hệ kinh tế với Hàn Quốc lúc đầu xuất phát từ động cơ chính trị, nhưng
dần dần yếu tố này không thể thay thế được những tác nhân kinh tế. Theo thời
gian, với sự bao bọc và che chở của Hoa Kì, Hàn Quốc đã có những bước tiến
lớn về kinh tế và cùng với đó tác nhân kinh tế xuất hiện và ngày càng trở
thành nhân tố quan trọng quyết định đến mối quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa
Kì.

Như vậy, sự “kết duyên tự nguyện” trong quan hệ Hàn Quốc – Hoa Kì
được khởi đầu trong một bối cảnh khá đặc biệt và đan xen các nhân tố kinh tế
- chính trị, lợi ích quốc gia dân tộc… đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Hàn
Quốc dần dần phục hồi, khởi sắc và hòa nhập vào nền kinh tế thị trường thế
giới để sau đó có những bước đột phá ngoài ý muốn và dự liệu của Hoa Kì.
Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì được xác lập, triển khai và chuyển biến
qua từng thời kì quan hệ với những đặc trưng riêng.
1.2. Quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì trƣớc năm 1991
1.2.1. Quan hệ kinh tế Triều Tiên – Hoa Kì trước năm 1948

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
22


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Năm 1948, quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Hoa Kì chính thức được thiết
lập cùng với sự ra đời của nhà nước Đại Hàn Dân Quốc. Song khi nói đến lịch
sử mối quan hệ này, người ta thường nhắc đến một mốc khởi đầu xa hơn là
ngày 22 – 5 – 1882, với việc kí Hiệp ước Hòa Bình, Hữu Nghị, Thương Mại
và Hàng Hải giữa Triều Tiên và Mỹ (The Treaty of Peace, Amity, Commerce
and Navigation). Đây là hiệp ước đầu tiên giữa Triều Tiên và một nước
phương Tây. Hiệp ước năm 1882 xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Từ
những năm 1830, Mỹ đã từng muốn thiết lập quan hệ với triều Tiên, trong khi
đó Triều Tiên cũng muốn “mời gọi” những cường quốc khác vào như một đối
trọng với hai nước láng giềng thù địch là Nhật và Nga
Sau hiệp ước năm 1882, quan hệ kinh tế giữa Triều Tiên và Mỹ bắt đầu
có những tiến triển tốt đẹp. Trong thời gian từ 1882 đến 1895, người Mỹ dẫn

đầu trong việc đầu tư vào các ngành công nghiệp chính đang phát triển ở
Triều Tiên, bao gồm ngành khai thác mỏ, giao thông vận tải và ngành điện. Ví
dụ, người Mỹ đã quản lý mỏ vàng Usan, với sự tham gia làm việc của 70
người da trắng, gần 700 người Trung Quốc, hơn 2000 công nhân Triều Tiên
và rất đông người Nhật; xây dựng đường tàu lửa đầu tiên nối Seoul và
Chemulip’o; nhà máy điện đầu tiên cũng được xây dựng bởi công ty Edison
Electric của Mỹ vào năm 1885 [17; 11].
Có thể nói, trong những năm cuối thế kỉ XIX, vùng đất mới mẻ này đã
thu hút khá đông giới kinh doanh Mỹ vào đầu tư và triển khai các hoạt động
buôn bán. Trong đó, thành công nhất phải kể đến hai công ty thương mại Hoa
Kì là Jame R. Morse’s America Trading Company và Walter D.Townsend’s
Townsend and Company in Chemulp’s. Chỉ tính trong vòng một năm, từ
tháng 5 – 1883 đến tháng 5 – 1884, nhập khẩu của hai công ty này vào Triều
Tiên đạt 175.000 USD, với các mặt hàng chủ yếu như vũ khí, đạn dược, đồ
trang trí nội thất… Năm 1893, một dự án đèn chiếu sáng ở Hoàng Cung cũng
được họ nhận lắp đặt với giá trị là 47.000 USD…

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
23


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Quan hệ buôn bán giữa hai nước trong giai đoạn này, có thể nói đã có
những bước phát triển đáng kể. Tổng giá trị mà Triều Tiên nhập từ Hoa Kì đạt
khoảng 10%. Những mặt hàng chủ yếu là dầu lửa, nguyên vật liệu phục vụ
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải… trong đó, dầu lửa là mặt
hàng nhập khẩu lớn nhất, chiếm 1/3 tổng số hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kì.

Tiếp theo là các nguyên vật liệu phục vụ cho xây dựng giao thông như đường
ray xe lửa, máy kéo… Ngoài ra, Triều Tiên cũng đã xuất khẩu sang Hoa Kì
một số mặt hàng nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp [16; 11].
Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kì rất mong muốn được quản lý hoàn toàn
các hòn đảo ở Philippin nên họ sẵn sàng hi sinh tất cả những gì đã đầu tư ở
Triều Tiên để đạt được tham vọng của mình. Ngày 27 – 7 – 1905, Hoa Kì đã
kí kết một thỏa thuận với Nhật Bản xung quanh vấn đề Philipin, Viễn Đông
và Triều Tiên. Theo thỏa thuận, Hoa Kì thừa nhận quyền ảnh hưởng của Nhật
Bản tại Triều Tiên. Đổi lại Nhật Bản bằng lòng để Hoa Kì tự do hoạt động ở
Philipin. Sau thỏa thuận này, hầu hết thương nhân Mỹ rút khỏi địa phận Triều
Tiên.
Sau khi Nhật Bản thôn tính Triều Tiên, giai đoạn 1910 – 1945, quan hệ
kinh tế Triều Tiên – Hoa Kì (chủ yếu là lĩnh vực thương mại) vẫn tiếp tục
nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp. Hầu hết những hoạt động thương mại của Hoa Kì ở
đây đều phải qua trung gian là Nhật Bản.

Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
24


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Bảng 1.1: Quan hệ buôn bán giữa Triều Tiên với Nhật và Mỹ
(1910 – 1936)
(Đơn vị: nghìn USD)
Nhật Bản
Năm


Mỹ

Tổng giá trị buôn bán

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

1910

15.379

25.348

305 (1,7)*

3.024 (7,6)

17.914

39.782


1912

15.369

40.756

96 (0,5)

6.459 (9,6)

20.986

67.115

1914

28.587

39.047

92 (0,3)

6.127 (9,6)

34.389

63.231

1916


42.964

52.459

964 (1,7)

6.551 (8,8)

56.802

74.457

1918

137.205

117.273

116 (0,08)

10.341 (6,5)

154.189

158.309

1919

199.849


184.913

366 (0,15)

24.812 (8,6)

219.666

280.786

1934

407.693

439.622

312

5.083

?

?

1935

485.893

558.813


546

7.547

?

?

1936

518.047

647.918

993 (0,17)

9.121 (1,2)

594.456

762.256

* Phần trăm của Mỹ trong tổng số
[18; 73]
Những thống kê trên đây cho thấy hàng hóa Triều Tiên xuất sang Hoa
Kì và ngược lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Năm 1910, hàng hóa Triều Tiên xuất
khẩu sang Hoa Kì đạt 305 triệu USD (1,7%), nhập khẩu đạt 3.204 triệu USD
(chiếm 7,6%). Số liệu tương ứng, vào năm 1916 là 964 triệu USD (1,7%) và
6.551 triệu USD (0,8%), năm 1919 là 336 triệu USD (0,15%) và 24.882 triệu
USD (8,6%). Rõ ràng, đây là những con số hết sức khiêm tốn trong quan hệ

buôn bán giữa Triều Tiên và Hoa Kì, nếu so với buôn bán giữa Triều Tiên với
Nhật Bản trong cùng thời điểm.
Nhìn chung, quan hệ kinh tế Triều Tiên – Hoa Kì trước năm 1945 vẫn
còn mang những đặc điểm của sự khởi đầu.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thỏa thuận Matxcơva
về Triều Tiên được kí kết. Trong đó Hoa Kì tiếp quản bán đảo từ vĩ tuyến 380
trở xuống. Vì mục tiêu bá chủ toàn cầu của mình, bắt đầu từ năm 1945, Hoa
Nguyễn Thị Hải Yến , Lớp K34B- Lịch sử
25


×